ĐẠI HỌC QUỐC GIA HA NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NGÔN NGỮ HỌC HOÀNG THỊ HÀ NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU PHÉP TỈNH LƢỢC HỒI CHỈ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HA NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
HOÀNG THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU PHÉP TỈNH LƢỢC HỒI CHỈ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội - 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HA NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
- -
HOÀNG THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU PHÉP TỈNH LƢỢC HỒI CHỈ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Khóa: 2005-2008
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hồng Cổn
Hà Nội - 2008
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu 4
4 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn 5
5 Bố cục của luận văn 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 7
1.1 Chỉ xuất và hồi chỉ 7
1.1.1 Chỉ xuất và các biểu thức chỉ xuất 7
1.1.2 Hồi chỉ và các phương tiện hồi chỉ 9
1.1.2.1 Khái niệm hồi chỉ 9
1.1.2.2 Các phương tiện hồi chỉ (Anaphoric Devices) 11
a Đại từ nhân xưng (Pronouns) 11
b Chỉ định từ (Determiners) 12
c Liên hệ từ vựng ( Lexical Relationship) 13
d Tỉnh lược (Ellipsis) 14
e Thay thế (Substitution) 15
f Đồng vị ngữ (Apposition) 16
1.2 Tỉnh lược và các chức năng của Tỉnh lược 17
1.2.1 Khái niệm Tỉnh lược 17
1.2.2 Các chức năng của tỉnh lược 19
1.2.2.1 Tỉnh lược có chức năng rút gọn 20
1.2.2.2 Tỉnh lược có chức năng thay thế 22 1.2.2.3 Tỉnh lược có chức năng trực chỉ 24
Trang 41.2.2.4 Tỉnh lược có chức năng khứ chỉ 26
1.2.2.5 Tỉnh lược có chức năng hồi chỉ 27
1.3 Tỉnh lược hồi chỉ là gì? 29
1.3.1 Quan điểm về tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh 29
1.3.2 Quan điểm về tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Việt 32
1.3.3 Quan điểm của luận văn về Tỉnh lược hồi chỉ 37
CHƯƠNG 2: TỈNH LƯỢC HỒI CHỈ CHỦ NGỮ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 40
2.1 Tỉnh lược hồi chỉ chủ ngữ trong tiếng Anh 41
2.1.1 Tỉnh lược hồi chỉ chủ ngữ trong câu đơn 41
2.1.2 Tỉnh lược hồi chỉ chủ ngữ trong câu ghép đẳng lập (co- ordinated clauses) 43
2.1.3 Tỉnh lược hồi chỉ chủ ngữ trong các câu ghép chính phụ (Subordinated clauses) 47
2.2 Tỉnh lược hồi chỉ chủ ngữ trong tiếng Việt 50
2.2.1 Tỉnh lược hồi chỉ chủ ngữ trong câu đơn 50
2.2.2 Tỉnh lược hồi chỉ chủ ngữ trong câu ghép đẳng lập 53
2.2.3 Tỉnh lược hồi chỉ chủ ngữ trong câu ghép chính phụ 54
2.3 Đối chiếu và Chuyển dịch 55
2.3.1 Đối chiếu 55
2.3.2 Chuyển dịch 59
2.3.2.1 Tương đồng 59
2.3.2.2 Khác biệt 60
2.4 Tiểu kết 69
CHƯƠNG 3: TỈNH LƯỢC HỒI CHỈ VỊ NGỮ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 71
3.1 Tỉnh lược hồi chỉ vị ngữ trong tiếng Anh 72
3.1.1 Tỉnh lược hồi chỉ một phần của vị ngữ 72
3.1.1.1 Chỉ tỉnh lược hồi chỉ thành phần động từ chính của vị ngữ 72
Trang 53.1.1.2 Tỉnh lược hồi chỉ động từ chính (hoặc động từ tobe) + bổ
ngữ……… 74
3.1.1.3 Tỉnh lược hồi chỉ thành phần bổ ngữ trong vị ngữ 75
3.1.2 Tỉnh lược hồi chỉ toàn phần vị ngữ 78
3.1.2.1 Tỉnh lược hồi chỉ toàn phần vị ngữ trong câu đơn 79
3.1.2.2 Tỉnh lược hồi chỉ toàn phần vị ngữ trong câu ghép đẳng lập 80
3.1.2.3 Tỉnh lược hồi chỉ toàn phần vị ngữ trong câu ghép chính phụ 81
3.1.2.4 Tỉnh lược hồi chỉ toàn phần vị ngữ trong câu bị động 82
3.2 Tỉnh lược hồi chỉ vị ngữ trong tiếng Việt 83
3.2.1 Tỉnh lược hồi chỉ một phần của vị ngữ 83
3.2.1.1 Tỉnh lược hồi chỉ động từ chính của vị ngữ 83
3.2.1.2 Tỉnh lược hồi chỉ thành phần bổ ngữ trong vị ngữ 84
3.2.2 Tỉnh lược hồi chỉ toàn phần vị ngữ 85
3.3 Đối chiếu và Chuyển dịch 87
3.3.1 Đối chiếu 87
3.3.2 Chuyển dịch 89
3.3.2.1 Tương đồng 89
3.3.1.2 Khác biệt 91
3.4 Tiểu kết 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 61 Lí do chọn đề tài
Trước sự phát triển mạnh mẽ và xu thế hội nhập toàn cầu của đất nước, ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng ngày càng chứng tỏ vị trí quan trọng trong xã hội Do vậy, việc nắm vững những đặc điểm tương đồng và dị biệt giữa tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt và tiếng Anh là điều hết sức cần thiết để có thể truyền tải đầy đủ và chính xác nội dung thông điệp khi thực hiện chuyển dịch từ Anh sang Việt hay ngược lại Chúng ta có thể nhận diện những đặc điểm tương đồng hay dị biệt này giữa hai ngôn ngữ này qua nhiều khía cạnh như ngữ pháp, ngữ âm, từ vựng Tuy nhiên, ít ai biết rằng có một hiện tượng ngữ pháp xảy ra khá phổ biến có thể giúp ta nhận thấy rất rõ những đặc điểm khác nhau và giống nhau giữa hai ngôn ngữ trong quá trình chuyển dịch, đó là hiện tượng tỉnh lược hồi chỉ
Tỉnh lược hồi chỉ là một hiện tượng khá phức tạp Như ta đã biết, tỉnh lược là phương thức liên kết quan trọng trong hệ thống liên kết văn bản Nó
đã vượt qua giới hạn của một phát ngôn để thể hiện sự duy trì liên kết ở mức
độ giữa các phát ngôn khác nhau trong văn bản Hơn thế nữa, nó cũng góp phần tạo cho văn bản tính hệ thống chặt chẽ và chính xác mà lại tiết kiệm được ngôn từ Tỉnh lược hồi chỉ là một dạng đặc biệt của phương thức tỉnh lược Nó không những đem lại những hiệu quả ngữ dụng cũng như tính mạch lạc cao hơn cả các phương thức liên kết thông thường mà còn được đánh giá
là một trong những biện pháp rút gọn và liên kết tối ưu nhất Bàn về vấn đề này, tác giả Cao Xuân Hạo [5, 198] đã sử dụng thuật ngữ "hồi chỉ rê rô" và có
nhận xét trong cuốn Sơ thảo ngữ pháp chức năng (quyển 1) như sau: “Một câu không có yếu tố hồi chỉ thì tính độc lập của nó cao hơn và do đó ít gắn bó với văn cảnh hơn một câu có yếu tố hồi chỉ, trong đó có cả hồi chỉ (Tỉnh lược)”
Ta có thể thấy rằng vấn đề này đã được đề cập đến tương đối nhiều trong nghiên cứu ngôn ngữ học với nhiều thuật ngữ khác nhau: hồi chỉ zê rô, tỉnh lược hồi chỉ, thế bằng zê rô Sở dĩ chưa có sự thống nhất về tên gọi là do
Trang 7những khác biệt về quan điểm và góc độ nhìn nhận từ nhiều cách tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu Hơn thế nữa, phương thức tỉnh lược hồi chỉ trong hai ngôn ngữ Anh và Việt có những đặc điểm khác biệt nhau về hình thức cấu trúc và tần số xuất hiện trong quá trình dịch thuật Do vậy, khi chuyển dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, các câu có chứa phương thức tỉnh lược hồi chỉ không phải lúc nào cũng tương ứng hoàn toàn về cấu trúc cũng như dạng thức liên kết Sau đây là một ví dụ về hiện tượng tỉnh lược hồi chỉ:
(1) The King was so charmed with his address that he ordered a little chair to
be made, in order that Tom might sit upon his table, and also a palace of gold, a span high, with a door an inch wide, to live in
(Đức vua rất vui thích vì sự khôn ngoan của chú Ngài ra lệnh thuê làm một chiếc ghế tựa nhỏ và đặt lên trên bàn của ngài cho Tôm ngồi Ngài cũng sai làm một chiếc lâu đài bằng vàng cao một gang tay, với một cái cửa ra vào rộng một insơ để chú ở.)
(Truyện chú Tôm tí hon, Tr18, Truyện cổ tích Anh, NXB Giáo dục 2003) Xét ví dụ trên, ta có thể thấy rằng câu nguyên bản tiếng Anh là một câu ghép nhiều vế lại với nhau Trong đó có một chuỗi quy chiếu hồi chỉ đến một
chủ thể làm chủ ngữ lần lượt là: “the King” (Đức vua) - “he” (ngài) - “” Trong câu này, chủ ngữ cuối cùng là , nghĩa là chủ thể đã được tỉnh lược
hồi chỉ, thay vì lặp lại từ "he" Tuy nhiên khi câu tiếng Anh này được chuyển
dịch sang tiếng Việt thì đã có sự khác biệt rõ ràng Mặc dù khi chuyển dịch sang tiếng Việt, ý nghĩa nội dung của câu không thay đổi nhưng rõ ràng đã có
sự khác biệt về cấu trúc và phương thức sử dụng để liên kết hồi chỉ Lúc này câu ghép tiếng Anh đã được chuyển dịch sang thành ba câu đơn riêng biệt và
có chuỗi quy chiếu hồi chỉ giữa các câu đơn là: “Đức vua” - “ngài” - “ngài”
Như vậy, trong câu tiếng Việt đã không còn sử dụng phương thức liên kết tỉnh lược hồi chỉ như trong câu gốc tiếng Anh nữa mà thay thế bằng phương thức
Trang 8trúc ngữ pháp cũng như cách sử dụng phương thức liên kết khi chuyển dịch bản tiếng Anh sang tiếng Việt nhưng nội dung thông báo thì vẫn không thay đổi
Mặc dù có một vai trò quan trọng trong liên kết văn bản nhưng trên thực tế tỉnh lược hồi chỉ vẫn là một vấn đề hết sức phức tạp, gây ra nhiều ý kiến tranh luận khác nhau Đặc biệt, theo hiểu biết của chúng tôi, hiện nay chưa có công trình khoa học nào đi nghiên cứu sâu về hiện tượng tỉnh lược hồi chỉ, nhất là trên bình diện đối chiếu trên cứ liệu hai ngôn ngữ Anh - Việt
Để góp phần tìm hiểu thêm phương thức tỉnh lược hồi chỉ cũng như để thấy được những đặc điểm tương đồng và dị biệt giữa tiếng Anh và tiếng Việt thông qua việc đối chiếu ngữ liệu Anh - Việt có hiện tượng tỉnh lược hồi chỉ, luận văn của chúng tôi nhằm đến hai mục đích cụ thể sau:
(1) Mô tả và tìm hiểu những đặc điểm tương đồng và dị biệt của phương thức tỉnh lược hồi chỉ trong quá trình dịch thuật giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt
(2) Khảo sát các cách chuyển dịch phương thức tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh sang tiếng Việt
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của chúng tôi là các dạng thức biểu hiện của tỉnh lược hồi chỉ các thành phần của nòng cốt câu là: Chủ ngữ, vị ngữ trong tiếng Anh và dạng thức tương ứng trong tiếng Việt ở cấp độ câu và chuỗi câu
Tuy nhiên, tỉnh lược hồi chỉ là một vấn đề rất rộng và phức tạp Chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu hiện tượng này trong khuôn khổ đối chiếu tiếng Anh và tiếng việt trên bình diện dịch thuật và tần số xuất hiện trên ngữ liệu song ngữ Anh - Việt
Trang 93 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu chung
là phương pháp quy nạp
Ngoài ra chúng tôi còn áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu chuyên ngành cụ thể như phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích đối chiếu và phương pháp thống kê
- Phương pháp miêu tả: Phương pháp miêu tả được sử dụng nhằm khảo
sát và mô tả các đặc điểm ngữ nghĩa của các dạng tỉnh lược hồi chỉ và phân loại chúng trên tư liệu hai ngôn ngữ trước khi tiến hành phân tích đối chiếu
- Phương pháp phân tích - đối chiếu: Luận văn sử dụng phương pháp
phân tích đối chiếu với quan điểm lấy tiếng Anh làm xuất phát điểm để đối chiếu với tiếng Việt Qua đó, chúng tôi xem xét tính tương ứng hay không tương ứng, hay nói cách khác là những tương đồng hay dị biệt giữa tỉnh lược hồi chỉ trong văn bản tiếng Anh và dạng thức tương ứng trong văn bản dịch tiếng Việt Để tiến hành phân tích, đối chiếu sự giống nhau và khác nhau của hiện tượng tỉnh lược hồi chỉ một cách thuận lợi và chính xác, chúng tôi sẽ trích dẫn những tư liệu bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt
- Phương pháp thống kê: Trong luận văn, chúng tôi sử dụng phương
pháp thống kê để thu thập tư liệu về tần số xuất hiện của phương thức liên kết tỉnh lược hồi chỉ trong các văn bản song ngữ Anh - Việt
Về tư liệu nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và thống kê tư liệu trong những văn bản song ngữ Anh - Việt có độ tin cậy cao về mặt dịch thuật Chúng tôi đã thu thập được 204 phiếu (trong đó mỗi phiếu là phần trích dẫn tiếng Anh và đi kèm theo là phần tiếng Việt đối dịch tương ứng), được chọn lọc ra từ 1.484 câu của 6 văn bản song ngữ Anh – Việt Các tác phẩm được trích dẫn bao gồm:
(1) Cái chết trắng (White Death), Tim Vicary, Thôn Bạch Hạc
Trang 10(2) Chú mèo đi hia (Puss in boots), Trần Bích Thoa dịch, truyện
cổ tích Anh, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003
(3) Đích Uýtingtơn - Ngài thị trưởng thành phố Luân Đôn (Dick Whittington), Trần Bích Thoa dịch, truyện cổ tích Anh, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003
(4) Truyện chú Tôm tí hon (The history of Tom Thumb), Trần
Bích Thoa dịch, truyện cổ tích Anh, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003
(5) Cô bé mặc áo choàng mũ đỏ (Red Riding Hood), Trần Bích Thoa dịch, truyện cổ tích Anh, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003
(6) Cậu Giắc và cây đậu (Jack and the Beanstalk), Trần Bích Thoa dịch, truyện cổ tích Anh, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003
4 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lí luận: Theo những tài liệu mà chúng tôi có được thì cho đến
nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu đối chiếu hiện tượng tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt một cách có hệ thống và đầy
đủ Do vậy chúng tôi mong muốn đưa ra những tìm hiểu ban đầu về tỉnh lược hồi chỉ cũng như những nét tương đồng và dị biệt của hiện tượng này giữa hai ngôn ngữ, góp phần vào việc nghiên cứu vấn đề này cùng với các nhà Anh ngữ và Việt ngữ học
- Ý nghĩa thực tiễn: Phương thức liên kết tỉnh lược hồi chỉ được đánh
giá là một trong các phương thức đem lại hiệu quả liên kết và ngữ dụng tối ưu nhất Do vậy, chúng tôi mong rằng kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ đóng góp phần vào việc phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai ngôn ngữ và kiến giải vấn đề để nâng cao hiệu năng trong sử dụng và nghiên cứu, nhất là nâng cao chất lượng dịch thuật, giảng dạy tiếng Việt cho người Việt và cho người nói tiếng Anh học tiếng Việt Từ đó, giúp cho người học có thể phân tích và tiếp thụ văn bản song ngữ Anh - Việt một cách hiệu quả Đặc biệt, khi hiện nay tiếng Anh ngày càng có vị thế quan trọng trong xã
Trang 11hội chúng ta và tiếng Việt đã và đang trở thành một ngoại ngữ thực sự và có phạm vi ứng dụng rộng rãi
5 Bố cục của luận văn
Trong khuôn khổ luận văn này, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, chúng tôi sẽ trình bày phần nội dung gồm các chương sau đây:
- Chương 1: Cơ sở lí luận chung
- Chương 2: Đối chiếu hiện tượng tỉnh lược hồi chỉ chủ ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt và khảo sát khả năng chuyển dịch
- Chương 3: Đối chiếu hiện tượng tỉnh lược hồi chỉ vị ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt và khảo sát khả năng chuyển dịch
Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục bao gồm 204 phiếu tư liệu tiếng Anh có chứa hiện tượng tỉnh lược hồi chỉ chủ ngữ, tỉnh lược hồi chỉ vị ngữ và phần đối dịch tiếng Việt được trích dẫn từ các văn bản song ngữ Anh - Việt hiện đại
Trang 12Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
[1] Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB Giáo
dục, Hà nội
[2] Đỗ Hữu Châu (2003), Đại Cương ngôn ngữ học, tập 2, Ngữ dụng học,
NXB Giáo dục
[3] Võ Văn Chương (2004), Liên kết hồi quy trong ngôn ngữ học văn bản và kiến nghị về cách xác định và phân loại, Ngôn ngữ (7), tr20-tr29
[4] Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, NXB ĐHQG Hà Nội [5] Hoàng Thị Hà, Tỉnh lược hồi chỉ chủ ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt,
Ngữ học trẻ 2008, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
[6] Halliday M.A.K (2001), Dẫn nhập ngữ pháp chức năng, NXBĐHQG Hà
Nội
[7] Cao Xuân Hạo (1991), Sơ Thảo ngữ pháp chức năng (q.1), NXB KHXH,
Hà Nội
[8] Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất
Tươm (1992), Câu trong tiếng Việt (Cấu trúc – nghĩa- Công dụng), NXB
Giáo dục, Hà Nội
[9] Nguyễn Chí Hoà (1996), Một vài suy nghĩ xung quanh khái niệm “tỉnh lược”, Ngữ học trẻ 96, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, tr52- tr54
[10] Nguyễn Thượng Hùng (1992), Tỉnh lược chủ ngữ trong câu tiếng Việt và tiếng Anh, Ngôn ngữ (9), tr52-tr56
[11] Nguyễn Thượng Hùng (1997), Đối chiếu sự tỉnh lược chủ đề trong câu tiếng Anh và câu tiếng Việt, Ngữ học trẻ 97, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà
Nội
[12] Nunan D (1997), Dẫn nhập phân tích diễn ngôn, NXB Giáo dục, Hà
Nội
[13] Hoàng Trọng Phiến (1980), Ngữ pháp tiếng Việt (Câu), NXB Đại học và
THCN, Hà Nội