LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa” là c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
_
HUỲNH THỊ KIM OANH
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO
VÀ KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGHỀ CHĂN NUÔI LỢN
TẠI HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
_
HUỲNH THỊ KIM OANH
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO
VÀ KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGHỀ CHĂN NUÔI LỢN
TẠI HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA
PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
Khoa sau đại học:
KHÁNH HÒA – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Phân tích hiệu quả sử dụng các yếu
tố đầu vào và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh
Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố
trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Khánh Hòa, ngày 01 tháng 03 năm 2017
Tác giả luận văn
Huỳnh Thị Kim Oanh
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng
ban trường Đại học Nha Trang, Khoa Kinh tế, Khoa Sau đại học và các quý Thầy, Cô
đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận
tình của TS Phạm Thị Thanh Thủy đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin
gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Cam Lâm, các
đồng nghiệp và đặc biệt là các hộ chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm đã nhiệt tình cung
cấp thông tin giúp tôi thực hiện thành công đề tài
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, ngày 01 tháng 03 năm 2017
Tác giả luận văn
Huỳnh Thị Kim Oanh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC KÝ HIỆU ix
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC HÌNH xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghı̃a của kết quả nghiên cứu 3
1.6.1 Về mặt khoa học 3
1.6.2 Về mặt thực tiễn 3
1.7 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Giới thiệu sơ lược tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và Việt Nam 5
2.1.1 Chăn nuôi lợn 5
Trang 62.1.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật chăn nuôi lợn 7
2.2 Hiệu quả, hiện quả sử dụng các yếu tố đầu vào và khả năng sinh lợi 10
2.2.1 Hiệu quả 10
2.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế 12
2.2.3 Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất 14
2.2.4 Phương pháp phân tích màng dữ liệu (DEA) 15
2.2.5 Khả năng sinh lợi 19
2.2.6 Những chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi 20
2.3 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan 22
2.3.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 22
2.3.2 Công trình nghiên cứu ngoài nước 23
Tóm tắt chương 2 24
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 25
3.2 Phương pháp chọn mẫu 25
3.3 Loại dữ liệu thu thập 26
3.3.1 Dữ liệu thứ cấp 26
3.3.2 Dữ liệu sơ cấp 26
3.4 Công cụ phân tích dữ liệu 27
3.4.1 Khung tính toán các chỉ tiêu sản xuất 27
3.4.2 Các mô hình nghiên cứu 29
3.5 Khung phân tích của nghiên cứu 31
3.6 Các giả thuyết nghiên cứu 33
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
4.1 Thông tin về hiện trạng chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa 35
4.1.1 Mô tả mẫu điều tra theo địa điểm chăn nuôi lợn 35
Trang 74.1.2 Đặc điểm giới tính của chủ hộ 35
4.1.3 Đặc điểm số thành viên trong gia đình hộ chăn nuôi lợn 36
4.1.4 Đặc điểm số người trong độ tuổi lao động 36
4.1.5 Đặc điểm số người tham gia nuôi lợn 37
4.1.6 Đặc điểm kinh nghiệm của người chăn nuôi lợn 37
4.1.7 Trình độ học vấn người chăn nuôi lợn 38
4.1.8 Đặc điểm diện tích chuồng nuôi 39
4.1.9 Đặc điểm nguồn gốc lợn nuôi thương phẩm 39
4.1.10 Đặc điểm phương thức xử lý chất thải 39
4.1.11 Đặc điểm quy mô đàn lợn 41
4.1.12 Đặc điểm tỷ lệ lợn chết 42
4.1.13 Đặc điểm cách thức sử dụng thức ăn cho lợn 43
4.1.14 Đặc điểm hàm lượng đạm thô trong thức ăn 43
4.1.15 Đặc điểm hệ số chuyển hóa thức ăn 44
4.2 Phân tích các chỉ tiêu sản xuất của các hộ chăn nuôi lợn 45
4.3 Kiểm định thống kê các chỉ tiêu sản xuất so sánh mô hình chăn nuôi lợn quy mô lớn và chăn nuôi lợn quy mô nhỏ 50
4.3.1 Kiểm định thống kê các chỉ tiêu chi phí và doanh thu 50
4.3.2 Kiểm định thống kê các chỉ tiêu lợi nhuận và hiệu quả 51
4.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi và hiệu quả kỹ thuật của nghề chăn nuôi lợn 53
4.4.1 Ảnh hưởng của các nhân tố tới khả năng sinh lợi 53
4.4.2 Ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả kỹ thuật 54
4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 55
4.5.1 Khả năng sinh lợi 55
4.5.2 Hiệu quả kỹ thuật 55
Trang 84.5.3 Kiểm định thống kê các chỉ tiêu sản xuất so sánh hình thức chăn nuôi lợn quy
mô lớn và chăn nuôi lợn quy mô nhỏ 56
4.5.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của nghề chăn nuôi lợn 56
4.5.5 Hiệu quả xã hội và môi trường 57
Tóm tắt chương 4 58
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Kiến nghị 61
5.3 Những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC KÝ HIỆU
CRS : Constant Return to Scale
DEA : Data Envelopment Analysis
ROA : Return on Assets
ROE : Return on Equity
VRS : Variable Return to Scale
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Số liệu tổng đàn lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa năm 2016 26
Bảng 3.2 Định nghĩa các biến độc lập trong mô hình 31
Bảng 3.3 Các yếu tố được phân tích và đánh giá của các nghiên cứu trước 32
Bảng 4.1 Số mẫu điều tra theo địa điểm chăn nuôi lợn 35
Bảng 4.2 Giới tính chủ hộ chăn nuôi lợn 35
Bảng 4.3 Số thành viên trong gia đình hộ chăn nuôi lợn 36
Bảng 4.4 Số người trong độ tuổi lao động tại các hộ chăn nuôi lợn 36
Bảng 4.5 Số người tham gia nuôi lợn tại các hộ chăn nuôi lợn 37
Bảng 4.6 Kinh nghiệm người chăn nuôi lợn 37
Bảng 4.7 Trình độ học vấn của người chăn nuôi lợn 38
Bảng 4.8 Người chăn nuôi lợn tham gia tập huấn kỹ thuật 38
Bảng 4.9 Diện tích chuồng nuôi tại các hộ chăn nuôi lợn 39
Bảng 4.10 Nguồn gốc lợn nuôi thương phẩm tại các hộ chăn nuôi lợn 39
Bảng 4.11 Phương thức xử lý chất thải tại các hộ chăn nuôi lợn 41
Bảng 4.12 Quy mô đàn lợn tại các hộ chăn nuôi 42
Bảng 4.13 Tỷ lệ lợn chết tại các hộ chăn nuôi lợn 42
Bảng 4.14 Cách thức sử dụng thức ăn cho lợn tại các hộ chăn nuôi 43
Bảng 4.15 Hàm lượng đạm thô trong thức ăn tại các hộ chăn nuôi lợn 44
Bảng 4.16 Hệ số chuyển hóa thức ăn của lợn tại các hộ chăn nuôi 44
Bảng 4.17 Chỉ số hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lời của các hộ chăn nuôi lợn 45
Bảng 4.18 Kết quả kiểm định thống kê các chỉ tiêu chi phí và doanh thu 50
Bảng 4.19 Kết quả kiểm định thống kê các chỉ tiêu lợi nhuận và hiệu quả 51
Bảng 4.20 Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lợi 53
Bảng 4.21 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kỹ thuật 54
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình phân tích màng dữ liệu tối thiểu hóa đầu vào DEACRS và DEAVRS 17
Hình 3.1 Khung phân tích 33
Hình 4.1 Khả năng sinh lợi của hộ chăn nuôi lợn 48
Hình 4.2 Hiệu quả kỹ thuật (CRS) của hộ chăn nuôi lợn 48
Hình 4.3 Đồ thị phân tán hiệu quả kỹ thuật (VRS) của hộ chăn nuôi lợn 49
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Trong những năm gần đây tình hình chăn nuôi lợn tại tỉnh Khánh Hòa nói chung
và huyện Cam Lâm nói riêng đã và đang gặp nhiều khó khăn xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan (người chăn nuôi) lẫn những nguyên nhân khách quan (cạnh tranh từ thịt nhập khẩu, thời tiết, ) Hậu quả là nhiều người chăn nuôi đã bị thua lỗ nặng nề phải bỏ nghề, dịch bệnh xảy ra thường xuyên, môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm Vì vậy, trong xu hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa với nhiều cơ hội và thách thức như hiện nay, làm thế nào để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả cao và trở thành hàng hóa chủ lực của ngành luôn là mối quan tâm lớn của nhà nước và người chăn nuôi Đây là mục tiêu cần hướng tới của ngành chăn nuôi và chính những yếu tố đó đã thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển Để làm được điều này thì cần phải đánh giá một cách khoa học và phân tích rõ hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào và khả năng sinh lợi cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn, từ đó làm cơ sở để các cơ quan nhà nước chỉ đạo sản xuất nông nghiệp và người chăn nuôi lợn ở huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa lựa chọn hướng phát triển chăn nuôi lợn
Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn tại các địa phương thuộc huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa với các mục tiêu cụ thể bao gồm: (i) Đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào (hiệu quả kỹ thuật) của nghề chăn nuôi lợn, (ii) Đánh giá khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn, (iii) Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật
và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn, (iv) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nghề chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích định lượng Phương pháp phân tích này hỗ trợ tích cực trong việc làm sáng tỏ các nhận định và rút ra kết luận của vấn
đề nghiên cứu Đặc biệt, có sử dụng phương pháp phân tích màng dữ liệu (DEA) và kiểm định trung bình mẫu độc lập để đánh giá hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn; sử dụng hàm hồi quy tobit để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lợi
Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn các hộ chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa có khả năng sinh lợi tương đối ổn định Trong 170 hộ chăn nuôi lợn
Trang 13được khảo sát, có 95,88% số hộ chăn nuôi sản xuất có hiệu quả, số hộ chăn nuôi sản xuất không hiệu quả và bị thua lỗ chiếm tỷ lệ rất thấp là 4,12% Kết quả đo lường các chỉ tiêu sản xuất có sự khác biệt giữa mô hình chăn nuôi lợn quy mô lớn (từ 100 con trở lên/lứa) và chăn nuôi lợn quy mô nhỏ (dưới 100 con/lứa) Chăn nuôi lợn với quy
mô lớn sẽ đem lại lợi nhuận và khả năng sinh lợi từ việc sản xuất cao hơn so với chăn nuôi quy mô nhỏ; đồng thời, nghề chăn nuôi lợn vẫn sẽ tiếp tục sản xuất trong những năm tiếp theo Ngoài ra, các hộ chăn nuôi lợn quy mô lớn và quy mô nhỏ đều sử dụng khá hợp lý các yếu tố đầu vào
Kết quả kiểm định cho thấy, với độ tin cậy 95%, có sự khác biệt về chi phí thức
ăn, chi phí giống, chi phí phòng chống dịch bệnh, chi phí nhân công, tổng chi phí biến đổi và chi phí/1 kg tăng trọng, thặng dư nhà sản xuất, khả năng sinh lợi, hiệu quả kỹ thuật giữa mô hình chăn nuôi lợn quy mô lớn và chăn nuôi lợn quy mô nhỏ Riêng đối với doanh thu thì chưa có sự khác biệt giữa hai mô hình
Khả năng sinh lợi chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố là kinh nghiệm người chăn nuôi, quy mô đàn và nguồn gốc con giống Trong đó, kinh nghiệm người chăn nuôi, quy mô đàn có ảnh hưởng cùng chiều với khả năng sinh lợi và nguồn gốc con giống ảnh hưởng ngược chiều với khả năng sinh lợi Trong khi đó, hiệu quả kỹ thuật chịu ảnh hưởng của nhân tố chất lượng thức ăn và nó ảnh hưởng cùng chiều với hiệu quả kỹ thuật
Bên cạnh đó, việc sử dụng hệ thống xử lý chất thải trong chăn nuôi lợn hiện nay khá phổ biến, đa số là sử dụng hầm Biogas và số hộ sử dụng đệm lót sinh học rất ít Kết quả khảo sát cho thấy có 64,71% hộ chăn nuôi lợn có hệ thống hầm Biogas và 2,35% hộ sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn Việc sử dụng hệ thống xử lý chất thải này đã góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí; vấn đề lây lan dịch bệnh được quản lý, kiểm soát hiệu quả hơn và đặc biệt là góp phần làm giảm tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm lây từ động vật sang người và bệnh do ô nhiễm môi trường gây ra
Trang 14CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu
Chăn nuôi lợn là ngành chăn nuôi không mới trong điều kiện Việt Nam hiện nay,
sự hình thành sớm nghề nuôi lợn cùng với trồng lúa nước đã cho chúng ta khẳng định nghề nuôi lợn có vị trí hàng đầu Nếu được đầu tư đầy đủ về vốn, công nghệ, chăn nuôi trên quy mô lớn thì hiệu quả thu được của ngành thực sự là không nhỏ, đặc biệt là đối với mức thu nhập của đại đa số gia đình nông dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới kinh tế, đồng thời nó cũng góp phần vào giải quyết một phần số lao động nhàn rỗi ở các vùng nông thôn
Khánh Hòa có nghề chăn nuôi lợn lâu đời và nhìn chung chăn nuôi theo hình thức nông hộ lẻ tẻ vẫn còn chiếm đa số Trong xu hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa hiện nay, kinh tế trang trại trở thành nhân tố mới cho sự phát triển ở nông thôn Phát triển kinh tế trang trại là động lực mới nối tiếp và phát huy động lực kinh tế hộ gia đình, là điểm đột phá trong các bước chuyển nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa Các trang trại đã tạo ra khối lượng nông sản hàng hóa từng bước đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Song hình thức chăn nuôi lợn tập trung theo quy mô trang trại vẫn còn chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ Đứng về mặt tiêu dùng, sản phẩm thịt lợn là loại thực phẩm chủ yếu của người Việt Nam Ngày nay, con lợn không những giữ vị trí hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm giàu dinh dưỡng cho mọi người mà còn là loại hàng hóa chủ lực của ngành nông nghiệp thu lại nhiều ngoại tệ
Huyện Cam Lâm là một trong 9 đơn vị hành chính của tỉnh Khánh Hòa, là một huyện mới, được thành lập vào năm 2007 Huyện gồm 14 đơn vị hành chính cấp xã (thị trấn Cam Đức và 13 xã) có diện tích tự nhiên 550,26 km2 với địa hình phong phú
và đa dạng, có cả núi, đồi, đồng bằng, đầm thủy triều, bãi cát ven biển và biển khơi Một trong những thế mạnh nông nghiệp của huyện là ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn đã góp phần trong việc tăng thu nhập cho người dân
Tuy nhiên, có thể thấy, trong những năm gần đây tình hình chăn nuôi lợn tại tỉnh Khánh Hòa nói chung và huyện Cam Lâm nói riêng đã và đang gặp nhiều khó khăn như rớt giá, bệnh dịch, sử dụng chất cấm và dư thừa kháng sinh, xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan (người chăn nuôi) lẫn những nguyên nhân khách quan (cạnh tranh
từ thịt nhập khẩu, thời tiết, …) (Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Cam Lâm, 2015)
Trang 15Hậu quả là nhiều người chăn nuôi đã bị thua lỗ nặng nề phải bỏ nghề, dịch bệnh xảy ra thường xuyên, môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm Vì vậy, làm thế nào để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả cao và trở thành hàng hóa chủ lực của ngành luôn là mối quan tâm lớn của nhà nước và người chăn nuôi Đây là mục tiêu cần hướng tới của ngành chăn nuôi
và chính những yếu tố đó đã thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển Do đó, đề tài “Phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa” được đưa ra để nghiên cứu nhằm phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn, qua đó tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả chăn nuôi lợn
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào và khả năng sinh lợi và tìm ra những nhân tố có ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi lợn Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, làm cơ sở để các cơ quan nhà nước chỉ đạo sản xuất và người chăn nuôi lợn ở huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa lựa chọn hướng phát triển chăn nuôi lợn trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Nghề chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa đạt được hiệu quả kỹ thuật và có khả năng sinh lợi như thế nào?
- Hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nào?
- Những giải pháp cần thiết nào nào để nâng cao hiệu quả hoạt động nghề chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa?
Trang 161.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hộ chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa; số lượng mẫu nghiên cứu là 170 mẫu
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu của đề tài được thực hiện trong phạm vi như sau:
- Về không gian: Thực hiện nghiên cứu tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa
- Về thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 05/2016 đến tháng 11/2016
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Trong khuôn khổ nghiên cứu, tác giả điều tra, thu thập các thông tin cần thiết và tất cả các thông tin thu thập được mã hóa các câu trả lời Sau đó, tác giả tiến hành nhập
dữ liệu vào máy tính và sử dụng các phần mềm thống kê để mô tả, phân tích và kiểm định đối với các biến số cần nghiên cứu
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phần mềm Microsoft Excel để nhập dữ liệu điều tra và xử lý số liệu thô Sau đó, sử dụng phương pháp phân tích màng dữ liệu (DEA) và kiểm định trung bình mẫu độc lập để đánh giá hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn; sử dụng hàm hồi quy tobit để tìm các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật, khả năng sinh lợi
1.6 Ý nghı̃a của kết quả nghiên cứu
- Từ cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu trước đó, đề tài nghiên cứu sẽ vận dụng hàm sản xuất để từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật, khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa
1.6.2 Về mặt thực tiễn
- Đề tài khái quát về hiện trạng hoạt động chăn nuôi lợn tại các hộ chăn nuôi ở huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa
Trang 17- Đề tài nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật, khả năng sinh lợi, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa
- Từ kết quả nghiên cứu, đánh giá thực trạng và mô hình nghiên cứu của đề tài, tác giả đưa ra một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nghề chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa
- Đề tài nghiên cứu là tài liệu tham khảo, cung cấp các dữ liệu khoa học cho các nhà quản lý, sinh viên các trường đại học, học viên cao học, đồng thời cũng là nền tảng các dẫn liệu khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo
1.7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được chia làm 5 phần chính như sau:
- Chương 1: Giới thiệu Chương này xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, cấu trúc của luận văn
- Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết Chương này trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết về chăn nuôi, hiệu quả kinh tế, hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, khả năng sinh lợi, đặc điểm kinh tế kỹ thuật của nghề chăn nuôi lợn, những nhân
tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi Bên cạnh
đó, chương cũng tổng quan các nghiên cứu trước trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày cách tiếp cận nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, loại dữ liệu thu thập và các công cụ phân tích dữ liệu; khung phân tích và các giả thiết của nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày khái quát về hiện trạng chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa; phân tích, đánh giá hiệu quả kỹ thuật, khả năng sinh lợi, sự ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, gợi ý giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa; đồng thời nêu những điểm còn hạn chế của nghiên cứu và phương hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 18CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Giới thiệu sơ lược tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và Việt Nam
2.1.1 Chăn nuôi lợn
Chăn nuôi là một ngành quan trọng của nông nghiệp hiện đại, nuôi lớn vật nuôi để sản xuất những sản phẩm như: thực phẩm, lông, sức lao động,… Sản phẩm từ chăn nuôi nhằm cung cấp lợi nhuận và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của con người
Chăn nuôi lợn là việc thực hành chăn nuôi các giống lợn nhà để lấy thịt lợn và các sản phẩm từ lợn Chăn nuôi lợn là một ngành hết sức quan trọng, nó cung cấp một
số lượng rất lớn thịt cho bữa ăn của hàng tỷ người trên trái đất và là một loại thực phẩm thiết yếu Lợn nuôi chủ yếu dùng để lấy thịt Các sản phẩm khác từ thịt lợn như xúc xích, lạp xưởng, jambon,…
* Trên thế giới
Ở một số nước phát triển và đang phát triển, lợn thuần hóa là loài bản địa thường được nuôi thả ngoài trời hoặc trong chuồng Một số vùng lợn được thả tìm thức ăn trong rừng có thể có người trông coi Ở các quốc gia công nghiệp, nuôi lợn thuần hóa được chuyển từ nuôi chuồng trại truyền thống sang hình thức chăn nuôi công nghiệp,
do đó chi phí sản xuất giảm đáng kể nhưng lại cho sản lượng cao Những trang trại nuôi lợn công nghiệp có quy mô lớn, khoảng 5.000 con hoặc nhiều hơn, được nuôi và kiểm soát khí hậu trong hệ thống chuồng trại, thiết bị hiện đại
Dân số thế giới tăng lên nhanh chóng trong những thập kỷ qua và sẽ tiếp tục tăng trong thế kỷ tới Do đó, nhu cầu tiêu thụ thịt của mỗi người và của cả thế giới chắc chắn sẽ còn gia tăng mạnh Trong suốt 40 năm qua, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, sản lượng thịt lợn toàn cầu tăng từ 3,5 triệu tấn lên 24,7 triệu tấn (năm 1961), 86,6 triệu tấn (năm 2002), 93 triệu tấn (năm 2005) và dự kiến đạt hơn 109 triệu tấn (năm 2016) Các khu vực sản xuất lợn chính bao gồm Đông Á, Bắc Mỹ và châu Âu Trung Quốc thống trị ngành công nghiệp thịt lợn thế giới khi dẫn đầu cả về sản xuất và tiêu thụ Trung Quốc sản xuất 50 triệu tấn thịt lợn trong năm 2012, gấp 5 lần sản lượng của
Mỹ và gấp đôi EU, chiếm gần ½ sản lượng toàn cầu Năm 2014, số lượng lợn nuôi tại Trung Quốc đứng đầu thế giới, đạt 723 triệu đầu con Tuy vậy, nước này vẫn là quốc gia nhập siêu lợn do dân số quá đông và nhu cầu tiêu thụ quá lớn
Trang 19Nhật Bản là một trong những quốc gia nhập khẩu chính của thịt lợn Sản xuất thịt lợn ở Mỹ và Canada cũng có sự tăng trưởng đáng kể trong thập kỷ qua Mỹ thay đổi từ một nước nhập khẩu thành một nước xuất khẩu thịt lợn Năm 2015, xuất khẩu thịt lợn của Mỹ đạt 4 tỷ USD, chiếm 15,9% tổng kim ngạch, mang lại lợi nhuận cao gấp 4 lần
so với xuất khẩu ngũ cốc Ở Nam Mỹ, đặc biệt là Brazil, ngành chăn nuôi lợn chứng kiến sự phát triển nhanh chóng bởi hội tụ nhiều yếu tố như nguồn thức ăn có sẵn, nhân công giá rẻ và tài nguyên đất dồi dào
Ngành chăn nuôi lợn truyền thống theo hình thức nuôi thả ngoài trời hoặc trong chuồng trại thường có quy mô nhỏ Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện nuôi lợn hình thức công nghiệp, sử dụng các hệ thống sản xuất hiện đại, cải tiến công nghệ nhân giống lợn, cung cấp môi trường chuẩn hóa cho vật nuôi nhằm gia tăng sản lượng
Dinh dưỡng là thành phần rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng của vật nuôi Các nước có ngành chăn nuôi tiên tiến trên thế giới hiện nay dùng những chất phụ gia trộn vào thức ăn giúp con vật nuôi mau lớn, tỷ lệ chuyển hoá thức ăn rất tốt, cải thiện phẩm chất thịt, môi trường, tăng sức đề kháng cao và giảm được rũi ro bệnh tật
Môi trường là một vấn đề rất quan trọng trong chăn nuôi vì nó ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cư dân sống chung quanh Tại Canada, số lượng lợn được nuôi trong một trang trại lệ thuộc vào tổng diện tích của trại là có bao nhiêu
và không khuyến khích phát triển những trang trại lớn vì rất khó về xử lý môi trường
* Tại Việt Nam
Theo số liệu Cục Thống kê 01/10/2015, Khánh Hòa có tổng đàn lợn là 134.326 con (113.363 lợn thịt, 15.047 nái đẻ, 5.247 nái hậu bị và 669 con đực giống) với 03 hình thức nuôi chính là chăn nuôi tập trung, chăn nuôi vừa và nhỏ và chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có 09 cơ sở chăn nuôi lợn với quy mô trang trại và phân tán chủ yếu ở các huyện Cam Lâm, Diên Khánh, TX Ninh Hòa Kinh nghiệm từ các quốc gia tiên tiến chỉ ra rằng, trong ngành chăn nuôi thì con giống, dinh dưỡng và quản lý/vệ sinh chuồng trại là những yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự thành bại của người nuôi Những yếu tố này không thể tách rời và không phải tự nhiên mà có mà là cả một quá trình đầu tư, học tập, tích lũy kinh nghiệm và đào tạo huấn luyện một cách thường xuyên
Trang 20Ngành chăn nuôi ở Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng thường xuyên
có dịch bệnh vì tình trạng vệ sinh chuồng trại cũng như chất lượng con giống quá yếu kém Sức đề kháng của vật nuôi yếu nên bệnh dịch rất dễ xâm nhập, thiếu khả năng vượt bệnh và lây lan nhanh chóng từ khu vực này qua khu vực khác Ví dụ bệnh lở mồm long móng (FMD), bệnh tiêu chảy cấp tính của lợn con (PED) và bệnh tai xanh (PRRS) là những bệnh đặc thù thường xảy ra ở Việt Nam trong nhiều năm qua và năm nào cũng có làm tổn hại rất lớn cho người chăn nuôi Đó là lý do tại sao có rất nhiều công ty nước ngoài vào bán thuốc thú y tại Việt nam
Dù là ngành kinh tế quan trọng nhưng ở Việt Nam lại chưa có một trung tâm quản
lý và cải tiến di truyền giống lợn quy chuẩn để hỗ trợ cho ngành chăn nuôi lợn Chất lượng lợn giống ở Việt Nam kém đã dẫn đến chi phí sản xuất quá cao, hiệu quả kinh tế thấp Trong khi ở Canada, một con lợn nái thương phẩm đẻ ra được khoảng 26-27 lợn con/năm trong khi đó tại VN một con lợn nái chỉ đẻ được khoảng 16-18 lợn con/năm Lợn giống có thể trạng tốt sẽ giảm được chi phí thức ăn, thuốc thú y và các chi phí khác
2.1.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật chăn nuôi lợn
Đối tượng tác động của ngành chăn nuôi là các cơ thể sống động vật, có hệ thần kinh cao cấp, có những tính quy luật sinh vật nhất định Để tồn tại, nó luôn cần đến một lượng tiêu tốn thức ăn tối thiểu cần thiết thường xuyên, không kể rằng các đối tượng này có nằm trong quá trình sản xuất hay không Từ đặc điểm này, đặt ra cho người sản xuất ba vấn đề:
- Một là, bên cạnh việc đầu tư cơ bản cho đàn lợn phải đồng thời tính toán phần đầu tư thường xuyên về thức ăn để duy trì và phát triển Nếu cơ cấu đầu tư giữa hai phần trên không cấn đối thì tất yếu sẽ dẫn đến dư thừa, lãng phí hoặc sẽ làm chậm sự phát triển, thậm chí phá hủy cả đàn
- Hai là, phải đánh giá chu kỳ sản xuất để đầu tư một cách hợp lý trên cơ sở tính toán cân đối giữa chi phí sản xuất và sản phẩm tạo ra, giữa chi phí đầu tư cơ bản và giá trị đào thải để lựa chọn thời điểm đào thải, lựa chọn phương thức đầu tư mới hay duy trì, tái tạo, phục hồi
- Ba là, do có hệ thần kinh nên con lợn rất hay nhạy cảm với môi trường sống, do
đó đòi hỏi phải có sự quan tâm chăm sóc hết sức ưu ái, phải có biện pháp kinh tế, kỹ thuật
để phòng trừ dịch bệnh, đồng thời tạo điều kiện ngoại cảnh thích hợp cho lợn phát triển
Trang 21* Con giống
Trước năm 1956, các giống lợn được sử dụng ở Việt Nam hầu hết là giống lợn nội như: Móng Cái, Ỉ, Lang Hồng ở miền Bắc; Thuộc Nhiêu, Ba Xuyên,…ở miền Nam Thời kỳ 1956 – 1972, các giống lợn Landrace, Yorkshire, Duroc,…đã được nhập khẩu vào miền Bắc để lai với các giống nội địa mà chủ yếu là giống Móng Cái để tạo ra con lai dùng nuôi thương phẩm Sau năm 1975, cùng với quá trình phát triển của ngành chăn nuôi lợn, công tác giống được nhà nước quan tâm thực hiện Nhiều giống lợn tiếp tục được nhập khẩu để nhân giống và lai giống phục vụ chăn nuôi thương phẩm Hiện nay, con nuôi thương phẩm ở Việt Nam bao gồm nhiều loại, cả giống ngoại và con lai từ nhiều giống khác nhau Các giống ngoại được sử dụng chủ yếu là Landrace, Yorkshire, Đại Bạch, Duroc,…Các giống này cũng thường được sử dụng làm đực giống lai với các giống nội để cho ra con lai F1, sau đó dùng con lai F1cho lai với đực giống ngoại để ra con lai F2 (3/4 máu ngoại)…làm con nuôi thương phẩm
* Nhu cầu sinh dưỡng và thức ăn cho lợn
Lợn là loài gia súc phàm ăn và có khả năng chuyển hóa các loại thức ăn từ cây trồng thành thịt hiệu quả hơn bất kỳ loại gia súc nào khác Nhu cầu cụ thể từng loại dinh dưỡng có sự khác nhau rất lớn theo từng đối tượng lợn Các thành phần dinh dưỡng chính cho nhu cầu của lợn bao gồm:
Năng lượng được coi là thành phần dich dưỡng quan trọng nhất và chiếm chi phí cao nhất trong tổng chi phí thức ăn cung cấp cho lợn Lợn cần năng lượng trước hết cần thiết cho hoạt động trao đổi chất tổng hợp nên các mô sinh trưởng mới, duy trì thân nhiệt trong môi trường lạnh,…Nhu cầu năng lượng của lợn thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng của con vật nuôi, theo hướng sản xuất cũng như nhiệt độ chuồng nuôi Lợn hướng nạc có nhu cầu năng lượng thấp hơn lợn hướng mỡ Chất bột đường
và chất béo là chất cơ bản cung cấp năng lượng cho cơ thể lợn phát triển Chất bột đường có nhiều trong ngũ cốc như: cám, gạo, ngô, khoai, mạch, sắn,…Với lợn, ngô vàng được coi là thức ăn cung cấp năng lượng tốt nhất vì có nhiều axit béo và nhiều caroten Chất béo cung cấp năng lượng nhiều nhất, gấp 2,5 bột đường và đạm, những nơi nào có mỡ cặn dư thừa như mỡ bò, mỡ lợn phế thải, dầu dừa cặn có thể bổ sung vào thức ăn để cung cấp năng lượng, tỷ lệ trộn vào thức ăn khoảng 5 - 10%
Chất đạm có vai trò quan trọng, có thể dùng làm nguồn năng lượng cho khoảng 23MJ/1 kg nhưng vai trò chính là cung cấp các axit amin Nó là thành phần không thể
Trang 22thay thế được, cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể, tham gia vào cấu tạo nên các mô trong cơ thể cũng như để tạo nên thịt, giúp lợn đẻ nhiều con, chất lượng tốt, tạo sức chống đỡ bệnh tật Nếu không đủ đạm, lợn con dễ sinh còi cọc, lông xù; lợn nái, lợn đực giống sinh sản kém Các loại thức ăn cung cấp protein chủ yếu là bột cá, bột thịt, đậu đỗ, khô dầu, bột máu và bột sữa
Khoáng chất và vitamin là những thành phần dinh dưỡng chiếm tỷ lệ rất thấp, khoảng 3% trong cơ thể nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của lợn Chất khoáng và vitamin được cung cấp chủ yếu bởi các loại thức ăn như bột xương, bột sò, muối ăn, các loại thức ăn bổ sung premix cũng như từ nhiều loại thức ăn khác Chất xơ không được xem là chất dinh dưỡng, nhưng thiếu chất xơ lợn bị táo bón, chất xơ gồm các loại rau, cỏ xanh, bột cỏ khô, cám bổi, nếu lợn ăn quá nhiều chất xơ, lợn sẽ chậm lớn vì thiếu chất đạm
Hiện nay, chăn nuôi lợn tồn tại 3 khuynh hướng như sau:
- Nguồn thức ăn cho lợn chủ yếu lấy từ hoạt động trồng trọt, hình thức này tồn tại chủ yếu ở các nông hộ
- Nguồn thức ăn cho lợn là hoàn toàn đi mua ngoài, hình thức này tồn tại ở các hộ gia đình phi nông nghiệp và các trang trại
- Nguồn thức ăn cho lợn kết hợp từ hai nguồn trên
Ngoài ra, nước cũng là thành phần có vai trò quan trọng trong nhiều hoạt động bên trong cơ thể lợn cũng như hỗ trợ khâu cho ăn và vệ sinh Lượng nước uống tự do thường bằng 8 – 9% khối lượng cơ thể, nếu lợn nái thiếu nước, lượng sữa sẽ ít và đặc, lợn thịt thiếu nước sẽ kém ăn, khó béo, nhưng uống nước quá nhiều sẽ chậm lớn
* Chuồng trại và chăm sóc
Lợn là loài được thuần dưỡng và được đưa vào chuồng nuôi từ lâu để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm cho con người Ngày nay, điều kiện chuồng trại, chăm sóc cho con lợn ngày càng được nâng cao nhằm tăng hiệu quả của quá trình chăn nuôi
Ở Việt Nam, con lợn cũng được nuôi từ rất lâu, cùng với quá trình phát triển của ngành chăn nuôi, điều kiện chuồng trại từ chỗ chủ yếu là tận dụng, quy mô nhỏ đã chuyển dần theo hướng hiện đại, quy mô lớn, ngày càng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu sinh trưởng và phát triển của lợn Lợn có thể sống được trong những điều kiện khí hậu
Trang 23rất khác nhau nhưng chúng chỉ thực sự cho thành tích sản xuất cao nhất trong điều kiện khí hậu nhất định phù hợp với từng loại lợn
Yêu cầu cơ bản về một chuồng trại hiện đại bao gồm: Thoáng mát về mùa hè, ấm
áp về mùa đông, tránh gió lùa, thích hợp với sinh lý, sinh trưởng và sinh sản của từng loại lợn, có tường ngăn vững chắc, nền chuồng không quá nhẵn nhưng cũng không quá nhám để vừa dễ cọ rửa vừa không làm cho lợn dễ trượt ngã, dộ dốc 2%; hệ thống máng ăn, vòi uống đầy đủ; có hệ thống làm mát bằng vòi phun nước hoặc quạt thông gió về mùa hè, ổ úm đèn với đèn sưởi về mùa đông cho lợn con mới sinh; số lợn trong một ngăn chuồng và diện tích mỗi ô chuồng phù hợp với tiêu chuẩn là 6 – 12m2, nuôi
từ 8 – 16 con tùy theo trọng lượng và điều kiện thời tiết
Bên cạnh yêu cầu về chuồng trại, công tác chăm sóc thú y cũng có vai trò quan trọng trong quá trình chăn nuôi Bệnh của lợn có nhiều loại và do nhiều nguyên nhân khác nhau như do bẩm sinh, do lây nhiễm, do thức ăn, do thoái hóa Trong đó, nguyên nhân lây nhiễm thường được quan tâm hơn cả bởi vì sự phát triển của ngành chăn nuôi ngày càng mạnh lên, quy mô có xu hướng tăng lên, sự giao lưu mua bán con giống, lợn thịt ngày càng lớn nên nguy cơ lây nhiễm cũng tăng theo Do vậy, trong chăn nuôi hiện nay cần thực hiện một số nguyên tắc: vệ sinh hàng ngày, tẩy chuồng sau mỗi lần xuất lợn, tiêm phòng vắc xin cho lợn, hạn chế người ngoài ra vào khu chăn nuôi, cách
ly và thông báo cho thú y khi có dịch
2.2 Hiệu quả, hiện quả sử dụng các yếu tố đầu vào và khả năng sinh lợi
2.2.1 Hiệu quả
Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế,
kỹ thuật, xã hội Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến
số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó
Hiệu quả kinh tế là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi
đã trừ chi phí Nó được đo bằng các chi phí và lời lãi Hiệu quả kinh tế được xem như
là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh Theo quan điểm mới khi tính hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào tổ hợp các yếu tố:
Trang 24- Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Về mối quan hệ này, có
ba phạm trù: Hiệu quả kỹ thuật; hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế + Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn vị đầu vào (I) đầu
tư thêm Tỷ số DO/DI được gọi là sản phẩm biên Hiệu quả kỹ thuật đòi hỏi nhà sản xuất tạo ra một số lượng sản phẩm nhất định xuất phát từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất Hiệu quả kỹ thuật được xem là một thành phần của hiệu quả kinh tế Trong trường hợp tối đa hóa lợi nhuận đòi hỏi nhà sản xuất phải sản xuất ra mức sản lượng tối đa tương ứng với mức nguồn lực đầu vào nhất định hay nói cách khác hiệu quả kỹ thuật dùng để chỉ sự kết hợp tối ưu các nguồn lực đầu vào để tạo ra mức sản lượng nhất định
+ Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá sản phẩm
và giá đầu vào Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên
+ Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm Nó chỉ đạt được khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa
- Yếu tố thời gian: Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng hai dự án có thể có hiệu quả khác nhau.Vì thế, khi tính yếu tố thời gian, các nhà kinh tế đã tính tỷ lệ nội hoàn vốn Đó là mức sinh lời của đồng vốn khi đầu tư vào dự án, nó được dùng để so sánh giữa việc tiếp tục đầu tư vào dự án hoặc đầu tư vốn vào việc khác xem việc nào có lợi hơn
- Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường: Theo quan điểm toàn diện, hiệu quả kinh tế nên được đánh giá trên ba phương diện: Hiệu quả tài chính, xã hội và hiệu quả môi trường
+ Hiệu quả tài chính thường được thể hiện bằng những chỉ tiêu như lợi nhuận, giá thành, tỷ lệ nội hoàn vốn, thời gian hoàn vốn,
+ Hiệu quả xã hội của một dự án phát triển bao gồm lợi ích xã hội mà dự án đem lại như: Việc làm, mức tăng về GDP do tác động của dự án, sự công bằng xã hội, sự
tự lập của cộng đồng và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơn của môi trường sinh thái Một số tác giả khác khi đánh giá hiệu quả kinh tế cho rằng cần phân biệt hai khái niệm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Còn hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa các lợi ích xã hội thu được và tổng chi phí bỏ ra
Trang 252.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
Các nhân tố về điều kiện tự nhiên và nguồn lực
Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn về cơ cấu sản xuất nông nghiệp của từng vùng lãnh thổ và cơ cấu sản xuất của mỗi vùng lại phụ thuộc khá lớn vào điều kiện tự nhiên, sinh thái:
- Đối tượng sản xuất của nông nghiệp là sinh vật, nó gắn liền với điều kiện tự nhiên, sinh thái của từng vùng, lãnh thổ Người ta không thể đem cây trồng, vật nuôi ở vùng hàn đới sang sản xuất ở vùng nhiệt đới, hoặc cũng không thể đem các loại cây trồng chỉ phát triển được ở vùng đất cao xuống trồng ở vùng đất ngập nước và ngược lại Như vậy, các yếu tố về tự nhiên là điều kiện đầu tiên hình thành cơ cấu sản xuất của một vùng lãnh thổ và hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp chịu tác động trực tiếp của điều kiện tự nhiên, sinh thái
- Ở những vùng đất đai màu mỡ, thời tiết khí hậu thuận lợi cho việc phát triển sản xuất các sản phẩm có giá trị kinh tế cao sẽ dẫn tới hiệu quả kinh tế cao Ngược lại, ở những vùng đất đai khô cằn, không màu mỡ sẽ làm cho cây trồng kém phát triển dẫn tới năng suất thấp và hiệu quả kinh tế sẽ thấp Mặt khác, nếu thời tiết không thuận lợi, thường gặp nhiều thiên tai như hạn hán hoặc lũ lụt, dịch bệnh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng, vật nuôi; làm cây trồng, vật nuôi phát triển kém và hiệu quả kinh
tế giảm đi
Các nguồn lực trong nông nghiệp cũng là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất Trong nông nghiệp, các nguồn lực quan trọng là đất đai, lao động, vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật…
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp Mọi hoạt động sản xuất trong nông nghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào nguồn lực đất đai Tuy nhiên, đất đai trong nông nghiệp ngày càng khan hiếm dần do chuyển đổi mục đích sử dụng theo yêu cầu của phát triển công nghiệp, dịch vụ và quá trình đô thị hóa Quy mô sản xuất là điều kiện quan trọng đối với việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ và như vậy, nó là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến giá thành sản xuất, điều đó cũng có nghĩa là nó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất (tính kinh tế và phi kinh tế của quy mô)
Trang 26- Nguồn lực lao động được xét trên hai mặt: Số lượng lao động và chất lượng lao động, trong đó yếu tố về chất lượng lao động có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế Ở những nơi có dân trí cao sẽ thuận lợi hơn trong việc áp dụng tiến
bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất làm tăng kết quả sản xuất, giảm chi phí đầu vào, kết quả sản xuất, hiệu quả kinh tế sẽ tăng và ngược lại
- Vốn đầu tư cho sản xuất là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh
tế trong sản xuất nông nghiệp Thực tế sản xuất cho thấy sản xuất thâm canh, đầu tư nhiều vốn, công nghệ cao sẽ có giá thành sản xuất thấp và như vậy, tất yếu hiệu quả kinh tế sẽ cao và ngược lại
- Cơ sở vật chất – kỹ thuật là yếu tố không kém phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp Ở những nơi có điều kiện thuận lợi
về giao thông, thủy lợi, điện, máy móc, hệ thống thông tin, cơ sở chế biến, các dịch vụ
và hạ tầng thương mại thì hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp sẽ tăng và ngược lại
Khoa học, công nghệ
Khoa học, công nghệ phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Khoa học, công nghệ trong nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả khoa học – kỹ thuật và công nghệ quản lý Tất cả những điều này đều ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản xuất và hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học – kỹ thụât và công nghệ, nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới, các quy trình kỹ thuật tiến bộ được đưa vào sản xuất đã làm tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, làm hạ giá thành sản phẩm nên hiệu quả kinh tế có xu hướng tăng lên
Quan hệ quản lý là một mặt thể hiện của quan hệ sản xuất Học thuyết của Mác đã chỉ ra quy luật: “Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” Khi lực lượng sản xuất đã phát triển nhưng quan hệ sản xuất trì trệ
sẽ kìm hãm các động lực phát triển, làm giảm hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất Như vật, tất yếu sẽ xảy ra một cuộc cách mạng để hình thành quan hệ sản xuất mới
Thị trường tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng và hết sức quan trọng của quá trình sản xuất, nó có ý nghĩa quyết định đến sản xuất và hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất nông nghiệp
Trang 27Nói đến thị ttrường là nói đến quan hệ cung – cầu trên thị trường Từ quan hệ cung – cầu sẽ hình thành giá cả thị trường và hiệu quả kinh tế trong sản xuất phụ thuộc rất lớn vào giá bán sản phẩm Chênh lệch giữa giá bán và giá thành sản xuất càng lớn thị hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Trong kinh tế thị trường, mục tiêu của người sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận Để có lợi nhuận cao, người sản xuất phải luôn bám sát nhu cầu của thị trường, phải giải quyết tốt 3 vấn đề: Lượng là bao nhiêu? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Nếu một sản phẩm nào đó được thị trường chấp nhận, có thị trường tiêu thụ và chiếm thị phần lớn trên thị trường thì sẽ giúp cho hiệu quả kinh tế của ngành đó tăng cao và ngược lại, nếu sản phẩm hàng hóa không tiêu thụ được sẽ ảnh hưởng đến tái sản xuất và hiệu quả kinh tế
Các nhân tố về thể chế, chính sách
Người sản xuất không phải bao giờ cũng toàn quyền quyết định việc bố trí cơ cấu sản xuất nông nghiệp bởi vì ở mỗi quốc gia đều có chiến lược phát triển nông nghiệp trong từng thời kỳ cụ thể
Chính phủ điều tiết các hoạt động sản xuất nông nghiệp cho phù hợp với các mục tiêu chiến lược đã được đặt ra thông qua hệ thống thể chế và các chính sách Như vậy, thể chế chính sách là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp Tùy theo tình hình thực tế, Nhà nước các cấp có thể có những quy định cụ thể trong việc định hướng cho nông dân bố trí cơ cấu sản xuất nhằm bảo đảm lợi ích chung của quốc gia, bảo đảm cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài Chính phủ có thể đưa ra các quyết sách bảo hộ hiệu quả sản xuất một sản phẩm nông nghiệp nào đó song cũng có thể làm cho hiệu quả sản xuất một loại nông sản nào đó bị giảm sút thông qua hệ thống chính sách và các biện pháp chế tài
Bằng hàng rào thuế quan, phi thuế quan và các biện pháp bảo hộ mậu dịch, một điều luật của quốc gia này có thể làm giảm hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở một quốc gia khác
2.2.3 Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất
Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào là khả năng tạo ra một lượng đầu ra cho trước từ một lượng đầu vào nhỏ nhất hay khả năng tạo ra một lượng đầu ra tối đa từ một lượng đầu vào cho trước, ứng với một trình độ công nghệ nhất định
Trang 28Giới hạn khả năng sản xuất được định nghĩa là đầu ra Y tối đa có thể sản xuất được (Maximum producible output) khi cho trước một vector đầu vào X, được định nghĩa dưới dạng toán học, giới hạn này là chuẩn mực để dựa trên đó đo lường hiệu quả
sử dụng các yếu tố đầu vào (Technial efficiency) của quá trình sản xuất
Một nhà sản xuất được xem là có hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào nếu một
sự gia tăng trong bất kỳ đầu ra đòi hỏi một sự giảm xuống của ít nhất một đầu ra khác hoặc một sự gia tăng của ít nhất một đầu vào
Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào thể hiện rất rõ tính chất của việc sử dụng các yếu tố đầu vào để đạt được các kết quả đầu ra Qua đó sẽ xác định được tính chất căn bản của việc đo lường sự hiệu quả Không mang tính chất khái quát hóa như hiệu quả kinh tế
2.2.4 Phương pháp phân tích màng dữ liệu (DEA)
Phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis – DEA) dùng để xây dựng đường giới hạn sản xuất, được đề xuất đầu tiên bởi Farrell (1957) Farell (1957) phân ra hiệu quả thành hai loại, đó là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bố
Phương pháp phân tích màng bao dữ liệu được phát triển bởi Charnes, Cooper,
và Rhodes vào năm 1978 Phương pháp DEA có các đặc trưng như: chỉ cho phép đánh giá hiệu quả tương đối của các doanh nghiệp được đánh giá, tức là hiệu quả giữa chúng
so với nhau Mức độ hiệu quả của các doanh nghiệp được xác định bởi vị trí của nó so với đường giới hạn hiệu quả trong một không gian đa chiều của đầu vào/đầu ra Phương pháp xây dựng đường giới hạn hiệu quả - đó là giải nhiều lần bài toán quy hoạch tuyến tính Đường giới hạn được hình thành giống như những đoạn thẳng kết nối các điểm hiệu quả nhất, nhờ đó tạo thành một đường giới hạn khả năng sản xuất lồi
Do tính chất phân mảnh, liên tục của đường giới hạn sản xuất phi tham số trong phương pháp DEA có thể dẫn đến vấn đề đo lường thiếu chính xác mức độ hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Vấn đề này phát sinh khi xuất hiện một phần của đường giới hạn sản xuất nằm song song với các trục toạ độ, điều này không xảy ra đối với hầu hết các đường giới hạn sản xuất có chứa tham số
Trang 29Điểm nổi bật của phương pháp DEA là nó có thể giải quyết các ràng buộc trong việc xác định dạng sản xuất và vô số các phương thức phân phối của phần dư Hơn nữa, ước lượng biên sản xuất dựa trên kết quả hiện có sẽ cho ta một đường biên gần với thực tế hơn Phương pháp này có thể áp dụng ở cấp độ doanh nghiệp với nhiều đầu
ra Tuy nhiên, phương pháp DEA cũng có những hạn chế của nó Thứ nhất, kết quả ước lượng (cho phần phi hiệu quả) hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm thống kê của các quan sát Vì vậy, kiểm định thống kê không thể áp dụng được trong phương pháp này Thứ hai, như đã được Sengupta (2002) nêu ra, DEA chỉ xem xét phía cung mà không xem xét phía cầu và những đặc trưng của thị trường Cuối cùng là độ nhạy, Timmer (1971) lập luận rằng DEA rất nhạy cảm với các quan sát cực trị Tức là khi một doanh nghiệp (hoặc một ngành) hoạt động hiệu quả hơn nhiều so với những doanh nghiệp khác, DEA có thể ước lượng quá cao phần phi hiệu quả của nó Dù có những hạn chế
đó, DEA đang ngày càng được sử dụng rộng rãi
Có hai phương pháp tiếp cận ước lượng giới hạn khả năng sản xuất là: phân tích màng dữ liệu trong trường hợp quy mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (Constant Return to Scale - CRS) và phân tích màng dữ liệu trong trường hợp quy mô ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (Variable Return to Scale - VRS) Cả hai mô hình DEACRS và DEAVRS đều được xây dựng với giả thiết tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào
mà không làm giảm sút đầu ra và tối đa hóa đầu ra dựa trên đầu vào có sẵn
Để so sánh phương pháp DEACRS và DEAVRS, ta xét điểm không đạt hiệu quả kỹ thuật P (Hình 2.1) Sự không hiệu quả kỹ thuật theo mô hình phân tích màng dữ liệu tối thiểu hóa đầu vào trong trường hợp qui mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (CRS) của điểm P là một khoảng cách PPc Trong khi đó, sự không hiệu quả kỹ thuật theo mô hình phân tích màng dữ liệu tối thiểu hóa đầu vào trong trường hợp qui mô ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (VRS) chỉ là PPv Sự khác biệt của hai mô hình đo lường này là do sự không hiệu quả về mặt qui mô Các khái niệm này có thể chỉ rõ trong đo lường hiệu quả tỉ lệ như sau:
TECRS = APc/ AP TEVRS = APv/ AP
Trang 30Hình 2.1 Mô hình phân tích màng dữ liệu tối thiểu hóa đầu vào DEA CRS và DEA VRS
Hệ số hiệu quả TECRS, TEVRS trong mô hình phân tích màng dữ liệu luôn nằm trong khoảng từ 0 đến 1
Mô hình tối thiểu hóa đầu vào quy mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất CRS với các bước cơ bản sẽ được trình bày dưới đây:
Giả sử có dữ liệu của công ty, mỗi công ty sử dụng N đầu vào và M đầu ra Với
công ty thứ i, dữ liệu về đầu vào được thể hiện bằng véctơ cột xi và đầu ra được diễn tả bằng véctơ cột yi Như vậy, số liệu đầu vào và đầu ra của tất cả các công ty được thể
hiện bằng ma trận X (N hàng, I cột) và ma trận Y (M hàng, I cột)
Phương pháp sử dụng các “tỷ lệ” được xem là phương pháp trực quan mô tả phân tích bao số liệu (DEA) Với mỗi công ty, chúng ta sẽ đo tỷ lệ của tổng số lượng các
sản phẩm đầu ra trên tổng số lượng các đầu vào đã sử dụng (u’yi/v’xi) với u là véc tơ
số lượng đầu ra (M hàng 1 cột); v là véc tơ số lượng đầu vào (N hàng 1 cột) Số lượng đầu vào và đầu ra tối ưu của công ty thứ i được tìm ra qua việc giải mô hình toán sau: max u,v (u’yi/v’xi)
St: u’yj/v’xj <= 1 j = 1,2,3….I (1)
u, v >= 0
Từ bài toán này ta có thể tìm được các số lượng đầu vào và đầu ra của công ty thứ i sao cho hệ số hiệu quả của nó (tổng đầu ra/tổng đầu vào) là lớn nhất với điều kiện
là hệ số hiệu quả của nó luôn nhỏ hơn hoặc bằng 1 Một vấn đề khó khăn có thể xảy ra
là nghiệm của bài toán) Để tránh trường hợp áp đặt v’xi = 1, sự thay đổi ký hiệu từ u
Trang 31và v sang , tương ứng, hàm ý rằng ta đã xét đến một mô hình toán tuyến tính tương
tự khác
max (’yi),
st ’xi = 1,
’yj -’xj 0, j= 1,2,…, N (2)
Mô hình DEA như (2) được xem là mô hình phức toán tuyến tính
Sử dụng tính chất đối ngẫu của mô hình toán tuyến tính chúng ta có thể phát triển một dạng mô hình đường bao số liệu tương ứng như sau:
(3)
Trong đó, θ - Đại lượng vô hướng, thể hiện mức độ hiệu quả của doanh nghiệp;
λ –Véc tơ hằng số Nx1
Bài toán (3) được giải N lần, nghĩa là từng lần đối với mỗi doanh nghiệp Như vậy
giá trị nghiệm được xác định cho từng doanh nghiệp Nếu = 1 nghĩa là doanh nghiệp đạt hiệu quả; < 1 nghĩa là doanh nghiệp không đạt hiệu quả Các doanh nghiệp không đạt hiệu quả có thể chiếu lên đường giới hạn hiệu quả, khi đó ta nhận được tổ hợp tuyến
tính (X, Y) – là vị trí của doanh nghiệp tham chiếu giả định Đối với các doanh nghiệp
không đạt hiệu quả (θ < 1) có thể thiết lập mục tiêu giảm tỷ lệ các yếu tố đầu vào một
đại lượng là trong khi vẫn giữ các giá trị xuất lượng như trước
Mô hình DEA theo định hướng tối thiểu hóa đầu vào với quy mô ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (DEAVRS), để ước lượng cho trường hợp này, bài toán (3) sẽ có thêm
, 0
, 0
), (
Y y
i i
0
11
,0
,0
),(
Y y i i
Trang 32* Ưu và nhược điểm của phương pháp DEA
DEA là một phương pháp đánh giá hiệu kỹ thuật ngày càng được áp dụng rộng rãi Những ưu điểm nổi bật của DEA là:
- Cho phép phân tích hiệu quả trong trường hợp gặp khó khăn trong giải thích mối quan hệ giữa nhiều nguồn lực và kết quả của nhiều hoạt động trong hệ thống sản xuất
- DEA có khả năng phân tích một số lượng lớn các yếu tố đầu vào và đầu ra
- Phương pháp cho phép đánh giá sự đóng góp của từng yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra trong tổng thể hiệu quả (hoặc không hiệu quả) của doanh nghiệp và đánh giá mức độ không hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực
Tuy nhiên, giống như mọi cách tiếp cận khác trong đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, DEA cũng có hàng loạt nhược điểm Đó là:
- Sai sót trong đo lường và nhiễu thống kê có thể ảnh hưởng đến hình dạng và vị trí đường giới hạn khả năng sản xuất
- Loại bỏ các yếu tố đầu vào hoặc đầu ra quan trọng ra khỏi mô hình có thể dẫn đến kết quả sai lệch
- Ước lượng hiệu quả thu được bằng cách so sánh với các doanh nghiệp thành công hơn trong mẫu Vì vậy, đưa thêm doanh nghiệp bổ sung vào phân tích có thể dẫn đến giảm các giá trị hiệu quả
- Cần thận trọng khi so sánh giá trị hiệu quả của hai nghiên cứu Các giá trị trung bình phản ánh phương sai của giá trị ước lượng hiệu quả bên trong mỗi mẫu, nhưng không nói gì về hiệu quả của một mẫu so với mẫu khác
- Thêm một doanh nghiệp vào phân tích DEA sẽ không làm tăng giá trị hiệu quả
sử dụng các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp hiện có trong mẫu
- Tương tự như vậy, thêm một yếu tố đầu vào hoặc đầu ra vào mô hình DEA không dẫn đến làm giảm giá trị của hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào
- Khi có một số nhỏ các doanh nghiệp tham gia phân tích với nhiều yếu tố đầu vào, đầu ra, thì sẽ có nhiều doanh nghiệp nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất
2.2.5 Khả năng sinh lợi
Khả năng sinh lợi (profitability) được định nghĩa là thước đo hiệu quả bằng tiền,
là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính Việc đánh giá khả năng
Trang 33sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu Khái niệm khả năng sinh lợi được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người
và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện Khả năng sinh lợi có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ
Nhìn chung, tùy theo mục tiêu phân tích, khả năng sinh lợi có thể được đại diện bởi nhiều nhóm chỉ số phân tích khác nhau
2.2.6 Những chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi
Nhìn chung, tùy theo mục tiêu phân tích, khả năng sinh lợi có thể được đại diện bởi nhiều nhóm chỉ số, tiêu biểu là:
* ROA - Tỷ số lợi nhuận trên tài sản
Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (hay Chỉ tiêu hoàn vốn tổng tài sản, Hệ số quay vòng của tài sản, Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản), thường viết tắt là ROA từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh là Return on Assets, là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp
Cách tính: Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm hay một năm) chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ Số liệu về lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận trước thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh Còn giá trị tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán Chính vì lấy từ bảng cân đối kế toán, nên cần tính giá trị bình quân tài sản doanh nghiệp
Công thức:
Lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế)
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản = 100% x
Bình quân tổng giá trị tài sản
Vì lợi nhuận ròng chia cho doanh thu bằng tỷ suất lợi nhuận biên, còn doanh thu chia cho giá trị bình quân tổng tài sản bằng hệ số quay vòng của tổng tài sản, nên còn cách tính tỷ số lợi nhuận trên tài sản nữa, đó là:
Tỷ số lợi nhuận trên tài sản = Tỷ suất lợi nhuận biên × Số vòng quay tổng tài sản
Ý nghĩa: Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình
Trang 34quân tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản
để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành nghề kinh doanh Do đó, người phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ sử dụng tỷ số này trong so sánh doanh nghiệp với bình quân toàn ngành hoặc với doanh nghiệp khác cùng ngành và so sánh cùng một thời kỳ
* ROE - Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay Tỷ suất thu nhập của vốn cổ đông hay Chỉ tiêu hoàn vốn cổ phần của cổ đông (có thể viết tắt là ROE từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh là Return on Equity) là tỷ số tài chính để đo khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ phần ở một công ty cổ phần
Cách tính: Lợi nhuận trong tỷ số này là lợi nhuận ròng dành cho cổ đông, lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty cổ phần, tính trong một thời kỳ nhất định (1 tháng, 1 quý, nửa năm hay 1 năm) gọi là kỳ báo cáo
Công thức:
Lợi nhuận ròng
Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = 100% x
Bình quân vốn cổ phần phổ thông
Ý nghĩa: Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE cho biết cứ 100 đồng vốn chủ
sở hữu của công ty cổ phần này tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là công ty làm ăn có lãi; nếu mang giá trị âm là công ty làm ăn thua lỗ
* Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = 100% x
Doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu có thể tính cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc cũng có thể tính cho toàn bộ hoạt động tại doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết với một đồng doanh thu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó chỉ ra mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận Đây là 2 yếu tố liên quan rất mật thiết, doanh thu chỉ ra vai trò, vị trí doanh nghiệp trên thương trường và lợi nhuận lại thể hiện chất lượng, hiệu quả cuối cùng của doanh nghiệp Như vậy, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là chỉ
Trang 35tiêu thể hiện vai trò và hiệu quả của doanh nghiệp Tổng mức doanh thu, tổng mức lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu càng lớn thì vai trò, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng tốt hơn
* Các chỉ số sinh lợi thường dùng trong lĩnh vực nông nghiệp
Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, do tài nguyên thiên nhiên như đất, mặt nước là các đầu vào rất quan trọng trong sản xuất Thực sự, việc định giá các tài sản này là rất khó Hơn nữa, nông dân do kiến thức hạn chế, họ thường chỉ quan tâm trong năm một đơn vị diện tích đất sẽ mang lại cho họ bao nhiêu tiền Do vậy, các chỉ số về khả năng sinh lợi thường được sử dụng là:
- Thặng dư sản xuất/hec-ta: Là doanh thu/hec-ta trừ đi chi phí biến đổi/hec-ta, chỉ
số này cho biết khả năng tái đầu tư của sản xuất trong ngắn hạn Thực sự, nếu chỉ số này âm, nông dân sẽ rơi vào nợ nần nặng nề, khó có khả năng tiếp tục sản xuất được
vụ kế tiếp
- Thu nhập/hec-ta: Là thặng dư/hec-ta trừ đi các chi phí cố định (chưa tính khấu hao đất, mặt nước và công lao động của nông hộ) Đây là cách tính lãi truyền thống của nông hộ khi họ thường cho rằng lấy công làm lãi và đất có bỏ không cũng vậy thôi
- Lợi nhuận/hec-ta: Là thặng dư/hec-ta trừ đi khấu hao đất, mặt nước và công lao động của nông hộ Đây chính là lợi nhuận thực sự của nông hộ Chỉ số này dương cho thấy nông hộ có đủ khả năng tái đầu tư trong dài hạn Sự bền vững của sản xuất chỉ thực sự đạt được nếu lợi nhuận/hec-ta dương
2.3 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan
2.3.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam đã có một số các công trình nghiên cứu liên quan đến hiệu quả chăn nuôi lợn như:
- Phùng Thăng Long, Hoàng Mạnh Quân và Lê Đình Phùng (2009) đã nghiên cứu các yếu tố hạn chế, đề xuất và thử nghiệm giải pháp kỹ thuật nâng cao năng suất
và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt ở các hộ nông dân tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Kết quả cho thấy các hộ điều tra có quy mô chăn nuôi khá lớn: 9,37 con/hộ, trong đó tỷ lệ lợn thịt chiếm khoảng 75% tổng đàn Khoảng 96% các hộ chăn nuôi lợn theo phương thức tận dụng Trong điều kiện thực tế chăn nuôi ở Quảng Trạch, việc áp dụng quy trình kỹ thuật mới để nuôi lợn thịt 3/4 máu ngoại đã nâng cao tốc độ sinh trưởng đàn lợn 34,19%
Trang 36- Hồ Ngọc Ninh và Trần Đình Thao (2006) đánh giá thực trạng hợp tác trong trong phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc ở xã Cửu Cao, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế trong chăn nuôi lợn hướng nạc
- Lê Văn Hưng (2007) đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế của các trang trại chăn nuôi lợn, phát hiện những khó khăn vướng mắc và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và kết quả kinh tế của các loại trang trại chăn nuôi lợn ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Nghiên cứu cho thấy các tiến bộ về giống, thức ăn, chuồng trại, quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng ngày càng được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi trang trại, vì vậy năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả chăn nuôi được cải thiện đáng kể
- U Lemke L T Thuy, A Valle Zárate, B Kaufmann và N D Vang (2002) nghiên cứu tập trung chủ yếu vào đặc điểm của các hộ chăn nuôi lợn quy mô nhỏ ở miền núi phía bắc dựa trên số liệu khảo sát thực địa tại một số điểm ở Sơn La Nghiên cứu cố gắng đánh giá sự thích hợp của các giống nội và so sánh hiệu quả với một số giống cải tiến
Nghiên cứu cũng đưa ra những đánh giá chung về hiệu quả của các mô hình sản xuất khác nhau, các loại hộ sản xuất khác nhau, giữa các nhóm sản xuất dựa trên nhu cầu thị trường chủ yếu tăng thu nhập và nhóm sản xuất dựa theo nguồn lực hiện có vừa tăng thu nhập cho tiêu thụ gia đình và tạo công ăn việc làm ổn định cuộc sống Nghiên cứu cũng cho thấy sự khác nhau về việc áp giống giữa các nhóm hộ và đánh giá những khó khăn và giải pháp hỗ trợ phát triển chăn nuôi miền núi
- Lương Tất Nhợ, Đinh Xuân Tùng và D.H Giang (2001) nghiên cứu phân tích hiệu quả chăn nuôi lợn của các hộ gia đình tại hai huyện Nam Sách (Hải Dương) và Thái Thụy (Thái Bình) Nghiên cứu cho thấy hiệu quả chăn nuôi của các loại hộ khác nhau, nhìn chung hiệu quả chăn nuôi thấp Nghiên cứu cũng phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới giá thành chăn nuôi như giá thức ăn, giá giống Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy những yếu tố khác có ảnh hưởng tới hiệu quả chăn nuôi như trình độ chủ hộ, khoảng cách thị trường,
2.3.2 Công trình nghiên cứu ngoài nước
Kết quả nghiên cứu Vivien Knips (2004) trích từ Viện Kinh tế nông nghiệp (2005) về khu vực chăn nuôi ở các nước trong vùng sống Mê Kông Đây là một báo
Trang 37cáo tổng quan về tình hình sản xuất, chăn nuôi, tiêu thụ và các chính sách của một số nước trong vùng sông Mê Kông như Việt Nam, Thái Lan, Lào và Camphuchia Trong nghiên cứu này, bên cạnh việc đánh giá xu hướng sản xuất, tiêu dùng hiện tại các tác giả cũng đưa ra những dự báo nhu cầu tiêu thụ của các nước đối với một số sản phẩm chăn nuôi nói chung và thịt lợn nói riêng Nhìn chung, xu hướng tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi sẽ tăng lên trong thời gian tới và sẽ tiếp tục có tác động tích cực tới sản xuất Nghiên cứu cũng đưa ra những hình thức sản xuất của khác nhau của các nước trong khu vực sông Mê Kông đối với các loại vật nuôi khác nhau
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng mô tả hệ thống phân phối và tiêu thụ của các nước trong khu vực Mặc dù sự phân tích này trong quy mô nhưng cũng cho thấy được bức tranh chung về hệ thống và kênh tiêu thụ của các nước khác nhau
Tóm tắt chương 2
Chương này trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết về chăn nuôi, hiệu quả kinh
tế, hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, khả năng sinh lợi, đặc điểm kinh tế kỹ thuật của nghề chăn nuôi lợn, những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi Bên cạnh đó, chương cũng tổng quan các nghiên cứu trước trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài, từ đó tìm ra cơ hội nghiên cứu cho đề tài
Trang 38CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu của đề tài được tổ chức nghiên cứu định lượng Dữ liệu thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp chủ hộ và bản câu hỏi là một công cụ dùng
để thu thập các thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề nghiên cứu của đề tài Từ việc nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thí điểm để xây dựng và điều chỉnh bảng câu hỏi phù hợp với thời gian thực hiện và mục tiêu nghiên cứu của đề tài Bản câu hỏi sẽ tập trung vào việc thu thập các thông tin quan trọng mà mục tiêu nghiên cứu của đề tài đã đặt ra
Dữ liệu sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, thu được
170 mẫu có ý nghĩa và đầy đủ dữ liệu Vì trong quá trình điều tra và nhập liệu có thể xảy ra thiếu sót hay sai lệch nên dữ liệu được tiến hành làm sạch trước khi thống kê
và tính toán các chỉ tiêu cần thiết Điều này đảm bảo cho số liệu đưa vào phân tích đầy
đủ và thống nhất nhằm mục đích đưa ra kết quả có độ chính xác cao hơn Phương pháp thực hiện làm sạch là sử dụng bảng tần số để rà soát lại tất cả các biến quan sát nhằm tìm ra các biến thông tin sai lệch hay thiếu sót
3.2 Phương pháp chọn mẫu
- Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: Chọn mẫu là quá trình chọn lựa một bộ phận tương đối nhỏ từ một tổng thể, với tư cách là đại diện cho tổng thể nghiên cứu Chọn mẫu nghiên cứu là phương pháp ưu việt hơn phương pháp điều tra tổng thể Việc chọn mẫu được tiến hành điều tra các đối tượng mang tính đại diện cho tổng thể Sau khi có thông tin thu được từ mẫu nghiên cứu sẽ suy rộng cho các đặc tính của tổng thể nghiên cứu Cụ thể, mẫu nghiên cứu trong đề tài này được chọn bằng phương pháp lấy
mẫu hạn ngạch
- Kích thước mẫu cần thu thập: Trong phân tích thống kê kích thước mẫu cần thu thập phải đủ lớn để đạt được mục tiêu của đề tài và cần phải đạt được độ tin cậy nhất định Bằng phương pháp lấy mẫu hạn ngạch, dựa trên số liệu tổng đàn chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tại Bảng 3.1, nghiên cứu sẽ chọn 10% số hộ chăn nuôi tại mỗi nhóm
Trang 39Bảng 3.1 Số liệu tổng đàn lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa năm 2016
nuôi lợn
Số lượng (con)
Số hộ chăn nuôi lấy mẫu
Nguồn: Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Cam Lâm (2016)
Như vậy, xuất phát từ đặc điểm của tổng thể và nhằm đảm bảo tính đại diện, nâng cao độ tin cậy trong kết quả phân tích, nghiên cứu thực hiện khảo sát tại 170 hộ chăn nuôi ở huyện Cam Lâm, cụ thể là: Cam Hòa (23 hộ), Cam Thành Bắc (24 hộ), Cam An Bắc (11 hộ), Suối Tân (26 hộ), Cam Tân (18 hộ) và 09 xã, thị trấn còn lại (68 hộ)
3.3 Loại dữ liệu thu thập
3.3.1 Dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn sau:
- Các báo cáo hàng năm của Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Cam Lâm về tình hình chăn nuôi ở địa phương
- Thu thập thông qua số liệu niên giám thống kê của huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa
- Thu thập thông tin qua báo chí và Internet
3.3.2 Dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 170 hộ chăn nuôi lợn
ở các xã và thị trấn của huyện Cam Lâm bằng bảng câu hỏi đã được chuẩn hóa với mục đích nghiên cứu
* Giai đoạn chuẩn bị
Dựa trên mục tiêu của đề tài là nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa, xây
Trang 40dựng bảng câu hỏi gồm 4 phần: Thông tin chung về hộ chăn nuôi lợn, hiện trạng chăn nuôi lợn của hộ gia đình, thông tin về nguồn vốn và thông tin về doanh thu
Dựa vào bảng câu hỏi đã lập tiến hành điều tra thử: Đây là công việc khá quan trọng, bởi vì thông qua việc điều tra thử sẽ biết được vấn đề nảy sinh trong quá trình phỏng vấn và có biện pháp khắc phục
* Lập kế hoạch điều tra
Sau khi thực hiện việc điều tra thử, có hướng điều chỉnh trong quá trình phỏng vấn, hoàn chỉnh bảng câu hỏi và tiến hành lập kế hoạch và tiến hành điều tra
* Phương pháp thu thập số liệu
Quá trình thu thập dữ liệu được tiến hành theo các bước sau:
- Tự giới thiệu về bản thân, mục đích phỏng vấn
- Thực hiện một số thao tác thuyết phục và giúp cho người được phỏng vấn an tâm, mục đích của bài phỏng vấn chỉ mang tính chất nghiên cứu viết bài, mọi thông tin
cá nhân về các hộ nuôi đều được giữ bí mật
- Trong quá trình phỏng vấn, bắt đầu câu hỏi theo thứ tự từ trên xuống dưới; nếu khó trả lời thì chuyển qua câu hỏi dễ trả lời sau đó lại tiếp tục với những câu khó
- Kiểm tra nhanh chóng xem những câu hỏi đã hoàn tất chưa, nếu chưa thì tiếp tục
- Kết thúc phỏng vấn
3.4 Công cụ phân tích dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích màng dữ liệu (DEA) và kiểm định trung bình mẫu độc lập để đánh giá hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn; sử dụng hàm hồi quy tobit để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lợi của nghề chăn nuôi lợn
3.4.1 Khung tính toán các chỉ tiêu sản xuất
Đề tài sử dụng bốn chỉ tiêu để đánh giá kết quả kinh tế của nghề chăn nuôi lợn bao gồm: Doanh thu, chi phí, thặng dư nhà sản xuất và khả năng sinh lợi
* Doanh thu
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế thu được hoặc dự kiến thu được trong kì kinh doanh, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức hay doanh nghiệp