Nội dung cuốn sách gồm 3 phần, tập trung vào các vấn đề như: Những chỉ đạo nghiên cứu hướng tới việc đưa ra các chính sách liên quan; các vấn đề liên quan đến chính sách về BĐKH; nghiên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Văn Hường
Hà Nội, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Báo chí Trung Bộ với vấn đề biến đổi khí hậu
hiện nay” là công trình nghiên cứu độc lập Các kết quả, số liệu trong luận văn là
trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác của các cơ quan chức năng đã công bố Những kết luận khoa học trong luận văn là mới và chƣa có tác giả công bố trong bất
kì công trình khoa học nào
Tác giả luận văn
Lê Vân Trúc Ly
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, Phòng Đào tạo, Khoa Báo chí và Truyền thông trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đặc biệt, xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS Đinh Văn Hường, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ, dìu dắt tôi với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình
triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Báo chí Trung Bộ với vấn đề biến đổi
khí hậu hiện nay”
Xin cảm ơn các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu trong những năm qua Xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường và Khoa Ngữ Văn, Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện để tôi có thể tham gia và hoàn thành chương trình đào tạo sau đại học Cám ơn anh chị em đồng nghiệp, PV các Báo Đài trên địa bàn các tỉnh miền Trung đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu để hoàn thành luận văn này
Xin ghi nhận và cám ơn những đóng góp nhiệt tình và quý báu của các bạn sinh viên Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, các anh chị học viên Cao học báo chí K17, K18 đã giúp đỡ tôi triển khai, thu thập số liệu của luận văn Đặc biệt
là sự quan tâm, khuyến khích, động viên và cảm thông của gia đình
Tôi rất mong nhận được sự đóng góp phê bình của quý thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Tác giả luận văn
Lê Vân Trúc Ly
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 14
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 17
7 Kết cấu luận văn 17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 18
1.1 Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 18
1.2 Thực tiễn của vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay 31
1.3 Vai trò của báo chí đối với vấn đề biến đổi khí hậu 37
Tiểu kết chương 1 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN BÁO CHÍ TRUNG BỘ HIỆN NAY 43
2.1 Báo chí Trung Bộ và vấn đề biến đổi khí hậu trên báo chí khu vực Trung Bộ 43
2.2 Nội dung thông tin về biến đổi khí hậu trên báo in và báo điện tử khu vực Trung Bộ 54
2.3 Hình thức thông tin về biến đổi khí hậu trên báo in và báo điện tử khu vực Trung Bộ 74
2.4 Thành công, hạn chế trong công tác thông tin về biến đổi khí hậu trên báo chí Trung Bộ và nguyên nhân của hạn chế 82
Tiểu kết chương 2 94
Trang 6CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CỦA BÁO CHÍ TRUNG BỘ VỚI VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 96
3.1 Một số vấn đề đặt ra 96
3.2 Nhóm các giải pháp chung 98
3.3 Các giải pháp cụ thể 101
Tiểu kết chương 3 112
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC 120
Trang 7Đài PTTH Đài Phát thanh – Truyền hình
Đài TNVN, VOV Đài Tiếng nói Việt Nam
Đài THVN, VTV Đài truyền hình Việt Nam
UNFCCC Công ƣớc khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tổng hợp số vụ và các loại hình thiên tai tại Việt Nam giai đoạn 2011
- 2014 27Bảng 1.2: Mức tăng nhiệt độ và thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua tại Việt Nam 34Bảng 2.1: Tỷ lệ nội dung tin bài về BĐKH trên báo Nghệ An, Đà Nẵng, Bình Thuận 49Bảng 2.2: Mức độ đọc báo in địa phương của công chúng các tỉnh Nghệ An, Đà Nẵng, Bình Thuận 50Bảng 2.3: Mức độ đọc báo điện tử địa phương của công chúng các tỉnh Nghệ An,
Đà Nẵng, Bình Thuận 50Bảng 2.4: Mức độ quan tâm của công chúng đến vấn đề BĐKH trên báo in địa phương 51Bảng 2.5: Mức độ quan tâm của công chúng đến vấn đề BĐKH trên báo điện tử địa phương 51Bảng 2.6: Tỷ lệ phân bổ tin bài về BĐKH trên báo Nghệ An, Đà Nẵng, Bình Thuận 53Bảng 2.7: Tỷ lệ thông tin sự kiện về BĐKH trên báo Nghệ An, Đà Nẵng, Bình Thuận 57Bảng 2.8: Tỷ lệ thông tin về nguyên nhân, tác hại của BĐKH trên báo Nghệ An, Đà Nẵng, Bình Thuận 60Bảng 2.9: Tỉ lệ phân bố thể loại tin bài BĐKH trên báo Nghệ An, Đà Nẵng, Bình Thuận 75Bảng 2.10: Mối tương quan giữa mức độ đọc báo in với mức độ quan tâm thông tin BĐKH và mức độ hài lòng về nội dung 85Bảng 2.11: Mối tương quan giữa mức độ đọc báo điện tử với mức độ quan tâm thông tin BĐKH và mức độ hài lòng về nội dung 86Bảng 2.12: Mối tương quan giữa mức độ quan tâm thông tin BĐKH trên báo in và mức độ hài lòng về hình thức 89Bảng 2.13: Mối tương quan giữa mức độ quan tâm thông tin BĐKH trên báo điện
tử và mức độ hài lòng về hình thức 89Bảng 3.1: Mức độ tương tác giữa công chúng và cơ quan báo chí khu vực Trung Bộ 106Bảng 3.2: Mối tương quan giữa mức độ hài lòng của công chúng với báo in và báo điện
tử địa phương với suy nghĩ của người làm báo về vấn đề này 109
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 1.1: Diễn biến diện tích rừng ngập mặn từ 1943 - 2008 28
Biểu đồ 1.2: Tổng thời lượng phát sóng của những nội dung thông tin về BĐKH trên ABC, NBC, CBS và FOX qua các năm 38
Biểu đồ 2.1: Các yếu tố cần thay đổi về nội dung của bài viết BĐKH trên báo chí Trung Bộ 87
Biểu đồ 2.2: Các yếu tố cần thay đổi về hình thức của bài viết BĐKH 88
trên báo chí Trung Bộ 88
Biểu đồ 2.3: Những khó khăn của PV khi thực hiện bài viết về mảng đề tài BĐKH 92
Hình 1.1: Nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất và đại dương qua các giai đoạn 32
Trang 10bị ảnh hưởng bởi hiện tượng sa mạc hóa Gần 6 triệu người trên Trái đất đang sống trong tình trạng khô hạn nặng nề Bán đảo Nam Cực đã ấm lên gấp 5 lần Các Nhà Khoa học cũng đã dự báo, Bắc Cực sẽ tăng lên 4°C trong năm nay, và biển băng ở cực Bắc sẽ biến mất trong 1 thập kỷ tới
BĐKH đang gây ra những sự biến động sâu sắc trên Trái đất Nhiều loài động thực vật đã và sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng với đà tăng nhiệt này Trong những năm qua, hiện tượng tuyệt chủng đã xảy ra ở một số loài Hiện tượng cá chết hàng loạt, gấu Bắc Cực ăn thịt lẫn nhau do biến động của thời tiết cũng không còn xa lạ Các nghiên
cứu cũng khẳng định rằng, với tình hình hiện tại, nếu còn “Nóng lên 2 độ, 35% rặng
san hô trên thế giới sẽ bị tổn thương nghiêm trọng Tăng 3.5 độ, khoảng một nửa số lượng động thực vật sẽ biến mất vào năm 2080 Tăng hơn 4°C, nhiều chủng loại sẽ bị tuyệt chủng, trong đó có gấu Bắc Cực và nhiều loài động vật lưỡng cư‖ [Biến đổi khí hậu và hiểm họa với hệ sinh thái toàn cầu – Phóng sự VTV3]
Theo một thống kê của BBC, kể từ khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu
vào năm 1750, mức độ CO2 đã tăng hơn 30% và mê-tan đã tăng hơn 140%, nồng
độ CO2 trong khí quyển hiện đang cao hơn bất cứ thời điểm nào trong ít nhất 800.000 năm qua, kéo theo một loạt những thay đổi về khí hậu và môi trường sống
Trang 112
Sáng 13/12/2015 theo giờ Việt Nam, 195 quốc gia đã đạt được nhất trí về thỏa thuận khí hậu tại hội nghị lần thứ 21 Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH (COP21) tại thủ đô Paris Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Laurent Fabius - người đứng đầu Hội nghị này – cho biết, kế hoạch này là một "bước ngoặt lịch sử" trong mục tiêu giảm sự nóng lên toàn cầu Một trong những mục tiêu thỏa thuận chính của COP21 là giữ nhiệt độ toàn cầu không tăng quá 2°C và nỗ lực giới hạn mức tăng ở mức 1,5°C Tuy nhiên, vài ngày sau khi 195 quốc gia trên thế giới ký thỏa thuận lịch sử Paris về BĐKH (COP21), cơ quan Khí tượng Anh đã đưa ra nhận định, tình trạng BĐKH kết hợp với El Nino dự kiến sẽ khiến nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng vượt mức kỷ lục ghi nhận trong năm 2015
BĐKH toàn cầu đang là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu ở nhiều quốc gia, khu vực và các vùng lãnh thổ trên thế giới trong thời điểm hiện nay Vấn đề này đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội - môi trường toàn cầu Những năm gần đây, các hiểm họa thiên nhiên khắc nghiệt như bão lớn, nắng nóng dữ dội, hạn hán, lũ lụt, băng tan, nước biển dâng… đã gây thiệt hại rất lớn về cả vật chất và tính mạng con người trên khắp thế giới, rung lên một hồi chuông báo động cho toàn xã hội Với sự xuất hiện dày đặc và ngày càng nguy hiểm của các hiện tượng thiên tai, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đưa ra những cảnh báo về mối hiểm họa khôn lường của BĐKH Những tuyên truyền về BĐKH cũng được đẩy mạnh trên tất cả các kênh TTĐC, cho thấy mức độ quan tâm đặc biệt của xã hội đối với vấn đề này
Việt Nam là quốc gia nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa với địa hình đa dạng
và phức tạp Cuộc sống của người Việt Nam từ bao đời nay gắn liền với tự nhiên, với ―rừng vàng biển bạc‖ Do vậy, vấn đề BĐKH diễn ra nhanh chóng và phức tạp trong những năm qua đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người dân nơi đây Theo các nghiên cứu mới nhất, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động mạnh mẽ nhất từ BĐKH trong vòng 50 năm qua Các thống kê cũng cho thấy, những năm gần đây, thiên tai hạn hán, bão lụt, lũ quét, sạt lở đất, ngập úng, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm chết và mất tích hơn 9.000 người, giá trị thiệt
Trang 123
hại về tài sản ước chiếm khoảng 1,5% GDP/năm Bên cạnh ĐBSCL là khu vực chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ BĐKH ở Việt Nam, những năm gần đây, khu vực Trung Bộ cũng gánh chịu không ít những tác động, thiệt hại từ hiện tượng này Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm đưa ra những chủ trương, chính sách, huy động nhiều nguồn lực để ứng phó với BĐKH Cụ thể, Việt Nam đã sớm tham gia Công ước khung của LHQ ký ngày 11/12/1997 tại Kyoto (Nhật Bản) về việc cắt giảm khí thải nhà kính; Chính phủ nước Việt Nam cũng đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó đối với BĐKH; ban hành Nghị
quyết 08/NQ-CP, về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 24 về "Chủ động
ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường"
của Ban Chấp hành Trung ương; thành lập Ủy ban Quốc gia về ứng phó với BĐKH
do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch và Hội đồng tư vấn cho Chính phủ và Ủy ban Quốc gia về BĐKH; thông qua chiến lược quốc gia về BĐKH (ngày 05/12/2011)… Tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã thực hiện nhiều hoạt động ứng phó với BĐKH: Xây dựng các kịch bản BĐKH quốc gia và cho các tỉnh thành, xây dựng và triển khai chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH Tuy nhiên, vấn đề truyền thông trong BĐKH vẫn còn nhiều hạn chế Theo một nhận xét của PANOS - một mạng lưới toàn cầu của các tổ chức phi chính phủ hợp tác về truyền thông để thúc đẩy phát triển - các nước đang phát triển chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, tuy nhiên hoa ̣t đô ̣ng truyền thông của họ không chú trọng việc đưa tin về thảm họa môi trường này Viê ̣t Nam cũng không nằm ngoài nhận xét trên
Trong năm 2013, tại Hội thảo “Vai trò của báo chí trong việc ngăn chặn và
giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu” tại Cần Thơ, Nhà báo Nguyễn Phấn
Đấu (báo Lao Động) cũng đã cung cấp kết quả từ một khảo sát gần đó: ―Tại Việt
Nam, chưa có PV chuyên viết về biến đổi khí hậu mà mới chỉ là PV theo dõi lĩnh vực môi trường – tài nguyên” và cho rằng “biến đổi khí hậu là một đề tài rất khó” Nhà báo cũng dẫn kết quả hai tháng khảo sát các báo Lao Động, Tuổi Trẻ, Nhân Dân, Hà Nội Mới, Đài PTTH Hà Nội và một số tạp chí môi trường mới
công bố của PANOS (mạng lưới toàn cầu của các tổ chức phi chính phủ hợp tác
về truyền thông): “Chỉ có hơn hai bài báo liên quan tới BĐKH”
Trang 134
Cũng trong kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu sức khỏe, môi trường và
phát triển thì hiện nay, các cơ quan truyền thông tại Việt Nam chỉ đưa tin về BĐKH
ở bề rộng ở mức độ quốc gia và toàn cầu, không có mối liên quan giữa các vấn đề
và hiện trạng ở địa phương Mặc dù có rất nhiều bài báo đề cập đến các thảm họa thiên nhiên do BĐKH gây ra như lũ lụt, bão, nước ngầm nhưng rất ít tác phẩm báo chí chỉ ra mối liên hệ giữa các hiện tượng trên và BĐKH
Thêm vào đó, theo thông tin do Tổ chức Đông Tây hội ngộ (EMWF) từng
công bố trong kết quả nghiên cứu về “Sự thích ứng với biến đổi khí hậu ở tỉnh
Quảng Nam‖, thì có đến khoảng 49% người được phỏng vấn không biết về các
chính sách và quy trình của Nhà nước, 72% không biết về các kế hoạch chuẩn bị phòng chống thiên tai… Vì thế, họ không có khả năng lên kế hoạch và chuẩn bị ứng phó với thiên tai Nghiên cứu này cũng chỉ ra, nguyên nhân trước hết là do các nhà quản lý, khi tiếp xúc với báo chí, chưa đề cập đến mối liên hệ giữa BĐKH và những tác động tiêu cực tại Việt Nam
Từ những thực trạng và phân tích ở trên cho thấy, truyền thông nói chung và báo chí nói riêng cần được xem là một công cụ quan trọng, tác động làm thay đổi thái độ, hành vi của con người trong cộng đồng, từ đó thúc đẩy họ tự nguyện tham gia vào các hoạt động thích ứng, giảm nhẹ BĐKH Do đó, cần phải đẩy mạnh hơn nữa vấn đề thông tin về BĐKH trên các PTTTĐC, giúp người dân nhận thức hơn về những hiểm họa khó lường của hiện tượng đang là nỗi lo của toàn cầu này
Tuy nhiên trên thực tế, ở góc độ lý luận báo chí, vấn đề báo chí với BĐKH vẫn chưa được đề cập đúng mức Với tình hình ngày càng nóng lên của BĐKH, các cơ quan báo chí nói chung và báo chí Trung Bộ nói riêng đã chủ động đổi mới tư duy, chủ động thông tin kịp thời, nhanh nhạy, đa dạng, nhiều chiều, tăng cường tính phát hiện và định hướng tới công chúng Tuy nhiên, số lượng và cả chất lượng thông tin về vấn đề BĐKH trên báo chí Trung Bộ hiện nay vẫn chưa nhiều và còn nhiều bất cập
Việc đi sâu nghiên cứu đề tài “Báo chí Trung Bộ với vấn đề biến đổi khí hậu
hiện nay" nhằm tìm hiểu vấn đề thông tin về BĐKH trên các PTTTĐC khu vực này
giai đoạn 2015-2016, bao gồm những ưu điểm, hạn chế từ thực tế, từ đó mạnh dạn đề
Trang 145
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng tin bài Điều này rất có ích đối với báo chí khu vực Trung Bộ nói riêng cũng nhƣ báo chí nói chung với vấn đề thông tin về BĐKH Hy vọng đề tài nghiên cứu này sẽ góp một phần nhỏ vào lý luận báo chí và có giá trị thực tiễn đối với hoạt động nghiệp vụ của nhà báo trong việc đƣa thông tin BĐKH hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
BĐKH đang là một trong những hiện tƣợng đƣợc toàn xã hội quan tâm Hiện nay, nếu tìm kiếm trên Google các nghiên cứu khoa học về đề tài này, kết quả thu đƣợc là một con số đáng kể Trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến nay, kết quả trên Google Scholar về các nghiên cứu khoa học liên quan đến BĐKH là 113.000 bài viết bằng tiếng Anh, 945 bài báo khoa học và sách bằng tiếng Việt Với các bài viết chung về BĐKH, con số thu đƣợc còn khổng lồ hơn nhiều, với khoảng 2.910.000 kết quả trong 0,93 giây bằng tiếng Việt và khoảng 120.000.000 kết quả trong 0,98 giây bằng tiếng Anh
Với tình hình ngày càng nóng lên của thế giới về BĐKH, vấn đề “Báo chí với
biến đổi khí hậu” không phải là một đề tài mới Thế nhƣng nghiên cứu sâu về “Báo chí Trung Bộ với vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay” thì chƣa có một tài liệu nào đi
sâu phân tích
Trên thế giới, vấn đề BĐKH là đề tài đƣợc quan tâm đặc biệt Ngày 11/12/1997 LHQ đã ký Công ƣớc khung tại Kyoto (Nhật Bản) về việc cắt giảm khí thải nhà kính Ngày 22/9/2009, Hội nghị Thƣợng đỉnh về BĐKH đã diễn ra tại Trụ sở Liên Hiệp Quốc (New York) Khoảng 100 nhà lãnh đạo trên khắp thế giới đã tới để thảo luận về các biện pháp ngăn chặn tình trạng ấm lên của trái đất Đây là hội nghị cấp cao nhất về BĐKH từng đƣợc tổ chức tính tới thời điểm bấy giờ
Ngày 11/12/2011, Hô ̣i ng hị về BĐKH của LHQ ở Durban đã kết thúc với thỏa thuận về một gói các giải pháp mà chủ tịch hội nghị đánh giá là ―cân bằng‖
Các đại biểu đã thông qua lộ trình để tiến tới một thỏa thuận giảm khí thải làm hâm nóng trái đất
Vào ngày 30/11 – 11/12/2015, các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị biến
đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (COP21) đã đƣợc tổ chức tại Paris - Pháp Các
Trang 156
chính phủ của hơn 190 quốc gia đã tập trung tại Paris để thảo luận về một thỏa thuận toàn cầu mới về BĐKH, nhằm làm giảm hiệu ứng nhà kính toàn cầu và tránh các mối đe dọa nguy hiểm từ tình trạng BĐKH
BĐKH cũng là một trong những vấn đề hàng đầu được các Nhà khoa học quan
tâm Cuốn sách ―Communicating global change science to society: An assessment and case studies‖ của các tác giả Holm Tiessen, Mike Brklacich, Gerhard Breulmann, Romulo S.C Menezes, do NXB Island Press phát hành năm 2007, đã nêu
lên cuộc thảo luận về tương tác giữa khoa học và chính sách liên quan đến sự biến đổi môi trường Đồng thời, giải quyết mối quan tâm nổi lên từ những cuộc thảo luận Nội dung cuốn sách gồm 3 phần, tập trung vào các vấn đề như: Những chỉ đạo nghiên cứu hướng tới việc đưa ra các chính sách liên quan; các vấn đề liên quan đến chính sách về BĐKH; nghiên cứu các trao đổi khoa học trong xã hội truyền thông dân chủ; phân tích
sự thay đổi khí hậu ở nhiều vùng đất và sự tác động của nó đến đời sống…
Bên cạnh các Hội nghị, nghiên cứu, vấn đề BĐKH cũng được đề cập liên tục
trên báo chí các nước Bài viết “A Comparison of French and American Coverage
of Global Climate Change” của Dominique Brossard, James Shanahan & Katherine
McComas vào năm 2009 đã trình bày, so sánh về các nội dung báo chí đề cập về sự nóng lên toàn cầu ở Pháp và ở Mỹ (1987-1997) Với nghiên cứu này, tác giả đã phân tích các trường hợp cụ thể, từ đó mổ xẻ những tác động của thực tiễn báo chí với các ràng buộc về văn hóa trên các phương tiện truyền thông Nghiên cứu cho thấy trên phương tiện truyền thông ở 2 nước này, việc thông tin về vấn đề BĐKH và môi trường toàn cầu đã vượt qua cấp quốc gia; những thông tin đó có ảnh hưởng to lớn đến dư luận xã hội toàn thế giới
Bài nghiên cứu ―Communicating climate change: history, challenges, process
and future directions” của Susanne C Moser vào năm 2010 đã đưa ra một vấn đề
nổi cộm: Làm thế nào để giao tiếp hiệu quả vấn đề BĐKH? Bài viết là một cái nhìn tổng quan lịch sử về truyền thông BĐKH với những thách thức mà nhà truyền thông phải đối mặt trong việc cố gắng truyền đạt vấn đề Cốt lõi của bài báo tập trung vào các khía cạnh quan trọng của quá trình giao tiếp (mục đích và phạm vi của truyền
Trang 167
thông, khán giả, khung, thông, tin, chế độ và các kênh truyền thông, đánh giá kết quả và hiệu quả của một thông tin liên lạc) Những yếu tố này được đặt trong mối quan hệ với một số yếu tố hoàn cảnh có ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp Bài viết kết luận với các đề xuất cho nghiên cứu trong tương lai về việc truyền thông sẽ góp phần đánh thức con người trong vấn đề BĐKH
Năm 2016, Michael Bruggemanna và Sven Engesserb đã viết bài nghiên cứu:
―Beyond false balance: How interpretive journalism shapes media coverage of
climate change‖ với những nội dung liên quan đến việc “thăm dò hai đặc điểm nổi bật của các phương tiện truyền thông xuyên quốc gia về biến đổi khí hậu: Trình bày
về việc BĐKH là nguy hiểm, do con người gây nên và cách để xử lý báo cáo về những tiếng nói trái ngược trong cuộc tranh luận về khí hậu” 1 Các phân tích đưa ra
trong bài viết đồng thời cho thấy làm thế nào các nhà báo có thể diễn giải cũng như định hướng dư luận về BĐKH trên các phương tiện truyền thông
Ở Việt Nam, “Báo chí với vấn đề biến đổi khí hậu” vẫn luôn là một đề tài
được quan tâm đặc biệt Các nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam đã được tiến hành
từ những thập niên 90 của thế kỷ trước bởi các nhà khoa học đầu ngành như GS Nguyễn Đức Ngữ, GS Nguyễn Trọng Hiệu Tuy nhiên, vấn đề này chỉ thực sự được quan tâm chú ý từ sau năm 2000, đặc biệt từ năm 2008 đến nay Nhiều bài báo, sách nghiên cứu, các đề tài khoa học về BĐKH đã được đưa ra, thu hút đông đảo sự quan tâm của đông đảo công chúng
Với những nghiên cứu BĐKH từ thế kỷ trước, có thể kể đến những cuốn như:
―Biến đổi khí hậu và tác động của chúng ở Việt Nam trong khoảng 100 năm qua –
Thiên nhiên và con người‖ của tác giả Nguyễn Đức Ngữ - Nguyễn Trọng Hiệu, xuất
bản năm 1991 bởi NXB Sự thật, Hà Nội Đây là một trong những nghiên cứu được coi là tiên phong của Việt Nam lúc bấy giờ Cuốn sách đã cảnh báo đến mọi người
về sự thay đổi nhanh chóng của khí hậu thế giới và Việt Nam, kéo theo những tác động to lớn của nó đến đời sống
Trang 178
Là một trong những người quan tâm nghiên cứu BĐKH ở Việt Nam, hai tác giả
Nguyễn Đức Ngữ - Nguyễn Trọng Hiệu đã tiếp tục xuất bản cuốn ―Các trạng huống
biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong các thập kỷ tới‖ vào năm 1999 Cuốn này đi sâu vào
phân tích những kịch bản BĐKH của Việt Nam, đồng thời đưa ra những cảnh báo với
sự phân tích số liệu cụ thể Đây là một trong những tài liệu rất có giá trị
Cuốn “Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam” là một trong những sản
phẩm chính của đề tài KC.08.13/06-10 do Viện Khoa học KTTV và Môi trường
thực hiện trong kế hoạch 2008 – 2010 Qua 4 phần chính, cuốn “Biến đổi khí hậu và
tác động ở Việt Nam” đã giới thiệu gần 300 thuật ngữ về BĐKH và các khái niệm
có liên quan đến BĐKH thường dùng trong các văn bản, báo cáo; giới thiệu những kiến thức cơ bản về BĐKH toàn cầu; giới thiệu những kiến thức và thông tin cơ bản
về BĐKH ở Việt Nam; giới thiệu một số phương pháp nghiên cứu BĐKH ở Việt Nam Đây là một trong những tài liệu khá đầy đủ về các mặt liên quan đến BĐKH, giúp người đọc có những kiến thức sâu về những ảnh hưởng của BĐKH đến môi trường tự nhiên cuộc sống của con người
Trong năm 2013, Sở TNMT Hà Nội và Trung tâm Dữ liệu và Truyền thông
phòng ngừa thiên tai – Cục KTTV và BĐKH đã biên soạn cuốn ―Sổ tay tuyên
truyền biến đổi khí hậu” Cuốn sổ tay cung cấp những kiến thức cơ bản về BĐKH
tới cộng đồng như: Giới thiệu các khái niệm về BĐKH; những kiến thức cơ bản về BĐKH toàn cầu, tại Việt Nam và thành phố Hà Nội; các kịch bản BĐKH cho Việt Nam; tác động của BĐKH đối với các khu vực địa lý và các lĩnh vực của đời sống
xã hội; các biện pháp thích ứng với BĐKH cho cộng đồng dân cư… Những kiến
thức cơ bản của ―Sổ tay tuyên truyền biến đổi khí hậu” cũng giúp cho người đọc
hiểu rõ hơn về tác động của BĐKH đến đời sống hiện nay
Ngoài những tài liệu trên, chúng ta cũng có thể điểm qua nhiều nghiên cứu khác liên quan đến BĐKH như: Báo cáo cáo tổng kết đề tài KC08.29/06-10 của tác
giả Phan Văn Tân (2010) ―Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đến
các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam, khả năng dự báo và giải pháp chiến lược ứng phó”… Đây là nghiên cứu có tính thực tiễn cao trong việc
Trang 189
tổng kết những ảnh hưởng của BĐKH cũng như đưa ra những dự báo, những cách thức để thức ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH
Năm 2007, Viện nghiên cứu Sức khỏe – Môi trường và Phát triển đã có cuộc
khảo sát với đề tài ―Báo chí Việt Nam với Biến đổi khí hậu‖ Với phạm vi khảo sát mở
rộng trên cả báo in, phát thanh và truyền hình, trên cả các cơ quan báo chí trung ương
và địa phương (gồm báo Lao Động, Tuổi trẻ, Nhân Dân, Hà Nội mới, báo Đồng Nai, chương trình TNMT – Đài TNVN, Tạp chí Môi trường và Tài nguyên – Đài PTTH Hà Nội), nghiên cứu đã chỉ ra được cái nhìn tổng quát ban đầu về diện mạo báo chí Việt Nam trong công tác thông tin về BĐKH Trong nghiên cứu của mình, các tác giả đưa
ra nhận xét rằng các cơ quan truyền thông tại VN chỉ đưa ra chỉ đưa tin về BĐKH trên diện rộng ở mức độ quốc gia và toàn cầu, không có mối liên quan giữa các vấn đề và hiện trạng ở địa phương Tuy nhiên, với thời gian khảo sát chỉ trong 2 tháng 9 – 10/2005, dù với phạm vi khảo sát rộng và tổng quát, các kết quả cũng khó có thể dùng
để kết luận cho toàn bộ báo chí Việt Nam một giai đoạn
Ngoài những nghiên cứu của Viện khoa học, các Hội nghị, Hội thảo về BĐKH cũng thường xuyên được tổ chức, thu hút đông đảo sự quan tâm của các nhà báo, nhà khoa học và công chúng trong nước
Trong hai ngày 29 và 30/11/2012, tại Hà Nội đã diễn ra Hội thảo khoa học
quốc tế ―Truyền thông đại chúng với biến đổi khí hậu tại tiểu vùng Sông Mekong:
Thực tế hay hư cấu‖ do Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Văn phòng
Viện Friedrich Ebert Stiftung tại Việt Nam tổ chức Tại hội thảo có bài nghiên cứu
“Thực trạng đưa tin, bài trên các báo in và báo mạng điện tử của Việt Nam về chủ
đề biến đổi khí hậu” do nhóm của Nguyễn Thị Ngọc Huế - Khoa Xã hội học - Học
viện Báo chí và Tuyên truyền thực hiện Với việc khảo sát 5 tờ báo (trong đó có 3 tờ báo in là báo Nhân Dân, Báo Tuổi Trẻ, Tạp Chí Môi Trường; hai báo điện tử VnExpress và Vfej.vn), tác giả đã cho thấy điểm tương đồng giữa báo in, báo điện
tử và báo chí Việt Nam nói chung trong việc đăng tải thông tin BĐKH Đó là: Những thông tin về biểu hiện, hậu quả, và cách ứng phó được đề cập nhiều hơn là những thông tin nguyên nhân và dự báo BĐKH Qua đó cũng kết luận, thông tin về
Trang 1910
hậu quả và cách ứng phó đều được đề cập nhiều trên cả báo in và báo điện tử Tuy nhiên, ở báo in, tỷ lệ thông tin về cách ứng phó cao hơn hẳn so với tỷ lệ thông tin về hậu quả BĐKH Đặc biệt, báo in khi đưa tin về cách ứng phó thường đưa kèm những thông tin về chủ trương, chính sách nhiều hơn báo điện tử
Ngày 24, 25/4/2013 tại Cần Thơ, Hội Nhà Báo Việt Nam phối hợp với văn phòng đại diện Quỹ tài trợ Konrad - Adenauer - Foundation (KAS - CHLBĐ) tại
Việt Nam tổ chức buổi hội thảo với chủ đề ―Vai trò của báo chí trong việc ngăn
chặn và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu” Trong bài tham luận của
mình, các diễn giả tại hội thảo cho thấy BĐKH đã, đang và sẽ ảnh hưởng tới tất
cả mọi người trong cộng đồng Do đó, cần phải đẩy mạnh hơn nữa các chiến dịch truyền thông về BĐKH cho cộng đồng cũng như trang bị các kiến thức liên quan cho các PV, nhà báo là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay
Từ 29/9 đến 01/10/2015, Đài THVN đã đăng cai tổ chức Hội thảo ―Hanoi
workshop for weather presenter: Communicating the science of climate change‖,
đề cập đến vai trò quan trọng của truyền thông trong việc giảm nhẹ hậu quả của BĐKH Với sự tham gia của các diễn giả là nhà khoa học ở các cơ quan chuyên ngành khí tượng hàng đầu thế giới, cũng như các cơ quan chủ quản của Việt Nam và các nước Nam Á, hội thảo đã thảo luận thành công những vấn đề cốt lõi hiện nay về BĐKH như: Những ảnh hưởng của BĐKH và việc áp dụng kinh nghiệm truyền thông trong nâng cao nhận thức về BĐKH; BĐKH trong tương lai tại Đông Nam Á và những hiện tượng cực đoan…
Ngày 28/9/2016, Hội Nhà báo Việt Nam đã tổ chức khóa bồi dưỡng ―Báo chí
với vấn đề biến đổi khí hậu‖ tại Hà Nội, dành cho các nhà báo các nước ASEAN
Hội thảo diễn ra liên tục trong 3 ngày, nêu lên nhiều vấn đề nổi cộm hiện nay về BĐKH toàn cầu Qua đó, nhấn mạnh vai trò to lớn của Báo chí trong việc thông tin
về điều này đến công chúng
Không chỉ có các hội thảo quốc tế và trong nước, vấn đề môi trường – BĐKH nói chung cũng được rất nhiều sinh viên, học viên báo chí quan tâm Có thể thấy rõ
Trang 2011
qua khóa luận, luận văn các năm của sinh viên Học viện Báo chí tuyên truyền, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học Huế, Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng
Nói về các khóa luận, luận văn về BĐKH, có thể kể đến đề tài Khóa luận
―Biến đổi khí hậu – Phóng sự: Hãy sống xanh‖ của tác giả Lô Thùy Linh – Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội) dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Cao Cường (năm 2012) Với đề tài này, tác giả đã có cái nhìn tổng quan về BĐKH, truyền thông về BĐKH và nội dung, ý nghĩa, mục đích của việc nghiên cứu về BĐKH Từ đó đi sâu vào phân tích thực trạng lạm dụng than tổ ong tại các quán hàng ăn ở Hà Nội và tác hại của việc sử dụng loại chất đốt này với môi trường thông qua phóng sự Hãy sống xanh Khóa luận cũng đưa ra mô hình sản xuất than tổ ong từ chất thải hữu cơ như một gợi mở cho hướng giải quyết vấn đề Một trong những điểm đặc biệt của đề tài này là đã thực hiện dưới dạng một phóng
sự truyền hình, qua đó đã truyền tải một cách mới mẻ và sinh động vấn đề này đến với mọi người Tuy nhiên, cũng chính vì thực hiện dưới dạng một phóng sự truyền hình với thời gian có hạn, do đó tác giả vẫn chưa thể phân tích được sâu về thực trạng BĐKH được phản ánh trên báo chí hiện nay
Luận văn Báo chí ―Vấn đề tuyên truyền Biến đổi khí hậu trên báo in Việt
Nam”, của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh (2010) đã khảo sát và đánh giá thực trạng
công tác tuyên truyền về BĐKH trên báo in Việt Nam, qua việc nghiên cứu báo Cà Mau và một số tờ báo khác Qua đó, tác giả đã đã đưa ra những giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng tuyên truyền về BĐKH trên báo in Việt Nam
Luận văn “Hiệu quả tuyên truyền biến đổi khí hậu ở TP Việt Trì, tỉnh Phú
Thọ hiện nay” của Mè Quốc Việt – Học viện Báo chí và Tuyên truyền dưới sự
hướng dẫn của TS Hà Thị Bình Hòa (năm 2013) cũng đã có cái nhìn bao quát về tuyên truyền BĐKH ở địa phương, từ đó đã đưa ra phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về vấn đề này Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ giới hạn khảo sát tại một địa phương nhỏ
Luận văn “Thông tin, tuyên truyền về biến đổi khí hậu trên sóng phát thanh
của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Giang‖ (Khảo sát từ tháng 01/2014 đến
Trang 2112
tháng 6/2015) của Lê Thế Biên – Học viện Báo chí và Tuyên truyền dưới sự hướng dẫn của TS Đinh Thị Thu Hằng đã mô tả được công tác thông tin, tuyên truyền về BĐKH của Đài PH – TH Hà Giang, đồng thời đưa ra những giải pháp nâng cao khả năng tuyên truyền này trong tương lai Ở luận văn này, ngoài việc đưa ra những đề xuất trực tiếp đến đội ngũ làm chương trình, tác giả cũng đưa ra những giải pháp cho nhà quản lý trong việc tổ chức, sắp xếp nhân sự và lên kế hoạch sản xuất các chương trình PT liên quan đến BĐKH Tuy nhiên cũng như luận văn ở trên, đề tài này cũng chỉ giới hạn khảo sát ở một địa phương nhỏ, nên chưa mang tính bao quát
Luận văn ―Báo mạng điện tử với vấn đề biến đổi khí hậu tại Việt Nam hiện
nay‖ (Khảo sát các báo: vietnamplus.vn, vnexpress.net, dantri.com từ tháng 6/2014
đến tháng 6/2015) của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang – Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng là một nghiên cứu đáng chú ý liên quan đến đề tài này Qua luận văn, tác giả đã đưa ra được bức tranh toàn cảnh, khái quát về các thông tin liên quan đến BĐKH trên báo mạng điện tử năm 2014 – 2015 Qua đó đưa ra những đánh giá
về ưu điểm, hạn chế và sự tác động của các thông tin này đến độc giả Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thông tin về vấn
đề này trên báo mạng điện tử
Như vậy có thể thấy, “Báo chí với vấn đề biến đổi khí hậu” là chủ đề được
quan tâm đặc biệt ở nước ta trong những năm gần đây Do vậy để hoàn thành tốt đề tài, chúng tôi sẽ có sự tham khảo, kế thừa và vận dụng những điểm cần thiết của các công trình trước đó Tuy vậy bên cạnh việc kế thừa các kết quả đi trước, với một hướng nghiên cứu, khoanh vùng rất đặc trưng và mới mẻ - Khu vực miền Trung -
công trình nghiên cứu “Báo chí Trung Bộ với vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay”
có nhiều đóng góp mới:
Thứ nhất, luận văn được nghiên cứu dưới góc độ báo chí chứ không phải nghiên
cứu về BĐKH, vì vậy, ở phần lý luận chung chúng tôi chỉ đưa ra một số khái niệm thực
sự cần thiết phục vụ cho luận văn Trên cơ sở lý thuyết là các chức năng của báo chí nói chung và vai trò của báo chí địa phương (cụ thể là báo chí Trung Bộ) trong công tác thông tin về BĐKH, chúng tôi sẽ giải quyết các vấn đề mà luận văn đưa ra
Trang 2213
Thứ hai, luận văn sẽ thống kê và đánh giá một cách cụ thể khách quan những
ưu điểm và hạn chế của báo in và báo điện tử các tỉnh miền Trung trong việc thông tin về vấn đề BĐKH Từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp phù hợp với tình hình địa phương, nâng cao vai trò của báo chí địa phương trong việc thay đổi nhận thức của người dân về vấn đề BĐKH Điều này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn đối với việc phát triển các bài viết có nội dung liên quan trên báo địa phương
Thứ ba, bên cạnh các phương pháp nghiên cứu văn bản, lý thuyết, luận văn
đồng thời cũng sử dụng phương pháp điều tra xã hội học (đối với công chúng và người làm báo) và phỏng vấn sâu (đối chuyên gia, phóng viên và lãnh đạo cơ quan báo chí) để đánh giá vai trò của báo chí khu vực Trung Bộ, cũng như những hạn chế của các cơ quan báo chí địa phương trong thông tin các vấn đề về BĐKH Từ đó, có thể tìm ra các giải pháp phù hợp, đáp ứng đầy đủ nhất nhu cầu thông tin và giải trí của công chúng Thông qua phương pháp này, chúng tôi tin rằng có thể đưa ra những số liệu, ý kiến một cách khách quan và phù hợp nhất
Thứ tư, đề tài nghiên cứu ở một phạm vi vừa đủ, không quá rộng, không quá
hẹp, khu vực được khoanh vùng cũng rất mới mẻ, do đó sẽ đưa ra được những góc nhìn khác hơn, cung cấp những kiến thức mới hơn, phong phú hơn về vấn đề BĐKH trên báo chí – vốn đã được không ít người quan tâm Đề tài cũng sẽ giới thiệu tổng quan về nền báo chí khu vực miền Trung, góp một phần nhỏ vào kiến thức về hệ thống báo chí địa phương của Việt Nam
Với những điểm mới và khác biệt kể trên, hướng đi của luận văn “Báo chí Trung
Bộ với vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay” có thể được coi là mới mẻ, phù hợp với xu
thế hiện nay Chúng tôi hy vọng đề tài có thể đạt kết quả tốt, có tính ứng dụng cao vào hoạt động báo chí ở địa phương, đem đến những giá trị khoa học không chỉ cho ngành báo chí mà cả với vấn đề BĐKH đang rất nóng hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở khung lý thuyết về vai trò của báo chí với vấn đề BĐKH, luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng thông tin về BĐKH trên báo chí Trung Bộ, từ
Trang 23- Đề xuất những giải pháp, khuyến nghị khoa học, nhằm phát huy hơn nữa vai trò của báo chí Trung Bộ với vấn đề BĐKH, đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin của báo chí địa phương trong công tác này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Báo chí Trung Bộ với vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Từ ngày 01 tháng 3 năm 2015 đến ngày 31 tháng 3 năm 2016
- Khảo sát báo in và báo điện tử Đà Nẵng, Bình Thuận, Nghệ An
Đề tài không đi sâu vào nghiên cứu về BĐKH mà tập trung vào công tác thông tin về vấn đề này trên báo chí địa phương ở khu vực miền Trung
Trong quá trình thực hiện, luận văn cũng tham khảo các Báo và Đài khác trong khu vực cũng như các tờ báo lớn để so sánh và có cái nhìn toàn diện hơn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận là Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về
Trang 2415
báo chí và BĐKH Bên cạnh đó, luận văn cũng áp dụng những lý thuyết khác như thuyết thiết lập chương trình nghị sự, thuyết sử dụng và hài lòng, lý thuyết truyền thông thay đổi hành vi, truyền thông khoa học công nghệ, truyền thông phát triển, lý thuyết đóng khung
Cơ sở lý luận trực tiếp của vấn đề nghiên cứu là vai trò, chức năng của báo chí
đối với vấn đề BĐKH những năm 2015-2016
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Thứ nhất là, phương pháp nghiên cứu tài liệu được dùng để nghiên cứu các
văn kiện và tài liệu liên quan nhằm hình thành khung lý thuyết Để làm được điều này, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu tài liệu trên nền tảng lý luận báo chí truyền thông Ngoài ra, chúng tôi cũng đặc biệt chú ý đến lý luận của chủ nghĩa Mac – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
và chính sách của Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về báo chí
- Thứ hai là, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và phân tích nội dung cũng như
hình thức những bài viết và chuyên mục có liên quan đến thông tin BĐKH trên báo chí khu vực miền Trung giai đoạn 01/03/2015 – 31/03/2016
- Thứ ba là, phương pháp nghiên cứu trường hợp (Đại diện là báo Đà Nẵng,
Bình Thuận, Nghệ An: báo in và báo điện tử)
- Thứ tư là, phương pháp điều tra xã hội học: Nghiên cứu định lượng (Bằng
bảng hỏi xác định gồm 900 mẫu phiếu phát đều cho 3 tỉnh thành Nghệ An, Đà Nẵng, Bình Thuận); nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu 10 mẫu dùng cho nhóm đối tượng các BTV, PV, các cán bộ lãnh đạo quản lý địa phương và lãnh đạo cơ quan báo chí địa phương)
Trong phương pháp điều tra xã hội học, chúng tôi sẽ lấy ý kiến của công chúng về việc đánh giá chất lượng thông tin của các bài viết trên báo về BĐKH, cũng như sự quan tâm của họ đến đề tài này Việc khảo sát công chúng được thực hiện tại 3 tỉnh – TP Nghệ An, Đà Nẵng, Bình Thuận (mỗi tỉnh thành 300 phiếu) với nhiều đối tượng khác nhau từ đủ các độ tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh sống… nhằm đem đến một cái nhìn bao quát Sau quá trình khảo sát, chúng tôi
Trang 2516
thu được 772 phiếu hợp lệ (gồm 294 phiếu ở khu vực Nghệ An, 252 phiếu ở Đà Nẵng và 226 phiếu ở Bình Thuận)
Chúng tôi cũng gửi các bảng hỏi theo hình thức trực tuyến và bảng giấy đến
100 người làm báo trên địa bàn các tỉnh miền Trung (cả báo trung ương và địa phương) theo phương thức chọn mẫu phân xuất, định ngạch Số lượng mẫu phiếu hợp lệ thu về là 85 phiếu Dù số lượng này là không nhiều, nhưng đã có sự phân bổ khá đều trên địa bàn các tỉnh, các cơ quan báo chí ở tất cả các loại hình nên đảm bảo tính phân bổ cân bằng ở các đơn vị báo chí
Kết quả đề tài thu thập được 857 phiếu điều tra hợp lệ Dữ liệu của điều tra bảng hỏi được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0 để thống kê tần số, giá trị trung bình và sự khác biệt trong nhận thức của các thành phần công chúng – người làm báo đối với mảng đề tài BĐKH
Bên cạnh việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, chúng tôi cũng chú trọng đến phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể là phỏng vấn sâu Phương pháp này được áp dụng với nhiều đối tượng khác nhau liên quan trực tiếp đến BĐKH Đối với các nhà nghiên cứu, việc phỏng vấn này sẽ có thể cho chúng tôi có được những cái nhìn dưới góc độ chuyên môn, những khái niệm liên quan đến vấn
đề, từ đó có thể đưa ra những kiến thức lý thuyết chính xác và đầy đủ nhất về BĐKH nói chung và BĐKH khu vực Trung Bộ nói riêng Bên cạnh đó, việc phỏng vấn này cũng đem đến một cách nhìn chuyên môn về mức độ chính xác của nội dung thông tin được phản ánh trên Báo chí hiện nay Đối với lãnh đạo các cơ quan báo chí, các PV hoạt động trong lĩnh vực BĐKH, việc phỏng vấn sâu này nhằm tìm hiểu về những thuận lợi và khó khăn trong công tác đưa tin, viết bài, xây dựng chuyên mục
- Thứ tư là, phương pháp phân tích nội dung được dùng để phân tích các tác
phẩm của báo điện tử và báo in trong diện khảo sát Từ đó có thể có những số liệu
cụ thể, đưa đến cái nhìn khách quan về thực trạng thông tin về BĐKH trên báo chí Trung Bộ hiện nay Đồng thời có thể so sánh cơ bản với nhu cầu thông tin chung của công chúng cũng như của báo chí Việt Nam và thế giới
Trang 266.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là công trình tổng kết những kinh nghiệm bước đầu của báo chí Trung Bộ trong việc đưa thông tin về vấn đề BĐKH Qua khảo sát, luận văn cũng tạo dựng bức tranh tổng thể về báo chí Trung Bộ tuyên truyền về vấn đề này, qua đó nhìn rõ hơn những thành công và hạn chế, từ đó đưa ra những khuyến nghị khoa học - thực tiễn giúp nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí về BĐKH đến với đông đảo công chúng Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động báo chí nói chung và báo chí Trung Bộ nói riêng
Ngoài ra, luận văn cũng có thể làm tài liệu hữu ích cho sinh viên ngành báo chí, Sinh – Môi trường… tham khảo để thấy được việc áp dụng các kiến thức lý thuyết vào thực tiễn
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng thông tin về biến đổi khí hậu trên báo chí Trung Bộ hiện nay
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng của báo chí Trung Bộ với vấn đề biến đổi khí hậu
Nội dung của luận văn sẽ được trình bày theo thứ tự chương, mục trên
Trang 2718
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm khí hậu, biến đổi khí hậu và báo chí
- Khí hậu
Từ điển thuật ngữ của Nhóm hội thảo đa quốc gia về BĐKH (The
Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC) định nghĩa như sau: ―Khí hậu
trong nghĩa hẹp thường định nghĩa là "Thời tiết trung bình", hoặc chính xác hơn, là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi về số lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến hàng nghìn, hàng triệu năm‖ Các
số liệu về khí hậu thường xuyên được đưa ra là các biến đổi về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, gió, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định
Theo định nghĩa của tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological
Organization - WMO), khí hậu là: ―Tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một khu vực
nhất định đặc trưng bởi các thống kê dài hạn các biến số của trạng thái khí quyển ở khu vực đó‖
Theo Ths Bùi Thu Vân, Khoa Việt Nam học, Đại Học Sư Phạm Hà Nội: ―Khí
hậu là mức độ trung bình của thời tiết trong một khoảng thời gian và không gian nhất định” [1, tr.12]
Như vậy, khí hậu là tổng hợp của thời tiết, là một hình thái ổn định tương đối của
khí quyển (gồm tổng thể các yếu tố gắn với bầu khí quyển như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, gió… ) trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định trong một khu vực địa lý Thời kỳ tính trung bình thường là vài thập kỷ Với khái niệm như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy khí hậu khác với thời tiết Bởi thời tiết chỉ là trạng thái của khí hậu tại một thời điểm nhất định
- Biến đổi khí hậu
Hiện nay, BĐKH đang là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trên thế giới, bởi nó tác động trực tiếp đến đời sống của con người Có hàng trăm khái niệm khác nhau về BĐKH
Trang 2819
- Theo Công công ước khung của LHQ về BĐKH (United Nations Framework
Convention on Climate Change): “Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây
ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người” [30, tr.5]
- Theo Điều 1 - Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu (UNFCCC): ―BĐKH
là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra làm thay đổi cấu tạo của khí quyển toàn cầu và là một trong các nhân tố gây ra những biến động khí hậu tự nhiên trong các giai đoạn nhất định‖ [37, tr 28]
- Theo chương trình Mục tiêu Quốc gia năm 2008 của Bộ TNMT: ―BĐKH là
sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong, hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển”
- Theo Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với BĐKH (2015) của Viện Khoa học – KTTV và
BĐKH: “Biến đổi khí hậu: Là sự thay đổi trong trạng thái của khí hậu có thể được
xác định (ví dụ như sử dụng các kiểm tra thống kê) bởi những thay đổi trong giá trị trung bình và/hoặc sự thay đổi thuộc tính của nó, và trong thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc lâu hơn BĐKH có thể là do quá trình tự nhiên bên trong hoặc do tác động từ bên ngoài, hoặc thay đổi liên tục do con người đến các thành phần của khí quyển hay trong sử dụng đất” [3, tr 05]
- Theo định nghĩa của Tổ chức Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) lần thứ 4
(AR4) (2007): “Biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng trái của hệ thống khí hậu,
có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu, hoặc
do những tác động từ bên ngoài, hoặc do tác động thường xuyên của con người làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển hoặc sử dụng đất‖ [37, tr 8]
Trang 2920
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau, tuy nhiên tất cả đều có một điểm chung rằng: BĐKH là những thay đổi từ yếu tố môi trường, thời tiết tác động xấu đến con người Những biểu hiện của BĐKH là mưa bão kéo dài, nắng nóng kéo dài, hạn hán, lũ lụt, xâm ngập mặn, sạt lở, lốc xoáy, dịch bệnh, thiên tai… Những thay đổi này xảy ra bởi cả yếu tố tự nhiên và con người, làm thay đổi môi trường sống của Trái đất Hay nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình, so sánh với những biến động của nó trong một khoảng thời gian vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng
này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu
Hiện nay khái niệm ―biến đổi khí hậu‖ và sự nóng lên toàn cầu không còn xa lạ
nữa, ngược lại nó được nhìn nhận như là sự tiềm ẩn của nhiều nguy cơ do hậu quả tác động của nó Nhiệt độ toàn cầu gia tăng cùng với sự thay đổi trong phân bố năng lượng trên bề mặt Trái đất và bầu khí quyển đã dẫn đến sự biến đổi của các hệ thống hoàn lưu khí quyển và đại dương mà hậu quả của nó là sự biến đổi của các cực trị thời tiết và khí hậu Nhiều bằng chứng đã chứng tỏ rằng, thiên tai và các hiện tượng cực đoan có nguồn gốc khí tượng ngày càng gia tăng ở nhiều vùng trên Trái đất mà nguyên nhân của nó là
do sự biến đổi bất thường của các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan
- Báo chí Trung Bộ
Khái niệm báo chí Trung Bộ trong luận văn dùng để chỉ hệ thống báo chí địa phương tại 19 tỉnh miền Trung Cụ thể, hiện nay khu vực miền Trung có 63
cơ quan báo chí in (trong đó có 21 Báo và 42 Tạp chí); 19 Đài PTTH địa phương
và 3 đài truyền hình khu vực của Đài THVN; có 8 báo, tạp chí điện tử và 25 trang thông tin điện tử của các Đài Phát thanh, truyền hình và cơ quan báo chí in được cấp phép hoạt động theo quy định hiện hành; có 1.734 PV thuộc 60 cơ quan báo chí in và 19 Đài PTTH khu vực miền Trung và Tây Nguyên được cấp Thẻ
nhà báo niên hạn 2011 – 2015 [Nguồn: Cơ quan đại diện Bộ TTTT tại TP Đà Nẵng
(số liệu năm 2015)]
Tuy nhiên trong phạm vi khảo sát của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung vào báo in
và báo điện tử của 3 tỉnh Nghệ An, Đà Nẵng, Bình Thuận
Trang 3021
Báo in: là một loại hình của báo chí Hiện nay có nhiều khái niệm về báo
in, tuy nhiên chúng tôi sử dụng khái niệm của Luật báo chí (sửa đổi năm 2016)
tại khoản 3, điều 3, chương 1 với nội dung: “Báo in là loại hình báo chí sử dụng
chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm: báo in và tạp chí in”
Báo điện tử: Là khái niệm thông dụng nhất ở nước ta bên cạnh các khái niệm khác
như báo trực tuyến, báo mạng, báo mạng điện tử Đây là ―loại hình báo chí được xây
dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao‖
[36, tr.11]
1.1.2 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu
Lịch sử Trái đất luôn chứng kiến những sự biến đổi tự nhiên và cả những biến đổi của hệ thống khí hậu Tuy nhiên hiện nay, mức độ này đăng tăng với tốc độ nhanh chưa từng thấy, gây ra một mối lo ngại sâu sắc trong toàn cầu Có nhiều quan điểm khác nhau về nguyên nhân của BĐKH Hiện nay, các nhà Khoa học đã chia các nguyên nhân này thành hai loại, nguyên nhân do tự nhiên và nguyên nhân do con người
- Nguyên nhân từ tự nhiên:
BĐKH thể hiện mạnh mẽ nhất trong khoảng 200 năm gần đây Vào tháng
04/2012, Nature Geoscience - một tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới – Đã
công bố một kết quả khác về nguyên nhân BĐKH, do nhóm nghiên cứu của Tiến Sĩ Rowlands thuộc Đại học Oxford (Anh) thực hiện, theo đó BĐKH nguyên bản có nguyên nhân hoàn toàn tự nhiên
+ Sự dịch chuyển và lệch trục của Trái đất:
Sự dịch chuyển của Trái đất lúc gần, lúc xa mặt trời là một hiện tượng tự nhiên
theo chu kỳ khoảng 100.000 năm [Theo Nghiên cứu của ThS Kỷ Quang Vinh – Khái
lược về biến đổi khí hậu] Thêm vào đó là sự lệch trục tự nhiên trong khi quay của
Trái đất Hai hiện tượng này đã có 1úc làm Mặt trời gần đến mức có thể làm vùng biển Nam bán cầu nóng lên theo chu kỳ gần 100.000 năm Chính điều này đã làm cho CO2 tồn trữ trong nước biển bị thải hồi vào bầu khí quyển, đồng thời kích động việc
Trang 31+ Núi lửa phun trào:
Khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí quyển một lượng cực
kỳ lớn khối lượng sulfur dioxide (SO2), hơi nước, bụi và tro vào bầu khí quyển Mặc dù việc phun trào của núi lửa chỉ kéo dài vài ngày, nhưng khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều năm
Một trong những ví dụ điển hình của việc núi lửa phun trào ảnh dẫn đến BĐKH,
đó là việc năm 1816 đã được gọi là "năm không có mùa hè‖ khi tại Indonesia, núi lửa Tambora phun trào, đẩy một lượng lớn đá núi lửa, hàng tấn tro bụi và khí SO2 vào khí quyển, phủ kín toàn bộ khu vực với bán kính 160km xung quanh Đến tháng 5/1816, nhiều khu vực trên thế giới vẫn còn băng giá Cho đến tháng 6 và tháng 7, băng tuyết vẫn rơi tại Appalachian và New England (Mỹ) Năng suất cây trồng nhiều nơi giảm tới 90%, trong khi đó, các mặt hàng thiết yếu thì tăng giá một cách đột biến Năm 1816 đã được ví như "năm đói nghèo" của Mỹ Cùng trong khung cảnh đó, các quốc gia Châu Âu cũng chịu thảm kịch tương tự, cây trồng và cây lương thực ở khu vực này cũng cho năng suất không cao trong nhiều năm liền, khiến giá thực phẩm tăng chóng mặt đến tận năm 1817, 1818
Trang 3223
+ Sự thay đổi của đại dương:
Đại dương là thành phần chính của hệ thống khí hậu Đại dương chiếm khoảng 71% diện tích của Trái đất, hấp thụ gấp hai lần của bức xạ mặt trời so với bầu không khí hoặc bề mặt Trái đất Các dòng hải lưu trong đại dương di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh Tuy nhiên, các đại dương lại bao quanh lục địa Do vậy, sự thay đổi trong lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vào trong khí quyển Điều này có thể thấy rõ, bởi hiện tượng El Nino ở Thái Bình Dương trong những năm gần đây đã ảnh hưởng đến điều kiện khí hậu trên toàn thế giới
- Nguyên nhân từ con người
Các bằng chứng về những tác động của con người đến hệ thống khí hậu đã trở nên rõ ràng hơn kể từ khi Báo cáo đánh giá thứ tư của IPCC (AR4) được
công bố Trong đó khẳng định rằng ―Sự gia tăng về nhiệt độ bề mặt trung bình
toàn cầu 1951-2010 xảy ra bởi các hoạt động của con người đã làm gia tăng nồng độ KNK Những con số cụ thể về các hoạt động của con người gây ra hiện tượng nóng lên của trái đất đã được ghi nhận cụ thể trong giai đoạn này‖.2
BĐKH được thể hiện rõ ràng nhất trong vòng 200 năm trở lại đây Theo các kết quả nghiên cứu và công bố từ Ủy Ban Liên Chính Phủ về BĐKH, nguyên nhân chủ yếu gây ra BĐKH là do các hoạt động của con người Chính sự gia tăng về mức
độ của các hoạt động này đã tạo ra các chất thải KNK, làm thay đổi môi trường sinh khối rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác
Có thể tạm hiểu rằng, nhiệt độ trung bình của bề mặt Trái đất được quyết định bởi sự cân bằng giữa lượng hấp thụ năng lượng mặt trời và lượng nhiệt thải lại vào
vũ trụ Khi lượng nhiệt bị giữ lại nhiều trong bầu khí quyển thì sẽ làm nhiệt độ trái đất tăng lên Chính lượng CO2 giữ nhiều trong khí quyển sẽ tác dụng như một lớp kính giữ nhiệt lượng tỏa ngược vào vũ trụ của trái đất Cuộc cách mạng công nghiệp
2 It is extremely likely that more than half of the observed increase in global average surface temperature from 1951 to 2010 was caused by the anthropogenic increase in GHG concentrations and other anthropogenic forcings together The best estimate of the human-induced contribution to warming is similar
to the observed warming over this period
Trang 3324
trong thế kỷ 19 đã khiến cho các hoạt động công nghiệp sử dụng quy mô lớn các loại nhiên liệu hóa thạch Với sự phát triển của công nghiệp và việc sử dụng các năng lượng hóa thạch như hiện nay, lượng CO2 chắc chắn sẽ còn tăng mạnh
Nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, than đá và khí đốt tự nhiên là năng lượng cần thiết để vận hành cá loại xe, tạo ra điện cho các ngành công nghiệp, hộ gia đình… Ngành năng lượng đã tạo ra khoảng 3/4 lượng khí thải carbon dioxide, 1/5 lượng phát thải metan và một số lượng lớn các oxit nitơ
Bên cạnh đó, việc phát triển công nghiệp tại các thành phố lớn đã khiến cho việc
di chuyển dân cư diễn ra một cách mạnh mẽ cho đến hiện nay Điều này gây ra việc biến mất của các thảm thực vật Bên cạnh đó, tài nguyên thiên nhiên cũng bị khai thác tối đa phục vụ cho công nghiệp, xây dựng, tiêu dùng Chủ nghĩa tiêu thụ nhảy vọt, tạo
ra một lượng chất thải khổng lồ, làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, và tạo ra một lượng khí thải khổng lồ gây gia tăng lượng KNK trong khí quyển
Những thay đổi trong mô hình sử dụng đất, phá rừng, hoạt động nông nghiệp (bón phân, mở rộng đất canh tác), và các hoạt động công nghiệp khác cũng dẫn đến
sự gia tăng trong khí thải carbon dioxide trong không khí, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nóng lên toàn cầu
1.1.3 Những tác động của biến đổi khí hậu
BĐKH gây ra những tác động trực tiếp đến tất cả các hoạt động xã hội cũng như môi trường sống của trái đất như: Ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế (suy giảm cơ
sở hạ tầng, sản xuất nông nghiệp, làm mất doanh thu trong sản xuất công - lâm – ngư nghiệp ); tác động lên đa dạng sinh học, các hệ sinh thái, quần thể động thực vật cụ thể (thay đổi nguồn nước, cấu trúc đất, chất đốt, lương thực; gây lụt lội, hạn hán, thay đổi cấu trúc loài…) và các tác động xã hội (bệnh tật, tử vong, giảm năng suất lao động, xung đột về tài nguyên, hiện tượng di dân )… Ở đây, chúng tôi chỉ xin điểm qua một vài ảnh hưởng chính
- Tác động đến nền kinh tế
Bão lụt và hạn hán trong những năm qua đã gây tổn thất trong ngành nông nghiệp hàng tỷ USD Chính phủ đã phải chi ra một số tiền lớn để xử lý và kiểm soát sự lây lan
Trang 3425
dịch bệnh, giảm doanh thu từ ngành du lịch và công nghiệp Giá lương thực, nước sạch, nhiên liệu, năng lượng, chi phí cho hoạt động dọn dẹp sau thảm họa tăng cao, kèm theo
những bất ổn vùng biên giới ―Theo dự đoán của Viện nghiên cứu Môi trường và phát
triển toàn cầu tại Đại học Tufts, Mỹ, chi phí cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu tới năm 2100 sẽ đạt 20 ngàn tỷ USD‖ [Theo Hà Nội mới - Những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu trên Thế giới - Thứ Hai ngày 26/10/2015]
Hiện nay Ấn Độ, Pakistan và vùng cận Sahara thuộc châu Phi đang phải hứng chịu các đợt hạn hán nghiêm trọng Hội đồng liên chính phủ về BĐKH tại châu Phi cho rằng, tới năm 2020, sẽ có 75 – 250 triệu dân châu Phi không có nước sử dụng,
và sản lượng nông nghiệp của châu lục này cũng sẽ giảm 50%
- Tác động tới sức khỏe
BĐKH gây ra tình trạng gia tăng dịch bệnh, nhất là các bệnh truyền nhiễm qua vật trung gian do sự thay đổi của nhiệt độ và hoàn cảnh Những bệnh thường gặp hiện nay là sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, các bệnh đường ruột, suy dinh dưỡng, bệnh về phổi… Những bệnh này đặc biệt càng phát triển mạnh tại các nước đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao
Tại Việt Nam những năm qua, các dịch bệnh do BĐKH tác động diễn biến ngày càng phức tạp và khó kiểm soát Nhiều bệnh mới đã xuất hiện trên cả người và động vật, rung lên một hồi chuông báo động về tình trạng này
BĐKH tuy có thể mang lại một vài lợi ích cho một số vùng ôn đới, như giảm bớt tình trạng tử vong do quá lạnh, tuy nhiên phổ biến vẫn là ảnh hưởng tiêu cực -
do nhiệt độ tăng lên
Trang 3526
động vật lưỡng đã tuyệt chủng như: Cóc vàng (Bufo periglenes) biến mất năm
1989, loài ếch Châu Úc ấp con trong dạ dày (Gastric Brooding Frog) được ghi
nhận cá thể cuối cùng vào năm 1985, Cóc mõm khoằm Lưỡng hà (Mesopotamia Beaked Toad) biến mất năm 1914, Cóc Rio Pescado tuyệt chủng năm 1995… và nhiều loại động thực vật khác
Các nhà nghiên cứu sinh vật học cũng cho biết, nếu mức nhiệt độ trung bình hiện tại tăng từ 1,10C - 6,40C thì đến năm 2050, khoảng 30% loài động thực vật hiện nay sẽ có nguy cơ tuyệt chủng Môi trường sống thay đổi và ngày càng bị thu hẹp, hiện tượng sa mạc hóa diễn ra một cách nhanh chóng, nạn phá rừng bừa bãi và nước trên các đại dương ngày càng ấm lên là những nguyên nhân khiến nhiều loài sinh vật mất nơi cư trú, không thể thích ứng kịp thời dẫn đến tình trạng tuyệt chủng
BĐKH đồng thời tác động mạnh đến nguồn nước: Thay đổi dòng chảy (do biến đổi nhiệt độ và lượng mưa), làm gia tăng nguy cơ thiếu nước sinh hoạt, tổn thất nước do băng tan và giảm lớp tuyết phủ Theo các nghiên cứu về thủy văn, những năm gần đây, dòng chảy các hệ thống sông, suối ở Việt Nam đều thiếu hụt nhiều so với trung bình nhiều năm, có nơi tới 60 - 90%; mực nước nhiều nơi đạt mức thấp nhất lịch sử đã gây thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, mặn xâm nhập sâu vào vùng cửa sông
Việt Nam là đất nước có các hệ sinh thái đa dạng Tuy nhiên với tình trạng BĐKH ngày càng mạnh, cộng thêm những tác động của con người, các hệ sinh thái ngày càng bị suy giảm – nhất là hệ sinh thái rừng Hiện nay, 80% diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam đã bị phá hủy và chuyển đổi thành các ao đầm nuôi trồng thủy hải sản một cách thiếu quy hoạch Tỷ lệ rừng nguyên sinh chỉ còn khoảng 8% (so với 50% của các nước trong khu vực) Đây là một thách thức lớn đối với Việt Nam để ứng phó với BĐKH trong những năm tới
Trang 3627
Bảng 1.1: Tổng hợp số vụ và các loại hình thiên tai tại
Việt Nam giai đoạn 2011 - 2014
[Nguồn: Uỷ ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, 2014]
Biểu đồ 1.1: Diễn biến diện tích rừng ngập mặn từ 1943 - 2008
[Nguồn: Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu – 2015]
1.1.4 Các Hiệp định Quốc tế về biến đổi khí hậu
BĐKH một trong những hiện tượng đáng lo ngại hiện nay Trong nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học cũng đã khẳng định, đây là vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất mà con người đang phải đối mặt
Vào năm 1990, đánh giá đầu tiên của IPCC về thực trạng BĐKH đã được công
bố rộng rãi Cũng vào năm đó, Đại hội đồng LHQ chính thức phát động các cuộc
Trang 3728
đàm phán về Công ước khung về Biến đổi khí hậu Tiếp nối đó, các báo cáo đánh
giá lần thứ 2 (1994), báo cáo đánh giá lần thứ ba (2001), báo cáo đánh giá lần thứ tư (2007) lần lượt ra đời Mỗi báo cáo đánh giá đều có những tiến bộ mới về nguồn số liệu, cho thấy được sự nghiêm trọng tăng cấp của BĐKH theo từng giai đoạn Bên cạnh đó, cũng rút được những hạn chế của các đánh giá trước
Công ước khung của LHQ về BĐKH (UNFCCC) được coi là công ước
quốc tế đầu tiên về BĐKH và là cơ sở pháp lý cho các nỗ lực quốc tế nhằm chống lại BĐKH toàn cầu Công ước chính thức có hiệu lực vào ngày 01/3/1994 Cho đến thời điểm hiện tại, có 195 quốc gia trên thế giới đã phê chuẩn công ước này
Mục tiêu chính của Công ước là ―nhằm đạt được sự ổn định nồng độ của các KNK
trong khí quyển ở mức độ có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu Mức độ phải được đạt tới trong một khung thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái thích nghi một cách tự nhiên với sự BĐKH, bảo đảm rằng việc sản xuất lương thực không bị đe dọa và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế tiến triển một cách lâu bền‖ [29, tr 94]
Để đạt được điều này, Công ước đã đưa ra một số nguyên tắc và cam kết để hướng đến mục tiêu ổn định nồng độ KNK như: cam kết bảo vệ hệ thống khí hậu, thực hiện biện pháp thận trọng để đoán trước ngăn ngừa hoặc làm giảm những nguyên nhân của BĐKH và làm giảm nhẹ những ảnh hưởng có hại của nó, đẩy mạnh sự phát triển lâu bền, yêu cầu các nước phát triển phải đi đầu trong cuộc chiến chống BĐKH toàn cầu…
Nghị định thư Kyoto của UNFCCC (Kyoto Protocol) là một nghị định thư
nằm trong khuôn khổ Công ước khung của LHQ về BĐKH – được ký kết tại Kyoto, Nhật Bản ngày 11/12/1997 và chính thức có hiệu lực vào ngày 16/02/2005 Hiện nay, đã có trên 180 quốc gia tham gia Nghị định thư này
“Mục tiêu lâu dài của nghị định thư Kyoto là đạt được mục tiêu của Công ước nhằm ngăn ngừa sự can thiệp nguy hiểm do con người gây ra đối với hệ thống khí hậu” [29, tr 100]
Để đạt được điều này, nghị định thư Kyoto cũng đã đưa ra những cam kết cụ thể cho các nước tham gia: đảm rằng toàn bộ các phát thải KNK tương đương carbon dioxide do con người gây ra không vượt quá lượng đã định của mình, có
Trang 3829
những tiến bộ rõ ràng trong việc đạt được những cam kết, hạn chế và giảm phát thải định lượng Đồng thời, nghị định cũng đưa ra Cơ chế phát triển sạch cho các bên
Cơ chế phát triển sạch (CDM - Clean Development Mechanism): là cơ chế hợp
tác được thiết lập trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto Để thực hiện đúng cam kết của Nghị định thư, các nước phát triển sẽ phải đầu tư đổi mới, cải tiến công nghệ với chi phí rất tốn kém để cắt giảm phát thải Do đó, để tiết kiệm chi phí, các nước phát triển có thể đầu tư vào các dự án giảm phát thải (CDM) ở các nước đang phát triển với chi phí thấp hơn và có thể nhận được chứng chỉ giảm phát thải (CERs – Certified Emission Reductions) để áp dụng vào chỉ tiêu cắt giảm phát thải ở quốc gia mình Với việc này, các nước đang phát triển sẽ có lợi ích từ nguồn tài chính và công nghệ tiên tiến được chuyển giao từ các nước phát triển thông qua các dự án CDM
1.1.5 Đảng và nhà nước ta với vấn đề biến đổi khí hậu
Đã từ lâu, BĐKH là một trong những vấn đề được quan tâm đặc biệt ở nước
ta – một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi tình trạng này Trong quá trình đổi mới, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác ứng phó BĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Như đã đề cập, Việt Nam đã sớm tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc ký ngày 11/12/1997 tại Kyoto (Nhật Bản) về việc cắt giảm khí thải nhà kính Đây là một trong những hành động cho thấy sự nghiêm túc trong việc chung tay giảm thiểu ảnh hưởng BĐKH của Việt Nam Bộ TNMT là cơ quan có đầu mối Quốc gia cho các hoạt động thực hiện Công ước khung LHQ về BĐKH và nghị định thư Kyoto Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, Bộ TN&MT đã thành lập Văn phòng BĐKH để điều phối các hoạt động liên quan
Năm 2008, chính phủ Việt Nam đã thông qua chương trình Quốc gia ứng phó với BĐKH Ngày 05/12/2011, Thủ tướng chính phủ cũng đã đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về BĐKH Trong đó đã nêu lên những thách thức, cơ hội và những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược của Đảng, nhà nước và toàn dân trong công tác này Chiến lược này cũng đã đề ra các nhiệm vụ trọng tâm trong từng giai đoạn cụ thể với trách nhiệm của từng Bộ, Ngành liên quan
Trang 3930
Những năm qua, Chính phủ nước Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến phòng chống ảnh hưởng của BĐKH như: Ban hành Nghị quyết
08/NQ-CP với nội dung "Chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường" của Ban Chấp hành Trung ương; Nghị quyết
24-NQ/TW năm 2013 về Chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên
và bảo vệ môi trường; Nghị quyết số 853/NQ-UBTVQH13 về giám sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL; Thông qua Quyết định 1393/QĐ-TTg về Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh; Quyết định 1474/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH giai đoạn 2012 - 2020; thành lập Ủy ban Quốc gia về ứng phó với BĐKH do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch và Hội đồng tư vấn cho Chính phủ và Ủy ban Quốc gia về BĐKH theo quyết định 43/QD-TTg; Xây dựng Chiến lược quốc gia phòng, chống
và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 (Quyết định số 172/2007/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ); Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (Quyết định số 1002/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ứng phó với BĐKH cũng đã được ban hành, như: Luật KTTV (2015); Luật Bảo vệ môi trường (2014), Luật Đê điều; Luật Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng; Pháp lệnh phòng chống lụt, bão, v.v Việc triển khai thực hiện các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ phát thải KNK trong
những năm gần đây cũng đạt nhiều hiệu quả Các kịch bản BĐKH, nước biển dâng
thường xuyên được cập nhật và công bố Năng lực dự báo, cảnh báo về BĐKH cũng như các phương tiện phòng, chống thiên tai ở các khu dân cư được nâng cao Nhiều dự án tiết kiệm và sử dụng năng lượng mới được triển khai, đem lại hiệu quả tích cực
Đặc biệt, ngày 22/04/2016, Việt Nam đã cùng 175 quốc gia trên thế giới ký Thỏa thuận Paris tại New York (Mỹ) Đồng thời, nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về BĐKH cũng đã được thực hiện Qua đó nâng cao nhận thức của các cấp, ngành, địa phương và toàn dân về BĐKH cùng nguy cơ tác động của nó đối với các lĩnh vực đời sống xã hội từng Việc thực thi thỏa thuận Paris mở đã góp phần tạo động lực để chúng ta thay đổi mô hình tăng trưởng và cơ hội tranh thủ các nguồn
Trang 4031
lực (cả nội lực và ngoại lực) để hướng tới một nền kinh tế carbon thấp
Nhìn chung, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm coi việc chủ động ứng phó với BĐKH là một trong những nhiệm vụ hàng đầu Các chính sách Đảng
và Nhà nước đưa ra luôn hướng đến các mục tiêu giảm thiểu tác động của BĐKH đến môi trường tự nhiên và đời sống con người Tuy nhiên, các chủ trương, giải pháp còn thiếu đồng bộ; nhiều giải pháp chưa xác định rõ bước đi,
cơ chế và nguồn lực thực hiện; những vấn đề mới xuất hiện chưa có hướng xử
lý kịp thời Do đó, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện
1.2 Thực tiễn của vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay
1.2.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới
Nếu như trước đây, thế giới vẫn còn tranh luận rằng liệu các vấn đề về BĐKH trên thực tế có xảy ra hay không và có phải do con người gây ra hay không thì ngày nay, cuộc tranh luận này dường như đã đi đến kết luận cụ thể Báo cáo đánh giá của IPCC đã đưa ra kết luận mặt khoa học rằng BĐKH là có thật Đồng thời điều này cũng kéo theo những nguy cơ gắn liền với thực trạng các lớp băng lớn trên trái đất đang tan ra ngày một nhanh, nhiệt độ các đại dương tăng lên, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới bị hủy hoại và những hậu quả khác có thể xảy ra (UNDP, 2008)
Theo nghiên cứu của Viện Khoa học KTTV và Môi trường trong cuốn ―Biến
đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam‖, trong vòng 150 năm qua, thế giới đã có sự
biến chuyển rõ rệt về khí hậu: ―Trong thế kỷ 20, trên khắp các châu lục và đại
dương nhiệt độ có xu thế tăng lên rõ rệt Độ lệch tiêu chuẩn của nhiệt độ trung bình toàn cầu là 0,24°C, sai khác lớn nhất giữa hai năm liên tiếp là 0,29°C (giữa năm
1976 và năm 1977), tốc độ của xu thế biến đổi nhiệt độ cả thế kỷ là 0,75°C, nhanh hơn bất kỳ thế kỷ nào trong lịch sử, kể từ thế kỷ 11 đến nay Vào 5 thập kỷ gần đây
1956 – 2005, nhiệt độ tăng 0,64°C ± 0,13°C, gấp đôi thế kỷ 20.” [29, tr.81]
Cũng trong một báo cáo đánh giá lần thứ 5i của Ủy ban Liên Chính phủ về
BĐKH (IPCC - Intergovernmental Panel on Climate Change), ―Trong ba thập kỷ
vừa qua, cứ sau mỗi thập kỷ bề mặt trái đất đã liên tục nóng lên hơn bất kỳ thập kỷ