Báo chí có một vai trò quan trọng trong việc thông tin giúp cho người dân hiểu rõ bản chất về truyền thống dân tộc và ý nghĩa của lễ hội truyền thống, định hướng dư luận xã hội trước các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN BÍCH NGỌC
BÁO ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI HÓA
TRONG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Báo chí học
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN BÍCH NGỌC
BÁO ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI HÓA
TRONG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60320101
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.TRẦN BÁ DUNG
Hà Nội-2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Trần Bá Dung Trưởng Ban nghiệp vụ Hội Nhà Báo Việt Nam
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Bích Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giảng viên Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐHQG Hà Nội đã giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình theo học chương trình Cao học Báo chí, niên khóa 2014-2016
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo - TS Trần Bá Dung đã tận
tâm hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến quý lãnh đạo và các anh chị phóng viên của ba báo điện tử Vietnamnet, Vnexpress, Dân trí; Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch, cảm ơn các bạn, anh/chị tham gia gúp tôi trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, các đồng nghiệp đã tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả trong thời gian thực hiện luận văn
Xin gửi lời cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, chia sẻ khó khăn và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Bích Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 10
7 Kết cấu luận văn 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU BÁO ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI HÓA TRONG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG 11
1.1 Báo điện tử 11
1.1.1 Khái niệm 11
1.1.2 Đặc điểm của báo điện tử 11
1.1.3 Vai trò và chức năng của báo điện tử 16
1.2 Thương mại hóa trong lễ hội truyền thống 19
1.2.1 Lễ hội truyền thống 19
1.2.2 Thương mại hóa trong lễ hội truyền thống 27
1.3 Vai trò và chức năng của báo điện tử trong thông tin về vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống 30
Tiểu kết 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BÁO ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI HÓA TRONG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG 42
2.1 Khái quát về các báo điện tử khảo sát 42
2.2 Vấn đề thương mại hóa trong các lễ hội truyền thống dân tộc 34
2.2.1 Thực tiến hoạt động lễ hội truyền thống 34
Trang 62.2.2 Biểu hiện thương mại hóa tại các lễ hội trong diện khảo sát: 36
2.3 Thực trạng báo điện tử với vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống 45
2.3.1 Số lượng 46
2.3.2 Nội dung 49
2.3.3 Hình thức 55
2.3.4 Đánh giá của công chúng 66
2.4 Ðánh giá hiệu quả của BĐTvới việc thông tin về vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống 75
Tiểu kết 81
CHƯƠNG 3: KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP CHO BÁO ĐIỆN TỬ TRONG VIỆC THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI HÓA TRONG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG 83
3.1 Một số vấn đề đặt ra đối với BĐT trong việc thông tin về vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống 83
3.2 Khuyến nghị và giải pháp 84
3.2.1 Về nguồn nhân lực và môi trường kỹ thuật 84
3.2.2 Về nội dung đề cập 89
3.2.3 Về hình thức thể hiện 93
Tiểu kết 99
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 109
1.Bài phỏng vấn sâu Lãnh đạo bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Lãnh đạo Báo điện tử, Phóng viên báo điện tử 110
2 Bảng khảo sát công chúng 116
3 Thống kê kết quả khảo sát công chúng 121
Trang 74 Tổng hợp danh sách đường link các tác phẩm báo chí về vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống dân tộc trên Vnexpress, Vietnamnet và Dân trí (Từ 01/01/2015 đến 30/6/2016) 125 4.1 Danh sách các tác phẩm báo chí về vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống trên Dân trí (01/01/2015-30/6/2016) 125 4.2 Danh sách các tác phẩm báo chí về vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống trên Vietnamnet (01/01/2015-30/6/2016) 128 4.3 Danh sách các tác phẩm báo chí về vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống trên Vnexpress (01/01/2015-30/6/2016) 129
5 Một số bài báo minh họa cho vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống trên Vnexpress, Vietnamnet và Dân trí 135
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Sơ đồ thể hiện vai trò của báo chí với công tác quản lý lễ hội 31 Bảng 2.1 Biểu đồ số lượng các bài viết về vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống trên BĐT (01/01/2015-30/6/2016) 46 Bảng 2.2 Biểu đồ thể hiện mức độ quan tâm của các BĐT với các lễ hội lựa chọn khảo sát 48 Bảng 2.3Biểu đồ mô tả vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống trên BĐT theo chủ đề thông tin 50 Bảng 2.4 Bảng thể hiện thành phần công chúng được khảo sát 67 Bảng 2.5 Bảng thể hiện mức độ quan tâm của công chúng tới vấn đề thương mại hóa tại các lễ hội truyền thống 67 Bảng 2.6 Bảng thể hiện mức độ truy cập thông tin về vấn đề thương mại hóa trong các lễ hội qua các BĐT được khảo sát 68 Bảng 2.7 Bảng thể hiện các chủ đề của vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống 69 Bảng 2.8 Bảng nhận xét của công chúng về nội dung thương mại hóa trong các lễ hội truyền thống 70 Bảng 2.9 Bảng nhận xét của công chúng về hình thức thể hiện vấn đề thương mại hóa trong các lễ hội truyền thốngcủa các báo điện tử khảo sát 71 Bảng 2.10 Đề xuất của công chúng về nội dung 72 Bảng 2.11 Đề xuất của công chúng về hình thức thế hiện 73 Bảng 2.12 Các giải pháp cụ thể để tăng cường hiệu quả thông tin về vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống trên báo điện tử do công chúng
đề xuất 73
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Stt Ký hiệu, viết tắt Tên đầy đủ
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ bao đời nay, lễ hội truyền thống luôn giữ vai trò như sợi dây gắn kết cộng đồng, tạo dựng không gian văn hóa vừa trang trọng, linh thiêng, vừa tưng bừng, náo nức Lễ hội truyền thống trở thành nơi con người đến với lịch
sử cha ông, trở về với cội nguồn dân tộc, tưởng nhớ công ơn người đi trước, cầu mong những điều tốt lành Ðồng thời là nơi con người được vui chơi, đua tài, dân trí, biểu dương sức khỏe, năng khiếu nghệ thuật, giải tỏa, bù đắp về tinh thần… Là di sản văn hóa phi vật thể, lễ hội nước ta lại gắn liền với các di tích lịch sử, danh lam, thắng cảnh quốc gia Vì thế, lễ hội nước ta có ý nghĩa nhân văn và tâm linh sâu sắc Mấy năm gần đây, phong trào lễ hội ở nước ta khá rầm rộ Nhân dân các địa phương từ cấp xã đến cấp tỉnh đã cố gắng tìm cách khôi phục các ngày lễ lớn, các hội làng (cả hội chùa và hội lễ đền miếu)
Ở tầm quốc gia thì rất nhiều ngày lễ lớn đã được tổ chức – như lễ hội đền Hùng: Ngày lễ được nhà nước ta chấp nhận là ngày lịch sử để cán bộ các công
sở, nhà trường, đơn vị… được nghỉ ngơi Việc khôi phục các lễ hội này vừa là dịp để giáo dục quốc dân ở các mặt đức dục, trí dục, mỹ dục, lại vừa tạo cơ hội cho ngành du lịch ở nước ta phát triển Lễ hội đang là một nhu cầu không thể thiếu được của con người Việt Nam ở nhiều thế hệ Năm 2015 và 2016 là năm diễn ra nhiều ngày lễ, ngày kỷ niệm của đất nước với quy mô lớn, đặc biệt là các sự kiện, lễ hội lịch sử cách mạng sẽ được tổ chức đồng thời với các ngày lễ lớn ở các cấp
Tuy nhiên thời gian qua, từ thực trạng của hoạt động lễ hội, dường như bao ý nghĩa thiêng liêng đó đã ít nhiều suy giảm bởi các hiện tượng tiêu cực đặc biệt là vấn đề thương mại hóa
Đứng trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị định, quy chế, nhằm tăng cường công tác quản lý, tổ chức lễ hội tại các địa phương Gần đây nhất là Chỉ thị số 41 – CT/TW của Ban bí thư về việc tăng
Trang 11cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội ban hành ngày 05/02/2015 Vấn đề đặt ra là, để những văn bản ấy phát huy được hiệu lực trong thực tiễn thì công tác tổ chức lễ hội phải được các cấp, các ngành, những người làm công tác quản lý lễ hội và nhất là báo chí đặc biệt quan tâm Do vậy, sự góp mặt của báo chí với tư cách là phương tiện thông tin truyền thông thiết yếu của toàn xã hội là một yêu cầu bắt buộc và một trách nhiệm lớn lao Báo chí có một vai trò quan trọng trong việc thông tin giúp cho người dân hiểu rõ bản chất về truyền thống dân tộc và ý nghĩa của lễ hội truyền thống, định hướng dư luận xã hội trước các biểu hiện tiêu cực của vấn đề thương mại hóa diễn ra tại các lễ hội truyền thống và là một kênh thông tin hữu ích nhằm giới thiệu, quảng bá nền văn hóa Việt Nam ra bạn bè thế giới Chúng ta có thể khẳng định sự đóng góp của báo chí trong việc phản ánh và xây dựng hình ảnh lễ hội truyền thống Việt Nam trong tâm trí người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế là rất lớn
Báo chí Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Đảng và là diễn đàn của quần chúng nhân dân Với chức năng to lớn của mình đó là tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng và định hướng tư tưởng cùng với việc quản lý và giám sát xã hội, báo chí cần phải tuyên truyền, phổ biến dòng tư tưởng chủ lưu tích cực cũng như tham gia vào tất cả các khâu trong tiến trình quản lý xã hội Với chức năng và vai trò to lớn của mình, báo chí cần thông tin nhằm nâng cao nhận thức, giúp người dân có cái nhìn đúng đắn về giá trị văn hóa của lễ hội, cung cấp những tri thức khoa học về cội nguồn dân tộc, công ơn của các thế
hệ đi trước, phản biện xã hội nhằm tránh những ứng xử lệch lạc của các nhà
tổ chức, quản lý lễ hội và của đông đảo quần chúng nhân dân…
Nâng cao nhận thức, giúp chấn chỉnh và giảm thiểu vấn đề thương mại hóa diễn ra tại các lễ hội truyền thống, giúp dư luận xã hội có cái nhìn đúng đắn về giá trị của lễ hội là hoạt động mang ý nghĩa trực tiếp, bảo đảm sự
Trang 12tiên hàng đầu của ngành văn hóa và của báo chí khi phản ảnh về lĩnh vực văn hóa… Đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực diễn ra trong hoạt động văn hóa, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc cũng là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng, là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó báo chí giữ vai trò nòng cốt
Cùng với chặng đường phát triển của nền văn hóa, báo chí cách mạng Việt Nam đã thể hiện vai trò to lớn trong việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc Nhiều báo, đài đặc biệt là các BĐT đã có các chuyên trang, chuyên mục về văn hóa, lễ hội để người dân có những kiến thức nhất định cho việc ứng xử có văn hóa với lễ hội.Hơn các loại hình báo chí khác, báo điện tử đã mạnh dạn phản ánh tất cả những biểu hiện của vấn đề thương mại hóa cùng các hiện tượng tiêu cực khác diễn ra tại các lại hội hiện nay Những tờ BĐT đã nêu lên những hạn chế, thiếu sót, thậm chí là yếu kém, tiêu cực còn tồn tại trong công tác quản
lý, tổ chức lễ hội để ngành văn hóa tự nhìn nhận, đánh giá và tìm những giải pháp khắc phục, đấu tranh đẩy lùi tiêu cực, nâng cao hơn nữa giá trị nhân văn sâu sắc và yếu tố tâm linh của lễ hội
Tuy BĐT là loại hình báo chí ra đời muộn nhất trong hệ thống báo chí nước ta nhưng báo mạng điện tử đã nắm giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng BĐT với sự kế thừa sức mạnh kết hợp của tất cả những loại hình báo chí truyền thống, tích hợp với công nghệ mới đã tạo ra những đột phá trong quá trình truyền tin và tiếp nhận thông tin
Bên cạnh những bài viết phản ánh kịp thời, khách quan, trung thực góp phần tích cực trong tuyên truyền về công tác lễ hội trong thời gian qua vẫn còn không ít những trang tin, bài báo đưa tin giật gân, câu khách; phản ánh thái quá hoặc suy diễn; lấy cái đơn nhất, cụ thể để đánh giá, kết luận về cái
Trang 13tổng thể… đã làm dư luận thiếu tin tưởng vào không gian, tín ngưỡng văn hóa trang trọng, linh thiêng vốn có của lễ hội Khiến con đường trở về với lịch sử cha ông, trở về với cội nguồn dân tộc của nhân dân trở nên khó khăn Trong thời đại thông tin bùng nổ, những lễ hội truyền thống hàng năm vẫn tuần tự diễn ra với không ít những mặt trái còn tồn đọng do sự thương mại hóa
Xuất phát từ tình hình thực tế và những nguyên nhân nêu trên với mong muốn tăng cường vai trò của báo chí trong việc chấn chỉnh giúp giảm thiểu, khăc phục vấn đề thương mại hóa diễn ra tại các lễ hội truyền thống, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống – một di sản văn hóa phi vật thể thiêng liêng của dân tộc, đề tài tập trung vào việc nghiên cứu báo điện tử với vấn đề thương mại hoá trong lễ hội truyền thống dân tộc qua việc khảo sát các bài viết liên quan đến vấn đề thương mại hóa diễn ra tại các
lễ hội truyền thống trên 3 BĐT Vnexpress, Vietnamnet và Dantri từ
01/01/2015 đến 30/6/2016
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các nghiên cứu có liên quan tới đề tài này thường nằm trong hai nhóm: Nhóm các nghiên cứu về lễ hội và nhóm các nghiên cứu về báo chí với lễ hội Các nghiên cứu lễ hội rất đa dạng và phong phú nhưng ít tài liệu chuyên sâu Có thể kể đến một số sách viết về các lễ hội như: 25 lễ hội đặc sắc ở Việt Nam của Minh Anh, Hải Yến, Mai Ký (2008), Nxb Hồng Đức; Lễ hội Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh (2008), Nxb Thanh niên; Lễ hội và nhân sinh, Đặng Văn Lung (2005), Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh), Lễ hội Văn hóa và Du lịch Việt Nam, Đoàn Huyền Trang (2009), Nxb Lao động Các công trình nghiên cứu này chủ yếu giới thiệu về các lễ hội, cho bạn đọc hiểu sâu sắc nét đẹp truyền thống cùng những giá trị nhân văn sâu sắc trong từng lễ hội của từng vùng miền trên khắp đất nước
Cuốn Bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa Phi vật thể ở Việt Nam,
Trang 14về tất cả các di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam; phương hướng bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể, trong đó có lễ hội
Ngoài ra còn một số bài viết được đăng trên chuyên đề Văn hóa – thể
thao – Giải trí của báo Quân đội nhân dân online nhằm thực hiện chỉ thị số 41 CT-TW của Ban bí thư về tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội
như: Giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa lễ hội của Nguyễn Hùng Vĩ ra ngày 03/3/2015; Lễ hội trong xã hội hiện đại những tích cực và bất cập của PGS.TS Nguyễn Thanh Tú ra ngày 04/3/2015 hay Đưa lễ hội vào nề nếp góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh của Nguyễn Mạnh ra ngày 05/3/2015 Ngoài các công trình nghiên cứu về lễ hội của một số người đầu ngành, cũng có một số luận văn, luận án nghiên cứu về lễ hội như:
Đề tài “ Nghiên cứu lễ hội truyền thống Đồng bằng sông Cửu Long phục vụ phát triển du lịch” Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của học viên Dương Thanh Xuân (2011), trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Luận văn nghiên cứu về lễ hội truyền thống của Đồng bằng sông Cửu Long nhằm thúc đẩy phát triển du lịch tại nơi đây
Đề tài “ Lễ hội cổ truyền cư dân ven biển Hải Phòng và sự biến đổi trong giai đoạn hiện nay” Luận văn tốt nghiệp tiến sỹ của nghiên cứu sinh Lê Thanh Tùng (2012), Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam Luận văn tổng quan
về nhóm các lễ hội tiêu biểu, đặc trưng về lễ hội cổ truyền cư dân ven biển Hải Phòng Sự biến đổi lễ hội cổ truyền cư dân ven biển Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội đương đại của cư dân ven biển Hải Phòng
Ngoài ra còn một số đề tài của sinh viên về các lễ hội cụ thể của từng vùng miền và từng dân tộc “ Lễ hội chùa Keo ở tỉnh Nam Định và Thái Bình”; “Bảo tồn và phát huy giá trị Văn hóa lễ hội cổ truyền ở Vĩnh Phúc”; “ Tổng quan về lễ hội làng Giang xá” …
Trang 15Nhìn chung, các công trình đề cập trên là tổng kết về một lễ hội cụ thể của từng vùng, miền trên cả nước, làm sâu sắc thêm giá trị thiêng liêng vốn có của di sản văn hóa phi vật thể này
Hay các đề tài nghiên cứu như: “ Truyền thông sự kiện Festival Huế định
kỳ trên báo Thừa Thiên Huế, Vietnam.net, Vnexpress” Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của học viên Hồ Diệu Trang (2011), Trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn Đề tài này khẳng định vai trò và đóng góp của sự kiện Festival Huế trong bối cảnh giao lưu và hội nhập nền văn hóa thế giới, nêu lên vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc thông tin sự kiện văn hóa có quy mô lớn, truyền thông hình ảnh Huế ra bạn bè quốc tế
Đề tài “Tìm hiểu lễ hội truyền thống và hiện đại Việt Nam qua báo chí” Luận văn tốt nghiệp đại học của sinh viên Nguyễn Thị Thanh Trà (2006), trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Luận văn này cung cấp nhãn quan về lễ hội qua báo chí; truyền tải hình ảnh các lễ hội Việt Nam qua báo chí
Đề tài “Báo chí Bắc Ninh với vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống địa phương” Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của Nguyễn Tiến Nghị (2014), trường Học viện Báo chí và tuyên truyền Luận văn đi vào phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của báo chí với vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống ở Bắc Ninh; Nghiên cứu thực trạng họat động của báo chí Bắc Ninh với vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống ở riêng tỉnh Bắc Ninh; Đề xuất một số giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả của báo chí với vấn
đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống ở Bắc Ninh
Tác giả chưa thấy một tài liệu nghiên cứu chuyên sâu nào về vấn đề thương mại hóa đang diễn ra trong các lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam trên báo chí Lễ hội truyền thống là sự kiện văn hóa thường niên, yếu tố thương mại hóa năm nào cũng xảy ra tại các lễ hội lớn của dân tộc mà có dấu hiệu ngày
Trang 16phải thể hiện được vai trò của mình khi thông tin và định hướng cho công chúng Tác giả hy vọng thông qua đề tài này có thể góp phần vào việc nâng cao hiệu quả thông tin về vấn đề thương mại tại lễ hội truyền thống dân tộc trên báo điện
tử nhằm chấn chỉnh, giảm thiểu và cao hơn là khắc phục tình trạng thương mại hóa đã diễn ra nhiều năm tại các lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Về mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm làm sáng tỏ thực trạng việc thông tin về vấn đề thương mại hóa diễn ra tại các lễ hội ở lớn của dân tộc trên báo điện tử (Lễ hội đền Hùng tại Phú Thọ; lễ hội đền Trần và lễ hội chờViềng tại Nam Định; lễ hội đền Gióng
và lễ hội chùa Hương tại Hà Nội; lễ hội đền Bà Chúa Kho và lễ hội Lim tại Bắc Ninh, lễ hội đền bà chúa Xứ tại An Giang; lễ hội Chọi trâu tại Hải phòng và một
số lễ hội chọi trâu tại một số địa phương), chỉ ra những điểm mạnh, khó khăn, thách thức của việc thông tin về vấn đề thương mại hóa tại các lễ hôi truyền thống trên báo điện tử đồng thời đề xuất những khuyến nghị và giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thông tin nhằm chấn chỉnh, giảm thiểu và khắc phục hiện tượng thương mại hóa diễn ra kéo dài tại các lễ hội truyền thống lớn của dân tộc trên báo điện tử
3.2 Về nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát để đánh giá thực trạng việc thông tin về vấn đề thương mại hóa trong các lễ hội truyền thống trên báo điện tử.Từ đó, luận văn chỉ ra điểm mạnh và hạn chế của việc thông tin về vấn đề này trên báo điện tử cả về số lượng, nội dung và hình thức thể hiện
- Rút ra những bài học kinh nghiệm cho những phóng viên, biên tập viên của 3 tờ BĐT trong việc thông tin về các vấn đề liên quan tới thương mại hóa diễn ra tại các lễ hội truyền thống
- Đề xuất khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc thông tin về vấn đề thương mại hóa về các lễ hội truyền thống
Trang 17trên báo điện tử Đặc biệt là giúp BĐT phát huy vai trò của mình nhằm chấn chỉnh, giảm thiểu và khắc phục hiện tượng tiêu cực này
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống được thông tin trên 3 BĐT: VnExpress, Vietnamnet và Dân trí
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu tin bài có liên quan tới vấn đề thương mại hóa diễn ra tại các lễ hội truyền thống dân tộc Việt Nam trong năm 2015 và 06 tháng đầu năm 2016 trên 03 tờ BĐT Vnexpress, VietnamNet và Dantri bao gồm
Lễ hội đền Hùng tại Phú Thọ; lễ hội đền Trần và lễ hội chợ Viềng tại Nam Định;
lễ hội đền Gióng và lễ hội chùa Hương tại Hà Nội; lễ hội đền Bà Chúa Kho và lễ hội Lim tại Bắc Ninh, lễ hội đền bà chúa Xứ tại An Giang; lễ hội Chọi trâu tại Hải phòng và một số lễ hội chọi trâu tại một số địa phương
Mặc dù lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam rất nhiều và thương mại hóa không chỉ diễn ra tại các lễ hội người làm luận văn lựa chọn khảo sát nhưng các lễ hội được người làm luận văn lựa chọn đều là lễ hội lớn tại các tỉnh thành, mang tầm cỡ Quốc gia, được công chúng quan tâm Hơn nữa, đây
là các lễ hội mà hiện tượng thương mại hóa bộc lộ đầy đủ và toàn vẹn nhất; cũng là những lễ hội được các loại hình báo chí thông tin nhiều nhất và thường xuyên nhất
Việc lựa chọn phạm vi nghiên cứu sẽ được người làm luận văn giải thích cụ thể hơn ở chương 1 khi nói về các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Lý do người làm luận văn lựa chọn thời gian nghiên cứu từ 01/01/2015 đến 30/06/2016 do năm 2015 là năm bắt đầu thực hiện chỉ thị số 41- CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội Mà lễ hội truyền thống Việt nam chủ yếu diến ra vào mùa xuân (đầu năm) Người làm
Trang 18chí đa phương tiện - một cây bút thần kỳ khi thể hiện vai trò là cơ quan ngôn luận của Đảng và diễn đàn của quần chúng trong việc thông tin về một hiện
tượng tiêu cực diễn ra đã nhiều năm nay
5 Phương pháp luận
5.1 Phương pháp chung về lý luận
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – LêNin và tư tưởng Hồ chí Minh
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trong qua trình nghiên cứu đề tài sử dụng nhiều phương pháp như: Phương pháp kết hợp logic với lịch sử, phương pháp tổng hợp, đánh giá và phân tích tài liệu thông tin từ báo chí, các websize, các bài bình luận, các sách nghiên cứu; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp khảo sát, thống kê;phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp tổng kết thực tiễn…
Trong đó phương pháp nghiên cứu chủ yếu là khảo sát, phân tích nội dung các bài báo về thương mại hóa lễ hội truyền thống trên ba báo điện tử Vnexpress, VietnamNet và Dân trí trong năm 2015, nửa đầu năm 2016; phân tích, tổng hợp,
so sánh nhằm mục đích đánh giá các ưu nhược điểm, thành công, hạn chế tồn tại của các báo điện tử trong công tác viết về các sự việc, hiện tượng tiêu cực diễn ra tại sự kiện thường niên là các lễ hội truyền thống Từ đó khái quát những điểm
cơ bản cần phải có để mang lại hiệu quả cho việc chấn chỉnh, giảm thiểu và khắc phục hiện tượng thương mại hóa.Từ đó, góp phần gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp trong các lễ hội truyền thống dân tộc
Ngoài ra, tác giả sẽ tiến hành phỏng vấn bằng bảng hỏi anket đối với 300 độc giả BĐT để đánh giá tác động của báo điện tử tới công chúng sau một quá trình tiếp nhận các thông tin; lấy ý kiến của họ để biết được họ mong muốn gì với báo chí nói chung và BĐT nói riêng khi thông tin nhằm chấn chỉnh, giảm thiểu và khắc phục hiện tượng tiêu cực này; góp phần gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp ngàn đời trong các lễ hội truyền thống dân tộc
Trang 196 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Việc nghiên cứu “Báo điện tử với vấn thương mại hóa trong lễ hội truyền thống” sẽ góp phần làm phong phú hơn lý luận về báo chí, bổ sung tư liệu thực tế cho một số môn học chuyên ngành báo chí và chuyên ngành văn hóa
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Về ý nghĩa thực tiễn của đề tài, sau khi nghiên cứu, luận văn góp phần tìm ra những đặc điểm nổi bật cũng như hạn chế trong nghệ thuật chuyển tải thông tin về một vấn đề tiêu cực trong lĩnh vực văn hóa trên 03 báo điện tử Vietnamnet, Vnxspess và Dân trí Từ đó, giúp các nhà báo, cơ quan báo chí, phóng viên, biên tập viên có một cách nhìn nhận chính xác hơn về việc thông tin các sự kiện văn hóa truyền thống của dân tộc, đặc biệt là với vấn đề tiêu cực diễn ra nhiều năm, với nhiều biến tướng tinh vi như thương mại hóa tại các lễ hội truyền thống Từ đó đưa ra phương pháp khắc phục và hoàn thiện hơn công tác làm báo của nhà báo, cơ quan báo chí, công tác tổ chức, quản lý
lễ hội của những nhà tổ chức, quản lý lễ hội và nâng cao ý thức của công chúng khi tham gia vào lễ hội truyền thống
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luân và thực tiễn báo điện tử với vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống
Chương 2: Thực trạng báo điện tử với vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống
Chương 3: Khuyến nghị và giải pháp cho báo điện tử trong việc thông tin về vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BÁO ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI HÓA TRONG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG 1.1 Báo điện tử
1.1.1 Khái niệm
Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại nhiều cách gọi khác nhau đối với loại hình báo chí này: Báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online Newspaper), báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí internet (Internet Newspaper) và báo mạng điện tử
Báo điện tử là khái niệm thông dụng nhất ở nước ta Nó gắn liền với tên gọi của nhiều tờ báo mạng điện tử thuộc cơ quan báo in như: Quê Hương điện
tử, Nhân Dân điện tử, Lao Động điện tử…Ngay trong các văn bản pháp quy của Nhà nước cũng sử dụng thuật ngữ “báo điện tử”
Theo Điều 3, Chương 1 của Luật báo chí được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 05 – 4 – 2016, báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử
1.1.2 Đặc điểm của báo điện tử
Điểm mạnh
BĐT có tác dụng và tiện ích hơn hẳn các loại hình báo chí truyền thống, dung lượng thông tin rất lớn, tương tác thông tin nhanh, phát hành không bị trở ngại về thời gian, không gian, biên giới quốc gia Từ khi ra đời, BĐT nước ta đã góp phần quan trọng trong việc phổ biến, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; mở rộng hiệu quả thông tin đối ngoại; nâng cao dân trí và thỏa mãn nhu cầu thông tin, hưởng thụ văn hóa của nhân dân…
Có thể nói rằng, BĐT - kết quả của sự tích hợp giữa công nghệ và truyền thông, dựa trên nền của internet và sự tích hợp ưu thế của các loại hình báo chí
Trang 21truyền thống đã đem lại những giá trị rất lớn cho xã hội, cho người dân BĐT đã tạo ra bước ngoặt làm thay đổi cách truyền tin và tiếp nhận thông tin
Về truyền tin, sự thay đổi thể hiện ở những góc độ sau:
Thứ nhất, BĐT có những lợi thế về dung lượng truyền tải mà báo in, phát thanh, truyền hình không thể có được BĐT không bị giới hạn bởi khuôn khổ, số trang nên có khả năng truyền tải thông tin không giới hạn Vì vậy, nó
có thể cung cấp một lượng thông tin lớn , phong phú và chi tiết Ngoài ra, những thông tin này còn được BĐT xâu chuỗi lại với nhau theo các chủ đề thông qua siêu liên kết, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận thông tin của độc giả Không những thế, thông tin trên BĐT còn được lưu trữ lâu dài và khoa học theo ngày tháng, chủ đề, chuyên mục…tạo thành cơ sở dữ liệu để bạn đọc có thể tìm kiếm nhanh chóng và hiệu quả
Thứ hai, BĐT không bị phụ thuộc vào khoảng cách đại lý nên thông tin được truyền tải khắp toàn cầu Nó tiếp cận với độc giả khắp mọi nơi, dù
đó là thành thị, nông thôn, vùng sâu, vùng xa miễn nơi đó có đường dây điện thoại, có di động hay phủ sóng vệ tinh Ở các nước phát triển, với hạ tầng viễn thông đã rất phát triển, người dân chỉ cần một sợi cáp nối đến nhà
là họ có tất cả các dịch vụ trong đó, từ điện thoại, truy cập internet bằng thông cộng và xem truyền hình (truyền hình trực tuyến và cả truyền hình thuê bao cáp) Vì thế, BĐT là một phương tiện truyền tải thông tin dễ dàng, sinh động và trực tiếp
Thứ ba, BĐT đã tạo ra bước ngoặt về quy trình sản xuất thông tin Thông tin từ thu nhận đến khi phát hành đều được diễn ra rất nhanh chóng với những thao tác hết sức đơn giản Về lý thuyết, một người có thể làm được tất
cả các bước trong một công đoạn và tất cả các công đoạn trong cả quy trình sản xuất BĐT Vì vậy, xét về chi phí cho cả người sản xuất và công chúng đều ít tốn kém hơn các loại hình báo chí khác
Trang 22Thứ tư, BĐT là sự tổng hợp của công nghệ đa phương tiện, nghĩa là nó không chỉ truyền tải văn bản, hình ảnh như báo in mà cả âm thanh, video như phát thanh, truyền hình và các chương trình tương tác Tính năng ba trong một của BĐT đang và sẽ tạo dựng một sức mạnh truyền thông mới
Thứ năm, BĐT là nhà vô địch về tần xuất và tôc độ truyền tin Không cần phải chờ đến giờ ra báo, phát sóng, cứ khi nào có thông tin mới là BĐT đưa lên
Vì vậy, thông tin trên BĐT liên tục được cập nhật từng giờ, từng phút có thể tức thời và ngay lập tức Do đó, BĐT luôn sống 24h/ngày và 7 ngày/tuần
Thứ sáu, xét về tiềm năng tài chính thì với mật độ sử dụng internet và BĐT tăng lên hằng ngày, BĐT sẽ nhanh chóng chiếm một thị phần không nhỏ
về quảng cáo Theo một tính toán thì trong tương lai, quảng cáo trên BĐT sẽ không chỉ cạnh tranh với báo in mà với cả truyền hình
BĐT ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội Bây giờ, vào mỗi buổi sáng, hình ảnh các nhân viên văn phòng đến cơ quan, bật máy tính, truy cập vào các trang BĐT sau đó mới làm việc đã trở nên quen thuộc Điều này diễn ra ở nhiều nơi: công sở, gia đình, quán cà phê…BĐT đã được chấp nhận không chỉ ở góc độ đối tượng tiếp nhận là khán giả, độc giả
mà ngay cả bản thân những người làm báo
Về sự tiếp nhận thông tin của công chúng cũng thay đổi rất nhiều giờ đây, công chúng trở thành trung tâm, hoàn toàn chủ động lựa chọn thông tin, thời gian, không gian trình tự tiếp nhận cũng như cách tiếp cận thông tin cho phù hợp với nhu cầu và sở thích của mình Không những thế, công chúng còn được khuyến khích và tạo cơ hội để tích cực tham gia vào quá trình sản xuất thông tin và truyền tin Vị trí của người truyền tin và tiếp nhận thông tin đôi khi được hoán đổi cho nhau Ngoài ra, nhờ những ưu điểm như khả năng đa phương tiện và tính tương tác cao, BĐT đã giúp cho mối quan hệ giữa nhà báo và công chúng chặt chẽ hơn thông qua việc mở các diễn đàn trao đổi, giao lưu trực tuyến, tổ chức hội nghị trực tuyến…
Trang 23Cùng với các phương tiện thông tin đại chúng khác, BĐT ngày càng phát triển, đem lại hiệu quả xã hội to lớn Hơn thế, BĐT còn chắp cánh cho các loại hình báo chí khác bay xa hơn, giúp khuếch trương hình ảnh mọi nơi, mọi lúc
BĐT đã và đang có một vị trí xứng đáng, trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống người dân bởi sức mạnh thực sự của nó Xu hướng phát triển của BĐT sẽ như vũ bão trong thời gian tới, số lượng người truy cập ngày càng tăng lên nhanh chóng khi cước phí internet rẻ tới mức bất cứ ai cũng có thể đăng ký được Tuy nhiên sự tồn tại và phát triển của BĐT tử sẽ tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các loại hình truyền thông
Điểm yếu
Như các loại hình báo chí khác, BĐT cũng có những hạn chế nhất định Thứ nhất, độ chính xác của thông tin Thông tin được BĐT đưa rất nhanh, nhiều khi phải chạy đua với thời gian Do vậy, nhanh thì dễ ẩu Các loại hình báo chí khác tránh xu hướng này bằng hàng rào các biên tập viên giỏi nghiệp vụ.nhưng đối với BĐT, trong nhiều tình huống phóng viên kiêm luôn tổng biên tập, tức là vừa viết bài vừa đăng tin lên mạng Biên tập viên lúc này không có vai trò
Thêm nữa, dù đã phát hành, thông tin trên BĐT vẫn có thể chỉnh sửa được tạo nên tâm lý thiếu cẩn thận ở một bộ phận nhà báo.Vì vậy, độ chính xác của thông tin trên BĐT nhiều khi không cao bằng thông tin trên các loại hình báo chí khác
Thứ hai, độ an toàn của thông tin trên báo điện tử Nó bị phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ, toàn bộ nội dung thông tin gần như phụ thuộc vào sự ổn định của hệ thống máy móc Vì BĐT chỉ phát hành một bản duy nhất nên khi gặp các sự cố như cháy, hỏng virút phá hoại, tin tặc tấn công…nội dung lưu trữ có thể bị chỉnh sửa, làm sai lệch hoặc bí phá hoại hoàn toàn và khó khôi
Trang 24Mỗi ngày có hàng chục nghìn lượt người truy cập vào địa chỉ của các tờ BĐT, mỗi người để lại dấu vết trên hệ thống gọi là địa chỉ IP, dấu hiệu đó xác định họ là ai, ở đâu (trong nước hay nước ngoài, thậm chí thông qua vùng địa chỉ của nhà cung cấp còn biết ở tỉnh nào…) Trong hàng vạn người truy cập vào tờ báo có kẻ thay vì đọ báo lại lục lọi, thâm nhập vào hệ thống, cài đặt lên
đó những con Backdoor (phần mềm cho phép điều khiển từ xa nhằm mục đích phá hoại) Và không phải công cuộc dò tìm, lục lọi trái phép nào các quản trị mạng của tờ báo cũng có thể kiểm soát Vì vậy, nếu các tin tặc chiếm được quyền điều khiển, có quyền ngang hàng với các quản trị mạng thì khi họ tấn công, tờ báo khó có thể chống đỡ nổi
Một kiểu tấn công khác cũng rất đấng sợ, đó là tấn công từ chối dịch vụ DDoS (Distributed Denis of Service) và Flood Khi đó các tin tặc lợi dụng băng thông lớn của những hệ thống mạng trên thế giới như Yahoo, Google…
để gửi những gói tin và yêu cầu truy cập ồ ạt tới hệ thống của tờ báo gây ra hiện tượng nghẽn mạng, bạn đọc kết nối tờ báo nhưng không thể xem được tin tức gì Những cuộc tấn công kiểu nghẽ mạng DDoS hay Flood để ngắt bạn đọc với tờ báo diễn ra thường xuyên VnExpress đã từng bị ít nhất 4 lần deface (xóa sạch trang chủ), còn VietNamNet thì rất nhiều lần
Thứ ba, vì BĐT đưa ra rất nhiều thông tin nên người đọc nhiều khi bị nhiễu, choáng ngợp, mất tập trung và đôi khi không có khả năng lựa chọn thông tin nào tốt, đáng tin cậy cho mình Thêm nữa, rất nhiều thông tin trên BĐT quá chi tiết, tủn mủn, sa đà vào giật gân, câu khách
Có thể thấy nhiều tờ BĐT có những kiểu giật tít “bệnh hoạn” khi nhân vật của câu chuyện là bất kỳ ai, không phân biệt già trẻ, giới tính , tuổi tác miễn là thông tin đó có thể “câu wiew”
Thứ tư, tâm lý không thư giãn, thoải mái khi tiếp nhận thông tin từ BĐT
Vì phải sử dụng máy tính có kết nối mạng internet hoặc trong vùng phủ sóng đối với internet không dây nên không dễ dàng đọc BĐT mọi lúc, mọi nơi
Trang 25Thứ năm, BĐT mang tính cá nhân hóa nên khó có thể chia sẻ cho người khác cùng xem, cùng đọc BĐT không có khả năng tập hợp quần chúng như phát thanh hay truyền hình
Thứ sáu, quản lý thông tin trên BĐT cũng khó khăn hơn các loại hình báo chí khác Các diễn đàn nếu tổ chức không tốt rất dễ rất đến sa đà vào những vấn đề mang tính giật gân, câu khách
Trong tương lai, BĐT sẽ tiếp tục phát triển mạnh song song cùng tồn tại với các loại hình báo chí khác, bổ sung những khiếm khuyết mà các loại hình báo chí truyền thống không thể đạt được và đương nhiên cũng phải tính đến cách khắc phục những hạn chế của mình
1.1.3 Vai trò và chức năng của báo điện tử
Trong công tác gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống, văn hóa, lịch sử trong các lễ hội truyền thống, truyền thông là một trong những phương tiện hữu hiệu trong việc lên tiếng, vạch trần các hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật Báo chí là một kênh hữu hiệu nhất của truyền thông Báo chí tham gia và giữ vai trò trung tâm trong công tác truyền thông đại chúng – thông tin về vấn
đề thương mại hóa trong các lễ hội truyền thống dân tộc là thể hiện đúng bản chất và các chức năng cơ bản của hoạt động báo chí BĐT là một trong những loại hình báo chí, cũng mang đầy đủ những đặc điểm này, bao gồm:
Thứ nhất, chức năng thông tin – giao tiếp, đảm bảo nhu cầu ngày càng cao của con người Thông tin trên các loại hình báo chí không chỉ trở thành sức mạnh chính trị trong cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng ,đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ, góp phần hình thành diện mạo văn hóa quốc gia cũng như nhân cách mỗi con người, mà còn ngày càng đi sâu vào đời thường, đi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống cá nhân và cộng đồng Thông tin báo chí có thể là các thông tin thời sự – chính trị, thông tin – chỉ dẫn, thông tin – tư vấn, thông tin – quảng cáo, thông tin – giải trí được báo chí
Trang 26chiều dưới góc nhìn và cách thức thể hiện phong phú Thông qua báo chí mà người trong nước và nước ngoài mới biết thực trạng tổ chức, hoạt động của lễ hội truyền thống Việt Nam, mới hiểu được các lễ hội truyền thống và giá trị nhân văn của lễ hội truyền thống Việt Nam
Thứ hai, chức năng tư tưởng Báo chí tham gia vào quá trình tuyên truyền, quảng bá hệ tư tưởng, làm cho hệ tư tưởng ngày càng lan truyền rộng rãi và chiếm ưu thế trong đời sống tinh thần của nhân dân Mỗi nền báo chí, mỗi cơ quan báo chí có khuynh hướng tư tưởng chủ đạo – khuynh hướng tư tưởng chiếm ưu thế của mình; thể hiện ở chỗ nó phụng sự cho hệ tư tưởng của giai cấp đó Báo chí bám sát thực tiến xã hội và định hướng dư luận xã hội theo luồng tư tưởng của giai cấp mà nó phụng sự Đối với lễ hội truyền thống dân tộc, báo chí hướng dư luận xã hội tới loại bỏ những biểu hiện lệch lạc, phi văn hóa, gìn giữ và phát huy giá trị nhân văn sâu sắc của lễ hội truyền thống nhằm xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Thứ ba, chức năng khai sáng và giải trí Khai sáng là làm cho dân được
mở mang, gắn liền khái niệm văn hóa với hai thành tố trung tâm là khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo Báo chí với vai trò là phương tiện truyền thông đại chúng lớn nhất trong xã hội, thực hiện chức năng văn hóa thể hiện qua một số phương thức cơ bản:
+ Thứ nhất là tham gia bảo tồn hệ thống các giá trị văn hóa thông qua giáo dục truyền thống Hệ thống giá trị văn hóa truyền thống cần được chọn lọc, phân loại để xác định nội dung và phương thức giáo dục cho các thế hệ người Việt, nhất là thế hệ trẻ thông qua các kênh như nhà trường, các tổ chức
xã hội trong hệ thống chính trị, qua các phương tiện truyền thông đại chúng
và báo chí Việc giáo dục hệ thống văn hóa này cần được phân cấp cho nhà trường phổ thông đại học; hệ thống báo chí cũng cần bám sát hệ giá trị, chương trình và kế hoạch giáo dục trong nhà trường để có phương thức truyền tải phù hợp với nhóm đối tượng và địa bàn công chúng
Trang 27+ Thứ hai, cổ vũ, khích lệ năng lực sáng tạo giá trị mới; đồng thời truyền bá và nhân rộng nhân tố mới, giá trị mới, động viên tính tích cực xã hội của con người Phát hiện, bảo vệ, ủng hộ, truyền bá, nhân rộng cái mới, năng lực sáng tạo giá trị mới của cá nhân và cộng đồng thông qua dư luận xã hội vì lợi ích của cộng đồng và sự phát triển bền vững của xã hội là trách nhiệm xã hội của nhà báo
+ Thứ ba, phê phán các thói hư tật xấu, các biểu hiện bảo thủ, trì trệ, đấu tranh chống các hiện tượng phi văn hóa… là phương thức quan trọng của báo chí trong quá trình tham gia phát triển văn hóa, giáo dục
+ Thứ tư, giao lưu văn hóa với các dân tộc, các cộng đồng trên thế giới
Đó là quá trình tiếp biến văn hóa qua các loại hình báo chí – truyền thông
Thứ tư, chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội Báo chí đảm bảo dòng thông tin hai chiều từ chủ thể quản lý và khách tể quản lý, đảm bảo cho các quyết định quản lý được thông suốt và thực thi trong thực tế Đồng thời góp phần khơi thức, tập hợp nguồn lực trí tuệ và cảm xúc toàn dân, trước hết là đội ngũ chuyên gia và trí thức, góp ý cho các quyết sách lớn của nhà nước trong quá trình xây dựng và thực hiện nhằm đảm bảo cho sự phát triển
vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Có thể nói báo chí là áp lực góp phần thúc đẩy việc ra đời luật Di sản Văn hóa mà quốc hội đã thông qua năm 2001 cùng nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng về tăng cường công tác tổ chức, quản lý lễ hội truyền thống Trong vài ba thập kỷ qua đã có hàng trăm, hàng nghìn bài viết trên các mặt báo, trên các màn ảnh nhỏ của các đài truyền hình, đài phát thanh đã lên tiếng phê phán những lễ hội bị xâm phạm như: lễ hội chùa Hương, lễ hội Gióng (Hà Nội),lễ hội chợ Viềng, lễ hội đền Trần (Nam Định), hội Lim, lễ hội bà Chúa Kho (Bắc Ninh), lễ hội bà chúa Xứ (An Giang), lễ hội đền Hùng (Phú Thọ), lễ hội chọi trâu (Hải Phòng) và một số lễ hội truyền thống khác …Cũng nhờ báo chí
Trang 28thuật truyền thống khác được hạn chế, nạn “cải tiến” nghệ thuật dân tộc quá
đà, làm mất bản sắc được chững lại…Nhờ có tiếng nói của báo chí mà các cơ quan chức năng của Nhà nước mới biết và mới thực sự chuyển biến trong việc quan tâm bảo vệ, đầu tư phục hồi di tích bị hư hỏng, bị xuống cấp và bị mất mát, đồng thời cũng thông qua báo chí mà nhân dân mới biết được cái quý cái đẹp, cái giái trị muôn đời của lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại Bất kỳ tờ báo nào kể cả chính trị, kinh tế và quân sự đều có những chuyên mục dành riêng cho văn hóa, trong đó bàn rất nhiều về các lễ hội truyền thống dân tộc, khi thì tôn vinh, ca ngợi các hay, cái nhân văn của lễ hội, lúc thì phê phán những hành vi làm tổn hại lễ hội, có báo còn mạnh mẽ, quyết liệt trong việc phê phán những hành vi xâm hại lễ hội truyền thống
Thư năm là chức năng kinh tế - dịch vụ, trong đó quảng cáo là vấn đề quan trọng Quảng cáo là một chức năng xã hội của báo chí, tạo ra nguồn thu cho báo chí phát triển nhưng cũng cần có những quy định cụ thể từ các cơ quan quản lý và cơ quan báo chí để vẫn đảm bảo tốt các chức năng xã hội cơ bản khác Với BĐT, chức năng này còn cần được đặt trong một chế tài và quy định phù hợp để giảm thiểu tình trạng quảng cáo tràn lan, bố trí, thiết kế quảng cáo sai quy định của luật báo chí đang diễn ra ở rất nhiều tờ báo
1.2 Thương mại hóa trong lễ hội truyền thống
1.2.1 Lễ hội truyền thống
Đặc trưng, đặc điểm của lễ hội truyền thống:
Theo GS.Kuahayashi (Nhật Bản): “Xét về tính chất xã hội, lễ hội là quảng trường của tâm hồn Xét về tính chất văn hoá, lễ hội là cái nôi sản sinh
và nuôi dưỡng nghệ thuật như: mỹ thuật, nghệ thuật, giả trí, kịch văn học và với ý nghĩa đó lễ hội tồn tại và có liên quan mật thiết với sự phát triển của văn hoá.” [59, tr 37]
Việt Nam là một quốc gia có diện tích nhỏ nhưng lại có nền văn hóa đặc sắc với sự quần tụ sinh sống của 54 tộc người có những phong tục, truyền thống
Trang 29ngôn ngữ, sự trải nghiệm cũng như nguồn vốn tri thức bản địa cực kỳ đa dạng, phong phú Là một quốc gia có sự khởi thuỷ của nền nông nghiệp lúa nước, vụ mùa, sông nước, thiên nhiên gắn chặt với người Việt từ hàng nghìn năm.Một trong những truyền thống gắn bó với lịch sử người Việt và trường tồn cho đến ngày hôm nay chính là lễ hội Lễ hội là một phần tín ngưỡng quan trọng trong đời sống người Việt ở khắp mọi vùng đất, từ đồng bằng đến miền núi, những dải biên giới, miền duyên hải và hải đảo xa xôi Lễ hội nước ta được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác là một nét đẹp văn hóa lâu đời được người dân tôn trọng, bảo vệ
và lưu truyền "Lễ" là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện "Hội" là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống
Theo điều 4 Luật Di sản Văn hóa ngày 29 – 6 – 2001 "Di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, lịch sử được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác"
Là di sản văn hóa phi vật thể, lễ hội nước ta lại gắn liền với các di tích lịch
sử, danh lam, thắng cảnh quốc gia Vì thế lễ hội nước ta có ý nghĩa nhân văn và tâm linh sâu sắc Là hoạt động mang tính dân gian nguyên hợp, hoạt động nổi trội trong đời sống tinh thần của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, lễ hội không chỉ nhằm tưởng nhớ công ơn dựng nước, giữ nước của những thế hệ cha, ông xưa mà còn phản ánh đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, địa phương vào thời điểm diễn ra lễ hội Đồng thời, lễ hội cũng phản ánh xu hướng vận động
và phát triển của các cơ tầng xã hội trong thời gian và không gian lễ hội
Với nhiều ý nghĩa văn hóa, nhân văn sâu sắc nhưng nay có nhiều lễ hội truyền thống bị biến tướng trở nên thương mại hóa Nhiều ý kiến đề xuất việc kiểm kê các lễ hội trên toàn quốc để tiến tới phân cấp lễ hội theo các cấp: lễ
Trang 30Lê Thị Minh Lý – Nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hoá: “ điểm yếu trong việc quản lý lễ hội hiện nay đó là chưa có cơ sở dữ liệu khoa học và quan điểm tiếp cận đúng Không nên đánh đồng giữa lễ hội và festival”
Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ở nhiều cấp khác nhau.Ví dụ như lễ hội đền Hùng được tổ chức ở quy mô quốc gia
5 năm/ lần.Những năm số lẻ thì lại được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh Các lễ hội thường được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh như hội Lim (Bắc Ninh), lễ hội Chợ Viềng (Nam Định), lễ hội đền Trần (Nam Định) Các lễ hội ở quy mô cấp huyện tiêu biểu như lễ hội đền Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn (Ninh Bình)
và Tiền Hải (Thái Bình) để tưởng niệm người chiêu dân thành lập huyện Các lễ hội diễn ra ở đình Làng là lễ hội cấp nhỏ nhất, chỉ với quy mô làng, xã.Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Hải Phòng và Phú Thọ
Việt Nam là một quốc gia đã có hàng nghìn năm lịch sử Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng Chính những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc Việt Nam
Ở Việt Nam, những lễ hội có từ trước năm 1945 được gọi là lễ hội truyền thống hay còn gọi là lễ hội dân gian, cổ truyền Những lễ hội ra đời sau năm 1945 được gọi là lễ hội hiện đại Lễ hội là một sản phẩm và biểu hiện của nền văn hóa Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa nông nghiệp.Vậy, lễ hội truyền thống Việt Nam là lễ hội nông nghiệp Cội nguồn sâu xa nhất là tín ngưỡng phồn thực trong nông nghiệp của dân tộc Việt Nam luôn cầu mong mưa thuận gió hòa cho vạn vật sinh sôi nảy nở
Theo GS.Trần Quốc Vượng: “Lễ hội truyền thống không chỉ bao hàm những lễ hội gắn trực tiếp với nghề nông mà ta có thể gọi là nghi thức hay nghi lễ nông nghiệp như lễ hội “Lồng Tồng” của người Tày, lễ tế Thần Nông, lễ hạ điền (xuống đồng) của người Mường, lễ hội thượng điền của người Việt – mà bao gồm cả những hội săn chim, đuổi cuốc,
Trang 31săn hổ, bắt cáo, hội đánh bắt cá ở suối, ao, hồ, hội hái lá, hái măng, hái nấm ở rừng, ở bụi; bao gồm cả hội đền, hội phủ, hội chùa, hội đình…Tất cả những lễ hội kể trên đều được gọi là lễ hội nông nghiệp vì chúng diễn diễn ra trong không gian thôn dã với một thời gian thôn dã (mang tính chu kỳ) Chủ nhân của những lễ hội này phần lớn là nông hôn dã.Bản sắc văn hóa Việt Nam được thể hiện đậm nét nhất ở văn hóa làng Lễ hội cổ truyền là sinh hoạt văn hóa điển hình của văn hóa dân gian truyền thống – thành tố làm nên bản sắc văn hóa làng đó” [59,tr11]
GS.TS Nguyễn Duy Quý - nguyên viện trưởng Viện trưởng viện khoa học
xã hội Việt Nam phát biểu trong hội thảo khoa học: "Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại" (Tổ chức vào tháng 3/1993) có định nghĩa về lễ hội
truyền thống như sau: “Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa tổng
hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường Đó còn là một sinh hoạt có quy
mô lớn về tầm vóc và có sức cuốn hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội…”
Lễ hội truyền thống xuất phát từ nhu cầu nội tại của con người Lễ hội truyền thống bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiên nhiên cần suy tôn: các vị tiên, Phật, thần thánh, những vị Nhiên thần và Nhân thần mà xét về cội
rễ thì đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của những anh hùng chống giặc ngoại xâm, những người có công dạy dỗ, truyền nghề, chống thiên tai, trừ ác thú, chữa bệnh cứu người hoặc những đấng thiên nhiên giúp con người hướng thiện, tạo dựng một cuộc sống tốt lành, yên vui
Lễ hội truyền thống chính là dịp để con người giao lưu, cộng cảm và trao truyền những đạo lý, tình cảm, mỹ tục và khát vọng cao đẹp, còn là cầu nối giữa hiện tại và quá khứ, củng cố tinh thần cố kết dân tộc và tình yêu quê
Trang 32Lễ hội truyền thống mang sức sống của một dân tộc được minh chứng qua thời gian ngàn năm lịch sử, là một bảo tàng văn hóa sống lưu giữ tín ngưỡng, tôn giáo, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian, nơi phản ánh một cách trung thực nhất tâm thức của một dân tộc cần cù, chịu khó, yêu lao động
Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa Xuân và số ít vào mùa Thu là hai mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là lúc nhà nông
có thời gian nhàn rỗi.Những lễ hội truyền thống được Đảng và nhà nước duy trì và tạo điều kiện trong việc tổ chức Đặc biệt là những lễ hội lớn như lễ hội Đền Hùng, lễ hội Gióng, lễ hội chùa Hương, lễ hội Đền Trần, lễ hội đền Bà Chúa Kho, lễ hội Yên Tử, hội Lim, lễ hội chọi Trâu tại Hải Phòng…Những lễ hội này ngày càng thu hút lượng người tham dự rất lớn đến từ các vùng trên
cả nước chính vì vậy được tổ chức rầm rộ
Mặc dù ngày nay, hầu hết các lễ hội truyền thống đã được khôi phục theo đúng nghi lễ và tập tục nhưng hiện tượng lãng phí xa xỉ với đầu óc mê tín dị đoan có xu hướng ngày càng phát triển, bộc lộ rõ biểu hiện thương mại hóa, đang là một vấn đề gây đau đầu với các nhà quản lý văn hóa từ nhiều năm nay
Bản chất của các lễ hội truyền thống lựa chọn khảo sát:
Về bản chất các lễ hội lớn được lựa chọn khảo sát đều mang ý nghĩa văn hóa, lịch sử thiêng liêng, đậm chất vùng miền
- Lễ hội đền Hùng - Phú Thọ
Đền Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, là nơi hằng năm diễn ra lễ hội mang tính chất quốc gia để suy tôn các vua Hùng đã có công dựng nước Lễ hội đền Hùng kéo dài từ ngày mùng 8 đến 11 tháng Ba âm lịch Việc tế lễ được tổ chức rất trọng thể vào ngày chính hội (mùng 10 tháng Ba) Lễ vật dâng cúng là “lễ tam sinh” (gồm: một con lợn, một con dê, một con bò), bánh chưng, bánh dày và mâm xôi to nhiều màu Sau khi một hồi trống vang lên, các vị chức sắc vào tế lễ dưới sự điều khiển của chủ
lễ Tiếp theo đó là các vị bô lão của các làng, xã sở tại quanh đền Hùng vào tế lễ
Trang 33Sau cùng là nhân dân và du khách hành hương vào tế lễ trong các đền thờ tưởng niệm các vua Hùng.Sau phần lễ là đến phần hội Ở lễ hội đền Hùng năm nào cũng tổ chức cuộc thi kiệu của các làng xung quanh Mỗi năm, đám rước kiệu có
ba cỗ kiệu đi liền nhau.Cỗ kiệu đi đầu bày hương hoa, đèn, nhang, trầu cau, chỏe nước và bầu rượu.Cỗ kiệu thứ hai có đặt hương án, bài vị của thánh, có lộng và quạt với nhiều màu sắc trang hoàng tôn nghiêm Cỗ thứ ba rước bánh chưng và bánh dày, một cái thủ lợn luộc để nguyên
Trong lễ hội đền Hùng có tiến hành nghi lễ hát thờ (tục gọi là hát Xoan), đây là một lễ thức rất quan trọng và độc đáo Dân gian truyền rằng xưa kia hát Xoan gọi là hát Xuân và điệu múa hát Xoan có từ thời Hùng Vương và được lưu truyền rộng rãi trong dân cư của các làng, xã quanh vùng Ở đền Hạ có hát ca trù (gọi là hát nhà tơ, hát ả đào) Xung quanh khu vực dưới chân núi Hùng là các trò diễn và trò chơi dân gian cổ truyền được nhiều người tham dự, như: trò chơi ném côn, chơi đu, đấu vật, chọi gà, đánh cờ người… Ngày nay, giỗ tổ Hùng Vương được coi là ngày lễ lớn của dân tộc, ngày toàn dân hướng về cội nguồn
- Lễ hội đền Trần - Nam Định
Lễ hội ở đền Trần, Nam Định được xem là một trong những lễ hội mùa Xuân lớn nhất cả nước.Đa số du khách đến đây hành lễ đều mong muốn xin hoặc mua được một tờ ấn với mong ước sẽ được thăng tiến trong nghề nghiệp
Lễ hội khai ấn Đền Trần thường được tổ chức từ ngày 11 đến 16 tháng Giêng Âm lịch với tâm điểm là Lễ khai ấn vào đêm 14 tháng Giêng và tiến hành phát ấn trong 6 ngày
Ngoài lễ phát ấn, lễ hội còn tổ chức xen kẽ các hoạt động hội truyền thống gồm múa lân, múa rồng, hát chèo, hát chầu văn, thi đấu cờ người, đấu vật, biểu diễn võ thuật bên ngoài cổng Ngũ môn Đền Trần để phục vụ khách tham quan
- Lễ hội chùa Hương - Hà Nội
Lễ hội chùa Hương là một lễ hội lớn diễn ra tại Hà Nội, khai hội vào ngày 6 tháng Giêng và kéo dài đến hết tháng 3 Âm lịch Đây là lễ hội kéo dài
Trang 34Hành trình trẩy hội Chùa Hương được ví như hành trình về một miền đất Phật - nơi Quan Thế Âm Bồ Tát ứng hiện tu hành Không chỉ được tham gia vào hành trình về cõi Phật, du khách còn được thưởng thức các hoạt động văn hóa đặc sắc, được đắm mình trong không gian của non nước mênh mông của suối Yến, hay chiêm ngưỡng cảnh sắc hùng vĩ của động Hương Tích
- Lễ hội Bà Chúa Kho - Bắc Ninh
Lễ hội Bà Chúa Kho khai hội vào ngày 14 tháng Giêng âm lịch hằng năm tại tỉnh Bắc Ninh Đến hành lễ "vay vốn" đền Bà Chúa Kho đa số là người làm ăn, với mong muốn cầu cho công việc trong năm mới được suôn
sẻ, phát đạt Để lời cầu xin được "đến tai" Bà, mỗi thân chủ phải ghi rõ trong
sớ là vay bao nhiêu, làm gì, và đặc biệt là phải nói rõ một năm, hai năm, hay năm năm sau sẽ trả, tức là tạ lễ
- Lễ hội Lim - Bắc Ninh
Hội Lim là một lễ hội lớn của tỉnh Bắc Ninh, chính hội được tổ chức vào ngày 13 tháng giêng hàng năm, trên địa bàn huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh Hội Lim được coi là nét kết tinh độc đáo của vùng văn hoá Kinh Bắc
Hội Lim có nguồn gốc từ hội chùa, hội hát, liên quan đến tiếng hát của chàng Trương Chi trong truyền thuyết Trương Chi - Mỵ Nương Đây cũng là
lễ hội lớn của vùng Kinh Bắc với khá nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh
Trong ngày lễ còn có nhiều nghi lễ và trò chơi dân gian như hát quan
họ, giao lưu đối đáp, đấu võ, đấu vật, đấu cờ, đu tiên, thi dệt cửi, nấu cơm, thi
cờ người
- Hội chọi trâu Đồ Sơn – Hải phòng và một số tỉnh thành khác
Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, còn gọi là đấu ngưu, là một tập tục cổ, có từ
xa xưa, một lễ hội truyền thống của người dân vạn chài tại vùng biển Đồ Sơn, Hải Phòng; diễn ra vào 02 ngày 06 tháng 8 âm lịch và nngày 09 tháng 8
Âm lịch hàng năm Đây là một lễ hội với lễ nghi trang trọng, rước kiệu thần,
có lọng che, phường bát âm; di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2013
Trang 35của Việt Nam
Theo truyền thuyết và thần tích thì lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn là lễ hội cầu thịnh vượng và hạnh phúc cho người dân địa phương có từ thế kỷ thứ 18.Một vùng đất gồm những cư dân nhiều nơi về đây khẩn hoang, sinh cơ lập nghiệp
Chọi trâu Đồ Sơn diễn ra trong một buổi, ít khi kéo dài tới một ngày Cuộc đấu có khi chỉ trong khoảnh khắc là quyết định.Khâu chuẩn bị cho giờ phút giao đấu quyết liệt ấy lại rất công phu và vô cùng thận trọng, vì đây là "Sự thần”
Hội chọi trâu là một ngày hội gắn với tục thờ cúng thuỷ thần và tục hiến sinh; nhưng bên cạnh những tập tục đó là tinh thần thượng võ của người dân Đồ Sơn, Hải Phòng
Tuy nhiên, đến nay đã có nhiều lễ hội chọi trâu diễn ra ở một số tỉnh thành như Phúc Thọ (Hà Nội), Phú Sơn (Bắc Ninh) và Bảo Thắng (Lào Cai) Theo khẳng định của Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở - bà Trịnh Thị Thủy: "Các lễ hội này không phải là lễ hội truyền thống của địa phương, không gắn với giá trị văn hóa mà ngược lại còn mang tính thương mại hóa Riêng lễ hội chọi trâu ở Phúc Thọ (Hà Nội) đã diễn ra vòng loại từ ngày 01/01/2016 mà không xin phép tổ chức Cục Văn hóa cơ sở đã có ý kiến với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội có văn bản gửi UBND huyện Phúc Thọ đề nghị huyện không tiếp tục tổ
chức Lễ hội chọi trâu ở Phúc Thọ năm 2016" (Nguồn tác giả phỏng vấn bà Trịnh Thị Thủy tai trụ sở 51 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội)
- Lễ hội Gióng - Hà Nội
Hội Gióng là một lễ hội truyền thống hàng năm được tổ chức ở nhiều nơi thuộc vùng Hà Nội để tưởng niệm và ca ngợi chiến công của người anh hùng truyền thuyết Thánh Gióng, một trong tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Có 02 hội Gióng tiêu biểu ở Hà Nội là hội Gióng Sóc Sơn ở đền Sóc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn và hội Gióng Phù Đổng ở xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
Trang 36tỏa vì chưa được UNESCO công nhận) như: hội Gióng Bộ Đầu xã Bộ Đầu, huyện Thường Tín; lễ hội thờ Thánh Gióng ở các làng Đặng Xá, Lệ Chi (huyện Gia Lâm); các làng Phù Lỗ Đoài, Thanh Nhàn, Xuân Lai (huyện Sóc Sơn); Sơn Du, Cán Khê, Đống Đồ (huyện Đông Anh); Xuân Tảo (huyện Từ Liêm); làng Hội Xá (Quận Long Biên)
Giá trị nổi bật toàn cầu ở hội Gióng chính là một hiện tượng văn hóa được bảo lưu, trao truyền khá liên tục và toàn vẹn qua nhiều thế hệ Mặc dù ở gần trung tâm thủ đô và đời sống cộng đồng trải qua nhiều biến động do chiến tranh, do sự xâm nhập và tiếp biến văn hóa, hội Gióng vẫn tồn tại một cách độc lập và bền vững
- Lễ hội chợ Viềng - Nam Định
Hội chợ Viềng diễn ra vào mùng 8 tháng giêng âm lịch hàng năm, tại
xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định Chợ Viềng là nơi giao lưu văn hóa cộng đồng và cũng là nơi đón chuyến xuất hành đầu xuân của du khách thập phương về đây “mua may bán rủi”
Đi chợ Viềng, người nông dân thì mua cái liềm, lưỡi cuốc mong mùa màng bội thu, con lợn, con gà hay cây cảnh, cây ăn quả Khách phương xa có thể dạo thăm khu vực bán cây cảnh, đồng xu may mắn, cây cành vàng lá ngọc cầu may…
Thú chơi chợ Viềng đầu năm đất Nam Định được lưu truyền từ đời này sang đời khác để cầu may mắn, mong cho đầu năm suôn sẻ, cả năm mưa thuận gió hòa, làm ăn phát đạt
1.2.2 Thương mại hóa trong lễ hội truyền thống
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thương mại hóa.Với mỗi lĩnh vực thì thương mại hóa lại có cách hiểu, tiếp cận khác nhau cho phù hợp Thương mại hóa là tích cực trong một số lĩnh vực nhưng với một số lĩnh vực khác thì từ
“thương mại” mà biến ra thành “thương mại hóa” lại có vấn đề rất lớn Một trường đại học “thương mại hóa” một nghiên cứu khoa học thành công là chuyện
Trang 37tốt trong khi một tổ chức hay một công ty cố tình “thương mại hóa” trong hoạt động từ thiện của họ rõ ràng là một chuyện xấu Mục đích của cả hai hoạt động đều là lợi nhuận, là để kiếm tiền nhưng ý nghĩa hoàn toàn khác nhau
Đối với lễ hội truyền thống, cần phân biệt giữa hoạt động mua bán trong
lễ hội và vấn đề thương mại hoá diễn ra tại lễ hội Từ xa xưa, trong lễ hội không thể thiếu việc mua bán các sản phẩm độc đáo của địa phương, các món ăn đặc sản, mà hội chợ Viềng Ở Nam Định và các hội chợ vùng núi là hiện tượng điển hình Chính các hoạt động mua bán đó vừa mang ý nghĩa văn hoá, phong tục
“mua may bán rủi”, vừa quảng bá các sản phẩm địa phương, mang lại những thu nhập đáng kể cho một số ngành nghề ở địa phương Đó là các hoạt động rất đáng khuyến khích Tuy nhiên, cùng với xu hướng phục hồi và phát triển lễ hội hiện nay, thì không ít các hoạt động mang tính “thương mại hoá”, tức là: “Lợi dụng lễ hội để thu lợi bất chính, ép buộc, bắt chẹt người đi trẩy hội, đặc biệt là lợi dụng tín ngưỡng trong lễ hội để “buôn thần bán thánh” theo kiểu “đặt lễ thuê”, “khấn vái thuê”, bói toán, đặt các “hòm công đức” tràn lan, tạo dựng các “di tích mới”
để thu tiền như trong lễ hội Chùa Hương, Bà Chúa Kho Cũng không phải không có một số “tổ chức” mệnh danh là quản lý lễ hội, hoạt động du lịch để bán
vé thu tiền bất chính khách trẩy hội Những hoạt động thương mại này đi ngược lại tính linh thiêng, văn hoá của lễ hội
Theo ông Vương Duy Biên, thứ trưởng Bộ VH, TT & DL:
“Thương mại hóa trong lễ hội truyền thống được hiểu một cách đơn giản là bình thường lễ hội vốn là sản phảm văn hóa tinh thần nhưng khi nó không còn đơn thuần là như vậy nữa mà bị biến tướng đi, bị lợi dụng tổ chức để vì mục đích trục lợi Thương mại hóa được coi là những hiện tượng thiếu lành mạnh làm phiền lòng du khách” (Tác giả phỏng vấn ông Vương Duy Biên ngày 27/6/2017 tại trụ sở Bộ VHTTDL số 51 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Trang 38Các hoạt động thương mại diễn ra trong lễ hội khi có định hướng, có chọn lọc thì rất tốt Ngược lại, nếu là thương mại mà thành ra thương mại hóa không có định hướng, không có chọn lọc thì là chuyện xấu Hiện nay, với cơ chế thị trường và khi không còn bao cấp, nhà nước cho phép xã hội hóa và nhà nước không cấp kinh phắ hoàn toàn cho các hoạt động lễ hội nữa thì để tổ chức lễ hội tốt người ta phải làm các dịch vụ để tạo nguồn kinh phắ nhằm tăng công tác quản lý
Các hoạt động thương mại trong lễ hội sẽ là tốt, là đảm bảo khi: thứ nhất
là nó theo quy định của pháp luật, thứ hai là nó không lấn át bản sắc văn hóa, làm kinh tế nhưng không lấn át văn hóa, rành mạch, phụ giúp cho văn hóa Vắ dụ như trước đây, trong lễ hội có rất ắt các hoạt động, buồn tẻ nhưng nay nếu ở lế hội có bán hành: bán sách, bán hàng lưu niệm, bán các sản phẩm độc đáo của địa phương, các món ăn đặc sản tạo việc làm cho người dân địa phương, phát triển
du lịch Ầtạo sự phong phú, hấp dẫn cho lễ hội tạo sức hút cho du khách đến lễ hội, thu hút du lịch, phát triển kinh tế địa phương Nhưng, nếu các hình thức kinh doanh này phát triển ồ ạt, không theo quy hoạch mà nó phá vỡ các quy hoạch văn hóa, xâm hại đến sản phẩm văn hóa, đến bản sắc văn hóa thì khi đó chắnh là thương mại hóa và hoàn toàn là không tốt
PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cho rằng: ỘĐừng thương mại hóa các lễ hộiỢ Theo ông, chúng ta đang trong tình trạng Ộcả nước làm lễ hội rất tốn kém, và cái lợi của lễ hội lại rơi vào các doanh nghiệp hơn là người dânỢẦ Mỗi năm cả nước có hàng ngàn hội hè lớn nhỏ, cấp quốc gia thì trên chục tỷ, cấp địa phươngvài tỷ, nhưng hiệu quả thu hút người dân và du khách vẫn là vấn đề cần đánh giá lại [43]
Tại buổi sơ kết công tác quản lý và tổ chức lễ hội xuân Đinh Dậu năm 2017
do Bộ VHTT&DL với sự có mặt của nhiều cơ quan quản lý ở các địa phương, vấn
đề thương mai hóa lễ hội tiếp tục được các địa biểu đưa ra phân tắch, làm rõ Theo
Bộ trưởng mới của Bộ VHTT&DL - ông Nguyễn Ngọc Thiện:
Trang 39"Chúng ta đang hiểu thương mại hóa có nghĩa là lợi dụng lễ hội để thulợi bất chính cho cá nhân Đây là những việc làm không chính đáng, không đúng quy định của pháp luật.Còn khía cạnh tích cực là kinh tế của lễ hội cần phải hiểu rõ.Ở đây, người dân đi lễ hội địa phương xem như khách du lịch và nên khuyến khích Do đó, việc tổ chức lễ hội cũng
là cách thu hút khách du lịch và cần khuyến khích Nhưng giữa khía cạnh thương mại hóa và kinh tế cần phải hiểu rạch ròi Ở đó, nhưng khoản thu từ lễ hội không thể để vào túi riêng của một cá nhân Đương nhiên việc tổ chức lễ hội xã hội hóa thì những người tham gia cũng phải lấy một phần thu để bù chi Nhưng những khoản thu được phải hoàn toàn hợp pháp”
Theo tác giả, nội hàm khái niệm thương mại hóa lễ hội được hiểu đơn giản là: Bán hàng giá quá cáo; các biểu hiện buôn thần bán thánh, Bịa đặt làm giả vật thiêng để kiếm tiền từ du khách…
1.3 Vai trò của báo điện tử trong thông tin về vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống
BĐT là một loại hình báo chí mới mẻ, mang những đặc điểm riêng khác biệt so với các loại hình báo chí truyền thống Đó là sự mới mẻ, tính hiện đại với những ứng dụng kỹ thuật và phương tiện thông tin tiên tiến BĐT mang một lượng thông tin khổng lồ, không bị giới hạn bởi bất cứ điều gì Với khả năng cung cấp lượng thông tin lớn, nhanh chóng và cập nhật độc giả BĐT
có thể tìm thấy “một vũ trụ thông tin” trên internet…Chính sự khác biệt này
đã khiến báo điện tử có vai trò to lớn trong việc phản ánh vấn đề thương mại hóa trong lễ hội truyền thống
Xét về nội dung truyền tải, BĐT có những lợi thế mà báo in thậm chí cả phát thanh – truyền hình cũng phải kính nể Xét về công nghệ, với những ưu thế vượt trội khi tích hợp chữ viết, âm thanh cho đến những hình ảnh cả tĩnh
Trang 40và động… BĐT đã trở thành kênh truyền thông được nhiều người lựa chọn Đặc biệt là việc đưa tin nhanh nhạy, không giới hạn khuôn khổ khiến cho những thông tin, hình ảnh về các lễ hội cũng những vấn đề thương mại hóa diễn ra tại đó được cập nhật tức thì và đầy đủ Điều này được minh chứng ở nhiều số lượng và chất lượng các bài viết phản ánh về hiện tượng thương mại hóa xảy ra trong các lễ hội truyền thống đem đến cái nhìn toàn cảnh, nhiều chiều về lễ hội truyền thống cho người dân trong nước và bè bạn quốc tế
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay hoạt động lễ hội đang có sự biến đổi mạnh mẽ PGS.TS Trần Lâm Biền cho rằng:
"Ngày xưa lễ hội tổ chức là để hòa nhập và tạo sức mạnh cộng đồng, còn bây giờ người dân đến lễ hội, đình chùa chỉ là để cầu xin cho chính mình Thậm chí còn có tư tưởng mâm cao cỗ đầy, lễ lạt nặng quả thì được lộc nhiều, theo kiểu “tốt lễ dễ kêu” Đáng buồn là các lễ hội bị thương mại hóa, dung tục hóa Hòm công đức trá hình, những trò mê tín dị đoan, cờ bạc, móc túi xuất hiện tràn lan Mục đích thực dụng, trần sao âm vậy tràn vào lễ hội, đình chùa Người ta rải tiền vào chốn linh thiêng như “hối lộ” thánh thần, cầu xin tiền tài lộc lá sỗ sàng,
không còn nét thảnh thơi, chiêm bái như trước nữa" [42]
Rõ ràng, yếu tố thương mại hóa diễn ra ngày càng rõ rệt trong các lễ hội truyền thống Để có một cái nhìn rõ ràng về vấn đề này, BĐT đã mạnh dạn phản ánh toàn bộ những bất cập diễn ra của quá trình thương mại hóa từ khâu quản lý tới khâu tổ chức lễ hội và tới chính người tham gia vào lễ hội; Từ việc đấu thầu kinh doanh của các tổ chức đến các biểu hiện thương mại của từng cá nhân