BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN THÀNH DŨNG PHÂN TÍCH MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT CỦA CÁC HỘ DÂN THÀNH PHỐ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THÀNH DŨNG
PHÂN TÍCH MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT CỦA CÁC HỘ DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THÀNH DŨNG
PHÂN TÍCH MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT CỦA CÁC HỘ DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Văn Ngọc
Chủ tịch Hội Đồng:
TS Lê Kim Long
Khoa sau đại học:
KHÁNH HÒA - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Phân tích mức sẵn lòng chi trả đối với
dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Khánh Hòa, Ngày 22 tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, UBND thành phố Vinh, Chi cục thống kê thành phố Vinh đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài
Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ban giám hiệu trường Đại Học Nha Trang, khoa Sau Đại học cùng các quý thầy cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Văn Ngọc đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài này Qua đây, tôi xin gủi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các bác, các cô, các anh, chị ở UBND thành phố Vinh, Chi cục thống kê thành phố Vinh cùng nhân dân thành phố Vinh đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cũng như cung cấp cho tôi những tài liệu cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình và tất cả bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện
đề tài
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, Ngày 22 tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Dũng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 3
1.5.2 Phương pháp phân tích 3
1.6 Ý nghĩa của đề tài 4
1.7 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý luận về môi trường và chất thải rắn 5
2.1.1 Môi trường và ô nhiễm môi trường 5
2.1.2 Chất thải và chất thải rắn 7
2.1.3 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt 10
Trang 62.1.4 Xử lý chất thải rắn sinh hoạt 11
2.2 Giá trị môi trường và mức sẵn lòng chi trả của người dân về dịch vụ thu gom, vận chuyển xử lý chất thải rắn sinh hoạt 16
2.2.1 Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường 16
2.2.2 Đường cầu và thặng dư người tiêu dùng 19
2.2.3 Các phương pháp định giá tài nguyên môi trường 24
2.3 Phương pháp tạo dựng thị trường xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân về thu gom và xử lý rác thải 25
2.3.1 Cơ sở lý thuyết của phương pháp tạo dựng thị trường (CVM) 25
2.3.2 Trình tự áp dụng của phương pháp tạo dựng thị trường 27
2.3.3 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp tạo dựng thị trường 30
2.4 Một số nghiên cứu liên quan đến mức sẵn lòng chỉ trả (WTP) 31
2.4.1 Trên thế giới 31
2.4.2 Tại Việt Nam 32
2.5 Mô hình nghiên cứu 34
Tóm tắt chương 2: 35
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Qui trình nghiên cứu 36
3.2 Phương pháp chọn mẫu 36
3.3 Loại dữ liệu và thu thập dữ liệu 37
3.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp 37
3.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp 37
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 37
3.4.1 Phương pháp thống kê kinh tế 37
3.4.2 Phương pháp tạo dựng thị trường CVM 38
3.4.3 Phương pháp hồi quy 40
Tóm tắt chương 3 42
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
4.1 Tổng quan về thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 43
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 43
Trang 74.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 44
4.2 Thực trạng môi trường và công tác thu gom, quản lý, xử lý môi trường tại thành phố Vinh 46
4.2.1 Thực trạng môi trường thành phố Vinh 46
4.2.2 Thực trạng công tác thu gom, quản lý, xử lý môi trường tại thành phố Vinh 47
4.2.3 Những thách thức về rác thải sinh hoạt tại thành phố Vinh 49
4.3 Ước lượng mức sẵn lòng chi trả để thu gom và xử lý rác thải thành phố Vinh 49
4.3.1 Quá trình điều tra thu thập số liệu 49
4.3.2 Xác định mức sẵn lòng chi trả cho việc thu gom và xử lý rác thải tại thành phố Vinh 52
4.3.3 Mô hình hồi quy mức sẵn lòng chi trả để thu gom và xử lý rác thải tại thành phố Vinh 67
4.3.4 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tới mức sẵn lòng chi trả để thu gom và xử lý rác thải tại thành phố Vinh 71
Tóm tắt chương 4 75
CHƯƠNG 5 BÀN LUẬN KẾT QUẢ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 76
5.1 Bàn luận kết quả nghiên cứu 76
5.2 Một số gợi ý chính sách 77
5.2.1 Thực hiện tốt công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường .77
5.2.2 Nâng cao trình độ học vấn cho người dân tại thành phố 78
5.2.3 Xây dựng các cơ chế chính sách để thúc đẩy mạnh hơn quá trình phân loại rác thải tại nguồn 78
5.2.4 Định hướng và giải pháp cho việc quản lý, bảo vệ môi trường nói chung, của môi trường rác thải sinh hoạt nói riêng 79
5.3 Hạn chế của nghiên cứu 84
5.4 Kiến nghị 85
Tóm tắt chương 5 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DS-KHHGĐ : Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các kỹ thuật để tìm hiểu mức sẵn lòng chi trả 29
Bảng 4.2 Kết quả tổng hợp về đánh giá hiệu quả thu gom rác của công ty môi trường đô thị Nghệ An 48
Bảng 4.3 Kết quả tổng hợp về thời gian thu gom rác của công ty môi trường đô thị Nghệ An 48
Bảng 4.4 Phân bố mẫu điều tra 51
Bảng 4.5 Một số đặc điểm cơ bản của người được phỏng vấn 52
Bảng 4.6 Trình độ học vấn của người được phỏng vấn 53
Bảng 4.7 Thu nhập của người được phỏng vấn 54
Bảng 4.8 Khối lượng rác thải ra hàng ngày từ dân cư thành phố Vinh 55
Bảng 4.9 Đánh giá sự cần thiết của việc thu gom và quản lý rác thải 55
Bảng 4.10 Đánh giá tình trạng và nguyên nhân phát sinh rác thải sinh hoạt 56
Bảng 4.11 Sự nhận biết về dịch vụ thu gom và quản lý rác thải và kênh nhận biết 57
Bảng 4.12 Sự nhận biết về chi trả dịch vụ thu gom và quản lý rác thải và mục đích chi trả 58
Bảng 4.13 Trách nhiệm chi trả đối với dịch vụ thu gom và quản lý rác thải 58
Bảng 4.14 Nhận thức của hộ về lợi ích của việc đóng phí dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt 59
Bảng 4.15 Sự nhận biết về lợi ích của dịch vụ thu gom và quản lý rác thải mang lại cho người dân 61
Bảng 4.16 Tham gia tập huấn, hội họp để nghe tuyên truyền và phổ biến dịch vụ thu gom và quản lý rác thải và vấn đề chi trả cho dịch vụ 61
Bảng 4.17 Các mục đích của quỹ giả định cho thu gom và xử lý rác thải tại khu vực nghiên cứu 64
Bảng 4.18 Mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Vinh 65
Bảng 4.19 Lý do sẵn lòng chi trả cho dịch vụ 66
Bảng 4.20 Hình thức chi trả 66
Bảng 4.21 Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả 70
Bảng 4.22 Kết quả mẫu thử nghiệm độc lập giữa học vấn và WTP 74
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ quản lý chất thải 10
Hình 2.2 Sơ đồ phân loại tổng giá trị kinh tế của tài nguyên 18
Hình 2.3 Đường cong chi phí cận biên 21
Hình 2.4 Mức sẵn lòng chi trả và thặng dư tiêu dùng 22
Hình 2.5 Một số phương pháp định giá tài nguyên môi trường 24
Hình 2.6 Trình tự các bước tiến hành áp dụng phương pháp tạo dựng thị trường 28
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu 34
Hình 4.2 Đồ thị biểu thị sự tương quan giữa thu nhập với WTP 72
Hình 4.3 Đồ thị biểu thị sự tương quan giữa nghề nghiệp với WTP 73
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Nhận thức về vấn đề môi trườngf khi không có dịch vụ thu gom và quản lý rác thải 60
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài nghiên cứu “Phân tích mức sẵn lòng chi trả đối với dịch vụ thu gom,
vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ gia đình tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”, mục tiêu là để ước lượng mức sẵn lòng trả cho dịch vụ thu gom, vận
chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ gia đình tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của chúng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ gia đình tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Phương pháp nghiên cứu gồm: (i) Phương pháp nghiên cứu định tính (Phân tích tài liệu; Khảo sát chuyên gia & thảo luận nhóm); (ii) Phương pháp nghiên cứu định lượng (Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM); Thống kê mô tả; Phân tích hồi quy
đa biến)
Nghiên cứu được thực hiện trên 300 phiếu điều tra tại các hộ dân thuộc thành phố Vinh Mẫu nghiên cứu được lấy bằng phương pháp chọn mẫu phi xác suất và theo định mức (Quota sampling) để chọn ra số lượng hộ sẽ điều tra/phường, xã; sau đó dùng phương pháp lấy mẫu thuận tiện để tiến hành khảo sát tại từng hộ cụ thể Kết quả nghiên
(ii) Sự lựa chọn các mức sẵn lòng chi trả của người dân chủ yếu xuất phát từ lý
do “Phù hợp với thu nhập của gia đình”
(iii) Hầu hết người dân được hỏi đều mong muốn việc thu phí dịch vụ thu gom và quản lý rác thải vào định kỳ hàng tháng (tỷ lệ 87%/tổng số được điều tra) và việc thu
phí vẫn duy trì như thành phố đã và đang thực hiện lâu nay (có nhân viên đến thu trực tiếp từng hộ bằng biên lai thu phí riêng vào định kỳ hàng tháng)
Trang 12Về các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả:
Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến WTP đối với thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ gia đình tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ
An gồm: thu nhập, tuổi, học vấn, nghề nghiệp của người dân Trong đó, thu nhập bình quân mỗi người trong hộ gia đình là yếu tố tác động mạnh nhất, kế đến là yếu tố nghề
nghiệp và cuối cùng là yếu tố số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình
Từ khóa: Rác thải sinh hoạt, Sẵn lòng chi trả, Thành phố Vinh, Vệ sinh môi trường
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu
Ô nhiễm môi trường là vấn đề nhức nhối đối với toàn xã hội, nhất là trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay Sự phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển, đời sống người dân không ngừng được cải thiện Bên cạnh đó, thách thức về môi trường cũng rất lớn, gây ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống của người dân đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường ở khu vực đô thị Nhà nước hiện không có đủ nguồn lực để có thể cung ứng đầy đủ và thỏa đáng các dịch vụ công bao gồm cả dịch vụ thu gom và vận chuyển rác thải Muốn giải quyết vấn đề môi trường cần phải có sự quan tâm và đầu tư nhiều hơn của cả xã hội Cần nhấn mạnh vai trò của người dân vì từ trước đến nay vấn đề môi trường vẫn bị coi là nhiệm vụ riêng của các
cơ quan chức năng trong khi các hộ gia đình vừa là đối tượng thải rác sinh hoạt, vừa là đối tượng phải chịu ảnh hưởng của sự ô nhiễm chính môi trường sinh hoạt do rác mà
họ thải ra Để có sự kết hợp chặt chẽ với người dân cùng giải quyết vấn đề trên, nhiệm
vụ của các cơ quan chức năng là phải tìm hiểu thái độ, nguyện vọng, nhu cầu của người dân, cụ thể là xác định mức độ sẵn sàng của họ trong việc đóng góp hành động
và đặc biệt là chi trả tiền cho dịch vụ môi trường Từ đó xây dựng kế hoạch đồng bộ từ trên xuống, giữa các khâu với nhau trong việc thu gom, quản lý, xử lý CTRSH để quá trình này mang lại hiệu quả nhiều hơn cho xã hội Đề tài xác định cầu hàng hóa dịch
vụ môi trường của các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu nhằm xây dựng một quỹ giả định về hàng hóa dịch vụ môi trường (thu gom, quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt)
để giúp người dân hưởng bầu không khí trong lành và một cảnh quan đẹp hơn
Thành phố Vinh là đô thị loại I và là thành phố có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, đồng thời là trung tâm phát triển kinh tế xã hội của khu vực Bắc Trung Bộ Vì vậy trong quá trình xây dựng và phát triển, đã tạo ra một lượng lớn rác thải, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Nguyên nhân chủ yếu là do người dân chưa ý thức được mối nguy hại của rác thải tới môi trường và sức khỏe của họ nên việc xả thải còn bừa bãi, không đúng nơi quy định Bên cạnh đó việc thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt do các cơ quan chức năng thực hiện vẫn chưa được tốt tỷ lệ thu gom xử lý rác thải sinh hoạt mới đạt 60 – 70%, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng môi trường bị ảnh hưởng
Trang 14Chính vì vậy, để góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân cũng như các bộ phận có liên quan tới môi trường thành phố, nhằm hạn chế mức độ ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt, nâng cao môi trường sống ở thành phố Vinh cần phải có cách nhìn nhận và đánh giá nghiêm túc vấn đề ô nhiễm môi trường tại khu vực này trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp để cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng môi trường sống, mỹ quan đô thị thành phố Vinh
Từ những lý do nêu trên là cơ sở để tác giả lựa chọn đề tài: Phân tích mức sẵn
lòng chi trả đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An làm Luận văn thạc sĩ của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích mức sẵn lòng chi trả đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm khuyến khích người dân tham gia chi trả dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt
hộ dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Kiểm định sự khác biệt của các yếu tố nhân khẩu học đối với mức sẵn lòng chi trả
- Đề xuất một số biện pháp nhằm khuyến khích người dân tham gia chi trả dịch
vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt của người dân tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An như thế nào?
- Người dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nhận thức như thế nào về rác thải sinh hoạt họ thải ra và các vấn đề liên quan đến rác thải? Công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt có được người dân quan tâm không?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Trang 15- Người dân có sẵn lòng chi trả dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và mức phí là bao nhiêu cho hợp lý Giải pháp gì để nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề rác thải sinh hoạt đối với bảo vệ môi trường sống và cải thiện môi trường
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ dân thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An
- Khách thể nghiên cứu: Các hộ dân sinh sống trên địa bàn thành phố Vinh, Nghệ An
- Đối tượng khảo sát: 300 hộ dân tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Mức sẵn lòng chi trả đối với dịch vụ thu gom, vận
chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu thực hiện tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Phạm vi về thời gian: Dữ liệu khảo sát được thu tập trong khoảng tháng 8 – 9/2016
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Nguồn số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập từ cục thống kê, phòng
kinh tế, Sở tài nguyên môi trường tỉnh Nghệ An
- Nguồn số liệu sơ cấp: Căn cứ vào tình hình kinh tế, vị trí địa lý, phạm vi thời
gian nghiên cứu, tiến hành chọn đại diện, điển hình để tiến hành điều tra bằng phiếu đã xây dựng trước Đưa ra số liệu tổng quan nhất, không bị sai lệch quá nhiều, nghiên cứu này tiến hành điều tra
1.5.2 Phương pháp phân tích
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, ngoài các phương pháp truyền thống như: thống kê kinh tế, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp,…Đặc biệt là hồi quy đa biến để xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến mức sẵn lòng chi trả trả đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Trang 161.6 Ý nghĩa của đề tài
Về mặt khoa học:
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến mức sẵn lòng chi trả, các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với dịch vụ thu gom rác thải
Về mặt thực tiễn:
Đề tài này góp phần giúp các nhà quản lý môi trường tại thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An có thể đưa ra mức chi trả hợp lý nhất cho việc vận chuyển thu gom xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ dân
1.7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần tài liệu tham khảo, danh mục và phụ lục, luận văn được cấu trúc thành
5 chương cụ thể:
Chương 1: Giới thiệu
Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Các vấn đề cơ bản về lý thuyết về kinh tế môi trường và kinh tế chất thải, những
phương pháp tiếp cận, đánh giá giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường hiện nay
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Khái quát toàn bộ quy trình nghiên cứu của đề tài với hai bước nghiên cứu chính là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Khái quát các phương pháp để thực hiện đề tài
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu về thành phố Vinh và thực trạng về vấn đề thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn thành phố; những thách thức đặt ra đối với vấn đề thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Vinh Bên cạnh đó, kết quả điều tra các hộ gia đình trên địa bàn thành phố đối với dịch vụ này cũng được phân tích và trình bày cụ thể và những yếu tố có tác động đến mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom và
quản lý rác thải sinh hoạt
Chương 5: Bàn luận kết quả và kiến nghị
Trình bày phần kết luận và đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm cải thiện dịch
vụ thu gom và quản lý rác thải tại thành phố Vinh
Trang 17CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về môi trường và chất thải rắn
2.1.1 Môi trường và ô nhiễm môi trường
2.1.1.1 Khái niệm Môi trường
Có rất nhiều quan điểm đưa ra các khái niệm về môi trường, một số định nghĩa của một số tác giả đã nêu ra như sau:
- Theo Masn và Langenhim, 1957: Môi trường là tổng hợp các yếu tố tồn tại xung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật Ví dụ một bông hoa mọc trong rừng,
nó chịu ảnh hưởng của các điều kiện nhất định như: nhiệt độ, ánh sáng, không khí, đất, các khoáng chất trong đất , nghĩa là toàn bộ những vật chất có khả năng gây ảnh hưởng đến quá trình tạo nên bông hoa, kể cả những thú rừng, những cây cối bên cạnh Các điều kiện môi trường đã quyết định sự phát triển của sinh vật
- Theo luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kì họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người; có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật
Theo Võ văn Minh, 2007: Môi trường được hiểu là các yếu tố vật chất tự nhiên
và nhân tạo, lý học, hoá học, sinh học cùng tồn tại trong một không gian bao quanh con người Các yếu tố đó có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau và tác động lên các
cá thể sinh vật hay con người để cùng tồn tại và phát triển Tổng hoà của các chiều hướng phát triển của từng nhân tố này quyết định chiều hướng phát triển của cá thể sinh vật của hệ sinh thái và của xã hội con người”
2.1.1.2 Chức năng của môi trường
Đối với sinh vật nói chung và con người nói riêng thì môi trường sống có các chức năng cơ bản sau:
- Môi trường là không gian sống cho con người và thế giới sinh vật Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi một người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động sống như: nhà ở, nơi nghỉ, nơi để sản xuất
- Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người Rừng tự nhiên: có chức năng cung cấp nước, bảo tồn tính đa dạng sinh học và độ phì nhiêu của đất, nguồn gỗ củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái
Trang 18- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong quá trình sống Trong quá trình sống, con người luôn đào thải ra các chất thải vào môi trường Tại đây các chất thải dưới tác động của vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác sẽ bị phân huỷ, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản và tham gia vào hàng loạt các quá trình sinh địa hoá phức tạp
- Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Môi trường trái đất được xem là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Bởi vì chính môi trường trái đất là nơi cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người
- Bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài Các thành phần trong môi trường còn có vai trò trong việc bảo vệ cho đời sống của con người và sinh vật tránh khỏi những tác động từ bên ngoài như: tầng Ozon trong khí quyển có nhiệm vụ hấp thụ và phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượng mặt
2.1.1.3 Ô nhiễm môi trường
Theo khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014: “Ô nhiễm môi trường
là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”
- Dưới góc độ sinh học, khái niệm này chỉ tình trạng môi trường trong đó những chỉ số hóa học, lý học của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi
- Dưới góc độ kinh tế học, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lý, hoá học, sinh học, mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe con người, các loài động thực vật và các điều kiện sống khác
- Dưới góc độ pháp lý, ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người,
sinh vật (khoản 6 điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005)
- Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa ô nhiễm môi trường là việc chuyển các chất thải hoặc nguyên liệu vào môi trường đến mức có khả năng gây hại cho sức khoẻ con người và sự phát triển sinh vật hoặc làm giảm chất lượng môi trường sống
Trang 192.1.2 Chất thải và chất thải rắn
2.1.2.1 Khái niệm
Theo khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014: “Chất thải là vật chất
Quy trình này có thể là quy trình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, hoạt động
du lịch, giao thông vận tải Chất thải ra từ hoạt động đời sống, từ khu dân cư và cả các hoạt động du hành vũ trụ cũng đều là chất thải Chất thải của một quá trình sản xuất này chưa hẳn đã là chất thải của quá trình sản xuất khác, thậm chí nó còn có thể là nguyên liệu cho quá trình sản xuất tiếp theo Chất thải có thể ở dạng khí, lỏng hoặc rắn
Chất thải rắn là chất thải có dạng rắn Chất thải rắn còn được gọi là rác thải, ngay trong vũ trụ cũng có chất thải gọi là rác vũ trụ, đó là những mảnh vỡ của các vệ tinh, các mảnh tên lửa bị loại bỏ
2.1.2.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn
- Hộ gia đình: rác thải phát sinh từ những thực phẩm thừa, carton, plastic, vải,
da, gỗ vụn, thuỷ tinh, kim loại, tro bếp, lá cây, các chất thải đặc biệt (đồ điện, điện tử hỏng, pin lốp xe ) và các chất thải độc hại
- Thương mại: rác phát sinh từ các nhà kho, quán ăn, chợ, văn phòng, khách sạn, trạm xăng chủ yếu là đồ ăn thừa, dầu mỡ, giấy báo
- Cơ quan (trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính ) rác thải ở đây giống như rác thải thương mại
- Xây dựng: các công trình mới, tu sửa từ nhà ở đến công viên, trường học, bệnh viện, khách sạn chủ yếu là vôi vữa bê tông, gạch, thép, cốt pha
- Dịch vụ công cộng: rửa đường, rác du lịch (rác công viên, bãi biển, các danh lam thắng cảnh )
- Công nghiệp: công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ đều phát sinh ra rác thải, chất thải như giấy vụn, hoá chất
- Nông nghiệp: các hoạt động nông nghiệp cũng là nguồn phát sinh chất thải như đốt tro, thuốc trừ sâu
Trang 202.1.2.3 Phân loại chất thải rắn
Rác thải được phân loại theo nhiều cách khác nhau:
- Theo nguồn tạo thành, chất thải rắn được phân thành các loại
+ Chất thải rắn sinh hoạt: là chất thải rắn được sản sinh trong sinh hoạt hàng ngày của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại
+ Chất thải rắn công nghiệp: là chất thải rắn của các cơ sở sản xuất (từ cá thể thủ công đến công nghiệp nhà máy)
+ Chất thải rắn xây dựng: là các phế thải như cát đá, bê tông, vôi vữa do các hoạt động phá vỡ công trình, xây dựng công trình
+ Chất thải rắn: là những chất thải được thải ra từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp Ví dụ: trồng trọt chăn nuôi, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm chế biến từ sữa
Chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ lệ lớn nhất trong 3 loại rác thải trên Lượng rác thải sinh hoạt thải ra phụ thuộc vào 2 yếu tố chính đó là sự phát triển kinh tế và tỷ lệ gia tăng dân số
- Theo mức độ nguy hại chất thải rắn được phân thành:
+ Chất thải rắn nguy hại: bao gồm các loại hoá chất dễ cháy gây phản ứng độc hại, chất thải sinh hoạt để thối rữa, các chất dễ cháy nổ hoặc các chất phóng xạ, các chất nhiễm khuẩn lây lan, có nguy cơ đe dọa sức khoẻ con người và sinh vật
+ Chất thải rắn y tế nguy hại: là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có những đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc có khả năng tương tác với các chất khác gây nguy hại tới sức khoẻ cộng đồng và môi trường Theo quy chế quản lý chất thải y tế, các loại rác thải y tế nguy hại được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn trong các bệnh viện, trạm y tế
+ Chất thải rắn không nguy hại: là những loại chất thải không chứa các chất và hợp chất gây nguy hại trực tiếp và có khả năng tương tác thành phần
Trang 212.1.2.4 Tác động của chất thải rắn
- Ô nhiễm môi trường nước
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Phước Các chất thải rắn, nếu là chất thải hữu cơ, trong môi trường nước sẽ bị phân huỷ một cách nhanh chóng Phần nổi lên mặt nước
sẽ có quá trình khoáng hoá chất hữu cơ để tạo ra các sản phẩm trung gian sau đó là những sản phẩm cuối cùng là chất khoáng và nước Phần chìm trong nước sẽ có quá trình phân giải yếm khí để tạo ra các hợp chất trung gian và sau đó là những sản phẩm cuối cùng như CH4, H2S, H2O, CO2 Tất cả các chất trung gian đều gây mùi thối và là độc chất Bên cạnh đó còn bao nhiêu vi trùng và siêu vi trùng làm ô nhiễm nguồn nước
Nếu chất thải rắn là những chất kim loại thì nó gây lên hiện tượng ăn mòn trong môi trường nước Sau đó quá trình oxy hoá có oxy và không có oxy xuất hiện, gây nhiễm bẩn cho môi trường nước, nguồn nước Những chất thải độc như Hg, Pb hoặc các chất thải phóng xạ còn nguy hiểm hơn
- Ô nhiễm môi trường đất
Các chất thải hữu cơ còn được phân huỷ trong môi trường đất trong hai điều kiện yếm khí và hiếu khí, khi có độ ẩm thích hợp qua hàng loạt sản phẩm trung gian cuối cùng tạo ra các chất khoáng đơn giản, các chất H2O, CO2 Nếu là yếm khí thì sản phẩm cuối cùng chủ yếu là CH4, H2O, CO2 gây độc cho môi trường Với một lượng vừa phải thì khả năng làm sạch của môi trường đất khiến rác không trở thành ô nhiễm Nhưng với một lượng rác quá lớn thì môi trường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm
Ô nhiễm này sẽ cùng với ô nhiễm kim loại nặng, chất độc hại theo nước trong đất chảy xuống mạch nước ngầm, làm ô nhiễm nước ngầm, Khi nước ngầm đã bị ô nhiễm thì không còn cách gì cứu chữa được
- Ô nhiễm môi trường không khí
Các chất thải rắn thường có bộ phận có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí Cũng có những chất thải có khả năng thăng hoa phát tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp Cũng có loại rác, trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích
kết quả của quá trình là gây ô nhiễm không khí
Trang 22- Nước rỉ rác từ rác và tác hại của nước rỉ rác
Ở những đống rác lớn mà trong rác chứa một lượng nước nhất định hoặc mưa xuống làm rác có một lượng nước ngấm vào rác thì tạo ra một loại nước rỉ rác Trong nước rỉ rác chứa chứa những chất hòa tan, những chất lơ lửng những chất hữu cơ và nấm bệnh Khi những chất này ngấm xuống đất, nước làm ô nhiễm môi trường đất, nước ngầm
2.1.3 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt
- Quản lý chất thải rắn sinh hoạt là các hoạt động phân loại rác, thu gom rác,
vận chuyển, tái sản xuất, tái chế và cuối cùng là xử lý tiêu hủy Mỗi công đoạn đều có vai trò rất quan trọng, có tính quyết định đối với việc tạo lập hệ thống quản lý chất thải hiệu quả nhằm giảm thiểu các rủi ro đối với môi trường và sức khỏe con người
- Hoạt động của các công ty môi trường địa phương trên cả nước đã có những tiến bộ đáng kể, phương thức tiêu hủy chất thải đã được cải tiến nhưng chất thải vẫn đang là mối nguy hại đối với môi trường và sức khỏe con người
Sơ đồ quản lý chất thải rắn
Hình 2.1: Sơ đồ quản lý chất thải
Nguồn: Dẫn theo Nguyễn Đức Kiển (2002)
Trang 23 Hệ thống thu gom
- Thu gom ở trong nhà, trong công xưởng, nhà máy sản xuất
- Hệ thống thu gom rác ở bên ngoài bằng các bô đựng rác và hệ thống gom rác để đổ vào các xe chở rác Mỗi nước có hệ thống gom rác khác nhau
Ở Anh người ta thu gom chất thải rắn sinh hoạt bằng cách ở mỗi điểm rác, người ta để ba thùng nhựa có bánh xe, mỗi thùng đựng một loại rác nhất định: giấy vụn, chai lọ thuỷ tinh và rác tạp bẩn Người xả rác bỏ mỗi loại rác vào một túi nilon mỏng chuyên dụng bán sẵn Người công nhân thu gom rác có mức lương cao hơn mức lương của công nhân đi làm ở trong các nhà máy Các công ty sản xuất vật dụng
vệ sinh công cộng, kể cả túi đựng rác, được giảm hoặc miễn thuế Nhà nước bù lỗ nâng
đỡ những nhà máy chế biến rác, làm cho ngành này phát triển để bảo vệ môi trường
Hệ thống vận chuyển rác
Hệ thống vận chuyển gồm nhiều phương tiện: trong những hẻm nhỏ vận chuyển rác bằng xe thô sơ và nhân viên thu gom rác bằng phương pháp thủ công Ở các thành phố lớn thường có các loại xe có côngtennơ vận chuyển hoặc côngtennơ cố định đối với các nước tiên tiến, công việc thu gom rác đường phố có xe chuyên dùng quét, thu gom, ép, vận chuyển
2.1.4 Xử lý chất thải rắn sinh hoạt
Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật nhằm
biến đổi, loại bỏ, cách ly, tiêu huỷ hoặc phá huỷ tính chất, thành phần nguy hại của rác thải (kể cả việc tái chế, tận thu, thiêu đốt, đồng xử lý, cô lập, chôn lấp) với mục đích cuối cùng là không gây tác động xấu đến môi trường và sức khoẻ con người
Các phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt:
2.1.4.1 Ủ rác thành phân bón hữu cơ (composting)
Ủ rác hữu cơ thành phân bón hữu cơ (composting) là phương pháp khá phổ biến
ở các quốc gia đang phát triển và ở các nước phát triển (quy mô hộ gia đình)
Việc ủ rác thành phân bón hữu cơ có ưu điểm là giảm được đáng kể khối lượng rác, đồng thời tạo ra được của cải vật chất, giúp ích cho công tác cải tạo đất Chính vì vậy, phương pháp này được ưa chuộng ở những quốc gia nghèo và đang phát triển
Trang 24Công nghệ ủ rác có thể được phân chia thành hai loại:
- Ủ hiếu khí
Ủ rác hiếu khí là một công nghệ được sử dụng rộng rãi vào khoảng hai thập kỷ gần đây, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam
Công nghệ ủ rác hiếu khí dựa trên sự hoạt động của các vi khuẩn hiếu khí với
sự có mặt của oxy Các vi khuẩn hiếu khí có trong thành phần rác khô thực hiện quá
tối ưu cho vi khuẩn hoạt động, quan trọng nhất là không khí và độ ẩm
Sự phân huỷ hiếu khí diễn ra khá nhanh, chỉ sau 2- 4 tuần là rác được phân huỷ hoàn toàn Các vi khuẩn gây bệnh và côn trùng bị huỷ diệt do nhiệt độ ủ dâng cao Bên cạnh đó mùi hôi cũng bị huỷ nhờ quá trình ủ hiếu khí độ ẩm phải được duy trì tối ưu ở 40- 55%, ngoài khoảng nhiệt độ này quá trình phân huỷ sẽ bị chậm lại
- Ủ yếm khí
Công nghệ ủ yếm khí được sử dụng rộng rãi ở Ấn độ (chủ yếu ở quy mô nhỏ) Quá trình ủ này nhờ vào sự hoạt động của các vi khuẩn yếm khí Công nghệ này không đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu tốn kém, song nó cũng có nhược điểm sau:
+ Thời gian phân huỷ lâu thường từ 4 - 12 tháng
+ Các vi khuẩn gây bệnh luôn tồn tại cùng với quá trình phân huỷ vì nhiệt độ phân huỷ thấp
+ Các khí sinh ra từ quá trình phân huỷ yếm khí là khí mêtan và khí sulphuahydro gây ra mùi hôi khó chịu
Mặc dù vậy, phải thừa nhận phương pháp ủ yếm khí là một biện pháp xử lý rác thải rẻ tiền Sản phẩm phân huỷ có thể kết hợp rất tốt với phân hầm cầu và phân gia súc (đôi khi cả than bùn) cho ta phân hữu cơ với hàm lượng dinh dưỡng cao tạo độ xốp cho đất
2.1.4.2 Đổ thành đống hay bãi rác hở (open dums)
Đây là phương pháp cổ điển đã được loài người áp dụng từ rất lâu Từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại người ta đã biết đổ rác bên ngoài tường các thành luỹ - lâu đài và
Trang 25ở cuối hướng gió Cho đến nay, phương pháp này vẫn còn được áp dụng ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới Phương pháp này có nhiều nhược điểm như sau:
- Tạo cảnh quan khó coi, gây cảm giác khó chịu khi con người thấy hay bắt gặp chúng
- Đống rác thải là môi trường thuận lợi cho các loài động vật gặm nhấm, các loài côn trùng, các vi sinh vật gây bệnh sinh sôi, nảy nở gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người
- Các bãi rác hở bị phân huỷ lâu ngày sẽ rỉ nước và tạo nên vùng lầy lội, ẩm ướt
và từ đó hình thành các dòng nước rò rỉ chảy thấm vào các tầng đất bên dưới, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, hoặc tạo thành dòng chảy tràn, gây ô nhiễm nguồn nước mặt
Bãi rác hở sẽ gây ô nhiễm không khí do quá trình phân huỷ rác tạo thành các khí có mùi hôi thối, mặt khác ở các bãi rác hở còn có thêm hiện tượng “cháy ngầm” hay có thể cháy thành ngọn lửa và tất cả các quá trình trên sẽ dẫn đến nạn ô nhiễm không khí
Có thể nói, đây là phương pháp rẻ tiền nhất, chỉ tiêu tốn chi phí cho công việc thu gom và vận chuyển rác từ nơi phát sinh đến bãi rác Tuy nhiên phương pháp này lại đòi hỏi một diện tích bãi thải lớn, do vậy ở các thành phố đông dân cư và quỹ đất khan hiếm thì nó lại trở thành phương pháp đắt tiền cộng với nhiều nhược điểm như đã nêu ở trên
2.1.4.3 Bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh (sanitary landfill)
Phương pháp này được nhiều đô thị trên thế giới áp dụng trong quá trình xử lý rác thải Ở Hoa Kỳ có trên 80% lượng rác thải đô thị được xử lý bằng phương pháp này, hoặc ở các nước Anh, Nhật Bản, người ta cũng hình thành các bãi chôn rác thải
vệ sinh theo kiểu này
Bãi chôn rác vệ sinh được thực hiện bằng nhiều cách, mỗi ngày trải rác thành lớp mỏng, sau đó nén ép chúng lại bằng các loại xe cơ giới, sau cùng là trải lên các lớp rác bị nén chặt một lớp đất mỏng khoảng 15 cm Công việc này cứ thế tiếp tục, việc thực hiện các bãi rác vệ sinh có nhiều ưu điểm
- Do bị nén chặt và phủ đất lên trên nên các loài côn trùng, chuột, bọ, ruồi muỗi khó có thể sinh sôi nảy nở
- Các hiện tượng cháy ngầm hay cháy bùng khó có thể xảy ra, ngoài ra giảm thiểu được mùi hôi thối, ít gây ô nhiễm không khí
Trang 26- Góp phần làm giảm nạn ô nhiễm nước ngầm và nước mặt
- Các bãi rác sau khi bị phủ đầy, có thể được xây dựng thành các công viên giáo dục, làm nơi sinh sống và phát triển của các loài động thực vật, qua đó góp phần tăng cường tính đa dạng sinh học cho các đô thị Nơi đây các thế hệ trẻ có thể học hỏi về thế giới sinh vật và các vấn đề sinh thái
- Chi phí điều hành các hoạt động của bãi rác không quá cao
Tuy nhiên việc việc hình thành các bãi chôn rác vệ sinh cũng có một số nhược điểm:
- Các bãi rác đòi hỏi diện tích đất lớn Một thành phố đông dân có số lượng rác thải càng nhiều thì cần diện tích bãi thải càng lớn Người ta ước tính một thành phố có quy mô 10.000 dân thì một năm thải ra một lượng rác có thể lấp đầy diện tích 1 ha với chiều sâu khoảng 3 m
- Các lớp đất phủ ở các landfill thường hay bị gió thổi mòn và phát tán đi xa
- Các bãi rác thường tạo ra khí metan hoặc khí hydrogen sufide độc hại có khả năng gây cháy nổ hay gây ngạt Tuy nhiên người ta có thể thu hồi khí metan làm khí đốt
và cung cấp nhiệt cho sinh hoạt
2.1.4.4 Đốt rác (incineration)
Đốt rác ở đây được hiểu là sự đốt rác có kiểm soát các chất thải rắn có thể đốt được Tuy nhiên nó không đơn giản chỉ là việc đốt cháy một bãi rác ngoài trời Đốt rác là một phương pháp được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng Thông thường, người ta xây
cháy cả kim loại, thuỷ tinh, Xử lý rác thải bằng cách đốt trong lò này có nhiều ưu điểm:
- Đốt cháy hay tiêu huỷ các loại côn trùng, sinh vật gây bệnh, các chất gây ô nhiễm
- Diện tích xây dựng các nhà đốt rác thường nhỏ hơn nhiều diện tích các bãi rác
- Các lò đốt có thể làm giảm khối lượng của rác thải từ 80- 90%, số tro hay các chất còn sót lại có thể đem chôn ở các bãi rác thậm chí thải bỏ xuống biển, đại dương
- Các lò đốt có thể xây dựng không xa các thành phố (trong khi các bãi rác thường phải xây dựng khá xa các đô thị) do đó chi phí vận chuyển rác được giảm đi
- Nhiệt phát ra trong quá trình đốt rác được thu hồi, để cung cấp cho các nhà máy điện, cho các nhà máy hay các khu dân cư đô thị
Trang 27- Các lò đốt sẽ ít gây ô nhiễm đất, kể cả ô nhiễm không khí nếu được trang bị các thiết bị xử lý bụi và khí thải
- Các lò đốt có thể xử lý được các chất thải rắn có chu kỳ phân huỷ rất lâu dài như vỏ xe, đệm cao su, các loại thiết bị và đồ dùng gia đình
Bên cạnh các ưu điểm trên, phương pháp đốt rác có những nhược điểm khá cơ bản như: chi phí thiết bị máy móc và xây dựng nhà máy khá cao, chi phí vận chuyển các lò đốt rác thường cao so với các bãi rác, nhiều chất thải có thể tái thu hồi và tái chế bị đốt cháy cả Tính trung bình cứ 10 tấn chất thải khi bị đốt cháy sẽ tạo ra 1 tấn tro và các chất còn sót lại, tuy nhiên chúng lại là chất thải độc hại vì chứa các kim loại độc hại
2.1.4.5 Chôn rác thải dưới biển (supmarine disposal)
Ở New York, trước đây chất thải rắn được chở đến các bến cảng bằng những đoàn xe lửa riêng, sau đó chúng được các xà lan chở đem chôn dưới biển ở độ sâu tối thiểu 100 feets, nhằm tránh tình trạng lưới đánh cá bị vướng mắc Ngoài ra ở San Francisco, New York và một số thành phố ven biển khác của Hoa Kỳ người ta còn xây dựng các bãi ngầm nhân tạo (artifical reefs) trên cơ sở sử dụng các khối gạch bê tông phá vỡ từ các công trình xây dựng, hoặc thậm chí các ô tô thải bỏ Làm điều này vừa giải quyết được vấn đề chất thải, vừa đồng thời tạo nên nơi trú ẩn cho các loài sinh vật biển
2.1.4.6 Phương pháp nhiệt phân
Đây là cách xử lý rác thải tương tự như chúng ta làm than hầm (charcoal), có nghĩa là sử dụng nhiệt đốt bên ngoài để loại trừ dần không khí trong rác Phương pháp này có nhiều điểm thuận lợi như sau:
- Quá trình nhiệt phân là một quá trình kín nên ít tạo ra khí thải gây ô nhiễm
- Có thể thu hồi nhiều vật chất sau khi nhiệt phân Ví dụ: 1 tấn rác thải đô thị ở Hoa Kỳ sau khi nhiệt phân có thể thu lại 2 gallons dầu nhẹ (light oil), 5 gallons hắc ín và nhựa đường, 25 pounds chất ammonium sulfate, 230 pounds than, 133 gallons chất lỏng chứa rượu (liquor) Tất cả các chất kể trên đều có thể tái sử dụng làm nguyên liệu
Trang 282.2 Giá trị môi trường và mức sẵn lòng chi trả của người dân về dịch vụ thu gom, vận chuyển xử lý chất thải rắn sinh hoạt
Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Nói đến kinh tế là nói đến
sở hữu và lợi ích
Môi trường là một loại hàng hóa đặc biệt Môi trường cung cấp nhiều dịch vụ cho nền kinh tế xã hội như: môi trường nước cung cấp nước cho sinh hoạt, nước cho sản xuất, cung cấp thủy sản ; môi trường đất cung cấp nơi canh tác, nơi ở Nhưng trong nhiều trường hợp, môi trường lại là hàng hóa công cộng, vì mọi người đều có thể sử dụng mà không ảnh hưởng đến cá nhân khác, ví dụ như môi trường không khí,
ai cũng có quyền được hít thở mà không thể ngăn cản người khác cũng hít thở không khí Hiện nay, môi trường đang cung cấp các dịch vụ không có giá hoặc thấp hơn giá trị thực của nó dẫn đến sử dụng quá mức hoặc cố ý hay vô ý làm tổn thương môi trường Nên việc định giá môi trường có vai trò quan trọng nhằm phân bổ và sử dụng tài nguyên một cách họp lý và bảo vệ môi trường
Định giá môi trường là gán giá trị tiền tệ cho hàng hóa hay dịch vụ môi trường hay những tác động do thay đổi chất lượng môi trường Định giá môi trường giúp ta xác định những tác động lượng hóa được và không lượng hóa được trong phân tích lợi ích - chi phí hay những giá trị có thể quy thành tiền được và không quy thành tiền được Mục tiêu chính của định giá tài nguyên môi trường là tìm ra mức tiền mà cá nhân hoặc xã hội bằng lòng chi trả (Willingness To Pay) cho hàng hóa tài nguyên, môi trường
2.2.1 Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường
Chúng ta đã biết, tiền tệ là phương tiện chính trong lưu thông hàng hoá, nhưng không phải bất cứ loại hàng hoá nào cũng được xác định thông qua tiền tệ, đặc biệt là hàng hoá môi trường, đối với những loại hàng hoá này khó có thể cân đo đong đếm và khó có thể định lượng được Do đó, thất bại thị trường thường diễn ra đối với những loại hàng hoá này vì chưa định giá hoặc định giá chưa phù hợp
Vì vậy, việc định giá tài nguyên, môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất
là trong việc phân bổ và sử dụng tài nguyên môi trường một cách hợp lý Trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài, những vấn đề liên quan chủ yếu đến định giá tài nguyên môi trường là tổng giá trị kinh tế (TEV) của tài nguyên môi trường, giá trị thặng dư (CS), mức bằng lòng chi trả (WTP)
Trang 29Theo lý thuyết kinh tế của Munasinghe,1992 (trích từ bài giảng Kinh tế môi trường của Chu Thị Thu, 2012)Theo lý thuyết kinh tế, tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường chính là tổng giá trị sử dụng và các giá trị không sử dụng của tài nguyên môi trường đó, cụ thể:
Trong đó:
TEV: Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường
UV: Giá trị sử dụng là giá trị rút ra từ hiệu quả sử dụng thực của tài nguyên môi trường Chẳng hạn, người dân vào rừng lấy củi, gỗ để đun nấu; đi ngắm nhìn các danh lam thắng cảnh, Hay nói cách khác, đây chính là giá trị mà các cá nhân gắn với việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ tài nguyên môi trường cung cấp (Koop và Smith 1993)
NUV: Giá trị không sử dụng là thành phần giá trị của nguồn tài nguyên môi trường thu được không phải do việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch
vụ do nguồn tài nguyên cung cấp (Koop và Smith 1993)
Là những giá trị mà không có trong tính toán và khó có khả năng lượng hoá Trong thực tế nó không biểu hiện rõ ràng, nó thường thể hiện các giá trị nằm trong bản thân hàng hoá môi trường gọi là giá trị tuỳ thuộc nghĩa là phụ thuộc vào mục đích chi tiêu của con người cho nó là có giá trị Bao gồm giá trị của chức năng bảo tồn văn hoá làng xã truyền thống, bảo tồn tài nguyên sinh học, giữ gìn cảnh quan đẹp
Ví dụ, Sự tồn tại của giá trị của những người không có điều kiện đến thăm quan nhưng rất hạnh phúc để biết về sự tồn tại của quần thể thực vật và hệ động vật vô danh trong vùng đầm lầy thông qua những bức tranh hoặc những thước phim Hay người ta có thể hài lòng khi biết rằng mưa rừng tồn tại trong lưu vực sông Amazon
Như vậy, đặc thù về giá trị của hàng hoá môi trường nên phương pháp đánh giá tác động môi trường khác biệt với đánh giá kinh tế khác
Sự khuyết tật của kinh tế thị trường thể hiện trong việc xác định giá trị sử dụng
và các giá trị (chẳng hạn lợi ích) của môi trường tự nhiên đã không biểu hiện trong hệ thống tài khoản quốc gia Hay giá trị phi sử dụng, có khi dương, có khi âm không bao giờ được đề cập đến trong hệ thống này
Trang 30Học thuyết kinh tế hiện nay thật sự đã nhận thấy tầm quan trọng của giá trị phi
sử dụng ngày càng tăng lên Việc xây dựng một con đập hoặc sự cải tạo vùng đầm lầy hoặc gây ra sự tuyệt chủng của quần thể thực vật, động vật, hoặc giảm bớt chức năng
tự nhiên của hệ sinh thái hay những con sông bị ô nhiễm bởi rác thải…từ công nghiệp Tất cả những chi phí của sự huỷ hoại môi trường cần thiết được biết đến
Theo Munasinghe (1992) Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên được phân loại theo hợp phần như sau:
Hình 2.2: Sơ đồ phân loại tổng giá trị kinh tế của tài nguyên
Nguồn: Munasinghe (1992)
Giá trị sử dụng trực tiếp (Direct Use Value - DUV): Là giá trị của tài sản, tài
nguyên có thể dùng hoặc tiêu thụ trực tiếp Người ta thường phân loại giá trị này như
là hàng hoá hữu hình
Giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value - IUV): Lợi ích mang lại một cách gián
tiếp cho người sử dụng như du lịch sinh thái, chống sói mòn, bơi lội, bơi thuyền, picnicking,
là những hoạt động mà tài nguyên thiên nhiên mang lại gián tiếp cho con người
Giá trị lựa chọn
và gián tiếp tương lai
GTSD và không sử dụng cho tương lại
GT từ nhận thức
sự tồn tại của tài nguyên
Trang 31Giá trị lựa chọn (Option Value- OV): Được hình thành khi một cá nhân có thể
tự đánh giá cách lựa chọn để lựa chọn các nguồn tài nguyên môi trường trong tương lai đó chính là giá trị môi trường mà lợi ích trong tương lai đang tiềm ẩn và giá trị đó
sẽ thực sự được sử dụng trong hiện tại Chẳng hạn như khi cá nhân đó đối mặt với sự không chắc chắn về vấn đề môi trường có được đảm bảo hay không, đó chính là giá trị
sử dụng trong tương lai
Giá trị để lại (Bequest Value- BV): Chính là phần giá trị thu được từ sự mong
muốn sẽ bảo tồn các nguồn tài nguyên môi trường cho thế hệ hiện tại và tương lai đối với nhiều nguồn tài nguyên môi trường thì tổng giá trị phi sử dụng có thể lớn hơn rất nhiều so với tổng giá trị của tài nguyên môi trường
Giá trị tồn tại (Existence Value-EV): Là thành phần hiện có trong nội tại bản
thân các tài nguyên môi trường, hay những giá trị này có được qua các cá nhân nhận biết được sự tồn tại của tài nguyên môi trường
Đối với nhiều nguồn tài nguyên môi trường thì tổng giá trị phi sử dụng có thể lớn hơn rất nhiều so với tổng giá trị của tài nguyên môi trường
Từ đó biểu thức (2.1) có thể viết lại như sau:
Trong đó:
DUV: Giá trị sử dụng trực tiếp IUV: Giá trị sử dụng gián tiếp OV: Giá trị lựa chọn
BV: Giá trị để lại EV: Giá trị tồn tại Giá trị không sử dụng có thể nhận được bằng cách lấy tổng giá trị tài nguyên trừ
đi giá trị sử dụng của nó:
2.2.2 Đường cầu và thặng dư người tiêu dùng
2.2.2.1 Đường cầu - Sự bằng lòng trả và đường cầu xã hội
- Bằng lòng trả tiền (Willingness To Pay- WTP)
Để đo lường lợi ích môi trường, trong xã hội một số khái niệm thường được các nhà kinh tế môi trường sử dụng là "bằng lòng trả tiền"
Trang 32Một cá nhân đã ưa thích hàng hoá nào đó thì họ sẵn sàng trả tiền để có loại hàng hoá dịch vụ đó (MWTP), khi đó họ sẽ hy sinh việc tiêu thụ loại hàng hoá khác Bằng phương pháp điều tra chi tiêu của người đó, ta xét quy luật lựa chọn mua từng đơn vị hàng hoá từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc
Giả sử đơn vị hàng hoá đầu tiên mà người này bằng lòng trả (MWTP) là 38.000 đồng, sau đó đơn vị hàng hoá thứ hai MWTP là 26.000 đồng, hàng hoá thứ ba MWTP là 17.000 đồng
Như vậy, sự bằng lòng trả tiền giảm xuống, điều đó phù hợp với tính quy luật là khi có số đơn vị tiêu thụ tăng lên, sự bằng lòng trả tiền cho các đơn vị mua thêm của hàng hoá đó thường sẽ giảm xuống
Khái niệm toàn bộ là sự bằng lòng trả tiền cho một mức tiêu thụ có liên quan với tổng số tiền của một người bằng lòng chi trả Trong ví dụ trên, toàn bộ bằng lòng trả tiền để tiêu thụ lượng hàng hoá 81.000 đồng; trên thực tế, đó là cộng chiều cao của các hình chữ nhật, tương ứng với mỗi đơn vị hàng hoá:
WTP1 + WTP2 + WTP3 = WTPT
Vẽ đường cong để minh họa cho thấy sự bằng lòng trả tiền cận biên đường cong này chính là đường cầu cá nhân hình thành bởi các điểm nối của mức bằng lòng trả của mỗi cá nhân (MWTP)
- Đường cầu xã hội
Đường cầu xã hội được hiểu là tổng hợp các nhu cầu của mọi thành viên trong
xã hội Vì sự bằng lòng chi trả của các thành viên trong xã hội khác nhau đối với một mặt hàng nào đó, nên đường cầu xã hội là tổng số các đường cầu của các cá nhân đường cầu xã hội tổng hợp các đường cong bằng lòng trả tiền cận biên của các cá nhân
- Lợi ích
Lợi ích (benefits) là một thuật ngữ mà các nhà kinh tế thường sử dụng có nghĩa
là bao gồm tất cả phần lợi nào đó con người nhận đươc
Xét về bản chất kinh tế, một người có được "lợi ích" thì họ vui lòng hy sinh hoặc vui lòng trả tiền để có nó Như vậy, lợi ích mà người ta thu được bằng số tiền mà
họ bằng lòng chi trả để có nó Điều này hoàn toàn phù hợp với quan niệm của các nhà kinh tế môi trường
Trang 33Đường cầu chính là giới hạn cận biên của lợi ích biểu hiện các phần diện tích nằm ở phía dưới đường cong cận biên
Đánh giá lợi ích môi trường thông qua phương thức bằng lòng chi trả là nhằm hướng tới xác định giá trị của hàng hoá môi trường
Đường cong phụ thuộc rất lớn vào thu nhập của dân cư Môi trường còn phụ thuộc vào không gian và thời gian nghiên cứu
2.2.2.2 Đường cung - Chi phí cận biên
Chi phí (costs) là khái niệm sử dụng phổ biến trong kinh tế học nói chung và kinh tế môi trường nói riêng Đối với người sản xuất (cá nhân) chi phí được xác định là các khoản chi phí bỏ ra để mua nguyên liệu, thuê nhân công Về mặt xã hội, chi phí còn bao hàm ý nghĩa rộng hơn bao gồm cả chi phí cơ hội Chi phí cơ hội để sản xuất ra một mặt hàng nào đó bao gồm giá trị tối đa của các sản phẩm khác có thể và sẽ được sản xuất ra, nếu chúng ta không dùng các tài nguyên để sản xuất ra cùng một mặt hàng đang nói đến Chi phí cơ hội là một khái niệm rộng hơn, được xét toàn diện và có tính lựa chọn trong quyết định sản xuất
- Đường cong chi phí cận biên
Giống như trường hợp bằng lòng trả tiền, ta cần phân biệt giữa chi phí cận biên
và tổng chi phí Người cung ứng 5 đơn vị hàng hoá, lần lượt là các là các hàng hoá 1,
Hình 2.3: Đường cong chi phí cận biên
Nguồn: Dẫn theo Nguyễn Quang Long (2001)
Trang 342.2.2.3 Thặng dư tiêu dùng
Đối với những loại hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá môi trường thì thất bại thị trường thường hay xảy ra Nguyên nhân chính là do định giá không đúng với giá trị thực tế mà nguồn tài nguyên đó có được Mọi người có thể hưởng thụ môi trường trong sạch, yên tĩnh, mà hầu hết mọi người không phải trả tiền cho việc hưởng thụ đó Nhưng trong thực tế, giá trị của nguồn tài nguyên môi trường này đem lại là rất lớn
Thặng dư tiêu dùng chính là sự chênh lệch giữa lợi ích của người tiêu dùng khi tiêu dùng một loại hàng hoá, dịch vụ và những chi phí thực tế để có được lợi ích đó
Trên hình 2.4, thặng dư tiêu dùng đối với hàng hoá G ở mức giá P*, sản lượng cân bằng Q* Đây chính là thặng dư phát sinh khi “Người tiêu dùng nhận được nhiều hơn cái mà họ trả” theo quy luật độ thoả dụng cận biên giảm dần
Hình 2.4: Mức sẵn lòng chi trả và thặng dư tiêu dùng
Nguồn: Dẫn theo Nguyễn Quang Long (2001)
Trong đó:
P là giá hàng hoá
Q là khối lượng hàng hoá
cá nhân sẵn lòng chi trả
D là đường cầu phản ánh sự sẵn lòng chi trả
Diện tích dưới đường cầu là mức WTP
Trang 35Diện tích hình AP*B (a) biểu hiện thặng dư tiêu dùng (CS)
dùng được hưởng thặng dư tiêu dùng chủ yếu vì họ phải trả một lượng như nhau cho mỗi đơn vị hàng hoá mà họ mua Giá trị của mỗi đơn vị hàng hoá ở đây chính bằng giá trị của đơn vị cuối cùng Nhưng theo quy luật cơ bản về độ thoả dụng biên giảm dần, thì độ thoả dụng của người tiêu dùng đối với các hàng hoá là giảm từ đơn vị đầu tiên cho tới đơn vị cuối cùng Do đó, người tiêu dùng sẽ được hưởng độ thoả dụng thặng
dư đối với mỗi đơn vị hàng hoá đứng trước đơn vị cuối cùng mà họ mua (Samuelson
và Nordhaus)
2.2.2.4 Mức sẵn lòng chi trả (WTP) - Thước đo giá trị kinh tế
Thực chất WTP chính là biểu hiện sở thích tiêu dùng của khách hàng Thông thường, khách hàng thông qua giá thị trường (MP) để thanh toán các hàng hoá và dịch
vụ mà họ tiêu dùng Nhưng có nhiều trường hợp tự nguyện chấp nhận chi cao hơn giá thị trường để được tiêu dùng và mức này cũng khác nhau Mức WTP chính là thước đo của sự thoả mãn và mức MWTP cho mỗi đơn vị thêm là giảm xuống khi khối lượng tiêu dùng tăng thêm đây chính là quy luật về độ thoả dụng cận biên giảm dần Do vậy, đường cầu được mô tả giống như đường “sẵn lòng chi trả” và mức MWTP cũng được coi như thước đo của lợi ích và đường cầu là cơ sở xác định lợi ích cho xã hội từ việc tiêu dùng một loại hàng hoá nhất định Miền nằm dưới đường cầu đo lường tổng giá trị của mức WTP Mối quan hệ này được thể hiện như sau:
Trong đó:
WTP: Mức sẵn lòng chi trả
MP: Chi phi theo giá thị trường
CS : Thặng dư người tiêu dùng
Trong hình 2.4 giá thị trường ở mức cân bằng đối với hàng hoá G được xác
nhiều loại hàng hoá, có thể là hàng hoá công cộng hoặc nửa công cộng và không có giá thị trường, chẳng hạn như hàng hoá môi trường thì mức giá liên quan đến mức WTP cao nhất sẽ khó có thể xác định và sẽ không có thước đo cho giá trị mà các cá
Trang 36nhân gắn với hàng hoá đó Trong trường hợp này, để đánh giá mức WTP của các cá nhân cần phải sử dụng các phương pháp khác nhau để xác định như: Phương pháp du lịch phí (TCM), phương pháp tạo dựng thị trường (CVM), Các phương tiện kỹ thuật này sẽ được đưa ra trong các mục phương pháp định giá tài nguyên môi trường
2.2.3 Các phương pháp định giá tài nguyên môi trường
Để định giá tài nguyên môi trường thì có rất nhiều phương pháp định giá khác nhau được sử dụng, các phương pháp này cũng được phân loại theo nhiều cách khác
nhau (hình 2.5)
Hình 2.5 Một số phương pháp định giá tài nguyên môi trường
Nguồn: Dẫn theo Nguyễn Văn Song (2008)
Thông thường những hàng hoá dịch vụ môi trường chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố ngoại vi và đa số các giá bị bóp méo Nghĩa là giá không phản ánh đúng thực chất giá trị của hàng hoá và dịch vụ Tuỳ thuộc vào ảnh hưởng của các yếu tố ngoại vi như: chính sách, độc quyền, Do đó, để phản ánh đúng giá trị của hàng hoá
và dịch vụ cần sử dụng giá bóng (SP)
Nếu thị trường là hoàn hảo và những yếu tố ngoại vi thể hiện được bản chất của hàng hoá, dịch vụ, giá này có thể được biểu hiện trong nền kinh tế, tức là có giá thị trường và phản ánh giá trị thực của hàng hoá, dịch vụ môi trường
Trang 37Tuy nhiên, đối với nhiều loại hàng hoá và dịch vụ môi trường thường không có giá thị trường hoặc giá cả đã bị bóp méo để định giá những ảnh hưởng của môi trường, người ta có thể dùng sự thay thế trực tiếp, nghĩa là dựa trên cơ sở ước tính giá
cả hoặc sự thay thế gián tiếp Chẳng hạn như tìm hiểu giá trị của môi trường tại một khu danh lam thắng cảnh qua vé vào cổng, Trong trường hợp không có yếu tố thay thế, buộc ta phải điều tra về mức sẵn lòng chi trả trực tiếp bằng phương pháp tạo dựng thị trường (CVM) hay thị trường nhân tạo (AM)
2.3 Phương pháp tạo dựng thị trường xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân về thu gom và xử lý rác thải
2.3.1 Cơ sở lý thuyết của phương pháp tạo dựng thị trường (CVM)
CVM là một phương pháp cho phép ước lượng giá trị của một hàng hoá dịch vụ môi trường Tên của phương pháp này bắt nguồn từ câu trả lời ngẫu nhiên đối với một câu hỏi dựa trên việc mô tả thị trường giả định cho người được hỏi (Johasson 1993: 46) CVM lần đầu được Davis (1963) đưa ra để ước lượng giải trí ngoài trời Phương pháp này được tiến hành bằng cách hỏi các cá nhân có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới hàng hoá và dịch vụ môi trường Những cá nhân được hỏi về mức WTP của họ cho một sự thay đổi trong cung cấp hàng hoá dịch vụ môi trường và các mức này thường được thu thập thông qua phiếu điều tra Về thực chất, CVM tạo ra được một thị trường giả định, trong đó cá nhân trong mẫu điều tra được coi như các thành phần tham gia vào thị trường có thể sử dụng hay không sử dụng nguồn tài nguyên môi trường
Thông thường, với phương pháp này sẽ có hai giả định về sự thay đổi hàng hoá môi trường Nếu môi trường được cải thiện hay giảm thiểu, các cá nhân được hỏi sẽ sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện đó không và nếu có thì mức WTP là bao nhiêu Ngược lại, nếu môi trường bị ảnh hưởng thì họ có sẵn lòng chi trả để tránh thiệt hại
đó hay không và nếu có thì mức WTP là bao nhiêu
Cơ sở của phương pháp CVM chính là lý thuyết về độ thoả dụng ngẫu nhiên (RUT) Theo lý thuyết này, xác suất của việc một cá nhân lựa chọn một loại hàng hoá trong nhóm các loại hàng hoá phụ thuộc vào độ thoả dụng của hàng hoá đó với độ thoả dụng của hàng hoá khác (Morrison và cộng sự 1996) Hay nói cách khác, cá nhân q sẽ
Trang 38lựa chọn phương án i thay vì phương án j khi và chỉ khi Uiq > Ujq (i ≠ j A), trong
đó A là tập hợp các lựa chọn
Theo lý thuyết này, độ thoả dụng của một loại hàng hoá được cho là phụ thuộc vào các thành tố quan sát được như véctơ của các thuộc tính hàng hoá (x), đặc điểm cá nhân (s), cũng như các thành tố không quan sát được (e) Các thành tố (e) được xử lý như là các đại lượng ngẫu nhiên và được giả định tuân theo quy luật phân bổ nào đó
Độ thoả dụng của hàng hoá i có thể biểu diễn như sau:
Trong đó:
Uiq: Độ thoả dụng của hàng hoá i của cá nhân
qV : Hàm độ thoả dụng gián tiếp
sq : Vectơ đặc điểm của cá nhân q xiq : Vectơ thuộc tính hàng hoá trong phương án i eiq : Thành tố không quan sát được
Xác suất của việc lựa chọn phương án i thể hiện:
Trang 39Mức sẵn lòng chi trả của người được điều tra có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hoặc các biến khác nhau Bao gồm: đặc điểm kinh tế xã hội của người được hỏi; như thu nhập (I), trình độ học vấn (E), và một số biến đo lường “số lượng” của chất lượng môi trường (q) (Hanley và Spash 1993: 56) Nói cách khác, mức WTP có thể biểu diễn bằng hàm số của các biến này như sau:
2.3.2 Trình tự áp dụng của phương pháp tạo dựng thị trường
Để tìm hiểu WTP của các cá nhân đối với một thay đổi trong hàng hoá dịch vụ môi trường, cần triển khai các bước sau:
Bước 1 Mô tả viễn cảnh và giải thích những ảnh hưởng do sự thay đổi trong
việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ môi trường
Bước 2 Cá nhân được hỏi sẽ được nhận biết viễn cảnh đưa ra, trong đó có các
lựa chọn liên quan đến hàng hoá dịch vụ môi trường
Bước 3 Dựa vào những thông tin đã cung cấp ở trên, người được hỏi cung cấp
ý kiến có liên quan đến WTP của họ, từ đó có thể suy ra phần giá trị gắn với sự thay đổi trong cung cấp hàng hoá dịch vụ đã đưa ra trong câu hỏi
Trang 40Hình 2.6: Trình tự các bước tiến hành áp dụng phương pháp tạo dựng thị trường
Nguồn: Markandya và cộng sự 2002
Một số kỹ thuật để tìm hiểu mức WTP từ người được phỏng vấn thông qua phiếu điều tra gồm: Câu hỏi mở (Open- Ended Question); Trò đấu thầu (Bidding Game); Thẻ thanh toán (Payment Card); và câu hỏi có hay không (Dichotomous Choice) Các kỹ thuật này được trình bày trong bảng 2.1
5c Lợi nhuận ròng hằng năm 5d Tổng giá tị của hàng hóa dịch vụ môi
4a Thu thập và kiểm tra số liệu 4b Xử lý số liệu
4c Loại bỏ những phiếu điều tra không phù hợp
4d Xây dựng các biểu
4e Phân tích số liệu
3a Quyết định 3b Quyết định tiến hành điều tra như thế nào, khi nào và ở đâu
3c Điều tra thử 3d Tiến hành điều tra
2a Giới thiệu 2b Thông tin kinh tế xã hội 2c Đưa ra viễn cảnh
2d Kỹ thuật để tìm hiểu mức WTP
1a Xác định các đối tượng cần định giá 1b Thiết lập giá trị dùng để ước lượng và dùng đơn vị đo
1c Xác định khoảng thời gian tiến hành điều tra
1d Xác định đối tượng phỏng vấn