Điều này khiến cho tâm lý, khoảng cách của cộng đồng người yếu thế với xã hội vẫn còn là trở ngại để họ hòa nhập với cộng đồng.Trong khi đó, các phương tiện truyền thông, trong đó có tru
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Bùi Chí Trung Các nội dung nghiên cứu và kết quả
trong đề tài này là trung thực và chưa từng công bố dưới bất kỳ hình thức nào
trước đây Những số liệu để phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá
trong luận văn được tác giả thu thập từ nhiều nguồn Một vài số liệu, nhận xét
đánh giá của các tác giả khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc rõ ràng
và được phép công bố
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung luận văn của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Xoan
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện được cuốn luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Tiến sĩ Bùi Chí Trung, không chỉ là người hướng dẫn đơn thuần mà thầy còn tạo điều kiện hết sức để tôi có được những trang bản thảo tốt nhất
Và tôi nghĩ, với sự nhiệt tình ấy, tôi đã hoàn thành luận văn tốt hơn cả mong đợi của bản thân
Xin cảm ơn quý Thầy, Cô đang công tác tại Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, đặc biệt cảm ơn các anh, chị, các bạn trong tập thể lớp Cao học Báo chí K18 đã luôn kịp thời hỗ trợ tôi cũng như các thành viên khác trong quá trình thực hiện luận văn Cảm ơn các anh, chị, em đồng nghiệp đã luôn tạo điều kiện tốt nhất về thời gian và công việc cho tôi trong suốt thời gian vừa qua
Xin cảm ơn gia đình và những người bạn thân thiết đã luôn bên cạnh, đồng hành cùng tôi
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Xoan
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Khoa học xã hội và nhân văn : KHXH&NV Người đồng tính, song tính và chuyển giới : LGBT
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Đối tượng phản ánh trong các chương trình về người yếu thế 49 Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ thời lượng phát sóng dành cho các nhóm đối tượng yếu thế trên VTV 49 Biểu đồ 2.3: Tỉ lệ thời lượng chương trình về người yếu thế trong tổng thể khung phát sóng kênh VTV1 54 Biểu đồ 2.4: Tỉ lệ người xem các chương trình theo khung giờ trên VTV1 56 Biểu đồ 2.5: Số lượng người xem các chương trình trong quý 4/2016 91
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 7
7 Kết cấu, bố cục 8
Chương 1: NGƯỜI YẾU THẾ VÀ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ VỀ NGƯỜI YẾU THẾ 9
1.1 Khái quát về vấn đề người yếu thế 9
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.1.2 Vấn đề người yếu thế trong xã hội hiện nay 11
1.1.3 Mục tiêu phát triển bền vững và những hoạt động xã hội hướng tới người yếu thế 13
1.2 Báo chí và các nhóm đối tượng đặc biệt 16
1.2.1 Vai trò của báo chí đối với người yếu thế 16
1.2.2 Các nhóm công chúng chuyên biệt 19
1.2.3 Cơ chế và phương thức tác độngcủa báo chí về người yếu thế 21
1.3 Chương trình truyền hình chuyên đề về người yếu thế 23
1.3.1 Khái quát về chương trình truyền hình chuyên đề 23
1.3.2 Khả năng tác động của truyền hình tới đối tượng đặc biệt 25
1.3.3 Các mô hình chương trình truyền hình chuyên đề về người yếu thế 29
1.3.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng một tác phẩm truyền hình 34
1.3.5.Nguyên tắc thực hiện các chương trình truyền hình về người yếu thế 38
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH VỀ NGƯỜI YẾU THẾ TRÊN SÓNG VTV HIỆN NAY 43
2.1 Định hướng phát triển chương trình về người yếu thế của VTV 43
2.2 Khái quát về một số chương trình truyền hình về người yếu thế 46
2.2.1 Giới thiệu khái quát về các chương trình “Tạp chí Dân tộc Phát triển”, “Trái tim cho em” và “Cuộc sống vẫn tươi đẹp” 46
2.2.2 Về tần suất, tỷ lệ trong khung chương trình 53
2.3 Về mô hình tuyên truyền, nội dung và hình thức của các chương trình 57
2.3.1 Về mô hình thông tin tuyên truyền: 57
2.3.2 Về nội dung 61
2.3.3 Về hình thức thể hiện 74
Trang 92.3.4 Hiệu quả tác động 86
2.4 Đánh giá những thành công và hạn chế 90
2.4.1 Thành công 91
2.4.2 Hạn chế 96
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ VỀ NGƯỜI YẾU THẾ 102
3.1 Bài học kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề về người yếu thế 102
3.1.1.Khảo sát đối tượng công chúng 102
3.1.2.Xây dựng hệ thống đề tài theo nhu cầu công chúng 104
3.1.3.Lựa chọn hình thức thể hiện phù hợp, sáng tạo 105
3.1.4.Đánh giá phản hồi của công chúng 107
3.2 Xu hướng phát triển các chương trình truyền hình chuyên đề về người yếu thế 108
3.2.1.Phát triển các chương trình với hình thức thể hiện mới 108
3.2.2 Hướng tới những đối tượng yếu thế mới, khu biệt, cụ thể hơn 112
3.2.3 Xã hội hóa các chương trình truyền hình 114
3.2.4.Phát triển các chương trình trên nhiều định dạng, trên các hạ tầng số 116
3.3.Đề xuất một số giải pháp 118
3.3.1.Đầu tư về nhân lực và vật lực cho các chương trình 118
3.3.2.Đẩy mạnh công tác quảng bá chương trình 120
3.3.3.Đổi mới về cách thức thể hiện 121
KẾT LUẬN 124
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
PHỤ LỤC 133
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khái niệm “Nhóm yếu thế/thiệt thòi“ (Disadvantaged group) xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 20, được hiểu là những nhóm xã hội đặc biệt, có hoàn cảnh khó khăn hơn, có vị thế xã hội thấp kém trong xã hội Họ gặp phải hàng loạt thách thức, ngăn cản khả năng hòa nhập của họ vào đời sống cộng đồng Hiểu một cách đơn giản với tình hình xã hội của Việt Nam, nhóm yếu thế bao gồm người nghèo, người khuyết tật, người có hoàn cảnh khó khăn, nạn nhân chiến tranh, bệnh nhân nhiễm HIV, người thuộc cộng đồng Đồng tính, song tính và chuyển giới (tên viết tắt tiếng anh là LGBT) Người yếu thế trong xã hội hiện nay là nhóm đối tượng rất cần được quan tâm bởi họ đang chịu sự kỳ thị và có những rào cản ngăn họ hòa nhập với xã hội
Việt Nam là nước đang phát triển với nhiều năm trải qua chiến tranh và đói nghèo nên nhóm yếu thế trong xã hội cũng có những nét đặc thù riêng.Cụ thể, số lượng người nghèo, người khuyết tật, nạn nhân chiến tranh vẫn còn khá nhiều Theo thống kê của Bộ lao động thương binh xã hội, năm 2013, cả nước hiện có tổng số 1.797.889 hộ nghèo, chiếm 7,80%, cho thấy một đây là một nhóm đối tượng lớn cần sự tập trung quan tâm phản ánh của báo chí.Ngoài ra, những nhóm đối tượng yếu thế khác cũng chiếm số lượng đáng
kể trong xã hội Cụ thể: Số người nhiễm HIV phát hiện mới năm 2014 là 11.680 người.Tính đến tháng 6/2015, số người nhiễm HIV còn sống ở Việt Nam được báo cáo là khoảng 227.000 trường hợpvới trung bình 12.000
trường hợp phát hiện nhiễm mới mỗi năm[42] Có hơn 6 triệu người khuyết
tật trên cả nước, tăng hơn khoảng 1 triệu người so với năm 2009 là 5,3 triệu người[41].Đó là chưa kể tới các đối tượng như: Người không còn khả năng lao động (già yếu, ốm đau, bệnh tật …), trẻ mồ côi, bị bỏ rơi…Tất cả họ đều
Trang 11cần nhận được sự chia sẻ, hỗ trợ từ xã hội, trong đó có báo chí, phương tiện truyền thông có tầm ảnh hưởng sâu rộng
Báo chí có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Bên cạnh nhiệm vụ lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa…, báo chí còn lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho mọi tầng lớp, đối tượng trong xã hội, trong đó có những người yếu thế Chính tiếng nói từ báo chí giúp cho nhóm đối tượng đặc biệt này nhận được
sự công bằng hơn trong cuộc sống
Trong xu thế phát triển của xã hội, truyền hình trở thành một phương tiện truyền thông đại chúng có khả năng truyền tải thông tin và có sức ảnh hưởng rất lớn tới đông đảo công chúng Chính vì vậy, các chương trình truyền hình được xem là phương tiện giúp cộng đồng người yếu thế tiếp cận với các thông tin mà họ cần một cách nhanh chóng Sức lan tỏa của các chương trình truyền hình là đồng thời và rộng khắp, vì thế, cần đẩy mạnh các chương trình truyền hình về người yếu thế để có được sự cộng hưởng từ cộng đồng mạnh
ai cũng có khả năng giao tiếp và tiếp nhận thông tin bằng chữ quốc ngữ hoặc tiếng phổ thông Vì vậy, cách thức truyền tải thông tin với nhóm người yếu thế cũng phải khác hơn so với nhóm công chúng bình thường
Trang 12Thứ hai, các chương trình truyền hình chuyên biệt về người yếu thế tại Việt Nam còn ít và chưa thực sự hấp dẫn, sáng tạo và chưa nhận được quan tâm đầu tư đúng mực Điều này dẫn tới việc các chương trình không thu hút được công chúng giữa sự cạnh tranh của hàng loạt các chương trình giải trí mới ra đời
Thứ ba, báo chí cần phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội Tuy nhiên, những người yếu thế lại khó tìm thấy mình trong đời sống chung của xã hội thông qua báo chí Về phía cộng đồng, vẫnluôn có một cái nhìn hơi khắt khe
và có phần kỳ thị với người yếu thế nói chung Điều này khiến cho tâm lý, khoảng cách của cộng đồng người yếu thế với xã hội vẫn còn là trở ngại để họ hòa nhập với cộng đồng.Trong khi đó, các phương tiện truyền thông, trong đó
có truyền hình, chưa phát huy được hết khả năng kết nối của mình, chưa tạo được một môi trường bình đẳng cho người yếu thế và người “bình thường”.Vì vậy, chương trình về nhóm đối tượng này cũng cần được quan tâm và dành thêm sự đầu tư hơn để đảm bảo sự công bằng trong các nhóm công chúng với việc tiếp cận thông tin trên báo chí nói chung và truyền hình nói riêng
Vì những vấn đề nêu trên nên trong nội dung luận văn này, tác giả sẽ tìm hiểu, thảo luận về thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình về nhóm người yếu thế trong xã hội
Trang 13Cuốn sách “Thích ứng xã hội của các nhóm xã hội yếu thế ở nước ta hiện nay” của GS.TS Vũ Dũng, NXB Từ Điển Bách Khoa đã bàn khá cụ thể
về nhóm đối tượng yếu thế và cách thích ứng với xã hội của nhóm đối tượng đặc biệt này Các khái niệm cơ bản nhất về người yếu thế trong cuốn sách giúp tác giả có cái nhìn tổng quan đầu tiên về nhóm đối tượng trung tâm của
đề tài.Ngoài ra, các nội dung liên quan tới người yếu thế trong cuốn sách cũng
là nguồn tài liệu hữu ích để người nghiên cứu hiểu rõ hơn về tình hình thực tế, đặc điểm, rào cản mà người yếu thế gặp phải.Cuốn sách cũng chỉ ra các chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước với những người yếu thế ra sao và những biện pháp giúp họ thích nghi, hòa nhập với xã hội như thế nào.Những thông tin này là nguồn dữ liệu phục vụ tốt cho việc xác định các chương trình truyền hình đã đáp ứng được nhu cầu và đánh trúng vào tâm lý của người yếu thế hay chưa
Ngoài cuốn sách trên, về đề tài người yếu thế, các bài viết tại các hội thảo, diễn đàn cũng là một nguồn tài liệu rất có giá trị Bài viết “Nhà nước Việt Nam với công tác hỗ trợ nhóm yếu thế” của PGS.TS Phạm Văn Quyết (Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội) và Phạm Anh Tuấn (Trường ĐH Y tế công cộng), đăng trên Kỷ Yếu hội thảo ngày CTXH Thế giới năm 2012.Đây cũng
là nguồn thông tin góp thêm vào dữ liệu liên quan tới người yếu thế và những chính sách của nhà nước với nhóm đối tượng này
Tuy nhiên, những đề tài hoặc bài nghiên cứu trên chủ yếu tập trung tìm hiểu cụ thể hơn về nhóm yếu thế trong xã hội mà chưa bàn tới vấn đề báo chí phản ánh về nhóm đối tượng yếu thế như thế nào và những tác động của báo chí với nhóm đối tượng này ra sao
Các đề tài nghiên cứu lý luận về truyền hình và chương trình truyền hình chuyên đề có khá nhiều ở cả sách, giáo trình, luận văn và các bài viết
Trang 14khoa học.Ngoài một số cuốn giáo trình khá quen thuộc về truyền hình như
“Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” và “Giáo trình báo chí truyền hình” của PGS.TS Dương Xuân Sơn, một cuốn giáo trình mới về “Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề” của TS Bùi Chí Trung cũng phân tích rất rõ về khái niệm cũng như các đặc điểm của chương trình truyền hình chuyên đề Những thông tin về các chương trình mới được cập nhật trong giáo trình cũng giúp luận văn này có thêm các nguồn tài liệu có giá trị về lý luận truyền hình
Bên cạnh đó, đã có một số luận văn thạc sĩ cũng nghiên cứu về nhóm
yếu thế trên báo chí như đề tài “Vấn đề người khuyết tật qua sự phản ánh của
báo chí hiện nay” của tác giả Vũ Thị Thu Ngà Tuy nhiên, đề tài này lại tập
trung nghiên cứu trên 4 tờ báo in và hướng tới một nhóm đối tượng hẹp hơn trong nhóm yếu thế, đó là người khuyết tật Trong đề tài này có một phần nội dung rất ngắn và sơ lược về vấn đề người khuyết tật được phản ánh trên truyền hình như thế nào nhưng chỉ với chưa đầy một trang nên không thể thấy
rõ nội dung về chương trình truyền hình về người yếu thế hiện nay ra sao
Ngoài ra, luận văn với đề tài “Chương trình dân tộc và miền núi trên sóng đài
truyền hình Việt Nam” cũng đi sâu nghiên cứu một vài chương trình truyền
hình cụ thể nhưng chỉ tập trung vào đối tượng là người dân tộc miền núi, chưa nghiên cứu các chương trình dành cho các đối tượng khác trong nhóm yếu
thế Hay luận văn “Nâng cao chất lượng báo in phục vụ đồng bào dân tộc
thiểu số” của tác giả Lữ Thị Ngọc cũng chưa phản ánh hết những tác động
của báo chí với người yếu thế nói chung và đặc biệt là của truyền hình, phương tiện truyền thông hiệu quả hiện nay với công cuộc xóa bớt khoảng cách giữa người yếu thế với xã hội Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu khoa học trên đều là nguồn thông tin hữu ích với tác giả trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài của mình
Trang 15Như vậy, đến nay chưa có công trình/tác phẩm nào nghiên cứu riêng về chương trình truyền hình chuyên đề về nhóm yếu thế Dựa vào những tài liệu khoa học trên, tác giả tổng hợp lại để thấy được vai trò và tác động của các chương trình truyền hình chuyên đề với người yếu thế ra sao, nhu cầu và mong muốn của người yếu thế với các chương trình này như thế nào.Qua đó, đưa ra giải pháp để cải thiện chất lượng các chương trình này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:Thông qua việc khảo sát đặc điểm, phân tích nội
dung và thông điệp chương trình; đánh giá hiệu quả tác động của một số chương trình truyền hình tiêu biểu về nhóm người yếu thế của Đài truyền hình Việt Nam, để bước đầu đánh giá về thành công, hạn chế cũng như tác động của các chương trình này đối với công chúng Từ đó, đề xuất giải pháp để cải thiện và nâng cao chất lượng của các chương trình chuyên đề truyền hình nói riêng và vai trò của báo chí truyền hình với người yếu thế nói chung
Nhiệm vụ nghiên cứu:Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan
tới đề tài Trong đó, tìm hiểu để làm rõ các khái niệm liên quan như “người yếu thế”, “chương trình truyền hình chuyên đề”.Khảo sát đặc điểm, nội dung của các chương trình truyền hình chuyên đề về nhóm người yếu thế trên sóng Đài truyền hình Việt Nam Khảo sát công chúng về mức độ hài lòng đối với các chương trình này.Tìm hiểu những xu hướng phát triển của các chương
trình này trên thế giới và trong tương lai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn làcác chương trình truyền hình về người yếu thế của Đài Truyền hình Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát 3 chương trình truyền hình về người yếu thế bao gồm: Cuộc sống vẫn tươi đẹp (Chương trình vềngười khuyết tật, phát
Trang 16sóng trên VTV4), Trái tim cho em (Chương trình vềtrẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh, phát sóng trên kênh VTV1) và Tạp chí Dân tộc phát triển(Chương trình
về người dân tộc thiểu số, phát sóng trên VTV1 và VTV5)
Thời gian khảo sát: từ tháng 1/2016 – tháng 12/2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích thông tin từ các nguồn tài
liệu sẵn có (sách chuyên ngành, bài báo, bài tham luận, bài phân tích …), thông tin trên các website chính thức của các dự án, bộ ban ngành liên quan…
Phương pháp phân tích nội dung: Phân tích các dữ liệu có được từ các
nguồn tài liệu và các chương trình Từ đó, lấy các dữ liệu làm luận điểm, luận
cứ để rút ra những nhận định, nhận xét và đánh giá cá nhân mang tính khoa học.Dựa trên kết quả phỏng vấn và tài liệu đã tập hợp được để phân tích điểm thành công, hạn chế cũng như xu hướng phát triển
Phương pháp nghiên cứu điều tra:sử dụng bảng hỏi để thu thập thông
tin.Nghiên cứu trực tiếp đối tượng thụ hưởng chương trình Do đó, dự kiến phát 300 phiếu hỏi cho đối tượng ở Hà Nội
Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện cáccuộc phỏng vấn với đại
diện phóng viên, biên tập viên, chủ nhiệm chương trình truyền hình về người yếu thế, một số khán giả theo dõi chương trình để có thêm thông tin, cứ liệu đánh giá phân tích cho đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Đề tài này sẽ làm rõ một số lý luận về vai trò của báo
chí nói chung và báo truyền hình nói riêng đối với người yếu thế trong xã hội
Trang 17hiện đại Đồng thời, luận văn còn xác định đặc điểm và phương thức sản xuất các chương trình truyền hình về người yếu thế
Ý nghĩa thực tiễn: Nhìn nhận những thành công và hạn chế của các
chương trình truyền hình hiện nay dành cho nhóm đối tượng đặc biệt để từ đó
có cách thức xây dựng và hoàn thiện những chương trình này tốt hơn Qua đó, góp phần thu hút khán giả và tạo hiệu ứng xã hội tốt hơn nữa cho các chương trình, giúp nhóm người yếu thế hòa nhập và tìm thấy tiếng nói chung trong xã hội
Trang 18Chương 1: NGƯỜI YẾU THẾ VÀ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
CHUYÊN ĐỀ VỀ NGƯỜI YẾU THẾ 1.1 Khái quát về vấn đề người yếu thế
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
“Người yếu thế trong xã hội”:Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, nhóm người yếu thế trong xã hội bao gồm người nghèo, những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chủ yếu là phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi và người khuyết tật Cụ thể, thuật ngữ “nhóm yếu thế/ thiệt thòi” (Disadvantaged groups) đã được sử dụng theo truyền thống như một tính từ để mô tả một chất lượng vốn có của nhóm là yếu thế/ thiệt thòi Thuật ngữ đó cũng được sử dụng như một động từ, để chỉ một quá trình mà trong đó các hành vi xã hội của một
nhóm đặc biệt được thực hiện theo một cách hoàn toàn “bất lợi” cho họ
Đó là nhóm, mà mọi người tự thấy mình lâm vào hoàn cảnh khó khăn
mà ở đó họ bị từ chối việc tiếp cận và sử dụng các phương tiện được cho là hữu ích với đa số các nhóm xã hội tương tự khác Chúng bao gồm quyền tự chủ, trách nhiệm, lòng tự trọng, quyền được sự hỗ trợ của cộng đồng, y tế, giáo dục, thông tin, việc làm, vốn và hệ thống hỗ trợ khác
Đó là nhóm người luôn luôn có sự hiện diện của rào cản đối với khả năng tự túc của họ.Đây là những cách thức mà người dân bị từ chối tiếp cận với các phương tiện cần thiết bao gồm các nguồn lực mà bản thân họ không có
Điều đáng chú ý là với nhóm yếu thế, không có nghĩa rằng “cho họ nhiều tiền mặt hơn” sẽ giải quyết được vấn đề của họ và cũng không có nghĩa rằng “chính phủ trợ giúp nhiều” sẽ sửa chữa được những gì đã gây ra cho họ[18] Những rào cản đối với tự cung tự cấp là cách mà mọi người không được tiếp cận với các công cụ cần thiết để tự cung tự cấp[18]
Trang 19Theo xác định của UNESCO, nhóm yếu thế/thiệt thòi bao gồm: những người ăn xin, nạn nhân của các loại tội phạm, người tàn tật, thanh thiếu niên
có hoàn cảnh khó khăn, nhóm giáo dục đặc biệt, người cao tuổi, người nghèo,
tù nhân, gái mại dâm, người thất nghiệp, người lang thang cơ nhỡ Ngoài ra còn kể đến người tị nạn, người xin tị nạn, người bị xã hội loại trừ.Theo cách xác định này người nghèo, người thất nghiệp cũng được coi thuộc nhóm yếu thế/ thiệt thòi
Như vậy có thể nói, nhóm yếu thế (hay nhóm thiệt thòi) là những nhóm
xã hội đặc biệt, có hoàn cảnh khó khăn hơn, có vị thế xã hội thấp kém hơn so với với các nhóm xã hội “bình thường” có những đặc điểm tương tự.Họ gặp phải hàng loạt thách thức, ngăn cản khả năng hòa nhập của họ vào đời sống cộng đồng Hàng rào đó có thể liên quan đến thể chất, liên quan đến khả năng, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, sự đánh giá, kỳ thị của xã hội, các vấn đề tâm lý… Hàng rào đó có thể là vô hình, có thể là hữu hình, ngăn cản họ tiếp cận
và sử dụng các phương tiện sống thiết yếu hay các dịch vụ xã hội cần thiết cho mọi thành viên “bình thường” của xã hội Để nâng cao vị thế xã hội, giảm
sự thiệt thòi, họ rất cần được sự quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ từ xã hội
Như vậy, xét trên thực tế của Việt Nam, một số nghiên cứu còn kể thêm nhóm người là nạn nhân chiến tranh, đặc biệt nạn nhân chất độc da cam, nhóm bị bạo lực gia đình, nạn nhân bị quấy rối và lạm dụng tình dục, nạn nhân buôn bán người, các đối tượng mắc bệnh xã hội, trẻ em bị ảnh hưởng của HIV/AIDS…Gần đây, những người thuộc cộng đồng LGBT công khai và xuất hiện ngày một nhiều Xét trên nhiều khía cạnh, họ cũng có thể được xem
là người thuộc nhóm yếu thế bởi những rào cản mà họ gặp phải trong cuộc sống, công việc và những kỳ thị mà họ phải đối mặt
Trang 201.1.2 Vấn đề người yếu thế trong xã hội hiện nay
Chưa có một số liệu thống kê cụ thể nào về số người yếu thế trong xã hội bởi nhóm yếu thế là một khái niệm khá rộng, bao gồm nhiều nhóm đối tượng khác nhau Tuy nhiên, các số liệu thống kê về người nghèo, người khuyết tật, người nhiễm HIV, dân tộc thiểu số… là những nhóm đối tượng chiếm phần lớn trong nhóm yếu thế, đều cho thấy đây là nhóm đối tượng chiếm số lượng khá lớn trong xã hội
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, đến năm 2011, cả nước có gần 13 triệu lao động thuộc nhóm yếu thế (chiếm gần 24% lực lượng lao động) Trong đó bao gồm: 4,2 triệu lao động là người khuyết tật, 6,5 triệu lao động nghèo, 1 triệu lao động di cư… 80% lao động yếu thế tập trung ở khu vực nông thôn Dân tộc thiểu số cũng có tới 12 triệu người sống rải rác ở khắp nơi trên cả nước, chiếm tới 14% dân số cả nước
Với người nhiễm HIV, có khoảng 220.000 trường hợp được báo cáo và một con số tương đối cho thấy có khoảng 2,66 triệu người đồng tính và song tính tại Việt Nam[35] Ngoài ra, nhóm yếu thế còn bao gồm phụ nữ nghèo và những người chịu áp bức trong xã hội, người dân tộc thiểu số… cũng đang chiếm số lượng khá lớn trong xã hội
Mặc dù chiếm số lượng không hề nhỏ nhưng số đông ấy lại đang gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận việc làm và có những đóng góp cho xã hội Hiện nay, có tới khoảng 50% số người khuyết tật đang cần tìm việc làm nhưng không thể có được công việc phù hợp[38] Những nguyên nhân được chỉ ra với người khuyết tật trong việc khó tiếp cận việc làm là từ chính bản thân họ và từ nguyên nhân xã hội.Cụ thể, người khuyết tật có những hạn chế
về ngoại hình, giao tiếp, khả năng vận động, sức khỏe hoặc thậm chí là về tư duy trí tuệ Do đó, không phải công việc nào cũng phù hợp với khả năng của
Trang 21họ Thêm nữa, cũng do những hạn chế trên nên quá trình học tập, tiếp thu của
họ cũng gặp nhiều khó khăn hơn mọi người Phải là những người thực sự có nghị lực, cố gắng mới có thể đạt được kết quả tích cực như những người bình thường.Tuy nhiên không phải ai cũng có được sự nỗ lực phi thường mà ngược lại, phần lớn những người khuyết tật lại mang trong mình sự tự ti và mặc cảm bởi những thiếu sót của bản thân nên họ càng khó khăn trong việc hòa nhập
và tiếp cận công việc.Nguyên nhân từ phía xã hội chính là sự kỳ thị của người bình thường với người khuyết tật, từ đó tạo ra khoảng cách.Họ không tin tưởng vào khả năng làm việc của người khuyết tật nên không muốn giao việc cho những người này.Mặt khác, nhiều người gặp khó khăn trong giao tiếp, truyền đạt nội dung công việc với người khuyết tật nên họ cũng không muốn làm việc lâu dài cùng người khuyết tật.Những nguyên nhân ấy tạo nên rào cản
vô cùng lớn khiến người khuyết tật khó tiếp cận công việc Điều này kéo theo nhiều khó khăn khác trong việc ổn định cuộc sống của nhóm đối tượng yếu thế này
Còn với đối tượng là người dân tộc thiểu số, họ lại gặp những khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội thiết yếu và cập nhật các kiến thức xã hội cơ bản Nguyên nhân của việc này là do những bất lợi về vị trí địa
lý, dẫn tới giao thông đi lại còn nhiều hạn chế, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
và giáo dục khó tiếp cận được tới người dân Mặc khác, nhiều người dân tộc thiểu số lại vẫn giữ những phong tục, tín ngưỡng lạc hậu nên không chịu tiếp thu những kiến thức mới Điều nay cũng gây khó khăn cho việc truyền tải thông tin tới người dân tộc Do đó, hệ quả dễ thấy là trình độ dân trí thấp, tay nghề yếu kém nên họ khó tìm kiếm được công việc để ổn định thu nhập Nhóm đối tượng này cũng gặp nhiều khó khăn về kinh tế và chất lượng đời sống chưa cao Nguyên nhân bởi những nơi này thường gặp những bất lợi về điệu kiện tự nhiên như đất đai thổ nhưỡng, nguồn nước, điều kiện canh tác
Trang 22Có thể nói, nhóm yếu thế ở nước ta hiện nay đang chiếm số lượng khá lớn và vẫn gặp phải những rào cản khó có thể giải quyết dứt điểm Do những hạn chế về điều kiện sống, khả năng của bản thân, có thể tóm lược lại những rào cản mà nhóm yếu thế gặp trong cuộc sống như: Khó khăn trong tìm kiếm việc làm và ổn định thu nhập; Chịu sự kỳ thị và phân biệt đối xử của phần lớn những người bình thường trong xã hội; Khó khăn trong việc tìm kiếm và tiếp nhận thông tin liên quan trực tiếp tới bản thân họ; Khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng các phương tiện thiết yếu trong cuộc sống hoặc các dịch vụ xã hội cần thiết khác (giáo dục, y tế, giải trí …) Đây là những điều mà từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước vẫn đang nỗ lực giúp đỡ để cải thiện chất lượng cuộc sống của nhóm đối tượng này
1.1.3 Mục tiêu phát triển bền vững và những hoạt động xã hội hướng tới người yếu thế
Đánh giá đúng những ảnh hưởng của nhóm yếu thế tác động tới sự phát triển đất nước nói chung, Đảng và Nhà nước vẫn luôn có những hoạt động quan tâm và hỗ trợ để giúp người yếu thế hòa nhập với xã hội Cụ thể:
Năm 1998, Chính phủ Việt Nam đã ra Pháp lệnh về người tàn tật, trong
đó có viết “Bảo vệ, chăm sóc và tạo điều kiện cho người tàn tật hòa nhập
cộng đồng là những hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta” Pháp lệnh quy định trách
nhiệm của gia đình, nhà nước và xã hội đối với người tàn tật, đồng thời cũng chỉ rõ quyền và nghĩa vụ của người tàn tật Sau đó, để các quy định này đi vào đời sống có hiệu quả hơn, tại kỳ họp thứ 6 khóa XII (năm 2009) Quốc hội đã thảo luận, thu nhận các ý kiến đóng góp cho luật người khuyết tật và tại kỳ họp thứ 7 (tháng 6/2010), luật người khuyết tật được thông qua Luật gồm 10 chương và 53 điều quy định về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật; trách
Trang 23nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với người khuyết tật Ngoài ra, trong hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 cũng nêu ra vấn đề bảo về người khuyết tật tại điều 59 và điều 67 Bộ luật Lao động năm 1994 cũng quy định về việc làm cho người khuyết tật tại cơ quan
và doanh nghiệp Năm 2001, Ban điều phối quốc gia về vấn đề người khuyết tật cũng được hình thành, có nhiệm vụ theo dõi, giám sát, tư vấn và thúc đẩy các Bộ, ngành, tổ chức liên quan thực hiện các hoạt động trợ giúp trong khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành, tổ chức về lĩnh vực NKT từ trung ương đến cơ sở
Nhiều điều luật khác liên quan đến các nhóm yếu thế cũng đã được Quốc hội lần lượt xem xét và thông qua như: Luật Phòng chống bạo lực gia đình (thông qua tháng 11 năm 2007) đã thể chế hóa quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc phòng chống, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Phòng chống nhiễm vi rút gây hội chứng suy giảm miễn dich mắc phải ở người (HIV/AIDS) được Quốc hội thông qua tháng 6/2006 đã nhấn mạnh đến quyền và nghĩa vụ của người nhiễm HIV và quy định trách nhiệm của nhà nước, xã hội, cộng đồng, gia đình trong việc chữa trị, chăm sóc, đùm bọc và tạo điều kiện để người nhiễm HIV hòa nhập cộng đồng; Pháp lệnh phòng chống mãi dâm, ma túy…[18]
Về vấn đề người dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước đã thể hiện sự nhất quán chủ trương ngay từ Đại hội Đảng đầu tiên (tháng 3/1935) thông qua
chính sách dân tộc với nguyên tắc là “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp
nhau cùng phát triển” Trong suốt các năm sau này, Đảng ta cũng đã đề ra
nhiều chính sách cụ thể giải quyết vấn đề dân tộc như Nghị quyết về vấn đề dân tộc (tháng 8/1952), Chính sách dân tộc do Chính phủ ban hành
Trang 24(22/6/1953), Nghị quyết số 22 – NQ/TW ngày 21/11/1989 “Về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi”, Nghị quyết số 72/HĐBT ngày 13/3/1990 “Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi”; Quyết định số 146/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/06/2005 Quyết định về chính sách thu hồi đất sản xuất của các nông trường, lâm trường để giao cho hộ đồng bào dân tộc thiểu
số nghèo; Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/07/2004 Quyết định về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở
và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn… Tất cả các chủ trương, chính sách trên đều nhằm mục đích thúc đẩy, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc miền núi
Thực tế, phần lớn những người trong nhóm yếu thế do những hoàn cảnh đặc biệt mà đều thuộc nhóm người nghèo hoặc cực nghèo Nhà nước luôn đặc biệt coi trọng các hoạt động hỗ trợ nhóm đối tượng nghèo nên từ nhiều năm nay, các hoạt động này luôn được đặt trong chương trình mục tiêu quốc gia, điển hình là chương trình 135
Nhà nước cũng đặc biệt dành sự quan tâm tới các vấn đề về trẻ em, đặc biệt là các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Nghị định 67/2007/NĐ-CP quy định về chế độ trợ giúp các đối tượng bảo trợ, theo đó, trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS… đều được hưởng trợ cấp hàng tháng Trong 7 năm (2001 – 2007), hệ thống giáo dục trẻ em khuyết tật
đã được hình thành Đến nay, 63 tỉnh thành phố trong cả nước đã hình thành ban chỉ đạo giáo dục trẻ em khuyết tật từ cấp tỉnh đến cấp huyện[1, tr.116] Ngoài ra, còn rất nhiều chính sách hỗ trợ cho trẻ em đã được Đảng và Nhà nước thực hiện trong nhiều năm qua như: Chính sách miễn phí khám chữa bệnh cho toàn bộ trẻ em dưới 6 tuổi; Chính sách về y tế, chỉnh hình phục hổi chức năng để chăm soc sức khỏe cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; Chính
Trang 25sách trợ giúp về giáo dục trong Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (1991) Đặc biệt, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được Quốc hội thông qua năm 2004 gồm 5 chương và 60 điều là văn bản quan trọng nhất, thể hiện rõ ràng chủ trương của Đảng và Nhà nước với vấn đề trẻ em
Đặc biệt, chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS đã dành nhiều dự án hướng đến phòng chống, trợ giúp các nhóm xã hội đặc biệt này Ví dụ như Dự án phòng, chống bệnh lao; Dự án phòng, chống bệnh phong; Dự án phòng, chống bệnh ung thư; Dự án phòng, chống HIV/AIDS; Dự án phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em, Dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng…
Đó là chưa kể tới hoạt động của các cá nhân, nhóm, câu lạc bộ, tổ chức phi chính phủ… hướng tới đối tượng người nghèo, khuyết tật hay bệnh nhân nghèo… Hiện nay, có rất nhiều nhóm/câu lạc bộ tình nguyện với hàng trăm các hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ người yếu thế.Các hoạt động này rất phổ biến hiện nay và được thực hiện rộng khắp trên nhiều tỉnh thành của cả nước Đó
là các hoạt động quyên góp quần áo, sách vở cho người dân vùng cao, vùng sâu vùng xa; Dạy học miễn phí; Hỗ trợ xây trường học, nhà ở…
Điều này đã cho thấy sự quan tâm không chỉ của Nhà nước ta mà còn
cả của các cá nhân tổ chức với nhóm xã hội yếu thế Điều này được thể hiện qua những dự án thiết thực, các hoạt động tích cực được duy trì đều đặn, thường xuyên trong suốt nhiều năm qua
1.2 Báo chí và các nhóm đối tượng đặc biệt
1.2.1 Vai trò của báo chí đối với người yếu thế
Trước khi nhắc tới các vai trò khác, báo chí phải luôn giữ được vai trò đầu tiên và quan trọng nhất của mình, đó là cung cấp các thông tin có định hướng một cách chính xác và kịp thời Bởi vậy, với người yếu thế, báo chí
Trang 26cũng cần thể hiện rõ vai trò này của mình Các thông tin cung cấp cho người yếu thế có thể là các thông tin liên quan tới chính sách pháp luật ảnh hưởng trực tiếp tới họ, có thể là các thông tin bổ sung kiến thức về chăm sóc sức khỏe, chăn nuôi trồng trọt Những thông tin này còn giúp báo chí thực hiện một vai trò lớn hơn đó là nâng cao dân trí của từng cá nhân thuộc nhóm yếu thế Bởi phần lớn những người yếu thế là người có trình độ học vấn thấp hơn
so với người bình thường nên thông qua các thông tin, báo chí đã thực hiện việc nâng cao sự hiểu biết và xóa bớt những hiểu biết nông cạn, hạn hẹp, bó buộc người yếu thế vào xã hội thu nhỏ của họ Với sức mạnh và độ lan tỏa rộng khắp của mình, báo chí giúp người yếu thế tiếp cận với các nguồn thông tin tri thức cần thiết và mới mẻ để cải thiện công việc Đồng thời, báo chí còn làm thay đổi quan niệm, suy nghĩ bằng cách tác động từ từ vào ý thức và từ
đó thay đổi hành động của người yếu thế để họ tiếp thu những điều mới, xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn
Báo chí là không chỉ là công cụ thực hiện nhiệm vụ thông tin tuyên truyền mà còn là một kênh lên tiếng bảo vệ, trợ giúp để người yếu thế lấy lại
sự cân bằng của họ với người bình thường trong xã hội Báo chí thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý bằng cách thông tin và thực hiện tư vấn pháp lý thông qua các chuyên mục như hỏi đáp, trả lời thư bạn đọc Báo chí phải sẵn sàng lên tiếng và đứng về phía những người yếu thế trong cuộc đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng
Bên cạnh hoạt động trợ giúp pháp lý, báo chí còn đóng vai trò trong việc hỗ trợ nâng cao vị thế năng lực của người yếu thế trong xã hội Các thông tin trên báo chí có thể tác động với việc xây dựng chính sách và pháp luật của nhà nước có phạm vi tác động trực tiếp cho đối tượng này “Thông qua việc tập trung vào các hoạt động phản biện dựa trên chứng cứ, thu thập
dữ liệu và nghiên cứu để hình thành các tác phẩm báo chí đấu tranh vì quyền
Trang 27lợi chính đáng của người yếu thế Đồng thời, báo chí cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc liên kết, tăng cường quan hệ đối tác giữa các tổ chức xã hội và người yếu thế trong việc đề cập đến các vấn đề bất công bằng xã hội và thúc đẩy trao quyền pháp lý cho người yếm thế”[29]
Bởi những rào cản, hoặc rào cản tự thân, hoặc rào cản từ xã hội, nhóm yếu thế luôn có một khoảng cách nhất định với xã hội nói chung Bởi vậy, báo chí hướng tới đối tượng yếu thế cũng là cách thể hiện vai trò gắn kết cộng đồng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc “Xã hội luôn luôn vận động, không một cá nhân nào tồn tại một cách độc lập và riêng rẽ; tuyên truyền cổ
vũ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thực chất cũng là góp phần xây dựng sự ổn định xã hội, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ những giá trị truyền thống của đồng bào các dân tộc anh em hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”[29] Việc xây dựng khối khối đại đoàn kết thông qua báo chí được thể hiện qua các hình thức tuyên truyền,
cổ động và kêu gọi tham gia các hoạt độnghướng tới người yếu thế, thể hiện tinh thần tương thân tương ái.Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, sự đoàn kết còn phải “dựa trên sự kết nối các cá nhân khác nhau, để họ có thể liên hệ với nhau dưới hình thức này hoặc hình thức khác, không phải cá nhân này thì cũng cá nhân khác Con người tồn tại trong xã hội có sự vận động, tương tác với nhau
và giá trị của mọi người cũng theo đó được nhìn nhận, làm rõ”[29]
Báo chí và truyền thông ngày nay đang đóng vai trò quan trọng trong việc giúp mỗi cá nhân thể hiện “cái tôi” một cách mạnh mẽ hơn bằng cách lắng nghe những ư kiến của họ, tôn trọng và khích lệ họ đưa ra ý kiến của mình Báo chí, truyền thông đang ngày càng là một môi trường mở mà ở đó, mỗi cá nhân đều có thể nói lên tiếng nói cá nhân của mình, thể hiện cá tính của mình Cũng bằng cách đó, báo chí giúp người yếu thế tự tin hơn, cởi mở hơn với mọi người.Báo chí ca ngợi và đề cao những giá trị đích thực của mỗi
Trang 28cá nhân bằng những tấm gương người tốt việc tốt chân thực Nhờ đó, người yếu thế nhận ra được những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống và dần dần từ
bỏ được khối mặc cảm, tự ti trong lòng Họ có thể sống là chính mình và có sức đề kháng mạnh mẽ hơn trước những câu nói, hành vi của xã hội mà trước đây có thể khiến họ bị tổn thương
1.2.2 Các nhóm công chúng chuyên biệt
Trước hết, cần hiểu công chúng chuyên biệt là gì? Công chúng chuyên biệt là một khái niệm đang ngày một phổ biến trong truyền thông hiện đại Ngày nay, khi thông tin ngày càng đa dạng, trình độ hiểu biết của công chúng cũng ngày càng cao, thì nhu cầu của họ đối với thông tin cũng ngày một khắt khe hơn Mỗi nhóm công chúng sẽ có một vài đặc điểm tương đồng nhau về giới tính, nhóm tuổi, nơi ở, trình độ học vấn… nên những nhu cầu về thông tin cũng tương tự nhau, từ đó sinh ra các nhóm công chúng chuyên biệt Chẳng hạn, xét theo sự tương đồng về nơi ở, công chúng ở nông thôn có những đặc điểm chung như phần lớn làm nghề nông, cuộc sống và công việc dựa nhiều vào thiên nhiên Nhu cầu thông tin của họ vì thế mà ưu tiên các thông tin về thời tiết, về phổ biến kiến thức nông nghiệp, những câu chuyện quen thuộc sau lũy tre làng… Ngoài ra, đặc điểm tâm lý đặc trưng là tính cộng đồng cao, văn hóa làng xã rõ nét của nhóm công chúng này cũng quyết định tới tâm lý, cách thức tiếp nhận thông tin và mức độ phản hồi của họ về các thông tin này Tương tự như vậy, mỗi nhóm công chúng chuyên biệt sẽ được quy định bởi các yếu tố đặc trưng khác nhau
Công chúng nói chung có xu hướng tìm kiếm 2 dạng thông tin: dạng 1
là những thông tin nóng mà nhiều người và dư luận quan tâm, dạng 2 là những thông tin chuyên biệt dựa theo nhu cầu, sở thích, hay nghề nghiệp của từng công chúng Thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng thoả
Trang 29mãn dạng thông tin đầu tiên: thông tin nóng, cần biết và được dư luận quan tâm Còn thông tin từ các kênh truyền thông chuyên biệt đóng vai trò thoả mãn dạng thông tin thứ hai: thông tin mà nhóm công chúng chuyên biệt muốn biết dựa theo các đặc trưng riêng của nhóm mình
Trong xã hội mà thông tin còn có thể đuổi theo chúng ta bất cứ khi nào thì công chúng không còn sợ bị thiếu thông tin nữa Vì vậy, thay vì tìm kiếm các thông tin chung, họ sẽ quan tâm và lựa chọn các thông tin cần thiết với
họ Sự xuất hiện của các nhóm công chúng chuyên biệt là sự phát triển tất yếu của công chúng truyền thông hiện đại Công chúng chuyên biệt không còn là đối tượng thụ động tiếp nhận thông tin và chịu tác động của truyền thông đại chúng Họ đã trở thành những người biết đánh giá chất lượng thông tin, muốn lựa chọn thông tin theo nhu cầu, sở thích và mối quan tâm riêng Sự xuất hiện của các nhóm công chúng chuyên biệt khiến cho những người làm truyền thông cần thay đổi cách thức tiếp cận công chúng của mình
Nhóm yếu thế cũng được coi là một nhóm công chúng chuyên biệt bởi những đặc điểm chung về tâm lý, rào cản tự thân và xã hội… Họ cũng có những nhu cầu về thông tin riêng so với số đông những người bình thường Người khuyết tật cần các thông tin hỗ trợ việc làm, là sự chia sẻ để hòa nhập cuộc sống… Người nghèo cần các thông tin về chính sách hỗ trợ của nhà nước, hướng dẫn kế sinh nhai Với tâm lý mặc cảm, tự ti, người yếu thế cũng mong muốn nhìn thấy mình trong đời sống xã hội nói chung (thông qua sự phản ánh trên các tác phẩm báo chí) như những người độc lập, có vai trò cụ thể, tìm thấy được quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình với xã hội Hiểu về nhu cầu và các đặc điểm tâm lý của nhóm công chúng chuyên biệt này giúp tác phẩm báo chí đến gần được với khán giả của mình
Trang 30Có cầu thì sẽ có cung Cũng bởi sự xuất hiện của công chúng chuyên biệt nên các chương trình truyền hình chuyên biệt cũng xuất hiện Các chương trình truyền hình chuyên biệt là chương trình có nội dung chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó hoặc có nội dung hướng tới một nhóm khán giả mục tiêu cụ thể Hiện nay, các chương trình truyền hình chuyên biệt bắt đầu xuất hiện nhiều hơn, nội dung chuyên biệt hơn Tuy còn mới mẻ nhưng đây là một hướng phát triển nhiều tiềm năng và phù hợp với nhu cầu của công chúng hiện đại
1.2.3 Cơ chế và phương thức tác độngcủa báo chí về người yếu thế
Báo chí tác động tới công chúng thông qua ba cơ chế bao gồm: Cung cấp thông tin cho công chúng biết, khiến công chúng thay đổi suy nghĩ, cuối cùng dẫn tới thay đổi hành vi Với người yếu thế, báo chí cũng tác động tới họ thông qua ba bước cơ bản này Tuy nhiên, là một nhóm công chúng đặc biệt nên để đạt được hiệu quả truyền thông, vai trò của nhà báo trong cách tiếp cận vấn đề, lựa chọn thông điệp là rất quan trọng
Báo chí cung cấp thông tin mà công chúng cần và muốn biết Để xác định được những thông tin nào thuộc phạm vi nhu cầu của người yếu thế, nhà báo lại cần xác định được công chúng mục tiêu của mình cụ thể là ai, có những đặc điểm gì và tâm lý đặc trưng ra sao Từ đó, nhà báo tiếp cận nguồn tin và lựa chọn được thông điệp phù hợp với công chúng mục tiêu Nhiệm vụ của thông tin không chỉ đơn thuần là làm thỏa mãn nhu cầu muốn biết muốn nghe muốn hiểu của công chúng mà các thông tin này còn phải có sức mạnh,
có khả năng tác động vào ý thức và suy nghĩ của người xem Để đạt được mục tiêu này lại phụ thuộc rất nhiều vào cách lựa chọn thông điệp của người viết Với cùng một sự kiện, vấn đề, cách lựa chọn thông điệp khác nhau cho thấy những cái nhìn khác nhau của người làm báo Quan trọng hơn, lựa chọn
Trang 31thông điệp để chuyển tới nhóm công chúng yếu thế lại càng là khó khăn hơn Điều này yêu cầu người viết không những cần có sự hiểu biết mà còn cần cả
sự thấu hiểu từ trong tâm với những người yếu thế thì thông điệp đưa ra mới thực sự có ý nghĩa và chạm được tới trái tim của khán giả
Từ việc tiếp cận tới công chúng bằng những thông điệp gần gũi và có ý nghĩa, mục đích tiếp theo là làm thay đổi suy nghĩ bằng các tác phẩm của mình Công chúng yếu thế luôn có những suy nghĩ cố hữu về sự khác biệt của bản thân, sự xa lánh của cộng đồng, dẫn tới việc họ không tự tin trong cuộc sống Họ có lý do và cơ sở cho những suy nghĩ ấy Công việc của báo chí là thay đổi suy nghĩ đó của họ.Tuy nhiên, đây không phải việc dễ dàng và cần rất nhiều thời gian.Sự tác động của thông tin không phải ngay lập tức có hiệu quả mà phải thấm từ từ.Qua những bài báo về tấm gương điển hình từ chính cộng đồng người yếu thế sẽ khích lệ họ dần dần thoát ra khỏi suy nghĩ mình yếu kém Hay thông qua những câu chuyện rất đời của những nhân vật bình thường sẽ khích lệ người yếu thế biết lên tiếng, nói lên suy nghĩ của mình để mọi người hiểu nhau hơn, từ đó, thu hẹp khoảng cách giữa người yếu thế với người bình thường Cách thức để báo chí thay đổi được những suy nghĩ của người yếu thế là đưa ra những câu chuyện về con người thật xung quanh họ, chỉ ra được hiệu quả thực sự và biết cách lắng nghe họ chia sẻ Dần dần, niềm tin được gây dựng và họ thay đổi suy nghĩ của mình theo định hướng trong các tác phẩm báo chí
Thay đổi nhận thức ở công chúng diễn ra ở hai khía cạnh: thay đổi về nhận thức chính trị và thay đổi về sự hiểu biết tri thức tổng hợp Khi có được
cả hai sự thay đổi này, công chúng mới sẵn sang thay đổi hành vi “Khi nói thay đổi, điều chỉnh nhận thức, trước hết là nhận thức chính trị, làm cho công chúng và nhân dân ủng hộ các quyết tâm chính trị và tạo sự đồng thuận xã hội trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội”[2] Vì vậy, báo chí hướng
Trang 32tới người yếu thế cần có được cả hai yếu tố thông tin: thông tin bổ sung tri thức tổng hợp và thông tin giúp nâng cao nhận thức chính trị
1.3 Chương trình truyền hình chuyên đề về người yếu thế
1.3.1 Khái quát vềchương trình truyền hình chuyên đề
Chương trình truyền hình chuyên đề có một vài đặc trưng đồng thời cũng là thế mạnh khiến nó có khả năng tác động tới công chúng, đặc biệt là nhóm công chúng chuyên biệt một cách mạnh mẽ
Đặc điểm về nội dung:
Đặc điểm đầu tiên phải nói tới là tính định hướng và chuyên sâu trong mỗi tác phẩm truyền hình chuyên đề Đặc điểm này thể hiện ở cách khai thác thông tin đa chiều về cùng một chủ đề và đưa ra những lập luận, phân tích cụ thể để người xem hiểu được vấn đề một cách toàn diện và sâu sắc nhất Bởi vậy, thông tin mà người xem đón nhận được là thông tin mang tính chiều sâu, được khai thác, phân tích và tập hợp thành hệ thống có logic Chính điều này giúp cho chương trình truyền hình chuyên đề có sức nặng về giá trị thông tin Trong thời buổi bùng nổ thông tin từ rất nhiều phương tiện truyền thông khác nhau, giá trị về mặt thông tin là điểm cốt lõi để chương trình tạo được sự cạnh tranh và tìm được vị trí của mình giữa một rừng thông tin Tuy nhiên, để
có được một chương trình nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc cạnh, phân tích bằng những dẫn chứng và lý lẽ chắc chắn, đội ngũ sản xuất cũng sẽ mất nhiều thời gian hơn để hoàn thiện nó Với mỗi chương trình chuyên đề, một lượng thông tin khá dày dặn được truyền tải tới công chúng Điều này lại gây khó khăn cho việc tiếp nhận, ghi nhớ và phân tích thông tin của khán giả Khác với các chuyên đề trên báo in và báo mạng, công chúng có thời gian nghiễn ngẫm, suy nghĩ, phân tích thông tin thì với các chương trình truyền hình chuyên đề, khán giả không có nhiều thời gian để dễ dàng tiếp nhận một lượng
Trang 33thông tin lớn trong một khoảng thời gian ngắn Bởi vậy, cần có những cách thể hiện sáng tạo để công chúng vẫn dễ dàng tiếp nhận được thông tin một cách đầy đủ Như vậy, tính định hướng và chuyên sâu mới phát huy được tối
đa ưu thế của nó trong chương trình truyền hình chuyên đề
Chương trình truyền hình chuyên đề có một đặc điểm cơ bản khác không thể không nhắc tới là tính định kỳ Có thể hiểu tính định kỳ là chương trình được phát sóng sau một khoảng thời gian nhất định Khoảng thời gian này là cố định với mỗi chương trình, có thể là một tháng, một tuần, hoặc một ngày, hoặc cách vài giờ… Tính định kỳ của các chương trình truyền hình mặc
dù sẽ tạo ra những áp lực về thời gian, hạn chế trong sáng tạo và hoạt động sản xuất nhưng đồng thời cũng thúc đẩy quá trình lao động của nhà báo Các chương trình truyền hình chuyên đề có tính định kỳ tạo thói quen và sự chủ động cho công chúng trong việc tiếp nhận thông tin Với những khán giả chuyên biệt, họ sẽ ghi nhớ các khung giờ phát sóng cố định của các chương trình truyền hình yêu thích Như vậy, họ luôn có tâm thế chủ động sẵn sàng tiếp nhận thông tin ở các chương trình này Ngoài ra, tính định kỳ cũng ảnh hưởng tới nhiều yếu tố khác trong các chương trình truyền hình chuyên đề Chẳng hạn như ngôn ngữ và cách thức trình bày thông điệp của chương trình chuyên đề sẽ khác với chương trình tin tức thời sự Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, tính định kỳ cũng ảnh hưởng tới việc lựa chọn khung giờ phát sóng cho mỗi chương trình chuyên đề Với mỗi nội dung chủ đề lại cần có một khung phát sóng phù hợp mới đạt được hiệu quả truyền tải thông tin tốt nhất
Đặc điểm thứ ba của các chương trình chuyên đề là có đối tượng công chúng xác định Không giống các chương trình tin tức, thường dành cho hầu hết mọi người, mỗi chương trình chuyên đề đều phải xác định được nhóm công chúng mục tiêu của mình để có được nội dung, cách thức truyền tải
Trang 34thông tin phù hợp nhất Ngoài tin tức thời sự, công chúng có những nhóm nhu cầu thông tin khác nhau được quy định bởi độ tuổi, nghề nghiệp, vùng miền, văn hóa… Cũng chính những yếu tố này quyết định tới khả năng tiếp nhận thông tin của họ Do vậy, xác định nhóm công chúng mục tiêu để có cách thức truyền đạt, xây dựng nội dung chương trình phù hợp nhất mới có thể giữ chân được khán giả của mình
Đặc điểm về hình thức:
Chương trình truyền hình chuyên đề sử dụng đa dạng các thể loại là một đặc điểm cơ bản nữa cần nhắc tới Có thể nhận thấy có nhiều thể loại như tin, phóng sự, phỏng vấn, tọa đàm… được sử dụng trong các chương trình chuyên đề Tuy nhiên, tất cả các thể loại này đều hướng tới một mục đích chung là đưa ra vấn đề, bàn luận, giải thích, đánh giá để có được cái nhìn toàn diện nhất Sự kết hợp các thể loại trong chương trình phải được sắp xếp hợp
lý để tạo nên một chỉnh thể hoàn thiện với mục đích lớn nhất là tạo ra giá trị thông tin có chiều sâu Trong một chương trình có thể sẽ có một thể loại chiếm ưu thế hơn, đóng vai trò chủ yếu, được xem là mấu chốt tạo nên điểm nhấn, cao trào cho chương trình
1.3.2 Khả năng tác động của truyền hình tới đối tượng đặc biệt
Với khả năng tác động của mình, truyền hình đã và đang tạo ra những thay đổi đáng ghi nhận với nhóm công chúng là các đối tượng đặc biệt Nhóm yếu thế là nhóm đối tượng có những nhu cầu về thông tin cũng đặc biệt hơn với nhóm công chúng bình thường Do vậy, họ cũng sẽ mong muốn tìm kiếm những chương trình phù hợp với nhu cầu của họ thông qua các phương tiện truyền thông, trong đó có báo chí truyền hình
Vì sao nói nhóm công chúng đặc biệt có những nhu cầu đặc biệt hơn so với nhóm công chúng bình thường? Chính bởi những khiếm khuyết, hạn chế
Trang 35từ bản thân của họ dẫn tới những nhu cầu của nhóm công chúng này rất khác với công chúng bình thường Và để đáp ứng được nhu cầu của công chúng đặc biệt, truyền hình chính là phương tiện có khả năng tác động mạnh mẽ nhất
Trước tiên, người yếu thế có cách tiếp cận với các phương tiện truyền thông đại chúng và tiếp cận với thông tin khác với người bình thường Họ không dễ dàng tìm đến với mọi phương tiện truyền thông đại chúng bởi những hạn chế về vận động, hạn chế về khoảng cách địa lý, hạn chế về tài chính… Thế nhưng, họ vẫn có nhu cầu về thông tin như nhiều người khác Bởi vậy, họ tìm đến phương tiện truyền thông nào phù hợp với họ nhất Và truyền hình là phương tiện truyền thông phù hợp nhất Với người khiếm thính gặp khó khăn bởi họ không thể nghe và trao đổi, phản hồi lại như người bình thường Thay vì chỉ có thể đọc báo in hay báo mạng, họ vẫn có thể xem truyền hình với những hình ảnh sinh động và thậm chí, có phụ đề hoặc phiên dịch viên bằng ngôn ngữ ký hiệu Còn với người khiếm thị, phát thanh và truyền hình cũng là kênh thông tin chính họ có thể tiếp nhận bởi khả năng truyền tải thông tin bằng âm thanh Sự ra đời của các bản tin truyền hình tiếng dân tộc, bản tin truyền hình có ngôn ngữ ký hiệu… đã khiến cho các chương trình truyền hình tiếp cận tới đông đảo khán giả ở khắp mọi miền cả nước Truyền hình có những thế mạnh hơn hẳn các loại hình báo chí khác bởi nó là
sự tích hợp của cả âm thanh, chữ viết và hình ảnh động Không chỉ vậy, truyền hình được đánh giá là loại hình báo chí có giá thành phù hợp nhất với chi phí của người dân và có mức độ phổ biến hơn cả Do vậy, đây được xem
là phương tiện có sức lan tỏa rộng rãi nhất, phù hợp với nhiều nhóm công chúng khác nhau
Với những đối tượng là người dân tộc thiểu số, người dân sống ở vùng sâu vùng xa, gặp những khó khăn về điều kiện giao thông, thông tin liên lạc thì phát thanh và truyền hình trở thành những phương tiện truyền thông hiệu
Trang 36quả Họ không thể mua một tờ báo in với điều kiện giao thông như vậy, càng không thể có điều kiện mua máy tính với kết nối internet, nhưng họ có thể có đài phát thanh hoặc một chiếc tivi Truyền hình rõ ràng có những thế mạnh hơn hẳn các phương tiện khác về độ phủ sóng của mình trong đời sống người dân Cũng vì vậy nên nó có khả năng vươn dài cánh tay của mình, trước hết là để thực hiện nhiệm vụ bao phủ thông tin, sau là để tạo dư luận xã hội rộng khắp
Xét về nhu cầu thông tin, nhóm đối tượng yếu thế có những nhu cầu cũng “đặc biệt” hơn so với công chúng phổ thông Ngoài các thông tin cung cấp tri thức tổng hợp có thể tìm thấy trên hầu khắp các loại hình báo chí khác nhau thì người yếu thế còn cần những thông tin đặc thù liên quan tới chính cuộc sống của họ Bởi nhu cầu về loại hình thông tin này nên họ cần các chuyên mục cụ thể dành cho họ Truyền hình có lợi thế trong việc xây dựng các chương trình chuyên biệt cộng thêm với độ bao phủ rộng rãi của nó, khiến cho việc tiếp cận tới các đối tượng đặc biệt như nhóm yếu thế dễ hơn các loại hình báo chí khác Việc tiếp cận là bước đầu tiên trong việc tác động vào nhận thức, tư duy và làm thay đổi nhận thức và hành động của nhóm công chúng này
Với những đối tượng yếu thế là các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo, những người chịu sự kỳ thị của xã hội như người nhiễm HIV/AIDS, người thuộc cộng đồng LGBT…họ có chung đặc điểm về tâm lý là hay e ngại và không muốn mở lòng với cộng đồng, sống thu mình và không tự tin khi hòa nhập với xã hội Khả năng tương tác của truyền hình giúp họ nói lên tiếng nói của mình Chính nhờ các chương trình truyền hình đưa ra những câu chuyện rất chân thật về những người yếu thế, khiến cho cộng đồng yếu thế tự tin hơn khi bước ra ngoài cánh cửa của sự tự ti Thế nên, chúng ta mới thấy những người đã từng phạm lỗi lầm có cơ hội được lên tiếng xin lỗi, thể hiện mong muốn được hoàn lương và hướng thiện thông qua các chương trình truyền
Trang 37hình Báo chí đã giúp những người yếu thế lên tiếng, hướng tới những điều tốt đẹp và thay đổi cuộc sống của họ
Người yếu thế cần được dư luận xã hội ủng hộ để họ dễ hòa nhập hơn với cuộc sống Truyền hình lại chính là phương tiện truyền thông có thể coi là
có sức ảnh hưởng rộng rãi và mạnh mẽ hơn cả Bởi vậy, nó có khả năng tác động và tạo nên dư luận xã hội Trên thực tế, các chương trình truyền hình phản ánh về các đối tượng đặc biệt có khả năng tạo nên làn sóng dư luận mạnh mẽ, tạo sự ủng hộ, đồng cảm và chia sẻ với những đối tượng đặc biệt này Nhiều em học sinh ở miền núi, vùng sâu, vùng xa đã có những bữa ăn được cải thiện, có quần áo ấm mặc vào mùa đông, được ngồi trong những lớp học không còn cảnh gió lùa tứ phía nữa Rất nhiều em nhỏ mắc bệnh hiểm nghèo được hỗ trợ viện phí và phẫu thuật từ sự phản ánh trên các phóng sự truyền hình
Sự lan tỏa của lòng tốt trong các công tác thiện nguyện nhờ rất nhiều vào báo chí, trong đó có truyền hình Không chỉ cổ vũ, động viên, nêu gương người tốt để những đối tượng đặc biệt thấy tự tin hơn, mãnh mẽ hơn mà báo chí còn góp phần kết nối, lan tỏa những trái tim đồng cảm với những người yếu thế Báo chí đã không chỉ là kênh thông tin chia sẻ mà còn là nơi khơi gợi những phong trào tương thân tương ái với các chương trình giúp đỡ hỗ trợ
thiết thực như chương trình Trái tim cho em, Cặp lá yêu thương…
Người yếu thế cần sự đồng cảm, sẻ chia và cần cả một không gian cho
họ lên tiếng, để có người lắng nghe họ Đâu mới là phương tiện hỗ trợ cho họ thực hiện nhu cầu này? Đó là báo chí Với báo chí, họ có thể tự chia sẻ câu chuyện của mình, không phải chỉ với một hai người thân thiết, mà với tất cả mọi người trên khắp mọi nơi Không chỉ là những người đặc biệt, có thành tích mới được phản ánh trên báo chí mà tất cả những người bình thường đều
Trang 38có cơ hội kể câu chuyện của mình nếu đó là một câu chuyện chân thực và có
ý nghĩa Đã có rất nhiều những con người bình thường xuất hiện trên truyền
hình và kể câu chuyện của mình Đó là trong các chương trình Điều ước thứ
7, Hôm nay ai đến… Báo chí nói chung, truyền hình nói riêng là nơi để mỗi
người có cơ hội lên tiếng kể câu chuyện chân thực của mình Đó là cách báo chí chia sẻ sự thấu hiểu của mình với những người yếu thế, nhìn nhận họ như những người bình thường khác trong xã hội chứ không phải nhìn bằng con mắt thương hại Mặt khác, đó cũng là cách để cơ quan báo chí có được những chất liệu rất
“đời sống” để làm nên các tác phẩm hay và gần gũi với người dân
1.3.3 Các mô hình chương trình truyền hình chuyên đề về người yếu thế
Để thực hiện được vai trò của mình trong việc chia sẻ, hỗ trợ và bảo vệ người yếu thế, các chương trình truyền hình cần biết vận dụng phù hợp các
mô hình khác nhau Tùy từng nhóm đối tượng, từng nội dung và hoản cảnh để lựa chọn mô hình phù hợp và tạo được hiệu quả truyền thông tốt nhât Hiện nay, có một số mô hình đang được áp dụng thực hiện trong các chương trình truyền hình như sau
Mô hình tuyên truyền:
Mô hình này được hiểu là dạng mô hình truyền thông từ trên xuống Nghĩa là các chương trình truyền hình đóng vai trò thông tin và tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước tới người dân Nhiệm vụ thông tin gần như là nhiệm vụ lớn nhất của các chương trình này Với các chương trình áp dụng mô hình này, thông tin chỉ đi theo một chiều, từ nguồn (là các chương trình truyền hình) đến người tiếp nhận và gần như không có phản hồi
Dù trong xã hội thông tin bùng nổ như hiện nay, mô hình này vẫn có thể phát huy hiệu quả với một số chương trình mang tính chất tuyên truyền
Trang 39giáo dục chẳng hạn như tạp chí Dân tộc Phát triển Ngoài ra, mô hình này
cũng phù hợp áp dụng vào các chương trình dành cho một số đối tượng nhất định như: người dân tộc thiểu số, hoặc dân cư sống ở vùng sâu vùng xa, những người ít có cơ hội tiếp xúc với thông tin và khó tiếp cận với chính sách
Tuy nhiên, khi thực hiện các chương trình áp dụng mô hình tuyên truyền, cần lưu ý về việc sử dụng ngôn ngữ, kênh truyền và thông điệp phù hợp bởi sự khác biệt về ngôn ngữ, trình độ nhận thức của nhóm đối tượng này
còn thấp
Mô hình truyền thông thay đổi hành vi:
Truyền thông thay đổi hành vi là mô hình nhấn mạnh vào khả năng thuyết phục của thông tin đối với người tiếp nhận [28] Bởi vậy, mục đích cuối cùng của các chương trình áp dụng mô hình này là khiến công chúng từ chỗ chưa có ý thức về vấn đề đến khi có thể thực hiện được hành vi mới và duy trì hành vi mới ấy.Các chương trình thực hiện theo mô hình thay đổi hành
vi giúp người yếu thế có thể mở rộng lòng mình và cởi mở hơn để tiếp cận với
xã hội Để làm được điều này, các chương trình truyền hình phải biết cách sử dụng các thông tin, đảm bảo tính chính xác và thuyết phục của thông tin đưa
ra trong chương trình Đồng thời, thông tin không chỉ mang tính định hướng
mà còn phải là những thông tin có tác động tới suy nghĩ và hành vi của công chúng yếu thế Có như vậy, chương trình mới khiến công chúng từ tin tưởng đến thay đổi suy nghĩ và hành vi
Để đạt được mục đích cuối cùng, các chương trình cần duy trì thường xuyên và lâu dài Tuy nhiên, tác động của các chương trình áp dụng mô hình này sẽ lớn hơn những tác động của mô hình tuyên truyền Tất nhiên, việc thực hiện chương trình theo mô hình này cũng đòi hỏi người thực hiện mất nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu nhu cầu tâm lý công chúng yếu thế, tìm hướng triển khai để thu hút sự quan tâm của họ và lắng nghe phản hồi về nội
Trang 40dung thông tin
Mô hình khuếch tán:
Lý thuyết của mô hình khuếch tán trong truyền thông đại chúng cho rằng, những tri thức, sự cải tiến, tiến bộ được tiếp cận bởi một nhóm tiên phong trong cộng đồng trước khi khuếch tán đến các đối tượng rộng hơn Trong các chương trình truyền hình, có thể hiểu mô hình này là hình thức chương trình phổ biến thông tin thông qua tiếng nói của một chuyên gia, nhà
tư vấn hoặc một người có vai trò nhất định đối với cộng đồng yếu thế Chẳng hạn, chương trình tạp chí Dân tộc phát triển giới thiệu về mô hình trồng quế của một xã thuộc tỉnh Lai Châu Thông qua việc giới thiệu những thành công của mô hình này, cùng với hướng dẫn và phân tích của các chuyên gia về nông nghiệp để những người dân ở vùng sâu vùng xa và có điệu kiện tương tự với xã đó có thể tin tưởng và học tập theo mô hình này để cải thiện kinh tế gia đình Như vậy, nội dung của chương trình thực hiện theo mô hình này phải dựa trên kết quả đã được kiểm chứng của một dự án hoặc chương trình nào
đó, hoặc dựa trên những nghiên cứu có tính khoa học của các chuyên gia, nhà
tư vấn…
Ở mô hình này, vai trò của chuyên gia hoặc những người có ảnh hưởng tới cộng đồng là rất quan trọng Nhờ có tiếng nói của họ mà thông tin có khả năng lan truyền rộng rãi hơn tới công chúng, có tính xác thực và tạo được độ tin tưởng cao hơn với người xem Đặc biệt, với các chương trình về người yếu thế, sự xuất hiện của những người có ảnh hưởng nhất định lại càng quan trọng hơn Bởi những rào cản về tâm lý và về khả năng tiếp nhận của người yếu thế khiến họ càng khó khăn hơn trong việc nghe và tin theo các thông tin Nhưng nếu có sự xuất hiện của một người mà họ tin tưởng thì họ sẽ gạt bớt những rào cản vốn có, sau nữa là tin tưởng và mở lòng mình hơn để đón nhận thông tin Do vậy, mô hình khuếch tán cũng phát huy được nhiều thế mạnh nhất là