1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thông tin về hậu quả của biến đổi khí hậu trên báo điện tử việt nam

131 331 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài “Thông tin về hậu quả của biến đổi khí hậu trên báo điện tử Việt Nam”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, gia đình, bạn bè

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ HUY PHÚC

THÔNG TIN VỀ HẬU QUẢ CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

Hà Nội, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ HUY PHÚC

THÔNG TIN VỀ HẬU QUẢ CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Báo chí học

Mã số: 60.32.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH VĂN HƯỜNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của PGS TS Đinh Văn Hường

Nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực Những

số liệu trong luận văn có cơ sở rõ ràng được chính tác giả thu thập, phân tích

và tổng hợp Phần tài liệu tham khảo được dẫn nguồn đầy đủ và chính xác Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung, kết quả trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này

Hà Nội, ngày 2 tháng 1 năm 2017

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “Thông tin về hậu quả của biến đổi khí hậu trên báo điện tử Việt Nam”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp

đỡ quý báu đó

Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đinh Văn Hường, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cũng như định hướng về phương pháp làm việc, phương pháp nghiên cứu và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong chuyên ngành Báo chí học, các thầy cô trong Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt những năm học vừa qua

Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tác Giả

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10

1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 10

1.2 Tình hình thông tin chung về hậu quả của biến đổi khí hậu 23

1.3 Vai trò của báo chí về hậu quả của biến đổi khí hậu ở nước ta hiện nay 29 Tiểu kết chương 1 33

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ HẬU QUẢ CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở NƯỚC TA TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ HIỆN NAY 34

2.1 Vài nét về 3 tờ báo được khảo sát 34

2.2 Khảo sát và nhận xét tổng quan tin, bài, ảnh… về hậu quả của biến đổi khí hậu trên báo điện tử hiện nay 36

2.3 Đánh giá thành công và hạn chế của thông tin trên báo điện tử về hậu quả của biến đổi khí hậu ở nước ta 65

2.4 Một số bài học kinh nghiệm cho công tác thông tin về hậu quả của biến đổi khí hậu trên báo điện tử 78

Tiểu kết chương 2 81

CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA BÁO ĐIỆN TỬ TRONG VIỆC THÔNG TIN VỀ HẬU QUẢ CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 82

3.1 Một số vấn đề đặt ra hiện nay 82

3.2 Nhóm giải pháp chung 88

3.3 Các kiến nghị cụ thể cho từng tờ báo điện tử được khảo sát 100

Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN 104

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Biểu đồ 2.2.1: Bản khảo sát tuần xuất đưa tin về hậu quả của BĐKH trên 3 tờ báo: VnEpress, Dân trí, vtv.vn

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Bộ TN&MT : Bộ tài nguyên và môi trường

BĐKH : Biến đổi khí hậu

VnE : VnEpress

Dân trí : Dantri.com

XTNĐ : Xoáy thuận nhiệt đới

Nxb : Nhà Xuất Bản

IPCC : Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu

UNFCCC : Công ước khung Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu

WMO : Tổ chức khí tượng thế giới

LHQ : Liên hợp quốc

IMHEN và UNDP: Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai

và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng về biến đổi khí hậu

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, nhân loại đang đứng trước những vấn đề mang tính toàn cầu như: Sự biến đổi của môi trường sinh thái; sự gia tăng dân số; chiến tranh và hòa bình đang đặt ra cho các quốc gia trên thế giới phải cùng nhau chung tay giải quyết Trong đó, BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất của con người

Việt Nam được dự báo là một trong 5 nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi tác động của BĐKH và đồng bằng sông C ửu Long là mô ̣t trong ba đồng bằng bị ảnh hưởng nặng nề nhất thế giới Theo Viện Khí tượng Thuỷ văn và biến đổi khí hậu Việt Nam, trong thập kỷ vừa qua mỗi năm nhiệt độ trung bình tại Việt Nam tăng thêm gần 0,1°C và nước biển dâng từ 2,5 đến 3cm Theo Báo cáo Phát triển con người của UNDP 2008, nếu nhiệt độ trái đất tăng 2°C, khoảng 22 triệu người Việt Nam sẽ mất nhà cửa, khoảng 45% đất nông nghiệp ở khu vực ĐBSCL sẽ bị mất do nước biển dâng Nếu không có kế hoạch đối phó, phần lớn diện tích của đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập trắng nhiều thời gian trong năm và thiệt hại ước tính sẽ là 17 tỷ USD Đặc biệt, ngày 11/5/2017, tại TPHCM, Quốc hội Việt Nam phối hợp với Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) khai mạc Hội nghị chuyên đề IPU khu vực châu Á-Thái Bình Dương “Ứng phó với biến đổi khí hậu - Hành động của các nhà lập pháp nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững” Hội nghị do Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân và Chủ tịch IPU Saber Chowdhury đồng chủ trì Phát biểu khai mạc hội nghị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết: “Theo các kịch bản BĐKH của Việt Nam, vào cuối thế kỷ 21, sẽ có khoảng 40% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các địa phương khác thuộc khu vực ven biển sẽ bị ngập nước, sẽ có khoảng 10-12%

Trang 9

dân số Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp, với tổn thất khoảng 10% GDP Đặc biệt, TPHCM là địa phương sẽ bị ngập trên 20% diện tích của thành phố”

Tác động của BĐKH đối với Việt Nam là nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp, an ninh lương thực, tài nguyên nước, an ninh sinh thái, sức khỏe cộng đồng, gây rủi ro lớn đối với nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế-xã hội,

an ninh và quốc phòng

Nhận thức rõ những tác đô ̣ng nghiêm tr ọng của BĐKH đến sự phát triển bền vững của đất nước, Chính phủ Việt Nam đã sớm tham gia và phê chuẩn Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH và Nghị định thư Kyoto, đồng thời chỉ đạo từng bước hoàn thiện các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với BĐKH Tháng 12 năm 2008, Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH đã được phê duyệt Đây là một trong những nỗ lực quan trọng của Chính phủ cùng với sự hỗ trợ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế trong ứng phó với BĐKH ở Việt Nam Với sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, ứng phó với BĐKH ở nước ta đã đạt được một số thành công bước đầu được quốc tế ghi nhận Để ứng phó hiệu quả với BĐKH và phát triển bền vững đất nước, một chiến lược quốc gia về BĐKH với tầm nhìn thế kỷ, làm cơ sở cho các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch là rất cần thiết đối với nước ta trong bối cảnh hiện nay

Tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hành động đúng đắn cho cá nhân, cộng đồng về BĐKH và hậu của nó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Trong đó, báo chí nói chung và đặc biệt là báo điện tử nói riêng đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin đến độc giả về hậu quả của BĐKH trong nước, khu vực, trên thế giới Báo điện tử mặc dù ra đời muộn so với các loại hình báo chí khác nhưng bằng lợi thế của khoa học công nghệ đã nhanh chóng trở thành loại hình báo chí thông dụng và thu hút được sự quan tâm của độc giả Trên một ý nghĩa nào đó, có thể nói: Báo điện

Trang 10

cách dễ dàng và trở thành kênh truyền thông vô cùng hiệu quả, tiện ích nhờ kết hợp với Internet Với thông tin phong phú, đa dạng được cập nhật trên mọi lĩnh vực: chính trị - xã hội, kinh tế, văn hoá, thể thao, giải trí, công nghệ… báo điện tử đã thu hút hàng triệu lượt người truy cập mỗi ngày Sự phát triển mạnh mẽ trên đã góp phần tạo nên một “thị trường báo chí” nói chung và “diện mạo” của báo điện tử nói riêng vô cùng đa dạng, sinh động, hấp dẫn, mới mẻ nhưng cũng không kém phần “khắc nghiệt”, “phức tạp”

Tuy nhiên, trên thực tế việc đưa thông tin về BĐKH và những hậu quả của nó trên các báo điện tử ở nước ta hiện nay chưa thực sự được chú trọng đúng mức, chưa tương xứng và chưa khai thác hết tiềm năng và thế mạnh, có lúc chưa phản ánh kịp những diễn biến của BĐKH Bằng những chính sách và biện pháp khác nhau, Nhà nước ta đang can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo vệ các yếu tố của khí hậu Trong những biện pháp mà Nhà nước ta sử dụng trong lĩnh vực khác, báo điện tử đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cũng như cảnh báo hậu quả từ BĐKH cho công chúng

Xuất phát từ mong muốn làm rõ những thông tin liên quan đến hậu quả BĐKH và sự quan tâm của con người về BĐKH tại Việt Nam hiện nay thông qua phương tiện chuyển tải là báo điện tử Từ đó, đề ra một số giải pháp giúp tăng cường chất lượng thông tin về hậu quả BĐKH cho báo điện tử, tác giả

luận văn xin lựa chọn đề tài: “Thông tin về hậu quả của biến đổi khí hậu trên

báo điện tử Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

BĐKH không còn là thuật ngữ xa lạ, không phải vấn đề mới với công đồng toàn cầu hiện nay Trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học tự nhiên, nhà khoa học xã hội, các nhà báo, giới truyền thông, những người làm công tác tư tưởng, tuyên truyền về

Trang 11

* Các nghiên cứu về BĐKH nói chung:

Chiến lược Quốc gia về BĐKH, ban hành kèm theo quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 5.12.2011 của Thủ tướng chính phủ - Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (ISPONRE)

Chiến lược Quốc gia về BĐKH đã nêu ra những mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và tổ chức thực hiện với vấn đề BĐKH của Chính phủ Đặc biệt chiến lược đã đề cập đến cải thiện thực trạng BĐKH thông qua nhiệm vụ đảm bảo an ninh tài nguyên nước và nhiệm vụ ứng phó tích cực với nước biển dâng phù hợp với các vùng dễ bị tổn thương

“Khí hậu biến đổi”- Thảm kịch vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại” của tác giả S.Rahmstorf, Hans J.Schellnhuber do Trang Quan Sen dịch (2008)

Nghiên cứu đã chứng minh BĐKH trên Trái Đất của chúng ta là do con người gây ra Mặt trời ngày càng rộng ra và sáng hơn, vào 1950 Ferd Hoyle

đã tính sức sáng của mặt trời khi Trái Đất vừa mới hình thành yếu hơn hiện nay khoảng 25%-30% Năm 2005, nồng độ CO2 đã đạt đến con số kỷ lục 380ppm (0,038%) Nguyên nhân là do sử dụng năng lượng hóa thạch, phá rừng…Khí hậu trong thế kỷ XXI nóng nhiều hơn Nhiệt độ 10 năm qua là cao nhất khi con người bắt đầu đo đạc vào thế kỷ XIX Diện tích băng tan khoảng 25% từ 1979-2005, mực nước biển tăng, nắng nóng cục bộ ở Châu Âu (2005) ước tính đã làm khoảng 20.000-30.000 người bị tử vong

Báo cáo của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu - IPCC (2007)

Qua phân tích và phỏng đoán các tác động của nước biển dâng đã công nhận ba vùng châu thổ được xếp trong nhóm cực kỳ nguy cơ do sự biến đổi khí hậu là vùng hạ lưu sông Mekong (Việt Nam), sông Ganges - Brahmaputra (Bangladesh) và sông Nile (Ai Cập) Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc – UNDP (2007) đánh giá: “khi nước biển tăng lên 1 một, Việt Nam sẽ

Trang 12

nông nghiệp (tương đương 5 triệu tấn lúa và 10% thu nhập quốc nội ĐBSCL

sẽ có khoảng 2 triệu ha nằm dưới mực nước biển”

Báo cáo “Tác động của biến đổi khí hậu lên hệ sinh thái và phát triển nông thôn ở Đồng bằng sông Cửu Long” – Lê Anh Tuấn, Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ

Bản báo cáo lược khảo kết quả các nghiên cứu về BĐKH - nước biển dâng ở đồng bằng sông Cửu Long, phỏng đoán nguy cơ, phân tích tổn thương cho hệ sinh thái và hoạt động sản xuất nông nghiệp, dân sinh Đây là cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chiến lược có chính sách hợp lý cần triển khai áp dụng kịp thời để hạn chế thiệt hại cho cư dân cả nước nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng

* Các nghiên cứu truyền thông với BĐKH (Báo chí với BĐKH)

Khảo sát sơ bộ về vấn đề “Báo chí Việt Nam với BĐKH” năm 2007 của Viện nghiên cứu Sức khỏe, Môi trường và Phát triển

Trong bản khảo sát này, nhóm nghiên cứu của Viện nghiên cứu sức khỏe, môi trường và phát triển nhận xét rằng hiện nay, các cơ quan truyền thông tại Việt Nam chỉ đưa tin về BĐKH ở bề rộng ở mức độ quốc gia và toàn cầu, không có mối liên quan giữa các vấn đề và hiện trạng ở địa phương

Có rất nhiều bài báo đề cập đến các thảm họa thiên nhiên do BĐKH gây ra như lũ lụt, bão, nước ngầm nhưng chưa có nhà báo nào chỉ ra mối liên hệ giữa các hiện tượng trên và BĐKH Hầu hết các bài báo in về BĐKH chỉ tập trung đưa tin vào các hội nghị, trích dẫn phát biểu của các quan chức Trung ương

và địa phương về BĐKH

Tham luận “Truyền thông về môi trường trong thời đại bùng nổ internet” – PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang, Học viện Báo chí Tuyên truyền

Tham luận đề cập đến những vấn đề môi trường thường được báo chí đăng tải và chỉ ra rằng, phần lớn tác phẩm đều sử dụng thể loại tin và bài báo

Trang 13

lượng thông tin sâu như phóng sự, phỏng vấn, bình luận hoặc ký sự còn rất ít Đặc biệt, tham luận đã nhấn mạnh vai trò của internet trong việc đưa tin, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của người dân với các vấn đề môi trường

Đề tài “Thực trạng đăng tải các bài viết về biến đổi khí hậu ở Việt Nam trên báo mạng điện tử” – luận văn tốt nghiệp Đại học của cử nhân Trần Thị Thu Hà, lớp Xã hội học K28, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2012

Nghiên cứu các bài viết liên quan đến BĐKH trên 3 trang báo điện tử VnE, Dân trí và Vietnamnet từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 4 năm 2012, đề tài của cử nhân Trần Thị Thu Hà đã đánh giá thực trạng đăng tải các bài viết thuộc chủ đề BĐKH ở Việt Nam trên báo điện tử, đồng thời nêu ra những đề xuất và khuyến nghị nhằm thay đổi nội dung, hình thức cũng như nâng cao Thực trạng đăng tải sản phẩm, thông tin về BĐKH trên báo mạng điện tử

Những công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học, luận văn kể trên chủ yếu nói về tình hình BĐKH, cách khắc phục cũng như ứng phó BĐKH nói chung còn về việc nghiên cứu đưa tin về hậu quả BĐKH trên báo điện tử nói riêng thì chưa đề tài nào nghiên cứu Đặc biệt trong thời đại công nghệ phát triển internet hiện nay, việc cung cấp thông tin về hậu quả BĐKH trên báo điện tử sẽ giúp cho mọi người cập nhập thông tin một cách nhanh chóng, cũng như phòng tránh được những hiểm họa không lường trước về tình hình phức tạp của BĐKH hiện nay

Căn cứ vào thực tế lịch sử nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn cho rằng cần phải có một đề tài chuyên sâu về lĩnh vực: “Thông tin về hậu quả của biến đổi khí hậu trên báo điện tử Việt Nam”, từ đó làm rõ những thông tin liên quan đến hậu quả của BĐKH và đề ra một số giải pháp, kiến nghị giúp tăng cường chất lượng thông tin về hậu quả của BĐKH cho báo điện tử

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là khảo sát, phân tích, nghiên cứu, đánh giá thực trạng

Trang 14

Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của báo điện tử về vấn đề này

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, làm rõ các khái niệm, quan điểm, lý thuyết về BĐKH, hậu

quả của BĐKH và vai trò của báo chí về vấn đề này

Thứ hai, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng thông tin về hậu quả

của BĐKH trên báo điện tử ở Việt Nam hiện nay

Thứ ba, đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của

báo điện tử thông tin về hậu quả của BĐKH ở nước ta hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Thông tin về hậu quả của biến đổi khí hậu trên báo điện tử Việt Nam

* Phương pháp cụ thể

Phương pháp nghiên cứu văn bản: Dùng để xem xét, phân tích thông tin trong các tài liệu có đề cập hoặc liên quan ít nhiều đến thông tin về hậu quả của BĐKH và ứng phó BĐKH ở Việt Nam trên báo điện tử từ đó rút ra những thông tin cần thiết, phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài

Phương pháp phân tích nội dung: Dùng để phân tích văn bản, nội dung,

Trang 15

thông tin về hậu quả của BĐKH và cách ứng phó hậu quả BĐKH ở Việt Nam trên báo điện tử hiện nay

Phương pháp phỏng vấn sâu: Đối tượng phỏng vấn là những người làm công tác quản lý, các phóng viên, nhà báo chuyên viết về đề tài BĐKH, thư

ký tòa soạn báo điện tử

Phương pháp thống kê: Dùng để thống kê tài liệu, con số, sự kiện, dữ liệu thu được trong quá trình khảo sát

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được dùng để phân tích, đánh giá và tổng hợp những kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra những luận cứ, luận điểm khái quát

Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi an-ket dành cho 2 nhóm đối tượng:

Thứ nhất đối với độc giả thông qua việc điều tra, nhận thức của công chúng báo điện tử bằng bảng hỏi an-ket để thu thập, phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trang thông tin về hậu quả của BĐKH Việt Nam Tác giả luận văn tiến hành khảo sát với 160 phiếu phát ra và thu về 176 phiếu Đối tượng công chúng báo điện tử thăm dò bao gồm: Học sinh, sinh viên, cán bộ, công nhân viên chức, doanh nhân, tiểu thương Phạm vi khảo sát đối tượng công chúng trên địa bàn Hà Nội

Thứ hai đối với phóng viên, nhà báo thông qua việc mức độ quan tâm của tòa soạn trong việc đưa thông tin về hậu quả của BĐKH bằng bản hỏi an-ket Tác giả luận văn tiến hành khảo sát 60 phiếu và thu về 40 phiếu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

* Ý nghĩa lý luận

Đây là một trong những đề tài nghiên cứu mới ở cấp độ luận văn thạc

sỹ thông tin về hậu quả BĐKH trên báo điện tử Việt Nam Vấn đề này nếu được nghiên cứu thành công sẽ giúp cho mọi người trong xã hội có cái nhìn tổng quan hơn về tình hình BĐKH, hậu quả của BĐKH và cách ứng phó hậu

Trang 16

* Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn là sự tổng kết nghiên cứu bước đầu về việc truyền tải thông tin của báo điện tử về hậu quả của BĐKH ở Việt Nam, mức độ quan tâm của con người về tình hình khí hậu Qua đó đề ra một số giải pháp cơ bản giúp tăng cường chất lượng thông tin về hậu quả BĐKH cho báo điện tử

Vấn đề nghiên cứu này nếu được giải quyết cũng sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà báo cũng như cơ quan quản lý của báo điện tử có cái nhìn đúng đắn và toàn diện hơn trong việc đưa tin về hậu quả BĐKH ở Việt Nam

Luận văn là tài liệu tham khảo tốt cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và những ai quan tâm đến chủ đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng thông tin về hậu quả của biến đổi khí hậu ở Việt Nam trên báo điện tử hiện nay

Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của báo điện tử trong việc thông tin về hậu quả của biến đổi khí hậu ở nước ta hiện nay

Nội dung của luận văn sẽ được trình bày trình tự các chương nói trên

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu

BĐKH đang là vấn đề cấp bách của toàn cầu, nó diễn biến vô cùng phức tạp và là một thách thức lớn với rất nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Đã có rất nhiều những định nghĩa về biến BĐKH được đưa ra và chúng ta có thể nghiên cứu một số khái niệm cơ bản sau:

Theo định nghĩa của IPCC trong báo cáo lần thứ Tư (AR4) năm 2007 [5] BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu

Chương trình mục tiêu Quốc gia năm 2008 của Bộ TN&MT Việt Nam giải thích: BĐKH là sự biến đổi trạng thái khí hậu so với trung bình hoặc giao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập

kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do quá trình tự nhiên bên trong hoặc tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển

Theo UNFCCC, BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo Sự thay đổi về khí hậu gây ra trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của con người làm thay đổi cấu thành của khí quyển trái đất mà cùng với biến đổi khí hậu tự nhiên, đã được quan sát trong một thời kì nhất định

Trang 18

Sự nóng lên của trái đất và nước biển dâng đó chính là những biểu hiện

rõ ràng nhất của BĐKH trong những năm qua Đó là:

Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung

Sự dâng cao của mực nước biển do tan băng dẫn tới ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển

Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất

Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người

* Nguyên nhân của biến đổi khí hậu

Nguyên nhân của BĐKH trái đất bao gồm cả tự nhiên và nhân tạo Theo báo cáo mới nhất của LHQ, nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng BĐKH 90% do con người gây ra

Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm:

sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi vị trí và quy mô của các Châu lục, sự biến đổi của các dạng hải lưu, và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển

Nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người) xuất phát

từ sự thay đổi mục đích sử dụng đất và nguồn nước và sự gia tăng lượng phát thải khí CO2 và các khí nhà kính khác từ các hoạt động của con người

Như vậy, BĐKH không chỉ là hậu quả của hiện tượng hiệu ứng nhà kính (sự nóng lên của trái đất) mà còn bởi nhiều nguyên nhân khác Tuy nhiên, có rất nhiều bằng chứng khoa học cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa quá trình tăng nhiệt độ trái đất với quá trình tăng nồng độ khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển, đặc biệt trong kỷ nguyên công nghiệp Trong suốt gần 1 triệu năm trước cách mạng công nghiệp, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển nằm trong khoảng từ 170 đến 280 phần triệu (ppm) Hiện tại, con

Trang 19

tốc độ nhanh hơn nữa Chính vì vậy, sự gia tăng nồng độ khí CO2 trong khí quyển sẽ làm cho nhiệt độ trái đất tăng và nguyên nhân của vấn đề BĐKH là

do trái đất không thể hấp thụ được hết lượng khí CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính khác đang dư thừa trong bầu khí quyển

1.1.2 Một số thuật ngữ về biến đổi khí hậu

Thời tiết: Là trạng thái khí quyển ở một thời điểm tại một nơi nhất định được xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa,…

Khí hậu: Là tổng hợp của thời tiết được đặc trưng bởi các trị số thống

kê (trung bình, xác suất các cực trị v.v ) của các yếu tố khí tượng biến động trong một khu vực địa lý Thời kỳ trung bình thường là vài thập kỷ Định nghĩa chính thức của WMO: “Tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một khu vực nhất định đặc trưng bởi thống kê dài hạn các biến số của trạng thái khí quyển

ở khu vực đó”

Nước biến dâng: Sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong

đó không bao gồm triều, nước dâng do bão,…Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác

El Nino, La Nina, ENSO: Vào những khoảng thời gian không đều đặn, nhưng nhìn chung vào khoảng bốn năm một lần, nhiệt độ bề mặt nước biển phía đông và trung tâm xích đạo Thái Bình Dương lại nóng lên trên diện rộng

Sự nóng lên đó thường kéo dài khoảng một năm, được gọi là hiện tượng El Nino (tên này có nghĩa là “ Đứa con của Chúa”, do hiện tượng này thường xảy ra vào mùa Giáng sinh ngoài khơi Nam Mỹ, kéo dài và mạnh lên khi hiện tượng El Nino trên toàn Thái Bình Dương xảy ra) El Nino có thể được coi như pha nóng lên của dao động khí hậu Trong pha lạnh đi, gọi là La Nina, nhiệt độ bề mặt biển Thái Bình Dương xích đạo lạnh đi so với bình thường Nhiệt độ bề mặt biển đi đôi với sự dịch chuyển lan rộng trong khí quyển về

Trang 20

nhiệt đới đi kèm chu trình EL Nino/La Nina Các hiện tượng này bao gồm sự tương tác mạnh giữa đại dương và khí quyển, và thuật ngữ ENSO (El Nino/Shouthem Osciliation) thường được dùng để chỉ một hiện tượng tổng thể Ở khu vực Thái Bình Dương, chu trình ENSO sinh ra những biến đổi lớn,

rõ ràng trong các dòng hải lưu vùng nhiệt đới, nhiệt độ, gió tín phong, các khu vực mưa v.v Thông qua các mối liên hệ xa trong khí quyển, ENSO cũng ảnh hưởng đến khí hậu theo mùa ở nhiều khu vực khác trên toàn cầu

Khí nhà kính: Là các khí có trong khí quyển, có nguồn gốc tự nhiên

hoặc nhân tạo,có khả năng hấp thụ các tia có bức sóng trong dải sóng nhiệt hồng ngoại (thermal infrared radiation) trên bề mặt Trái đất, khí quyển và mây mù, ngăn cản và làm giảm lượng bức xạ của Trái đất thoát ra ngoài vũ trụ, do đó làm nóng tầng bên dưới khí quyển và bề mặt Trái đất Tác động của các khí này có tính chất của các tia nhiệt trong nhà kính (gây hiệu ứng nhà kính) nên gọi là khí nhà kính Những khí nhà kính trong khí quyển trên bề mặt Trái đất gồm: Hơi nước, carbon dioxide CO2, nitrous oxide N2O, methane CH4, hydro-flourocarbon HFC, per-flourocarbon PFCs, sulphur

1.1.3 Hậu quả của biến đổi khí hậu

BĐKH đang gây ra rất nhiều hệ lụy khôn lường, nó không chỉ trực tiếp tác động đến đời sống con người mà còn đang hủy hoại các hệ sinh thái trên trái đất Dưới đây là những hậu quả mà BĐKH đang gây ra

Trang 21

BĐKH cùng với lượng cac bon dioxite ngày càng tăng cao đang trở thành một thách thức cực kỳ lớn với hệ sinh thái, nếu cứ diễn biến như vậy, rất có thể trong tương lai hệ sinh thái sẽ bị phá hủy Tại Hội nghị cấp cao LHQ về phát triển bền vững (Rio+20), Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) đã công bố nghiên cứu “Những quan sát trực tiếp về biến đổi khí hậu và sự bền vững của hệ sinh thái lớn”, cảnh báo các hiểm họa từ biến đổi khí hậu đối với môi trường sống của sinh vật Là nguyên nhân làm cho hệ sinh thái đang ngày càng bị mất

cân bằng

Các hậu quả của BĐKH gây ra khiến không khí bị ô nhiễm nặng, thiếu hụt nguồn nước ngọt, năng lượng và nhiên liệu khan hiếm và các vấn đề y tế liên quan khác không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta mà còn là vấn đề sinh tồn

- Mất đa dạng sinh học

Nhiệt độ trái đất hiện nay ngày càng khắc nghiệt, nếu cứ tiếp tục nóng lên như vậy sẽ khiến cho các loài sinh vật biến mất hoặc có nguy cơ tuyệt chủng Theo thống kê đến năm 2050, sẽ có khoảng 50% các loài động thực vật sẽ không còn tồn tại nữa nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4°C nữa

Theo các nhà khoa học, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự mất mát này

là do mất môi trường sống đã bị thay đổi quá nhiều vì đất bị hoang hóa, do nạn phá rừng triền miên và do nước biển ấm lên Minh chứng cho sự thay đổi này là đã có một số loài động vật di cư đến vùng Bắc cực để tìm môi trường sống có nhiệt độ phù hợp Ví dụ như là loài cáo đỏ, trước đây chúng thường sống ở Bắc Mỹ thì nay đã chuyển lên vùng Bắc cực

Không chỉ các loài sinh vật học bị ảnh hưởng mà con người cũng không tránh khỏi những hậu quả của BĐKH gây ra Việc đất đai bị hoang hóa

và mực nước biển đang dâng lên cũng đe dọa đến nơi cư trú của chúng ta Nếu một ngày nào đó, cây cỏ không còn, động vật cũng dần dần mất cũng đồng nghĩa với việc nguồn lương thực, nhiên liệu và thu nhập của chúng ta

Trang 22

cũng mất đi Con người từ đó cũng theo các loài sinh vật học biến khỏi trái đất này

- Chiến tranh và xung đột

Trái đất ngày càng nóng lên, BĐKH ngày càng phức tạp xảy ra theo chiều hướng xấu Hiện tại, lương thực và nước ngọt đang rất khan hiếm, đất đai cũng biến mất nhưng dân số thì vẫn cứ tiếp tục tăng Những nguyên nhân trên là yếu tố gây ra những xung đột và chiến tranh giữa các nước và cùng lãnh thổ Một cuộc xung đột điển hình do biến đổi khí hậu là ở Darfur Xung đột ở đây nổ ra trong thời gian hạn hán kéo dài suốt 20 năm, vùng này chỉ có một lượng mưa nhỏ giọt và thậm chí nhiều năm không có mưa, làm nhiệt độ

vì thế càng tăng cao Theo phân tích của các chuyên gia, các quốc gia thường xuyên bị khan hiếm nước và mùa màng thất bát thường rất bất ổn về an ninh

Theo New Scientist, nhóm nghiên cứu nhận thấy có một mối liên hệ chặt chẽ giữa nhiệt độ và nguy cơ xung đột vũ trang Trong những giai đoạn

mà nhiệt độ trung bình tăng thì số lượng các cuộc chiến cũng leo thang Các tính toán dựa trên mô hình khí hậu cho thấy, nguy cơ chiến tranh sẽ tăng lên 54% trong khoảng thời gian từ nay tới năm 2030, với số người chết tăng thêm 393.000 Marshell Burke và David Lobell, hai trưởng nhóm nghiên cứu, cho rằng lượng khí thải sẽ không giảm trong ngắn hạn nên nhiệt độ trái đất còn tăng và các cuộc chiến trong tương lai sẽ thảm khốc như hiện nay

- Các tác hại đến kinh tế

BĐKH không chỉ gây ra những thiệt hại về con người mà nó còn gây

ra rất nhiều những thiệt hại về kinh tế Các cơn bão lớn xảy ra khiến cho mùa màng thất bát, chi phí để khắc phục hậu quả này lên đến nhiều tỉ đô la Bên cạnh đó, muốn triệt để những mầm bệnh phát tán sau mỗi đợt lũ cũng cần một số tiền khổng lồ Vì vậy, ở các quốc gia có khí hậu khắc nghiệt càng làm thâm hụt nền kinh tế

Kinh tế tổn thất khiến cho đời sống của con người cũng ảnh hưởng

Trang 23

gánh chịu, các chính phủ phải đối mặt với việc lợi nhuận từ các ngành du lịch

và công nghiệp giảm sút đáng kể, nhu cầu thực phẩm và nước sạch của người dân sau mỗi đợt bão lũ rất cấp thiết, chi phí khổng lồ để dọn dẹp đống đổ nát sau bão lũ, và các căng thẳng về đường biên giới BĐKH trở thành mối nguy đối với nhiều nước Ví dụ: Theo chỉ số rủi ro thời tiết toàn cầu (CRI) phân tích mức độ các quốc gia chịu ảnh hưởng bởi thiệt hại liên quan đến thời tiết, bao gồm bão lớn, lũ lụt và các đợt nắng nóng Theo số liệu thống kê trong thời gian 1996-2015, Trung Quốc đã thiệt hại 32,8 tỷ USD do thiên tai, tiếp theo là Ấn Độ với 11,3 tỷ USD Trong khi đó, mức thiệt hại của Thái Lan là 7,6 tỷ USD, tương đương 1% GDP, cao hơn nhiều so với Philippines (2,8 tỷ USD), Nhật Bản (2,4 tỷ USD), Bangladesh (2,3 tỷ USD), Việt Nam (2,1 tỷ USD), Indonesia (1,9 tỷ USD), Myanmar (1,4 tỷ USD) và Hàn Quốc (1,1 tỷ USD)

- Dịch bệnh

Những đợt lũ lụt, hạn hán khi xảy ra nó sẽ tạo điều kiện cho các loại côn trùng như muỗi, ve, gián… phát triển, những loài côn trùng này sinh sôi nảy nở rất nhanh và mang đến những mầm bện gây nguy hại tới sức khỏe của con người Tổ chức WHO đưa ra báo cáo rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ hết Những vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện các loại bệnh nhiệt đới Theo thống kê, hàng năm có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên quan đến BĐKH, từ bệnh tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn đề hô hấp và tiêu chảy…

Ở Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Y tế, tại Việt Nam tình trạng BĐKH đang tác động nghiêm trọng đến sức khỏe người dân Trong đó, nổi cộm là các bệnh như: thiếu chất dinh dưỡng, căng thẳng, mất ngủ, kém ăn, chóng mặt, nhức đầu…, nhất là các bệnh truyền nhiễm ghi nhận ngày một nhiều do nhiệt độ tăng cao Tại Đồng bằng sông Cửu Long nhiệt độ tăng 1 độ C sẽ làm

Trang 24

đường hô hấp Nghiên cứu tại Vinh (Nghệ An) cho thấy, từ tháng 6 đến tháng

9 (thời gian nóng nhất), tỷ lệ trẻ nhập viện tăng 1,56 lần so với thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 Riêng tỷ lệ trẻ nhập viện do bệnh hô hấp tăng 1,64 lần Người già nhập viện do bệnh tim mạch ở TP Hồ Chí Minh tăng 12,9% trong những ngày có sóng nhiệt Tại Thái Nguyên, nguy cơ nhập viện bệnh tim mạch do phơi nhiễm với lạnh cũng gia tăng đáng kể Cứ giảm 1°C thì số bệnh nhân tim mạch nhập viện tăng 1,12 lần Bệnh tiêu chảy cũng bị ảnh hưởng rất lớn khi thời tiết thay đổi Cứ tăng 1°C trong 2 - 4 tuần ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tăng 1,5% ca tiêu chảy

- Hạn hán

Hạn hán có tác tác động to lớn đến môi trường, kinh tế, chính trị xã hội

và sức khoẻ con người Hạn hán là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật thậm chí là chiến tranh do xung đột nguồn nước Hiện tại, các vùng như Ấn

Độ, Pakistan, và Châu Phi đang hứng chịu những đợt hạn hán, lượng mưa ở các khu vực này ngày càng thấp, và tình trạng này còn tiếp tục kéo dài trong vài thập kỷ tới Theo ước tính, đến năm 2020, sẽ có khoảng 75 triệu đến 250 triệu người dân châu Phi thiếu nguồn nước sinh hoạt và canh tác, dẫn đến sản lượng nông nghiệp của lục địa này sẽ giảm khoảng 50%

Cơ quan Biến đổi khí hậu Copernicus của Liên minh châu Âu cho biết năm 2016 đã vượt qua năm 2015 để thiết lập kỷ lục là năm nóng nhất kể từ khi nhân loại bắt đầu lưu giữ các hồ sơ đáng tin cậy về nền nhiệt trên Trái Đất Nhiệt độ trung bình trên bề mặt Trái Đất năm 2016 cao hơn năm 2015 khoảng 0,2°C, ở mức 14,8°C, tức là cao hơn 1,3°C so với giai đoạn trước cuộc Cách mạng công nghiệp

- Bão lụt

Những cơn bão trong những năm qua xuất hiện ngày càng nhiều đe dọa đến tính mạng, của cải, vật chất của con người… Theo ước tính trong 30 trở lại đây, số lượng những cơn giông bão cấp độ mạnh đã tăng gần gấp đôi

Trang 25

- Những đợt nắng nóng gay gắt

Các đợt nắng nóng hiện nay xuất hiện khá nhiều, gấp khoảng 4 lần so với trước đây Theo ước tính trong vòng 40 năm tới, con người sẽ phải chịu những đợt nắng nóng nhiều hơn nữa không chỉ gấp 4 lần như hiện nay mà nó còn tăng lên 100 lần Đây là một co số khủng khiếp mà khiến ai cũng phải lo

sợ Hậu quả của các đợt nóng này là nguy cơ cháy rừng, các bệnh tật do nhiệt

độ cao gây ra, và tất nhiên là đóng góp vào việc làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất

- Các núi băng và sông băng đang teo nhỏ

Các núi băng và sông băng đang co lại Những lãnh nguyên bao la từng được bao phủ bởi một lớp băng vĩnh cữu rất dày giờ đây được cây cối bao phủ Lấy một ví dụ, các núi băng ở dãy Hy Mã Lạp Sơn cung cấp nước ngọt cho sông Hằng - nguồn nước uống và canh tác của khoảng 500 triệu người - đang co lại khoảng 37 mét mỗi năm

- Mực nước biển đang dâng lên

Nhiệt độ ngày càng cao trên trái đất khiến mực nước biển đang dần dâng lên Nhiệt độ tăng làm các sông băng, biển băng hay lục địa băng trên trái đất tan chảy và làm tăng lượng nước đổ vào các biển và đại dương Các nhà khoa học đã tiến hành quan sát, đo đạc và nhận thấy rằng băng ở đảo băng Greenland đã mất đi một số lượng lớn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các đảo quốc hay các quốc gia nằm ven biển Theo ước tính, nếu băng tiếp tục tan thì nước biển sẽ dâng thêm ít nhất 6m nữa vào năm 2100 Với mức này, phần lớn các đảo của Indonesia, và nhiều thành phố ven biển khác sẽ hoàn toàn biến mất

1.1.4 Báo điện tử

Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại nhiều cách gọi khác nhau đối với loại hình báo chí này như: Báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online Newspaper), báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí Internet

Trang 26

Báo điện tử là khái niệm thông dụng nhất ở nước ta Theo Điều 3, Luật Báo chí năm 1989 được sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa X quy định: “Báo điện tử là loại hình báo chí được thực hiện trên mạng thông tin máy tính” Cách hiểu này đã dẫn đến sự xuất hiện các “báo điện tử” đối với các tờ báo in đưa thông tin lên mạng Internet như Nhân Dân, Lao Động, Tuổi Trẻ…

Còn theo Luật báo chí sửa đổi, bổ sung số 103/2016/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 5/4/2016 (gọi tắt là Luật báo chí 2016, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2017) định nghĩa: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử” Trong đó, “Tạp chí điện tử là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ, đăng tin, bài

có tính chất chuyên ngành, được truyền dẫn trên môi trường mạng”

Trong nền báo chí cách mạng Việt Nam, báo điện tử tuy ra đời sau những loại hình báo chí khác nhưng đã nhanh chóng phát triển cả về số lượng, chất lượng và ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong đời sống báo chí, đời sống xã hội của đất nước

Có thể nói rằng báo điện tử - kết quả của sự tích hợp giữa công nghệ và truyền thông, dựa trên nền của Internet và sự tích hợp ưu thế của các loại hình báo chí truyền thông, đã đem lại những giá trị rất lớn cho người dân, cho xã hội Báo điện tử đã tạo ra bước ngoặt, làm thay đổi cách truyền tin và tiếp nhận thông tin

1.1.5 Những đặc trƣng cơ bản của báo điện tử

 Khả năng đa phương tiện

Đa phương tiện là thuật ngữ xuất phát từ từ “multimedia” trong tiếng Anh Khái niệm “đa phương tiện” xuất hiện từ khoảng giữa thế kỷ XX Đến nay, khái niệm này đã dần trở nên phổ biến để chỉ nhiều loại sản phẩm, phần mềm khác nhau trên máy tính và mạng Internet

Với việc phát triển vượt bậc của công nghệ mạng, phần cứng và phần

Trang 27

mới với những cách thức thể hiện khác nhau Một sản phẩm báo chí đa phương tiện phải bao gồm các thành phần văn bản (text), hình ảnh tĩnh và đồ họa (still image & graphic), âm thanh (audio), hình ảnh động (video & animation) và các chương trình tương tác (interative program) Nhờ đó, khi độc giả đọc báo mạng vẫn có thể chủ động xem những tác phẩm mình quan tâm ở bất kì trang nào giống như báo in, đồng thời, tiếp nhận trực quan những hình ảnh, video clip, lắng nghe những âm thanh mà không hề bị phụ thuộc vào các yếu tố thời gian, không gian

Nói một cách tổng quát, đa phương tiện trên báo điện tử là việc sử dụng nhiều loại phương tiện (ngôn ngữ văn tự và phi văn tự) để thực hiện một sản phẩm báo chí Sự tích hợp này giúp cho báo điện tử có được những yếu tố hấp dẫn của các loại hình báo chí khác để trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn Hiện nay, hầu hết các tờ báo điện tử của Việt Nam đã tích hợp được khả năng

đa phương tiện Bên cạnh việc biên tập, sưu tầm, phát lại các chương trình của nhiều kênh truyền hình, các trang web chia sẻ video thì các tờ báo mạng

đã đầu tư để tự sản xuất ra các sản phẩm đa phương tiện của riêng mình ở mọi lĩnh vực chứ không đơn thuần là thông tin giải trí như trước kia

 Tính tức thời và phi định kỳ

Báo điện tử đã vượt qua được các rào cản mà các loại hình báo chí khác gặp phải, nội dung thông tin không bị giới hạn bởi khuôn khổ của trang báo, thời lượng phát sóng hay thời gian tuyến tính, quy trình sản xuất thông tin lại đơn giản, dễ dàng có thể cập nhật, bổ sung bất kỳ lúc nào với số lượng là bao nhiêu Với tốc độ đường truyền nhanh, thậm chí các nhà báo có thể đưa tin cùng lúc với sự kiện, ví dụ như khi tường thuật một trận bóng đá, hay một cuộc họp báo… Thông tin trên báo mạng có thế sống động, nóng hổi đến từng giờ, từng phút, thậm chí là từng giây Người ta gọi báo điện tử là báo giờ bởi khả năng cập nhật thông tin kịp thời của nó

Việc cập nhật thông tin có thể diễn ra liên tục nhiều lần trong ngày nên

Trang 28

chấm hết mà luôn được “sống” bởi nó có thể kéo dài hoặc rút ngắn bất kì lúc nào Bởi đó, chỉ báo điện tử mới có khái niệm “bài báo mở” – tức là bài báo sau khi đã phát hành vẫn còn tiếp tục được cập nhật Đặc điểm này giúp cho báo điện tử dễ dàng vượt trội hơn so với các loại hình báo chí khác về tốc độ thông tin, lượng thông tin, đảm bảo tính thời sự và tạo ra sự thuận tiện cho độc giả

Ở Việt Nam hiện nay, bên cạnh những tờ báo điện tử độc lập như VnExpress, VietNamNet, Dantri…có tốc độ cập nhật thông tin rất nhanh chóng thì các tờ báo điện tử thuộc các cơ quan báo in, đài phát thanh, truyền hình cũng đang ngày càng khẳng định tốc độ cập nhật và truyền tin, chủ động tận dụng những khả năng và tiện ích của báo điện tử để đưa tin nhanh chóng đến công chúng

 Tính tương tác cao

Tính tương tác là một trong những đặc trưng quan trọng của báo chí Khi điều kiện của con người được nâng cao, nhu cầu được đáp ứng về thông tin cũng như sự tương tác với báo chí của độc giả càng được coi trọng Ở bất kì loại hình báo chí nào, tính chất này đều được những người làm báo lưu tâm Đối với báo điện tử, nhờ có những đặc trưng nổi trội về công nghệ mà tính tương tác dường như cao hơn so với các loại hình còn lại

Hàng ngày, mỗi tòa soạn báo điện tử có thể nhận được hàng trăm thư các loại từ bạn đọc Vì thế, để nhanh chóng thông báo cho bạn đọc biết tòa soạn

đã nhận được thư của họ, báo điện tử còn sử dụng hệ thống trả lời tự động Cứ mỗi khi nhận được một e-mail, hệ thống trả lời tự động sẽ gửi lại cho độc giả một bức thư với nội dung đã được biên soạn sẵn để cảm ơn Còn nếu ý kiến nào được sử dụng, tòa soạn sẽ gửi một thư riêng khác đến độc giả đó Quá trình chọn lọc và xử lý thông tin từ thư bạn đọc có thể được tiến hành nhanh chóng nhờ sự hỗ trợ của công nghệ cao Đây là công việc rất quan trọng bởi qua đó công chúng cảm thấy tự tin, mạnh dạn, cảm thấy được coi trọng khi

Trang 29

Không dừng lại ở sự tương tác giữa độc giả với toà soạn, ở báo điện tử, chúng ta còn có thể thấy sự tương tác nhiều chiều giữa độc giả với nhà báo, độc giả với độc giả, hay độc giả với nhân vật trong tác phẩm báo chí Ngày nay các phương tiện tương tác trên các tờ báo điện tử đã được tăng cường bằng việc lắng nghe, lôi cuốn sự tham gia của độc giả vào việc thu thập và cung cấp thông tin Các tờ báo chú ý nhiều hơn đến việc kéo độc giả vào những hành vi mang tính cộng tác, làm họ trở nên chủ động và tích cực hơn trong quá trình tìm kiếm, khai thác thông tin hơn là chỉ đơn thuần cung cấp nhiều thông tin Ngay sau mỗi tác phẩm báo chí đăng trên trang báo điện tử đều có mục phản hồi, ngoài ra còn có rất nhiều kênh tương tác khác như comment, feedback, vote, email… tiện lợi cho độc giả dễ dàng đóng góp ý kiến của mình

 Khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin

Báo điện tử không bị giới hạn bởi số trang, khuôn khổ hay thời lượng chương trình như các loại hình báo chí khác Bởi thông tin trên báo điện tử được lưu trữ dưới dạng đĩa với dung lượng cực lớn có thể chứa hàng trăm cuốn từ điển bách khoa toàn thư Chương trình lưu trữ trên máy chủ (server)

có thể tải về xem bất cứ lúc nào

Ngoài ra báo điện tử có thể liên kết và tạo ra nhiều lớp thông tin thông qua các siêu liên kết (hyperlink) Điều này tạo cho báo điện tử thực sự là một kho thông tin khổng lồ và kho thông tin đó đảm bảo được các yếu tố:

Thứ nhất, thông tin cực kỳ phong phú, đa dạng cả về số lượng và nội

dung Mỗi ngày, một tờ báo cập nhật số lượng rất lớn những sự kiện, vấn đề trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tất cả đều được nhìn nhận, đánh giá một cách đa chiều, chi tiết

Thứ hai, thông tin khách quan và được kiểm chứng

Thứ ba, thông tin được lưu trữ lâu dài và có hệ thống Mỗi tờ báo điện tử

đều có khả năng lưu trữ, sắp xếp toàn bộ tin, bài đã đăng tải theo trật tự thời

Trang 30

đề được dư luận quan tâm Điều này thực sự đem lại những thuận tiện, hữu ích cho người tìm kiếm

Mặc dù có một kho thông tin khổng lồ nhưng việc tìm kiếm thông tin trên báo điện tử lại hết sức dễ dàng nhờ công cụ tìm kiếm thông tin khoa học

và hiệu quả Với báo điện tử, chỉ cần gõ từ khóa trên công cụ tìm kiếm và

“enter” hoặc nhấn chuột vào nút “Search” là đã có thể tìm được những bài viết đã đăng trước đó Không để người đọc bị lạc vào thế giới “mê hồn trận” của thông tin, các công cụ này có thể giúp bạn đọc tìm thông tin theo ý muốn của mình một cách nhanh chóng: Tìm kiếm theo chủ đề, chuyên mục; theo ngày tháng và theo từ khóa Tuy nhiên, mỗi tờ báo điện tử sẽ đưa ra các công

cụ tìm kiếm với những quy tắc của riêng mình

1.2 Tình hình thông tin chung về hậu quả của biến đổi khí hậu

1.2.1 Thông tin về hậu quả của biến đổi khí hậu trên thế giới

Hiện nay, đã có rất nghiên cứu, những hội thảo khoa học và các công trình khoa học về BĐKH của các nước và các tổ chức đánh giá về những hậu quả vô cùng nghiêm trọng của BĐKH trên thế giới

Năm 1979, tại Hội thảo đầu tiên về “Khí hậu toàn cầu” do tổ chức WMO chủ trì đã nói rằng: Việc tiếp tục mở rộng các hoạt động của con người

có thể gây ra những tác động lớn tới khí hậu

Năm 1988, Đại hội đồng Liên hợp Quốc đã chính thức thông qua Nghị quyết 43/53, thừa nhận rằng biến đổi khí hậu là một vấn đề vô cùng lớn cần được quan tâm của toàn nhân loại Cũng trong năm này, IPCC được thành lập bởi chương trình mội trường Liên hợp quốc (UNEP) và tổ chức khí tượng thế giới (WMO)

Trong báo cáo lần thứ nhất của tổ chức IPCC (1990) về biến đổi khí hậu có kết luận rằng trong suốt một thế kỷ qua, nhiệt độ trung bình toàn cầu

đã tăng từ 0,3 độ C đến 0,6 độ C Con người đã khiến khí hậu thay đổi khi họ

sả thải ra rất nhiều khí nhà kính làm cho nồng độ khí nhà kính tăng cao hơn

Trang 31

rất nhiều so với nồng độ tư nhiên của chúng trong khí quyển và đây chính là nguyên nhân cơ bản gây ra sự nóng lên của toàn cầu

Mới đây nhất trong báo cáo đánh giá lần thứ 5 của IPCC cho thấy, sự

ấm lên của khí hậu toàn cầu là rõ ràng và từ những năm 1950 có nhiều thay đổi chưa từng có trong nhiều thập kỷ hoặc thiên niên kỷ trước đó Khí quyển

và đại dương đã trở nên nóng hơn, lượng tuyết và băng đã giảm đi và mực nước biển đã tăng lên Về nguyên nhân, IPCC cho rằng, phát thải khí nhà kính

do con người là nguyên nhân chính gây ra của sự ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu

Từ những nghiên cứu trên chúng ta có thể thấy được rằng những hậu quả mà BĐKH đã và đang gây ra những tác động tiêu cực tới các hệ thống tự nhiên, nhân tạo và con người trên toàn thế giới Sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa đã gây ra sa mạc hóa, hạn hán, lũ lụt…, gây tác hại cho tài nguyên nước, tài nguyên đất, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội Mực nước biển dâng cao đe dọa làm ngập chìm các hòn đảo, các khu vực đất thấp, làm thay đổi toàn bộ đời sống, sinh hoạt của con người Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ, lũ quét… cũng gây thiệt hại lớn cho các quốc gia

Những minh chứng cho các vấn đề này được biểu hiện qua hàng loạt tác động cực đoan của khí hậu trong thời gian gần đây như đã có khoảng 250 triệu người bị ảnh hưởng bởi những trận lũ lụt ở Nam Á, châu Phi và Mexico Các nước Nam Âu đang đối mặt nguy cơ bị hạn hán nghiêm trọng dễ dẫn tới những trận cháy rừng, sa mạc hóa, còn các nước Tây Âu thì đang bị đe dọa xảy ra những trận lũ lụt lớn, do mực nước biển dâng cao cũng như những đợt băng giá mùa đông khốc liệt Những trận bão lớn vừa xẩy ra tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ có nguyên nhân từ hiện tượng trái đất ấm lên trong nhiều thập kỷ qua Những dữ liệu thu được qua vệ tinh từng năm cho thấy số lượng các trận bão không thay đổi, nhưng số trận bão, lốc cường độ mạnh, sức tàn phá lớn đã

Trang 32

Đại Tây Dương Một nghiên cứu với xác suất lên tới 90%.cho thấy sẽ có ít nhất

3 tỷ người rơi vào cảnh thiếu lương thực vào năm 2100, do tình trạng ấm lên của Trái đất

Theo ước tính của các nhà khoa học, nếu nhiệt độ trung bình của trái đất tăng từ 1,5 đến 2,5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp, khoảng 20% - 30% các loài sinh vật sẽ đứng bên bờ tuyệt chủng Nếu nhiệt độ trung bình của trái đất tăng hơn 4°C thì sẽ chỉ còn rất ít các hệ sinh thái có khả năng thích ứng được, hơn 40% hệ sinh thái sẽ chuyển đổi và rất nhiều hệ sinh thái sẽ biến mất hoặc sụp đổ trên quy mô toàn cầu Bên cạnh đó, nếu mực nước biển dâng cao 1m, hàng triệu người có thể mất nhà cửa và hàng nghìn ha đất canh tác bị ngập lụt, gây thiệt hại hàng trăm tỷ USD Nhiều quốc đảo có độ cao dưới 3m

so với mặt nước biển như Kiribati, Tuvalu, Madivale sẽ mất phần lớn diện tích và một vài nước khác sẽ biến mất khi nước biển dâng cao 1m

BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại Vấn

đề BĐKH đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển

và an ninh toàn cầu như năng lượng, nước, lương thực, xã hội, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thương mại

1.2.2 Thông tin về hậu quả của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Việt Nam đang là một trong những Quốc gia chịu rất nhiều hậu quả của BĐKH gây nên Trong 50 năm qua, nhiệt độ ở Việt Nam đã tăng khoảng 0,5oC trên phạm vi cả nước Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn mùa hè và nhiệt độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo Lượng mưa có xu hướng giảm đi ở phía Bắc, tăng ở phía Nam Lượng mưa cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng, nhất là trong những năm gần đây; số ngày mưa lớn cũng tăng lên tương ứng, nhiều biến động mạnh xảy ra ở khu vực miền Trung Hạn hán có xu thế tăng lên, tuy mức độ không đồng đều giữa các vùng Hiện tượng nắng nóng có dấu hiệu gia tăng rõ rệt ở nhiều vùng trong cả nước, đặc biệt là ở Trung Bộ và Nam Bộ Bên cạnh đó, hiện tượng

Trang 33

ngập do triều cường gia tăng trên diện rộng với mức ngập sâu hơn như ở Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh, Cà Mau, Hải Phòng, Vĩnh Long

Trong những năm gần đây, thiên tai, đặc biệt là tần suất xuất hiện những cơn bão mạnh có xu hướng gia tăng gây ra rất nhiều thiệt hại về người

và các thiệt hại nặng về kinh tế Tính trung bình hàng năm ở Việt Nam thường xảy ra từ 6 đến 8 cơn bão Nhiều cơn bão có những hướng di chuyển phức tạp và dị thường khiến cho công tác phòng chống bão của nhiều tỉnh gặp khó khăn

Theo báo cáo của IMHEN và UNDP (do Bộ TN&MT công bố vào năm 2015), ước tính những thiệt hại do BĐKH gây ra ở Việt Nam trong hơn 30 năm qua là vô cùng lớn, bình quân mỗi năm thiên tai đã làm chết và mất tích khoảng 500 người, bị thương hàng nghìn người, thiệt hại kinh tế khoảng 1,5% GDP Riêng trong giai đoạn 2000-2010, số người thiệt hại do thiên tai là 5.045 người, số người mất tích là 617 người, tổng thiệt hại khoảng 91 nghìn

tỷ đồng Theo tính toán, nếu mực nước biển dâng lên 1m và không có giải pháp ứng phó thì khoảng 6,3% diện tích Việt Nam có nguy cơ bị ngập, ảnh hưởng trực tiếp đến 16% dân số cả nước Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng nặng nề nhất với 39% diện tích có thể bị ngập và 55% dân

số bị ảnh hưởng và thiệt hại ước tính khoảng 17 tỷ USD Ước tính thiệt hại và tổn thất do tác động của BĐKH đên năm 2030 (tính bằng % GDP) đối với các lĩnh vực là: Thủy Sản 1,6%; nông nghiệp 0,4%; đa dạng sinh học 0,1%; tổng chi phí cho thích ứng với BĐKH sẽ tương đương 5,2% GDP Trong Lâm Nghiệp, diện tích rừng bị cháy được thống kê khá đầy đủ, nhưng không có đánh giá thiệt hại về kinh tế Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm, trong giai đoạn 10 năm (2002-2011), cả nước đã xảy ra 7.380 vụ cháy rừng; diện tích rừng bị thiệt hại 49.837 ha Bình quân 715 vụ/năm, diện tích rừng bị thiệt hại gần 5.000 ha/năm Thiệt hại giá trị kinh tế về tài nguyên rừng hàng trăm tỷ đồng mỗi năm và ảnh hưởng nghiêm trọng về môi trường sống

Trang 34

Trong số các thiên tai, Việt Nam chịu thiệt hại nhiều nhất bởi XTNĐ,

lũ lụt, hạn hán và trượt lở đất Theo thống kế trong 13 năm (1990-2012), XTNĐ gây thiệt hại gần 4,7 tỷ USD, lũ lụt gây thiệt hại gần 3,7 tỷ USD trong khi hạn hán và trượt lở đất gây thiệt hại tương ứng là 649 triệu USD và 2,3 triệu USD Còn nhớ vào tháng 7/2017, Miền Bắc trải qua một tuần mưa lụt kinh hoàng đã gây ngập, lũ lụt nhiều nơi Đặc biệt là ở tỉnh Quảng Ninh đã xảy ra đợt mưa lũ lịch sử lớn nhất trong 50 năm qua, gây ngập lụt, sạt lở đất nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh Theo báo cáo của các địa phương, từ ngày 27-

7 đến 19h ngày 2-8, mưa lũ, sạt lở đất đã làm 22 người chết, 36 người bị thương, tổng thiệt hại về vật chất gần 2000 tỷ đổng Hay gần nhất trong 2 đợt mưa lũ ở miền Trung, Tây Nguyên diễn ra từ 13 đến 18/10 và từ 30/10 đến 7/11 làm 59 người chết và 6 người mất tích, hơn 190.000 ngôi nhà bị ngập nước, 22.000 ha lúa ngập và hư hại Tổng thiệt hại vật chất ước tính 7.190 tỷ đồng

Theo kết quả nghiên cứu nêu trong Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu (IMHEN, 2015), chỉ tính trong 15 năm (1996 - 2011), các loại thiên tai như: Bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản,

đã làm chết và mất tích hơn 10.711 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm Tác động của BĐKH đối với một số ngành, lĩnh vực (thể hiện qua tổn thất tính bằng % GDP cho năm 2010) ước tính vào khoảng 0,5% đối với thủy sản; 0,2% đối với nông nghiệp và năng suất lao động là 4,4% Theo một ước tính khác của Chương trình sáng kiến về tính dễ tổn thương do khí hậu (DARA, 2012) về thiệt hại do cực đoan khí hậu gây ra cho năm 2010 (tính theo GDP), thiệt hại do nước biển dâng vào khoảng 1,5%; nắng nóng và giá rét khoảng 0,1%; lũ lụt và trượt lở vào khoảng 0,1%

Trang 35

Theo kịch bản phát thải trung bình nêu trong kịch bản BĐKH, nước biển dâng do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2016 vào cuối thế

kỷ 21 khí hậu Việt Nam có những thay đổi như sau:

Về nhiệt độ trung bình, nhiệt độ không khí bề mặt (nhiệt độ) trung bình năm, mùa (đông, xuân, hè, thu) ở tất cả các vùng của Việt Nam đều có xu thế tăng so với thời kỳ cơ sở (1986-2005); mức tăng phụ thuộc vào các kịch bản RCP và vùng khí hậu Theo kịch bản RCP4.5, mức tăng nhiệt độ trung bình năm phổ biến từ 1,3 đến 1,7°C vào giữa thế kỷ 21; từ 1,7 đến 2,4°C vào cuối thế kỷ Nhìn chung, nhiệt độ phía Bắc tăng cao hơn phía Nam Theo kịch bản RCP8.5, vào giữa thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở phía Bắc có mức tăng phổ biến từ 2,0 đến 2,3°C và ở phía Nam từ 1,8 đến 1,9°C Đến cuối thế kỷ, mức tăng từ 3,3 đến 4,0°C ở phía Bắc và từ 3,0 đến 3,5°C ở phía Nam

Về nhiệt độ cực trị: Trong thế kỷ 21, nhiệt độ cực trị có xu thế tăng so với trung bình thời kỳ 1986-2005 ở tất cả các vùng của Việt Nam, tất cả các kịch bản Theo kịch bản RCP4.5, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ tối cao trung bình năm có xu thế tăng từ 1,7 đến 2,7°C, tăng cao nhất là khu vực Đông Bắc, Đồng Bằng Bắc Bộ; thấp nhất là khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ Trong khi đó, nhiệt độ tối thấp trung bình năm vào cuối thế kỷ có xu thế tăng từ 1,8 đến 2,2°C

Về lượng mưa năm và mưa cực trị: Lượng mưa trung bình năm có xu thế tăng so với thời kỳ cơ sở ở tất cả các vùng và tất cả các kịch bản Lượng mưa mùa khô ở một số vùng có xu thế giảm Mưa cực trị có xu thế tăng Theo kịch bản RCP4.5, đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa trung bình năm có xu thế tăng ở hầu hết diện tích cả nước, phổ biến từ 5% đến 15% Một số tỉnh ven biển Đồng Bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ có thể tăng trên 20% Đối với lượng mưa cực trị, lượng mưa một ngày lớn nhất có xu thế tăng trên toàn lãnh thổ Việt Nam với mức tăng phổ biến từ 10% đến 70% Mức tăng nhiều nhất ở Đông Bắc, Trung Bộ (từ Thừa Thiên - Huế đến Quảng Nam) và Đông Nam Bộ

Trang 36

Về mực nước biển dâng: Theo kịch bản RCP4.5, vào cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: 58

cm (33 cm ÷ 83 cm); thấp nhất ở khu vực Móng Cái đến Hòn Dáu: 53 cm (32

cm ÷ 75 cm) Theo kịch bản RCP8.5, vào cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa: 78 cm (52 cm ÷ 107 cm); thấp nhất ở khu vực Móng Cái đến Hòn Dáu: 72 cm (49 cm ÷ 101 cm) Nếu nước biển dâng 1 m, khoảng 17,57% diện tích Đồng bằng sông Hồng, 1,47% diện tích các tỉnh ven biển miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, 17,84% diện tích thành phố Hồ Chí Minh và 4,79% diện tích Bà Rịa - Vũng Tàu có nguy cơ bị ngập Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có nguy cơ ngập cao (39,40% diện tích), trong đó tỉnh Kiên Giang có nguy cơ ngập cao nhất (75% diện tích)

Việt Nam luôn coi việc ứng phó những hậu quả của BĐKH là vấn đề

có ý nghĩa sống còn; phải gắn liền với phát triển bền vững, hướng tới nền kinh tế các-bon thấp, tận dụng các cơ hội để đổi mới tư duy phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và sức mạnh quốc gia Tiến hành đồng thời các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính để ứng phó hiệu quả với BĐKH, trong đó ở thời kỳ đầu thích ứng là trọng tâm Ứng phó những hậu quả của BĐKH là trách nhiệm không chỉ của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương mà nó còn là toàn xã hội và mọi người dân

1.3 Vai trò của báo chí về hậu quả của biến đổi khí hậu ở nước ta hiện nay

Với chức năng đă ̣c trưng là cung cấp thông tin , đi ̣nh hướng dư luâ ̣n xã

hô ̣i, báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng đang tiếp tục khẳng định vị thế trong đời sống xã hô ̣i hiê ̣n đa ̣i Đặc biệt đối với hoạt động thông tin về những hậu quả của BĐKH, báo chí đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực quản lý nhà nước về BĐKH; nâng cao năng lực hợp tác quốc tế về biến đổi khí hậu, nâng cao nhận thức và hình thành ý thức chủ động ứng phó với BĐKH Ngoài ra, báo chí còn là công cụ quản lý giám sát, răn đe của nhà

Trang 37

trường Hơn nữa, hoạt động thông tin về hậu quả của BĐKH trên báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng có rất nhiều ý nghĩa

Thứ nhất, báo chí là lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền về hậu quả

của BĐKH Đồng thời, báo chí Việt Nam là kênh tuyên truyền trực tuyến, tác động đến đông đảo người dân, doanh nghiệp, các cấp quản lý nhanh nhất, hiệu quả nhất, tạo ra phản ứng mạnh mẽ nhất trước các sự kiện, sự cố về môi trường, về những hậu quả của BĐKH

Thứ hai, việc thông tin về những hậu quả của BĐKH trên báo chí sẽ

giúp cho cộng đồng nhận thức rõ hơn về những tác hại của BĐKH đang gây

ra, nó có tác động tiêu cực đến toàn cầu, những nguy cơ tiềm ẩn, những hiểm họa của BĐKH trong tương lai Từ đó sẽ giúp cho loài người tìm ra được những giải pháp để hạn chế, thích ứng với BĐKH

Thứ ba, hoạt động đưa thông tin về những hậu quả của BĐKH nhằm

thu hút mọi người tham gia vào quá trình chia sẻ thông tin để từ đó tạo ra sự hiểu biết chung của mọi người về những hậu quả của BĐKH hiện nay

Thứ tư, muốn có một tương lai tốt đẹp, không phải chịu những hậu quả

do BĐKH gây ra, chúng ta phải hành động ngay bây giờ Những thông tin về hậu quả của BĐKH kèm theo tác hại của nó là một trong những hành động không thể thiếu Càng tuyên truyền nhiều, càng giúp con người nhận thức được

rõ về BĐKH hiện nay Từ đó mỗi người sẽ có ý thức gìn giữ đất nước, hành tinh xanh, một môi trường sống xanh - sạch - đẹp không bị vơi cạn, bào mòn từ tài nguyên thiên nhiên cho con cháu chúng ta mai sau, những chủ nhân tương lai của đất nước

Thứ năm, thông qua quá tình thông tin trên báo điện tử, có thể thu hút

đông đảo mọi người trong xã hội tham gia vào quá trình tuyền truyền Qua đó nâng cao nhận thức, kiến thức khoa học, thay đổi thái độ và hành vi của họ theo hướng ứng phó thích hợp và có hiệu quả với sự BĐKH trong mọi hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và đời sống

Trang 38

Nếu so với các phương tiên truyền thông ở thời điểm hiện nay, báo điện

tử đang đem lại hiệu quả truyền thông tốt nhất bởi thông tin được cập nhập trên báo điện tử vô cùng nhanh chóng, có sức lan tỏa lớn, nó rất thiết thực trong việc nâng cao nhận thức của người dân và có khả năng thu hút sự chú ý cũng như nhận được sự tương tác lớn từ độc giả Ở bất kì nơi đâu chỉ cần một chiếc máy tính, một chiếc điện thoại hay máy tính bảng có kết nối internet là mọi người có thể thỏa sức tìm kiếm các thông tin trên báo điện tử ở tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính tri, văn hóa, xã hội…và nó cho phép mọi người trên thế giới tiếp cận và đọc không bị phụ thuộc vào không gian và thời gian Ví

dụ sau đây sẽ minh chứng cho hiệu quả thông tin trên báo điện tử:

Tính đến tháng 3 năm 2017, dân số Việt Nam đã chạm mốc gần 95 triệu người Công nghệ ngày càng phát triển khiến cho người dùng tiếp cận Internet ngày càng tăng Theo thống kê từ WeAreSocial, Việt Nam hiện có khoảng 52 triệu người dùng Internet, chiếm 54% dân số, đứng thứ 5 ở Châu Á-Thái Bình Dương về tỷ lệ dân số có kết nối Internet sau Trung Quốc, Ấn

Độ, Nhật Bản và Indonesia Một người dùng Internet ở Việt Nam trung bình mỗi ngày dành ra 5 giờ 10 phút truy cập Internet thông qua các thiết bị như máy tính cá nhân hoặc máy tính bảng Nếu xét riêng truy cập Internet thông qua điện thoại di động, con số này là 2 giờ 41 phút Còn riêng về thời gian dùng mạng xã hội, trung bình một người Việt Nam bỏ ra 3 giờ 4 phút để truy cập

Qua những con số thông kê trên ta có thể thấy được rất ít người bỏ ra một khoảng thời gian lớn để để đọc báo hay xem các chương trình truyền hình, nghe các chương trình phát thanh mà phần lớn họ sử dụng mạng Internet để đọc và theo dõi tin tức Vì vậy, có thể nhận thấy tiềm năng rất lớn của công chúng đối với báo điên tử Với những thế mạnh của mình mà ngay cả các loại hình báo chí truyền thông, các kênh truyền thông không thể nào có được cùng với lượng công chúng đông đảo như hiện nay Chúng

Trang 39

quả của BĐKH trên báo điện tử là rất quan trọng Báo điện tử sẽ là một kênh truyền thông hiệu quả, thiết thực nhất để tuyên truyền về hậu quả của BĐKH nếu như chúng ta biết phát huy và tận dụng hết thế mạnh của nó trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ thông tin hiện nay

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Với nhiều ưu thế vượt trội so với các phương tiện truyền thông đại chúng khác, báo điện tử đã và đang phát huy được thế mạnh của mình trong việc thông tin về hậu quả BĐKH đến với công chúng Giúp cho công chúng hiểu được trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ môi trường sống chung quanh, bảo vệ hành tinh xanh - sạch - đẹp để phòng tránh những tác động xấu

do BĐKH gây ra Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của báo chí về BĐKH trên báo in, báo truyền hình, tuy nhiên mỗi đề tài lại có một cách tiếp cận khác nhau và một cách nhìn riêng mà chưa có đề tài thạc sỹ nào nghiên cứu về hậu quả của BĐKH trên loại hình báo điện tử Cũng chính vì đây là một đề tài mới chưa được nghiên cứu trong khi tác giả lại nhận thấy rằng báo điện tử hiện đang chiếm ưu thế lớn trong truyền thông hiện đại, là một kênh tuyên truyền đạt hiệu quả cao Vì vậy, tác giả đã xây dựng và làm rõ hệ thống

lý thuyết về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn của đề tài nghiên cứu như: Khái niệm báo điện tử, khái niệm BĐKH và những hậu quả của BĐKH, tình hình đưa thông tin về hậu quả BĐKH ở Việt Nam và trên thế giới… Vai trò của báo chí về hậu quả của BĐKH ở nước ta hiện nay Đây sẽ là cơ sở để tác giả tiến hành khảo sát thực trạng đăng tải thông tin về hậu quả của BĐKH trên báo điện tử hiện nay

Ngày đăng: 29/10/2017, 16:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w