Do đó, việc quản lý và can thiệp của Nhà nước mà trong đó hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm nâng cao khả năng giám sát và kiểm soát hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, từ
Trang 1CAO T H Á I NGUYÊN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC
TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC s ĩ KINH TẾ
Trang 2Giám hiệu, quý Thầy Cô truờng Đại học Kinh tế TP.HỒ Chí Minh đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian qua.
Đặc biệt tôi xin cảm ơn PGS.TS Phạm Văn Năng, Người hướng dẫn khoa
học của Luận văn, đã tận tình hướng dẫn, đưa ra những đánh giá xác đáng giúp tôi hoàn thành luận văn này
Sau cùng tôi xin chân thành cảm ơn đến ban lãnh đạo, các anh/chị trong Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP.HỒ Chí Minh, cùng bạn bè và người thân đã giúp
đỡ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù trong thời gian qua tôi cũng đã nghiên cứu rất nhiều để hoàn thành luận văn này nhưng không tránh khởi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý thầy cô và các bạn đế luận văn hoàn thiện hơn
Trân trọng!
Học viên: Cao Thái Nguyên
Trang 3thanh tra, giám sát của NHNN đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM” là kết quả cùa quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc, thực hiện theo sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Văn Năng.
Tác giả cũng xin đảm bảo tính chân thật của số liệu mà mình thu thập, đây là các số liệu có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy
Neu những cam đoan trên là sai sự thật, tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Trang 4Cục II: Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP.HỒ Chí Minh
Trang 5Hình 2.1 Quy trình giám sát của NHTW đối với các TCTD 15Bảng 3.1 Thống kè số lượng các TCTD trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2010-2015.24Bảng 3.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của các TCTD trên địa bàn TP.HCM 26Bảng 3.3 Thống kè các cuộc thanh tra, kiểm tra 35Bảng 3.4 Đối chiếu việc thực hiện các nguyên tắc giám sát của Basel trong hoạtđộng giám sát của NHNN 48Bảng 3.5 Ket quả khảo sát 55
Trang 62.2.4 Các phương thức thanh tra của NHNN 10
2.2.4.1 Phương thức giám sát từ xa 10
2.2.4.2 Phương thức thanh tra tại chỗ 10
2.2.4.3 Công tác phối họp khác: 12
2.2.5 Các hình thức và thẩm quyền xử lý vi phạm của thanh tra, giám sát ngân hàng 13 2.2.6 Quy trình giám sát của NHTW đối với NHTM 14
2.3 Đánh giá mức độ hoàn thiện trong hoạt động thanh tra, giám sát của NHTW đối với NHTM 15
2.3.1 Mục tiêu “Đảm bảo an toàn cho hoạt động của toàn hệ thống NHTM” được thể hiện bằng các chỉ tiêu phản ánh kết quả của hoạt động TTGS 16
2.3.2 Mục tiêu “Đảm bảo hệ thống ngân hàng là kênh dẫn vốn hiệu quả của nền kinh tế” được thể hiện bằng các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động giám sát ngân hàng 17
2.4 Các nhàn tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN 18
2.4.1 Nhân tố chủ quan: 18
2.4.2 Nhân tố khách quan 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 23
CHƯƠNG 3: THựC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA GIÁM SÁT CỦA NHNN ĐỐI VỚI CÁC TCTD TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 24
3.1 Khái quát về hoạt động của hệ thống TCTD trên địa bàn TP.HCM 24
3.1.1 Số lượng các TCTD trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2010-2015 24
3.1.2 Tình hình hoạt động của các TCTD trên địa bàn TP.HCM 26
3.2 Khái quát chung về bộ máy thanh tra, giám sát của NHNN đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM 27
Trang 71.1 Tính cấp thiết của đề tà i 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận v ăn 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Câu hỏi nghiên cứ u 2
1.6 Phương pháp nghiên cứu 2
1.7 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 3
1.8 Ket cấu luận văn 3
CHƯƠNG 2: NHƯNG VẤN ĐỀ c ơ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NHNN ĐỐI VỚI CÁC TCTD 4
2.1 Khái quát chung về NHNN 4
2.1.1 Khái niệm NHTW 4
2.1.2 Chức năng của NHTW liên quan đến hoạt động ngân hàng 4
2.1.2.1 Thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với ngân hàng thương m ại 4
2.1.2.2 Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng 5
2.2 Hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM 5
2.2.1 Khái niệm về thanh tra của NHNN 5
2.2.1.1 Khái niệm thanh tra 5
2.2.1.2 Khái niệm hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 5
2.2.2 Sự cần thiết của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 7
2.2.2.1 Thể hiện việc quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng 7
2.2.2.2 Duy trì lòng tin của công chúng đối với hệ thống các TCTD 7
2.2.2.3 Bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD 8
2.2.2.4 Phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật và hạn chế những sai phạm trong hoạt động của các TCTD 8
Trang 83.2.2 Kinh nghiệm thanh tra, giám sát NHTW tại một số nước và mô hình Thanh
tra, giám sát ngân hàng phù hợp với Việt N am 29
3.2.3 Số lượng và trình độ đội ngũ cán bộ Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP.HCM 31
3.3 Thực trạng hoạt động thanh tra giám sát của NHNN đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM 32
3.3.1 Đối với hoạt động giám sát từ x a 32
3.3.2 Đối với hoạt động thanh tra tại chồ 34
3.3.3 Công tác phối hợp khác 38
3.3.3.1 Quản lý, cấp phép các TCTD: 38
3.3.3.2 v ề công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng và công tác khác 39
3.3.4 Việc chấn chỉnh các sai phạm phát hiện qua hoạt động thanh tra 39
3.3.4.1 Nhóm 1: Kiến nghị đối với TCTD 39
3.3.4.2 Nhóm 2: Kiến nghị đối với NHNN 40
3.3.5 Đánh giá thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát: 41
3.3.5.1 Kết quả đạt được: 41
3.3.5.2 Một số tồn tại hạn chế 44
3.3.6 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 47
3.3.6.1 Hoạt động giám sát của NHNN VN vẫn chưa hoàn toàn tuân thủ các yêu cầu trong 25 nguyên tắc giám sát của Basel 47
3.3.6.2 Mô hình tô chức hoạt động cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng 49
3.3.6.3 Cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin 50
3.3.6.4 Quy định pháp lý về hoạt động thanh tra, giám sát 50
3.3.6.5 Chế độ thông tin báo cáo và nguồn cơ sở dữ liệu 52
3.3.7 Trách nhiệm của Cục II và của Cơ quan Thanh tra, giám sát: 52
Trang 93.4.2 Thông tin về khảo sát: 54
3.4.3 Kết quả khảo sát 54
3.4.4 Bình luận về kết quả khảo s á t 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 59
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHÁT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA GIÁM SÁT CỦA NHNN ĐỐI VÓI CÁC TCTD TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM .60
4.1 Định hướng phát triển ngành ngân hàng TP.HCM giai đoạn từ năm 2015-2020 60 4.2 Các giải pháp tăng cường công tác thanh tra giám sát của NHNN đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM 60
4.2.1 Tiếp tục hoàn thiện mô hình cơ cấu tổ chức và hoạt động của Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP.HCM 60
4.2.2 Phát triển hệ thống công nghệ thông tin 61
4.2.3 Tăng cường, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thanh tra, giám sát 61
4.2.4 Tăng cường kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị sau thanh tra 62
4.2.5 Tăng cường nhận thức về vị trí, vai trò của công tác thanh tra trong hàng ngũ cán bộ công chức làm công tác thanh tra 63
4.2.6 Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Cục II với các bộ phận có liên quan khác và bộ phận kiểm soát nội bộ của các TCTD 63
4.3 Kiến nghị 64
4.3.1 Đối với Chính phủ 64
4.3.2 Đối với NHNN Việt N am 66
4.3.2.1 Xây dựng nền móng cho khuôn khổ pháp lý và giám sát an toàn vĩ mô hệ thống tài chính 66
Trang 104.3.2.3 Tăng cường chỉ đạo điều hành và quản lý công tác thanh tra ngân hàng 67
4.3.2.4 Tăng cường công tác tổ chức cán bộ 68
4.3.3 Đối với Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng 70
4.3.4 Đối với các TCTD 70
4.3.4.1 Nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp trong nội bộ ngân hàng 70
4.3.4.2 Hoàn thiện quy trình, quy định trong hoạt động kinh doanh 70
4.3.4.3 Hạn chế thông tin bất cân xứng, minh bạch số liệu báo cáo 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 72
KẾT LUẬN 73
Trang 111.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động ngân hàng được coi là hệ tuần hoàn vốn của nền kinh tế từng quốc gia và toàn cầu Chính vai trò quan trọng của ngân hàng đối vói nền kinh tế, nhất là nền kinh tế thị trường mà ngân hàng ngày càng trở nên thiết yếu Những rủi ro trong hệ thống ngân hàng gây ra cũng có tác động rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam, một sự sụp đồ ngân hàng
sẽ gây nên khủng hoảng lớn cho nền kinh tế Do đó, việc quản lý và can thiệp của Nhà nước mà trong đó hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm nâng cao khả năng giám sát và kiểm soát hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, từ đó cảnh báo những ngân hàng hoạt động yếu kém, đưa ra các biện pháp chế tài hiệu quả đối với những trường họp ngân hàng vi phạm tiêu chí an toàn chung của thị trường là công việc hết sức cần thiết.Hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát với các TCTD thời gian qua tuy đã có nhiều cải thiện nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Hoạt động thanh tra, giám sát trên cơ
sở tuân thủ vẫn là phương pháp chủ yếu trong hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn xử lý rủi ro còn nhiều hạn chế, một trong những nguyên nhân là
do thông tin bất cân xứng, chưa tuân thủ 25 nguyên tắc cơ bản giám sát ngân hàng, những bất cập trong bộ máy tổ chức, hệ thống văn bản pháp luật phục vụ công tác thanh tra còn chưa hoàn thiện Do đó, để thực hiện theo chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 27/01/2015 của Thống đốc NHNN về tăng cường xử lý nợ xấu của TCTD, và “Xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD” ban hành kèm theo Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 31/5/2013 của Thủ tướng chính phủ, trong đó mục tiêu quan trọng trong thời gian sắp tới nhằm mục tiêu cơ cấu hệ thống ngân hàng và điều hành, phấn đấu, đưa ra mục tiêu đưa nợ xấu về dưới mức 3%,
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng nói chung và Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cần nâng cao hơn nữa vai trò giám sát cũng như chất lượng thanh tra tại chồ các TCTD
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đe tài “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM” được lựa chọn nhằm đánh giá thực trạng thanh tra, giám sát các TCTD trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, phân tích các kết quả đạt được, chưa đạt của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng Trên cơ sở đó đề tài đề xuất một số giải pháp chính sách phù hợp nhằm nâng cao chất lượng thanh tra,
Trang 121.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động Thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN đối
với các TCTD trên địa bàn TP.HCM
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên thực trạng trong hoạt động giám sát từ xa, thanh tra tại chỗ; những chuẩn mực, nguyên tắc cho việc giám sát ngân hàng hiệu quả do ủ y ban Basel ban hành và Quy định về giám sát ngân hàng của NHNN Việt Nam
v ề lý thuyết: Nghiên cứu dựa trên những bài viết của các tác giả trong và ngoài nước và những quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động thanh tra, giám sát Trong
đó nêu rõ những tồn tại, hạn chế trong hoạt động thanh tra, giám sát
v ề thực tiễn: Nghiên cứu dựa trên thực trạng (những mặt đạt được, hạn chế) trong hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN Chi nhánh TP.HCM (nay là Cục thanh tra, giám sát ngân hàng TP.HCM) trong giai đoạn 2010 - 2015
1.5 Câu hỏi nghiên cứu
Đe có thể đạt được mục đích của nghiên cứu trên, đề tài này phải làm rõ được 02 câu hỏi nghiên cứu chính:
Thứ nhất: Trong giai đoạn từ 2010-2015, Thực trạng hoạt động thanh ữa, giám sát NHNN Chi nhánh TP.HCM như thế nào? Những mặt đạt được và còn hạn chế?
Thứ hai: Qua những tồn tại trong quản lý, NHNN cần có những giải pháp nào đế tăng cường hiệu quả quản lý của NHNN đối với các TCTD hên địa bàn TP.HCM?
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Đe tài sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh thực trạng tình hình hoạt động của các TCTD trên địa bàn thành phố và nghiên cứu những vấn đề liên quan đến chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM của Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP.HCM
Trang 13NHNN Chi nhánh TP.HCM (nay là Cục II) và những thành công, hạn chế trong hoạt động quản lý thanh tra, giám sát ngân hàng trong giai đoạn 2010-2015 để đưa ra những biện pháp, đề xuất, kiến nghị Chính phủ, NHNN, Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát ngân hàng đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM nói riêng và của NHNN nói chung.
1.8 Ket cấu luận văn
Luận văn được xây dựng trên cơ sở 4 chương
Chương 1: Giới thiệu chung về luận văn
Chương 2: Những vấn đề cơ bản về hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM
Chương 3: Thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN đối với các TCTD trên địa bàn TP.HCM
Trang 14CHƯƠNG 2 NHỮNG VÁN ĐỀ C ơ BẢN VÈ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NHNN ĐÓI VỚI CÁC TCTD TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
2.1 Khái quát chung về Ngân hàng Trung ương
2.1.1 Khái niệm Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Trung ương
2.1.2 Vai trò của Ngân hàng Trung ương liên quan đến hoạt động ngân hàng
2.1.2.1 Thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với ngân hàng thương mại
NHTW không tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các NHTM, bao gồm:
- Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các NHTM dưới dạng tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán
- Cấp tín dụng cho các NHTM dưới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ Việc cấp tín dụng của NHTW cho các NHTM không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu cho chứng từ có giá mà còn bao gồm cả các khoản cho vay ứng trước có đàm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHTW;
- Là trung tâm thanh toán bù trừ cho hệ thống NHTM: Vì các NHTM đều mở tài khoản và ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức tại NHTW nên có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền trung tâm thanh toán bù trừ giữa các NHTM thông qua NHTW thay vì thanh toán trực tiếp với nhau Khi đó NHTW đóng vai trò là ngân hàng trung gian thanh toán giữa các ngân hàng
Trang 152.1.2.2 Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng
Với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW không chỉ cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuần túy cho ngân hàng trung gian, mà thông qua các hoạt động
đó, NHTW còn thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thường xuyên hoạt động của các NHTM nhằm đảm bảo ổn định trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là của những người gửi tiền, trong quan hệ với ngân hàng
2.2 Hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN đối vói các TCTD trên địa bàn TP.HCM
2.2.1 Khái niệm về thanh tra của NHNN
2.2.1.1 Khái niệm thanh tra
Thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc La-tinh (in-spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ một sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định: “là sự kiểm soát đối với đối tượng bị thanh tra” trên cơ sở thẩm quyền (quyền hạn và nghĩa vụ) được giao, nhằm đạt được mục đích nhất định Tính chất của thanh tra mang tính thường xuyên, tính quyền lực, do đó hệ quả của thanh tra thường là
“phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định” Thanh tra là hoạt động xem xét, kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc theo sự uỷ quyền của cơ quan nhà nước cấp trên đối với cơ quan nhà nước cấp dưới (mang tính trực thuộc) và là một
bộ phận của hoạt động hành pháp
Theo Luật thanh tra số 56/2010/QH12 ban hành ngày 15 tháng 11 năm 2010 nhận định “Thanh tra là một khâu trong quy trình quản lý nhà nước, là yếu tố cấu thành hoạt động của nhà nước, là phương tiện phòng ngừa vi phạm pháp luật Thanh tra còn là phương pháp phát huy dân chủ, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền
và lợi ích của nhân dân, cơ quan tổ chức”
Giám sát, tiếng Anh là “supervision” hoặc “overseer” để chỉ một hoạt động xem xét có tính bao quát của chủ thể bên ngoài hệ thống đối với khách thể thuộc hệ thống khác, tức là giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu sự giám sát không nằm trong một hệ thống trực thuộc nhau theo chiều dọc Trong bộ máy nhà nước ta,
Trang 16giám sát thường thể hiện chức năng của các cơ quan quyền lực nhà nước đối với hoạt động của bộ máy nhà nước hoặc của Toà án nhân dân, các tổ chức xã hội và công dân đối với hoạt động quản lý nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, kỷ luật trong quản lý nhà nước.
Như vậy, thanh tra là một lĩnh vực trong hoạt động quản lý nhà nước, là một khâu trong quá trình quản lý và là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước Bất kỳ nhà nước nào cũng có hoạt động kiểm tra, thanh tra và do đó hình thành tổ chức kiểm tra, thanh tra kiểm soát hữu hiệu việc thực thi quyền lực nhà nước Với ý nghĩa là một công cụ quản lý nhà nước, hoạt động thanh tra nhằm mục đích phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những
sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích họp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
2.2.1.2 Khái niệm hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Khái niệm thanh tra ngân hàng “Là hoạt động thanh tra của NHNN đối với các đối tượng thanh tra ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng” (khoản 11 Điều 6 Luật NHNN 2010)
Giám sát ngân hàng “Là hoạt động của TTGSNH trong việc thu thập, tổng họp, phân tích thông tin về đối tượng giám sát ngân hàng thông qua hệ thống thông tin, báo cáo, làm việc trực tiếp nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan”
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, vận hành theo cơ chế thị trường - cơ chế vận động của các quy luật kinh tế khách quan: quy luật giá trị; quy luật cạnh tranh; quy luật cung cầu đã tạo ra một động lực rất to lớn thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, thúc đẩy nền kinh tế phát triển với tất cả ưu điểm vốn có mang tính bản chất của một nền kinh tế thị trường Tuy nhiên bên cạnh đó nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ không ít những hạn chế, đòi hỏi phải có sự điều tiết và quản lý vĩ mô
Trang 17của Nhà nước nhằm khắc phục những thiếu sót của cơ chế thị trường tạo ra: như công cụ tài chính; công cụ tiền tệ; kế hoạch; pháp luật và các chế tài khác Như vậy, thanh tra nhà nước nói chung và thanh tra ngân hàng nói riêng là công cụ rất đắc lực và thiết yếu để Nhà nước điều hành và kiểm soát vĩ mô nền kinh tế và hệ thống Ngân hàng.
2.2.2 Sự cần thiết của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
2.2.2.1 Thể hiện việc quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng
Thanh tra, giám sát ngân hàng có một vị trí, vai trò rất quan trọng, là chức năng thiết yếu của quản lý, là công cụ phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, của Nhà nước
về hoạt động ngân hàng TTGSNH luôn luôn gắn liền với quản lý ngân hàng, là một nội dung của quản lý ngân hàng TTGSNH còn là một phương thức phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, phát hiện và xử lý những biếu hiện quan liêu, tham ô, lãng phí và những hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng
2.2.2.2 Duy trì lòng tin của công chúng đối vói hệ thống các TCTD
Trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và ngân hàng, lòng tin đóng vai trò cực kỳquan trọng quyết định sự tồn tại của hệ thống TCTD Việc duy trì và nâng cao lòng tin của công chứng đối với hệ thống các TCTD là một việc làm cần thiết nhằm thu hút vốn phục vụ cho hoạt động kinh tế, tài chính của đất nước Năng lực thu hút vốn của các TCTD đi đôi với việc đảm bảo khả năng chi trả cho người gửi tiền Neu một TCTD mất khả năng chi trả thì người gửi tiền sẽ mất lòng tin vào TCTD đó dẫn đến
các TCTD khác vì công chúng không còn tin tưởng để gửi tiền vào hệ thống các TCTD Khi người gửi tiền đồng loạt rút tiền, sẽ làm các TCTD mất khả năng thanh toán đồng bộ, không thu hút được vốn để hoạt động kinh doanh dẫn đến nguy cơ đối mặt với tình trạng phá sản, từ đó sẽ ảnh hưởng đến hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia
Vì vậy, các TCTD phải được thanh tra, kiểm tra, giám sát thường xuyên để giảm thiếu rủi ro cho khách hàng, bảo đảm sự an toàn trong hoạt động của TCTD,
Trang 182.2.2.3 Bảo vệ quyền và lọi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD
Chức năng thanh tra, giám sát còn nhằm đảm bảo sự công bằng và hình đẳng trong quan hệ giữa ngân hàng và các khách hàng Điều này được thể hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của khách hàng với tư cách là người đi vay Chẳng hạn, qui định chuẩn mực về phạm vi và mức độ chi tiết của các thông tin cần báo cáo cho ngân hàng khi vay vốn; chuẩn mực hoá các thủ tục vay vốn và tiếp nhận các dịch vụ ngân hàng; qui định cụ thể về xử lý và giải quyết các tranh chấp giữa ngân hàng với khách hàng Thứ hai, nhằm thúc đầy cạnh tranh và hiệu quả thông qua qui định về chất lượng và sự cập nhật của thông tin mà ngân hàng có nghĩa vụ cung cấp cho những người tham gia thị trường Điều này giúp cho công chúng với tư cách người đầu tư và người sử dụng các dịch vụ tài chính có khả năng và cơ hội lựa chọn các ngân hàng đáng tin cậy, có các dịch vụ tài chính chất lượng Các ngân hàng vì thế quan tâm hơn tới tính minh bạch và chất lượng của bảng tống kết tài sản trong chiến lược cạnh tranh khách hàng
Đe đạt được mục đích này, NHNN và các Cơ quan, Ban ngành có liên quan thường đưa ra các chuẩn mực, các hướng dẫn hoặc qui định về tính đầy đủ và chính xác của thông tin được công bố
2.2.2.4 Phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật và hạn chế những sai phạm trong hoạt động của các TCTD
Cùng với việc phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật, TTGSNH còn đóng vai trò như một biện pháp phòng ngừa hữu hiệu các vi phạm pháp luật Thanh tra cùng với các phương thức kiểm tra, giám sát luôn là hiện thân của kỷ cương pháp luật; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát dù được thực hiện dưới bất cứ hình thức nào, cũng luôn có tác dụng hạn chế, răn đe những hành vi vi phạm pháp luật của các TCTD Mặt khác, các giải pháp được đưa ra từ hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ hướng vào việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, mà còn có tác
Trang 19dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa tận gốc mầm mống phát sinh những vi phạm pháp luật.
2.2.2.5 Bảo đăm việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng của các TCTD
Trong quá trình thực hiện việc thanh tra tại các đối tượng, TTGSNH sẽ phát hiện ra các tồn tại, sai phạm trong hoạt động của các đối tượng và đưa ra các kiến nghị khắc phục, xử lý các hành vi vi phạm; Từ đó đảm bảo hoạt động của các đối tượng thanh tra, giám sát thực hiện đúng quy định của pháp luật, chấp hành đúng chính sách, pháp luật về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
Trên cơ sở phát hiện những sai phạm của TCTD, TTGSNH sẽ kiến nghị đối với Chính phủ, NHNN và các Cơ quan chuyên ngành có những điều chỉnh, bổ sung những quy định của pháp luật như ban hành Luật mới hoặc Nghị định hướng dẫn để
có thể một mặt giúp cho hoạt động của các TCTD hoạt động hiệu quả, một mặt để giúp NHNN quản lý được nền kinh tế vĩ mô bằng các biện pháp can thiệp kịp thời
2.2.3 Nội dung hoạt động thanh tra, giám sát
Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, quy định khác của pháp luật có liên quan, việc thực hiện các quy định trong giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp;
Xem xét, đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro và tình hình tài chính của đối tượng thanh tra ngân hàng; xem xét, đánh giá các rủi ro tiềm ẩn, chất lượng
và hiệu quả hệ thống quản trị, điều hành, hệ thống kiểm toán, kiểm soát nội bộ, hệ thống quản trị rủi ro của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, bao gồm cả việc nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, giám sát rủi ro, kiếm soát và giảm thiếu, xử lý rủi
ro thông qua việc xem xét các yếu tố tác động đến an toàn hoạt động, chất lượng, hiệu quả quản trị rủi ro, khả năng chống đỡ rủi ro của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng;
Trang 20Kiến nghị, yêu cầu đối tượng thanh tra ngân hàng có biện pháp hạn chế, giảm thiểu và xử lý rủi ro để bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và phòng ngừa, ngăn chặn hành vi dẫn đến vi phạm pháp luật;
Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật
2.2.4 Các phương thức thanh tra, giám sát của NHNN
2.2.4.1 Phương thức giám sát từ xa
Phương thức giám sát từ xa là việc thu thập, tổng hợp và xử lý các tài liệu, thông tin, dữ liệu của đối tượng giám sát ngân hàng theo yêu cầu giám sát; kết hợp giám sát an toàn toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng với giám sát an toàn của từng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Xem xét, theo dõi tình hình chấp hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan; việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra và khuyến nghị, cảnh báo về giám sát ngân hàng Đồng thời, phân tích, đánh giá thường xuyên tình hình tài chính, hoạt động, quán trị, điều hành và mức độ rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, rủi ro mang tính hệ thống; thực hiện xếp hạng các tố chức tín dụng hằng năm theo mức độ an toàn; Phát hiện, cảnh báo các yếu tố tác động, xu hướng biến động tiêu cực, rủi ro gây mất an toàn hoạt động đối với từng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và hệ thống các tổ chức tín dụng; các rủi ro, nguy cơ dẫn đến vi phạm pháp luật về tiền tệ
và ngân hàng Kiến nghị, đề xuất biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các rủi
ro, vi phạm pháp luật của đối tượng giám sát ngân hàng theo quy định của pháp luật
2.2.4.2 Phương thức thanh tra tại chỗ
Phương thức thanh tra tại chỗ là thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ
và ngân hàng, quy định khác của pháp luật có liên quan, việc thực hiện các quy định trong giấy phép do NHNN cấp Qua đó, xem xét, đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro và tình hình tài chính của đối tượng thanh tra ngân hàng; xem xét, đánh giá các rủi ro tiềm ẩn, chất lượng và hiệu quả hệ thống quản trị, điều hành, hệ
Trang 21thống kiếm toán, kiểm soát nội bộ, hệ thống quản trị rủi ro của tồ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, bao gồm cả việc nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, giám sát rủi ro, kiểm soát và giảm thiểu, xử lý rủi ro thông qua việc xem xét các yếu tố tác động đến an toàn hoạt động, chất lượng, hiệu quả quản trị rủi ro, khả năng chống đỡ rủi ro của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Từ đó có kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng; kiến nghị, yêu cầu đối tượng thanh tra ngân hàng có biện pháp hạn chế, giảm thiểu
và xử lý rủi ro để bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và phòng ngừa, ngăn chặn hành vi dẫn đến vi phạm pháp luật; phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thầm quyền xử lý vi phạm pháp luật
Hiện nay, Thanh tra, giám sát thường sử dụng hai phương pháp thanh tra, giám sát như sau:
Phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở tuân thủ - là phương pháp kiểm tra
sự tuân thủ của các NHTM đối với các quy định pháp luật và quy định của NHNN.Phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sờ rủi ro (risk - based supervision) Phương pháp này khác với phương pháp thanh tra tuân thủ, được xây dựng dựa trên việc giám sát hoạt động của các TCTD thông qua đánh giá (i) mức độ và xu hướng của rủi ro; (ii) hiệu quả của quy trình quản lý rủi ro; (iii) khả năng tài chính (vốn) của TCTD để chống đỡ (đối mặt với) các rủi ro có thể xảy ra Thanh tra trên cơ sở rủi ro dựa vào một chu trình liên tục các hoạt động báo cáo và trình bày, giám sát và truyền đạt thông tin, và thanh tra khi cần thiết để hiểu các rủi ro và việc quản lý rủi
ro được thực hiện như thế nào
Khi được áp dụng đầy đủ, quy trình thanh tra trên cơ sở rủi ro trọng tâm được đặt vào những lĩnh vực có rủi ro cao và những bộ phận chức năng có quy trình quản
lý rủi ro không tốt Thanh tra trên cơ sở rủi ro đòi hỏi cả 03 yếu tố: thanh tra tại chỗ, giám sát từ xa, liên hệ thường xuyên1
Nội dung của một cuộc thanh tra thông thường gồm các phần sau:
Trang 22- Thanh tra kiểm tra hoạt động tín dụng ngân hàng trên địa bàn;
- Thanh tra kiểm tra hoạt động đầu tư tài chính;
- Thanh tra kiểm tra hoạt động kinh doanh mua bán ngoại tệ;
- Thanh tra kiểm tra hoạt động quản trị điều hành;
- Thanh tra kiểm tra hoạt động xây dựng, mua sắm tài sản cố định;
- Thanh tra kiểm tra công tác thu - chi của TCTD;
- Thanh tra kiểm tra công tác thực hiện pháp luật về công tác an toàn kho quỹ;
- Thanh tra kiểm tra hoạt động phòng chống rửa tiền;
- Thanh tra mức độ tuân thủ pháp luật
Qua công tác thanh tra, kiểm tra tại chỗ, TTGSNH phát hiện và xử lý sai phạm của TCTD cũng như đề xuất kiến nghị và biện pháp xử lý cụ thể đối với từng trường họp cụ thể Riêng đối với các sai phạm thông qua hoạt động thanh tra tại chỗ
có dấu hiệu hình sự, TTGSNH phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an chuyển các vụ việc (hồ sơ, chứng từ) để xử lý theo quy định của pháp luật
2.2.4.3 Công tác phổi họp khác
- Hoạt động xây dựng chính sách, văn bản quy phạm pháp luật:
Thanh tra, giám sát ngân hàng tham mưu, giúp Thống đốc NHNN trong việc xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc để Thống đốc NHNN trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức, hoạt động, an toàn hoạt động ngân hàng, thanh tra, giám sát ngân hàng, bảo hiểm tiền gửi và về phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tài trợ khủng bố thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của Ngân hàng Nhà nước
- Hoạt động cấp phép:
Thanh tra, giám sát ngân hàng tham mưu, giúp Thống đốc NHNN và Thanh tra, giám sát NHNN chi nhánh tham mưu, giúp Giám đốc NHNN chi nhánh (trong trường hợp Giám đốc NHNN chi nhánh được Thống đốc NHNN phân cấp, ủy quyền) thực hiện:
Cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của TCTD, giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài, giấy phép thành lập văn
Trang 23phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng và các loại giấy phép hoạt động ngân hàng khác; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động hoạt động cung ứng dịch vụ thông tin tín dụng cho các tổ chức; Xác nhận đăng ký điều lệ của TCTD;
Chấp thuận việc mua, bán, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức pháp lý, giải thể TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; chấp thuận danh sách dự kiến những người được bầu, bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát và Tổng Giám đốc (Giám đốc) của TCTD, trừ nhân sự của ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, nhân sự do chủ sở hữu phần vốn Nhà nước tại Ngân hàng Thương mại
cổ phần Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ cử hoặc giới thiệu; chấp thuận người dự kiến được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc (Giám đốc) chi nhánh ngân hàng nước ngoài; chấp thuận việc thành lập, chấm dứt, giải thế chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp ở trong nước, chi nhánh, văn phòng đại diện và các hình thức hiện diện thương mại khác ở nước ngoài của TCTD; chấp thuận việc thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết của TCTD; chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của TCTD; chấp thuận các vấn đề khác về quản trị, tố chức, tài chính và hoạt động theo pháp luật quy định phải được NHNN chấp thuận hoặc cho phép;
Xử lý các vấn đề liên quan đến tổ chức, quản trị, điều hành của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhằm góp phần đảm bảo các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động lành mạnh, an toàn và theo đúng quy định của pháp luật; Quyền và trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại TCTD có vốn của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
Xây dựng và tổ chức, theo dõi triển khai thực hiện đề án, phương án củng cố, chấn chỉnh, cơ cấu lại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
2.2.5 Các hình thức và thẩm quyền xử lý vi phạm
Tùy theo mức độ an toàn, lành mạnh và vi phạm pháp luật của đối tượng giám sát ngân hàng, Thanh tra, giám sát áp dụng các biện pháp xử lý và trình người có
Trang 24thẩm quyền2 xử lý theo quy định của pháp luật như:
- Kiến nghị Thống đốc NHNN hoặc người được Thống đốc NHNN ủy quyền
áp dụng các biện pháp xử lý quy định tại Điều 59 Luật NHNN Việt Nam
- Kiến nghị cấp có thẩm quyền đặt tổ chức tín dụng vào kiểm soát đặc biệt, áp dụng các biện pháp cơ cấu lại theo quy định của pháp luật
- Yêu cầu đối tượng giám sát ngân hàng thực hiện chế độ báo cáo theo yêu cầu của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng
- Kiến nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hoặc người được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ủy quyền quyết định thành lập Tổ giám sát để theo dõi, giám sát đối tượng giám sát ngân hàng
- Kiến nghị Thống đốc NHNN hoặc người được Thống đốc NHNN ủy quyền đình chỉ, chấm dứt các hành vi vi phạm pháp luật và hoạt động gây mất an toàn hoạt động của đối tượng giám sát ngân hàng
- Kiến nghị Thống đốc NHNN hoặc người được Thống đốc NHNN ủy quyền
áp dụng các biện pháp kiểm soát các giao dịch tiềm ẩn rủi ro và hạn chế tăng trưởng, mở rộng quy mô, các hoạt động ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của đối tượng giám sát ngân hàng
- Kiến nghị cấp có thẩm quyền đình chỉ, tạm đình chỉ, miễn nhiệm chức vụ của người quản lý, người điều hành và xử lý cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật hoặc gây nguy cơ mất an toàn hoạt động cho đối tượng giám sát ngân hàng; kiến nghị cấp có thẩm quyền không bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cho thôi việc, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý bằng biện pháp khác đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật gây nguy cơ mất an toàn hoạt động của đối tượng giám sát ngân hàng
- Các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật
2.2.6 Quy trình giám sát của NHTW đối với NHTM
Quy trình giám sát trong hoạt động của NHTW đối với TCTD được xây dựng như một chu trình khép kín gồm 06 bước
Trang 25Hình 2.1: Quy trinh giám sát của NHTW đối với TCTD
Bước 1, 2, 6 liên quan đến việc lập kế hoạch, dành ưu tiên và giám sát; những bước này thường được hoàn thành tại NHNN bởi bộ phận giám sát từ xa, bộ phận phân tích, Ban lãnh đạo Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, và bởi thanh tra viên tại chỗ được giao nhiệm vụ giám sát và báo cáo về TCTD giữa các kỳ thanh tra
Bước 3, 4 và 5 liên quan đến việc xác định, thực hiện, báo cáo và ra Kết luận thanh tra; những bước này được hoàn thiện bởi đoàn thanh tra tại chỗ với kết luận
và các biện pháp sửa chữa do Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng đưa ra Vì hoạt động giám sát trên cơ sở rủi ro nhằm mục đích kiểm soát rủi ro hên tục, việc hiểu biết về mồi TCTD là điềm bắt đầu tốt nhất Các thanh tra viên nên có quy trình phù họp đế phát triển và duy trì việc hiểu biết toàn diện về tình hình rủi ro của mỗi TCTD
2.3 Đánh giá mức độ hoàn thiện trong hoạt động thanh tra, giám sát của NHTW đối vói NHTM
Mức độ hoàn thiện trong hoạt động TTGS của NHTW đối với NHTM được đánh giá thông qua các chỉ tiêu phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu đề ra của hoạt động TTGS
Trang 262.3.1 Mục tiêu “Đảm bảo an toàn cho hoạt động của toàn hệ thống NHTM” được thể hiện bằng các chỉ tiêu phản ánh kết quả của hoạt động TTGS gồm:
- Số lượng ngân hàng được giám sát: số lượng các NHTM được giám sát càng nhiều thì hoạt động của toàn hệ thống NHTM càng được đảm bảo an toàn Khi những diễn biến bất thường của từng ngân hàng riêng lẻ hoặc của một nhóm các NHTM được phát hiện, NHTW có thể có những biện pháp kịp thời nhằm ngăn chặn hoặc xử lý trước khi những biến động này gây ra những tác động tiêu cực cho hoạt động của toàn hệ thống NHTM Trong đó, các NHTM phải được giám sát một cách thường xuyên, liên tục và đảm bảo theo các chuẩn mực về nội dung giám sát và tần suất giám sát
- Số lượng các vi phạm quy chế an toàn được phát hiện đúng: Neu các vi phạm chỉ mang tính đơn lẻ trong một số NHTM thì việc xử lý vi phạm sê chỉ đơn thuần trong phạm vi NHTM đó mà có thể chưa tác động đến hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, khi các quy chế an toàn về vốn, về dự phòng, về giới hạn tín dụng v.v bị
vi phạm với số lượng lớn, và xảy ra ở nhiều NHTM thì cũng là nguy cơ gây ra mất
an toàn hệ thống Phát hiện các vi phạm quy chế an toàn đòi hỏi phải chính xác, phản ảnh đúng số lượng vi phạm quy chế an toàn Khi đó hoạt động giám sát đối với NHTM mới đảm bảo đạt mục tiêu an toàn hệ thống
- Số lượng các NHTM được cảnh báo rủi ro: Cảnh báo rủi ro đối với các NHTM được hiểu là việc các NHTM nằm ngoài xu hướng chung của hệ thống trong các lĩnh vực hoạt động ngân hàng sẽ được cảnh báo Trên cơ sở đó, các NHTM nhận được cảnh báo từ bộ phận giám sát của NHTW sê có rà soát nhằm tìm hiểu nguyên nhân của những khác biệt này Neu đó là những biến động tiêu cực, có khá năng gây ra những rủi ro cho hoạt động ngân hàng thì NHTW cùng với các NHTM sê đưa ra các biện pháp điều chỉnh nhằm ngăn ngừa các rủi ro có thể xảy ra cho các NHTM cũng như cho hệ thống ngân hàng Như vậy, khi số lượng các NHTM được cảnh báo tăng, đó cũng có thể coi là một dấu hiệu ảnh hưởng đến sự
an toàn của hệ thống ngân hàng
Trang 27- Số lượng các ngân hàng bị đổ vỡ, giải thể, phá sản: Khi số lượng các ngân hàng này gia tăng cũng là một nguy cơ cho sự an toàn hệ thống, đặc biệt là các ngân hàng bị đổ vỡ, giải thể hay phá sản lại là các ngân hàng chiếm thị phần lớn Ngoài
ra, khi số lượng các ngân hàng này tăng cũng có thể gây ra tâm lý không tin tưởng vào hệ thống ngân hàng của người gửi tiền, điều này cũng là nguy cơ gây mất an toàn hệ thống khi tâm lý rút tiền có thể bị lan truyền
- Chỉ tiêu an toàn vốn (hệ so CAR_Capital Adequacy Ratio = (Von cap 1 + Von cap 2) / Tong tài sản đã điều chỉnh rủi ro): chỉ tiêu này được tính cho từng NHTM, nhóm NHTM và toàn hệ thống NHTM cũng là một chi tiêu phản ánh mức
độ an toàn trong hoạt động của hệ thống NHTM khi chỉ tiêu này đảm bảo mức yêu cầu tối thiểu 9% (theo Basel)
2.3.2 Mục tiêu “Đảm bảo hệ thống ngân hàng là kênh dẫn vốn hiệu quả của nền kỉnh tế” được thể hiện bằng các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động giám sát ngân hàng, bao gồm:
- Tốc độ tăng trưởng vốn huy động và tốc độ tăng trưởng tín dụng: chỉ tiêu này thường được tính theo năm và cho toàn hệ thống ngân hàng nhằm xác định được tốc độ tăng trưởng của năm này so với năm trước Tuy nhiên, đế tính được tốc
độ tăng trưởng theo năm và cho toàn hệ thống, hoạt động giám sát của NHTW cũng cần nắm được tốc độ tăng trưởng theo kỳ (tháng/quý) của từng NHTM hoặc nhóm NHTM Trên cơ sở đó, tốc độ tăng trưởng vốn huy động và tăng trưởng tín dụng biến động cùng chiều với tốc độ tăng trưởng kinh tế thì có thể coi là dấu hiệu cho thấy hoạt động ngân hàng có vai trò nhất định trong sự phát triển kinh tế, hay nói một cách khác là ngân hàng được coi là kênh dẫn vốn hiệu quả trong nền kinh tế
- Các chi tiêu phản ánh chất lượng tài sản: (Nợ Xấu/Tổng dư nợ, Dự phòng /
Nợ xấu) các chỉ tiêu này cũng cần được xác định theo từng NHTM, nhóm NHTM
và toàn hệ thống NHTM Với việc quy định một ngưỡng giá trị thấp (khoản 3%) cho chỉ tiêu Nợ xấu / Tổng dư nợ, giá trị cao (khoảng 60%) cho chỉ tiêu Dự phòng/
Nợ xấu, NHTW sẽ giám sát được chất lượng hoạt động cho vay, đầu tư của ngân hàng
Trang 28- Các chỉ tiêu phản ánh thanh khoản: (Dư nợ/Huy động; Tài sản thanh khoản/ Tổng tài sản; Vay liên ngân hàng/Tổng nguồn vốn) Các chỉ tiêu này cho thấy ngân hàng vẫn đảm bảo khả năng chi trả, giữ được sự tin tưởng của những người gửi tiền, từ đó đảm bảo khả năng huy động vốn cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng Một ngưỡng giá trị cụ thể cho từng chỉ tiêu cần được xác định tùy theo từng NHTW, từ đó NHTW có căn cứ để đánh giá tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng và so sánh giữa các nhóm ngân hàng
Ngoài ra, hoạt động giám sát cả NHTW còn được đánh giá là hoàn thiện khi NHTW tiến hành thanh tra hay giám sát mà không làm gián đoạn hoạt động của NHTM, tạo điều kiện cho hoạt động ngân hàng phát huy vai trò là kênh dẫn vốn của nền kinh tế Điều này được phản ánh thông qua các chì tiêu:
- Số cuộc thanh tra tại chồ được thực hiện: Với việc đảm bảo được các mục tiêu đề ra, hoạt động giám sát của NHTW cần chú trọng vào hoạt động giám sát từ
xa, chỉ thực hiện các cuộc thanh tra trực tiếp khi thật cần thiết Như vậy, số cuộc thanh tra tại chỗ được thực hiện ít mà các mục tiêu giám sát vẫn được đảm bảo, điều này cho thấy hoạt động giám sát ít làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các NHTM
- Thời gian trung bình cho một cuộc thanh tra tại chồ: Thời gian trung bình cho một cuộc thanh tra cần ngắn nhưng vẫn đảm bảo được các mục tiêu thanh tra, giám sát Điều này cũng là một dấu hiệu cho thấy hoạt động giám sát của NHTW không làm ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của NHTM
Các chỉ tiêu phản ánh mức độ hoàn thiện của hoạt động giám sát luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Do vậy, hoạt động giám sát của NHTW đối với NHTM được đánh giá là hoàn thiện khi tất cả các chỉ tiêu phản ánh mức độ hoàn thiện của hoạt động giám sát được xem xét một cách tổng thể
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra, giám sát
2.4.1 Nhân tố chủ quan:
Để hoạt động thanh tra, giám sát hiệu quả, nhân tố con người đóng vai trò then chốt, có mối quan hệ nguyên nhân - kết quả trong cả giám sát từ xa và thanh tra tại
Trang 29xa định kỳ và sẽ không đảm bảo chất lượng khi tổ chức thanh tra toàn diện một TCTD.
Cán bộ làm công tác thanh tra ngoài ra cần phải có phẩm chất chính trị và ý thức trách nhiệm trong công việc, luôn ý thức hoạt động thanh tra, giám sát ngành ngân hàng giúp cho TCTD hoạt động phát triển kinh doanh một cách lành mạnh, đảm báo hoạt động ngân hàng, phòng ngừa, ngăn chặn, hạn chế rủi ro và xử lý những vi phạm pháp luật về tiền tệ ngân hàng, giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD Quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ thanh tra ngày càng được nâng cao, do đó vấn đề đạo đức nghề nghiệp cũng
có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm các hoạt động tác nghiệp và hành vi ứng
xử của cán bộ thanh tra ngân hàng khách quan, tuân thủ đúng quy định, quy trình pháp luật
Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho các Thanh tra viên, thanh tra viên chính, thanh tra viên cao cấp và các công chức làm công tác thanh tra
để có phẩm chất đạo đức, kỳ năng để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Việc này
có ý nghĩa lâu dài đối với việc củng cố, phát triển nguồn lực con người, đặc biệt yếu
tố này có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát
2.4.2 Nhân tố khách quan
Một là, Cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra, giám sát
Hoạt động TTGSNH phải căn cứ vào những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, đồng thời căn cứ vào yêu cầu công tác quản lý, các quy định pháp luật khác
đế đưa ra những kiến nghị hoặc xử lý các hành vi vi phạm Hoat động thanh tra
Trang 30ngân hàng có tính chất khá đặc thù, riêng biệt, không giống như hoạt động quản lý
và cũng không phải là hoạt động tư pháp mà là hoạt động mang tính hành chính - tư pháp Neu như cơ quan tư pháp, nhất là Tòa án thực hiện việc xét xử trên cơ sở hồ
sơ vụ việc và quy định pháp luật; hoạt động quản lý là nhanh nhạy, bảo đảm phù họp với sự phát triển thực tiễn thì hoạt động thanh tra hình như cần đến cả hai yêu cầu này Khi cơ quan thanh tra ngân hàng đưa ra các kiến nghị đổi mới về cơ chế, chính sách để điều chỉnh các hoạt động kinh tế xã hội, lúc đó tính hành chính được thể hiện, ngược lại khi áp dụng chế tài pháp luật để xử lý vi phạm phát hiện qua thanh tra thì tính tư pháp lại thể hiện rõ nét hơn Chính vì sự đặc thù này của hoạt động thanh tra ngân hàng đặt ra đòi hỏi các quy định pháp luật về thanh tra phải có
sự phù hợp, chặt chẽ và đầy đủ Trên thực tế, chúng ta thấy rằng, hệ thống các quy định pháp luật về thanh tra ngân hàng thời gian gần đây ngày càng được đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu công tác quản lý, song cũng chính là nhằm bảo đảm tính đặc thù của công tác thanh tra Trước đây, khi cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra ngân hàng chưa được kiện toàn, còn nhiều hạn chế, bất cập, việc tiến hành thanh tra các TCTD của Thanh tra, giám sát đã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Các kiến nghị của Thanh tra, giám sát NHNN về những quy định trái pháp luật phát hiện qua thanh tra; việc tiưng tập cán bộ, công chức của các cơ quan, yêu cầu các cơ quan nhà nước liên quan báo cáo về tình hình tổ chức, hoạt động của các TCTD phục vụ cho chức năng quản lý nhà nước về ngành ngân hàng; việc giải quyết trùng lặp về thời gian, nội dung thanh tra; việc yêu cầu các cơ quan nhà nước có liên quan phối họp trong việc quản lý TCTD chưa được quy định hoặc quy định chưa đầy đủ trong Luật NHNN năm 2010 cũng làm cho Thanh tra, giám sát NHNN gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động Ngoài tác động từ các quy định pháp luật về thanh tra (các quy định liên quan tới thẩm quyền, trình tự thủ tục tiến hành hoạt động thanh tra) thì các quy định pháp luật về nội dung (pháp luật về tài đầu tư, y tế, giáo dục, đất đai ) cũng có ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động thanh tra Điều này được minh chứng qua một số trường hợp khi xử lý kiến nghị của cơ quan thanh tra
đã gặp phải vướng mắc do pháp luật chưa có những chế tài cụ thế, chưa quy định rõ
Trang 31trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình quản lý.
Như vậy, cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra ngành ngân hàng nói riêng và pháp luật nói chung đóng vai trò quan trọng và là yểu tố tác động trực tiếp, có ảnh hưởng lớn tới chất lượng, hiệu quả hoạt động thanh tra
Hai là, Cơ sở hạ tầng, hệ thống công nghệ thông tin
Cơ sở vật chất và hệ thống công nghệ thông tin cũng có vai trò quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát Các thông tin được khai thác nhanh chóng, chính xác thông qua báo cáo của TCTD, CIC, các phương tiện truyền thông được sẽ giúp tiết kiệm chi phí, nguồn nhân lực, góp phần gián tiếp nâng cao năng suất lao động của cán bộ làm công tác thanh tra
Ba là, Phương thức thanh tra, giám sát
Phương thức thanh tra, giám sát hiện nay được thực hiện chủ yếu theo hai hình thức: thanh tra, giám sát trên cơ sở tuân thủ và thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro Theo đó, thanh tra, giám sát trên cơ sở tuân thủ là phương thức thanh tra, giám sát chủ yếu tập trung việc chấp hành các văn bản pháp quy, quy định về tổ chức, hoạt động, các biện pháp thận trọng của các TCTD Ngày nay, với quá trình hội nhập sâu sắc, phương thức này làm cho nguồn lực giám sát không được phân bố một cách họp lý và hiệu quả theo nguyên tắc tập trung nguồn lực cho các hoạt động đầu tư, những lĩnh vực mà ngân hàng đánh giá là rủi ro cao đối với sự an toàn trong từng ngân hàng riêng lẻ cũng như của cả hệ thống ngân hàng Phương pháp này không thể đảm bảo mục tiêu hoạt động an toàn, hiệu quả, ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng Do đó, việc áp dụng phương thức thanh tra trên cơ sở rủi ro được xem như hệ quả tất yếu của tình hình ngành ngân hàng
Bốn là, Chế độ thông tin báo cáo
Hạ tầng giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, sự bất cập của chương trình giám sát từ xa và quá trình vận hành; nguồn thông tin, cơ sở dữ liệu giám sát không đầy đủ, kém chính xác, không kịp thời Đây có thể nguyên nhân khách quan, hoặc chủ quan đến từ các TCTD; Việc chưa hiểu đúng và đầy đủ các quy định chuẩn mực về hạch toán kể toán, hoặc sử dụng những thủ đoạn tinh vi nhằm phản ánh sai
Trang 32lệch kết quả kinh doanh cũng làm hoạt động TTGSNH kém hiệu quả
Năm là, Mối quan hệ trong hoạt động Thanh tra, giám sát ngân hàng
Đe tăng cường hiệu quả công tác TTGSNH, pháp luật hiện hành đã xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan tới hoạt động này, trong đó
có nhiều quy định về việc phối hợp trong hoạt động thanh tra giữa các chủ thể đó, nhất là trong giai đoạn xử lý kết luận thanh tra hoặc xử lý các vụ vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra Việc phối hợp cũng được thể hiện trong nhiều giai đoạn của hoạt động thanh tra, từ khi chuẩn bị thanh tra cho tới khi kết thúc và xử lý kết quả thanh tra Cụ thể là:
- Trong quá trình chuẩn bị thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra phải phối hợp với Người ra quyết định thanh tra để ban hành Ke hoạch thanh tra Trưởng đoàn có trách nhiệm xây dựng, trình Người ra quyết định ký ban hành Ke hoạch Ngoài ra, Đoàn thanh tra cũng phải xây dựng Đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo
và gửi cơ quan, tổ chức, cá nhân được thanh tra chuẩn bị các thông tin, tài liệu phục
vụ việc báo cáo trong quá trình tiến hành thanh tra
- Trong giai đoạn tiến hành thanh tra, Đoàn thanh tra phải làm việc với cơ quan, tố chức, cá nhân là đối tượng thanh tra đe công bố quyết định thanh tra, nếu mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân này phải phối hợp để thực hiện việc công bố Khi tiến hành thanh tra, đối tượng thanh tra phải báo cáo trực tiếp với đoàn thanh tra về những nội dung thanh tra theo đề cương khi được yêu cầu; quá trinh thu thập, kiểm tra, xác minh, các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải nghiêm chính thực hiện yêu cầu của Đoàn thanh tra, nhất là việc cung cấp các thông tin, tài liệu để làm rõ các nội dung thanh tra
- Ket thúc thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng thanh tra biết Trên
cơ sở báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của thảnh viên Đoàn thanh tra, Trường đoàn thanh tra có trách nhiệm xây dựng dự thảo Báo cáo kết quả thanh tra, tổ chức lấy ý kiến của các thành viên Đoàn thanh tra vào dự thảo Báo cáo Khi được giao xây dựng dự thảo Ket luận thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra căn cứ vào báo cáo kết
Trang 33quả thanh tra, sự chỉ đạo của Người ra quyết định thanh tra để xây dựng dự thảo Kết luận thanh tra trình Người ra quyết định Đoàn thanh tra phải làm rõ các nội dung khi được Người ra quyết định yêu cầu và đối tượng thanh tra có quyền giải trình những vấn đề mà mình cho là chưa đúng hoặc chưa họp lý Đối tượng thanh tra và
cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cũng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan TTGSNH trong việc công bố kết luận thanh tra và nghiêm chỉnh thực hiện các kiến nghị, quyết định xử lý
Riêng đối với vụ việc có dấu hiệu tội phạm chuyển cơ quan điều tra thì cơ quan thanh tra có trách nhiệm cung cấp các thông tin mà mình biết được cho cơ quan điều tra Cơ quan điều tra, viện kiểm sát có trách nhiệm phối hợp trong việc tiếp nhận vụ việc và thông báo kết quả xử lý vụ việc cơ quan thanh tra biết
Ngoài ra, những quy định của pháp luật về hoạt động của TTGSNH và những quy định của pháp luật về hoạt động kiếm tra, kiếm soát, kiếm toán nội bộ của TCTD cần được nhìn nhận trong mối quan hệ qua lại, hỗ trợ và hoàn thiện hành lang pháp lý đối với tổ chức và hoạt động của TCTD, hướng đến mục đích đảm bảo
an toàn trong hoạt động của TCTD "Kiểm tra vòng trong" và "kiểm soát vòng ngoài" là hai mặt của một vấn đề trong việc tăng cường sự quản lý hữu hiệu của TTGSNH đối với TCTD cũng như tăng năng lực của chính các TCTD
Ket luận chương 2
Trong chương này, tác giả đã đưa ra một số lý thuyết cơ bản và các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động TTGSNH Đồng thời tác giả cũng khảo sát các nghiên cứu trước về mô hình hoạt động của TTGSNH để chỉ ra mô hình TTGSNH đang được NHNN áp dụng đến nay
Từ những cơ sở lý luận đã nêu, kế tiếp trong Chương 3, tác giả sẽ hình bày thực trạng về hoạt động TTGSNH tại Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP.HCM
Trang 34THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA GIÁM SÁT CỦA NHNN ĐỐI VỚI
CÁC TCTD TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
3.1 Khái quát về hoạt động của các TCTD trên địa bàn TP.HCM
Là một trong những trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam, TP.HCM luôn là đầu tàu dẫn dắt và có đa số các TCTD trên địa bàn chiếm tỷ lệ lớn với gần 50% số lượng TCTD trên cả nước Trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015, sự phát triển của các TCTD trên địa bàn đã có nhiều thay đổi, cả về số lượng, quy mô hoạt động, các sản phẩm dịch
(Nguôn: Tông hợp từ website của NHNN Việt Nam sbv.gov.vn)
Qua bảng 3.1 đã cho thấy sự phát triển về quy mô của các TCTD trên địa bàn TP.HCM trong giai đoạn 2 0 1 0 -2 0 1 5 biến động không nhiều, sự thay đổi về quy mô chủ yếu là do các NH TMCP có Hội sở trên địa bàn giảm Nguyên nhân của sự biến động này một phần là do các Ngân hàng thực hiện hợp nhất, sáp nhập (Phụ lục 01), một phần là do một số Ngân hàng TMCP thay đổi Hội sở (Ngân hàng TMCP Việt Á chuyển Hội sở ra Thành phố Hà Nội và Ngân hàng TMCP Liên Việt chuyển Hội sở từ tỉnh Hậu Giang lên TP.HCM)
Trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2011, tổng cộng mạng lưới các TCTD trên địa bàn TP.HCM có sự gia tăng, điều này là do các ngành kinh tế phát triển, các TCTD cũng
Trang 35bằng cách thành lập thêm các Chi nhánh đến từng quận, huyện.
Trong giai đoạn 2011-2013, mặc dù là nền tảng đế thực hiện theo chiến lược phát triển kinh tế theo Đại Hội Đảng lần thứ XI3 xác định, nhưng do ảnh hưởng kinh tế thế giới, tăng trưởng kinh tế toàn cầu thấp đã tác động không thuận lợi đến nền kinh tế Việt Nam (lạm phát tăng, giá trị gia tăng của ba ngành kinh tế cơ bản là ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ còn quá thấp so với chỉ tiêu đề ra: giá trị gia tăng bình quân trong 3 năm của ngành Công nghiệp, Xây dựng đạt 5,9%/năm, trong khi chỉ tiêu kế hoạch là 7,8% - 8%/năm Cùng với đó, ngành dịch vụ tăng bình quân là 6,6%/năm so với chỉ tiêu
kế hoạch là 7,8% - 8%/năm Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 là 5,25%, không những thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu kể hoạch mà còn
là năm có mức tăng trưởng thấp nhất trong vòng 14 năm qua tăng trưởng bình quân đạt tỷ
lệ khá thấp chỉ tăng 5,52%/năm so với chỉ tiêu của Nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ XI
là 7,0% - 7,5% và Nghị Quyết số 01/2011 của Quốc Hội khóa VIII điều chỉnh mức tăng trưởng hằng năm, Điều này đã làm cho các NHTM e dè trong việc mở rộng quy mô cả nước nói chung và trên địa bàn TP.HCM nói riêng Đồng thời, cũng trong giai đoạn này nhằm thực hiện chủ trương của Nhà nước về củng cố hoạt động của các TCTD nên từ cuối năm 2010 đến đầu năm 2011 một số Ngân hàng TMCP yếu kém, hoạt động không hiệu quả ảnh hưởng đến sự ổn định của kinh tế - xã hội đã tự nguyện họp nhất, sáp nhập
Ba ngân hàng TMCP đi tiên phong trong việc sáp nhập nhằm mục tiêu tăng quy mô vốn, tổng tài sản, an toàn trong hoạt động ngân hàng đã sáp nhập với nhau trong giai đoạn này
mà đi đầu là Ngân hàng TMCP Đệ Nhất, Ngân hàng TMCP Tín Nghĩa, Ngân hàng TMCP Sài Gòn thống nhất lấy tên sau hợp nhất là Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Trong 2 năm 2013 - 2014, trên địa bàn TP.HCM đã giảm 5 TCTD thông qua mua bán và sáp nhập (M&A), giải thể, rút giấy phép 3 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cổ phần hóa các Ngân hàng TMCP Nhà nước (trà Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam) và mở đầu cho làn sóng M&A các NHTM trong năm 2015
Trong năm 2015, tiếp tục có thêm những thương vụ họp nhất điển hình là sáp nhập giữa Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - Ngân hàng TMCP Phát triển đồng bằng sông cửu long, Ngân hàng TMCP Mê Kông sáp nhập vào Ngân hàng TMCP
Trang 36Thương tín Bên cạnh đó, các Ngân hàng TMCP yếu kém đã được NHNN mua lại không đồng để đảm bảo giám sát hoạt động, tránh gây ra hiện tượng mất thanh khoản ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tố chức gửi tiền (Ngân hàng TMCP Đông
Á, Ngân hàng TMCP Đại Dương, Ngân hàng TMCP Dầu khí toàn cầu)
Việc giảm số lượng của các TCTD trong giai đoạn từ 2011 đến cuối năm 2015 là do các TCTD đang thực hiện cơ cấu lại toàn bộ về mọi mặt theo Đe án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015’’ ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg trong
đó đề cao việc nâng cao về việc định hướng và giải pháp cơ cấu lại hệ thống Ngân hàng TMCP, Công ty Tài chính, Công ty cho thuê tài chính Việt Nam Nhìn chung trong giai đoạn này, với những bước đi ban đầu của Nhà nước bằng cách đẩy mạnh thanh tra, giám sát đã góp phần rất lớn trong việc lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, đảm bảo hoạt động
an toàn, lành mạnh, hiệu quả, đúng pháp luật Ngoài ra việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng cũng là một trong những phương án, biện pháp hỗ trợ cho các ngân hàng trong việc kiểm soát quy mô, tốc độ tăng trưởng và phạm vi hoạt động kinh doanh phù họp với điều kiện tài chính và năng lực quản trị
3.1.2 Tình hình hoạt động của các TCTD trên địa bàn TP.HCM
Bảng 3.2: Tình hình hoạt động kinh doanh của các TCTD trên địa bàn TP.HCM
2010
N Ă M 2011
NĂM 2012
NĂM 2013
NĂM 2014
N Ă M 2015 1/ V ốn huy động (VH Đ) 818.500 908.700 993.100 1.170.800 1.293.700 1.567.100
Trang 37bằng ngoại tệ chiếm 16% trong tổng vốn huy động, vốn huy động bằng Việt Nam đồng chiếm đến 85% Trong tông vốn huy động chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm chiếm 52% trong tổng vốn huy động và số dư tiền gửi tiết kiệm luôn gia tăng với liên tục qua các năm.
Hầu hết, qua bảng thống kê, các TCTD trên địa bàn TP.HCM đều có sự tăng trưởng
về quy mô vốn huy động cũng như quy mô về dư nợ tín dụng với mức tăng trưởng tương đối gần như bằng nhau Trong năm 2015 vốn huy động đạt 1.567.100 triệu đồng, vốn cho vay đạt 1.235.200 triệu đồng, tỷ lệ vón cho vay/vốn huy động đạt 78% Điều này chứng
tỏ, mặc dù đạt được tỷ lệ tăng trưởng khá cao trong việc huy động và cho vay nhưng các TCTD đều tuân thủ theo đúng mức an toàn và được NHNN Chi nhánh TP.HCM kiểm soát khá kỹ thông qua hoạt động thanh tra, giám sát, tránh trường hợp vì tăng trưởng nóng mà các TCTD đã bất chấp, tăng nhanh, đẩy mạnh nguồn vốn ra ngoài để cho vay ào
ạt Đe có thế giám sát tình hình hoạt động của TCTD ngoài việc xem xét ảnh hưởng của các vấn đề vĩ mô như lãi suất huy động vốn theo quy định, tình hình huy động vốn bằng ngoại tệ, kỳ hạn vay và lãi suất kỳ hạn TTGSNH cũng xem xét chung với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam (gia nhập WTO, gia nhập TPP) và các vấn đề biến động của kinh tế thế giới (khủng hoảng nợ Châu Âu, biến động giá vàng trong nước và thế giới )
3.2 Khái quát chung về bộ máy thanh tra, giám sát của NHNN đối vói các TCTD trên địa bàn TP.HCM
3.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng (trước đây
là Thanh tra, giám sát NHNN Chi nhánh TP.HCM)
Theo quy định tại Nghị định số 26/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của Chính phủ ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng thì Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng là cơ quan thanh tra nhà nước, được tố chức thành
hệ thống gồm:
- Cơ quan TTGSNH thuộc NHNN
- Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước chi nhánh được thành lập tại tỉnh, thảnh phố trực thuộc Trung ương nơi không có Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng
Cơ quan TTGSNH là đơn vị tương đương Tổng cục, trực thuộc NHNN, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Thống đốc NHNN quản lý nhà nước đối với các TCTD, chi
Trang 38nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, phòng, chống rửa tiền, bảo hiểm tiền gửi; tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và giám sát ngân hàng trong các lĩnh vục thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN; thực hiện phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tài trợ khủng bố theo quy định của pháp luật và phân công của Thống đốc NHNN.Theo Quyết định số 35/2014/QĐ-TTg ngày 12/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan TTGSNH trực thuộc NHNN Việt Nam, Cơ quan TTGSNH gồm 11 đơn vị:
- Vụ Thanh tra, giám sát các TCTD trong nước (gọi tắt là Vụ I);
- Vụ Thanh tra, giám sát các TCTD nước ngoài (gọi tắt là Vụ II);
- Vụ Thanh tra hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng (gọi tắt là Vụ III);
- Vụ Giám sát an toàn hệ thống ngân hàng (gọi tắt là Vụ IV);
- Vụ Chính sách an toàn hoạt động ngân hàng (gọi tắt là Vụ V);
- Vụ Quản lý cấp phép các TCTD và hoạt động ngân hàng (gọi tắt là Vụ VI);
- Vụ Tổ chức cán bộ (gọi tắt là Vụ VII);
- Văn phòng;
- Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thành phố Hà Nội (gọi tắt là Cục I);
- Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Cục II);
- Cục Phòng, chống rửa tiền (gọi tắt là Cục III)
Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP.HCM được thành lập theo Quyết định số 2697/QĐ-NHNN ngày 19/12/2014 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước trên cơ sở Quyết định số 35/2014/QĐ-TTg ngày 12/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiêm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan TTGSNH trực thuộc NHNN Việt Nam bao gồm các Phòng ban như sau:
Phòng Thanh tra các chi nhánh ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, ngân hàng chính sách;
Phòng Thanh tra các ngân hàng thương mại cổ phần và tổ chức khác;
Phòng Thanh tra hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng;
Phòng Quản lý cấp phép các TCTD và hoạt động ngân hàng;
Phòng Giám sát xử lý sau thanh tra;
Trang 393.2.2 Kinh nghiệm thanh tra, giám sát NHTW tại một số nước và mô hình Thanh tra, giám sát ngân hàng phù hợp vói Việt Nam4
Giám sát ngân hàng thường là trách nhiệm của NHNN, nhưng ở một số nước lại do
Bộ Tài chính hoặc một tổ chức độc lập tiến hành Một hình thức lưỡng tính, bằng cách trao cho cơ quan thực hiện giám sát ngân hàng một vị thế đặc biệt - bán độc lập, trong khi vẫn duy trì chức năng này trong NHNN, cũng đã được một số nơi trên thế giới lựa chọn Việc thành lập Cục TTGSNH TP.HCM trực thuộc Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, về bản chất vẫn thuộc NHNN nhưng lại hoạt động thanh tra, giám sát riêng và có trách nhiệm phối hợp với NHNN về điều hành hoạt động của hệ thống Ngân hàng Đe đạt được điều này là sự đúc kết kinh nghiệm và nghiên cứu của các nước trên thế giới và áp dụng trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay
Một công trình nghiên cứu về bộ máy tổ chức giám sát ngân hàng được tiến hành bởi IMF (Tuya và Zamalloa, 1994) đã chỉ ra rằng: ở hầu hết các nước châu Á, Trung Đông, các nước thuộc Liên bang Xô Viết cũ, và châu Phi, thẩm quyền giám sát, ngân hàng được trao cho NHNN; duy chỉ ở khu vực Tây bán cầu, thẩm quyền này được chia xấp xỉ ngang nhau giữa NHNN và cơ quan bên ngoài - hoặc là Bộ Tài chính, hoặc là một
cơ quan tách biệt Hầu hết các NHNN trong các nước thành viên ASEAN (trừ Brunei) đều chịu trách nhiệm giám sát ngân hàng; ở một số nước châu Âu như ý, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Hy lạp, Cộng hoà Séc, Tây Ban Nha, trách nhiệm điều hành hàng ngày hoạt động giám sát ngân hàng trực tiếp thuộc về NHNN, ở một số nước châu Âu khác như Áo, Na
Uy, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về giám sát ngân hàng Tình hình dường như phức tạp hơn ở các nước như Bỉ, Pháp, Đức và Anh, nơi mà cơ quan chịu trách nhiệm giám sát ngân hàng là độc lập về vị thế, đôi chồ còn có cả bộ máy nhân sự riêng Tuy nhiên, dù có
vị trí pháp lý độc lập, các cơ quan này thường được liên kết chặt chẽ với: hoặc là NHNN, hoặc là Bộ Tài chính
Trong một công trình nghiên cứu của Revenda (2001), để chính xác đến mức có thể, ông phân mẫu các nước được phân tích thành 2 nhóm: (i) nhóm những nước mà NHNN đóng vai nhà độc quyền về giám sát ngân hàng; và (ii) nhóm các nước còn lại, nơi NHNN không có trách nhiệm hoặc không phải là cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm về giám sát
Trang 40thống, thể chế chính trị, đặc thù hệ thống tài chính - ngân hàng trong nước là những lý do chủ yếu dẫn tới mô hình nào được lựa chọn; và có một khuynh hướng mới xuất hiện là, ở hầu hết các nước có hệ thống tài chính phát triển, giám sát ngân hàng không phải hoặc không còn là trách nhiệm độc quyền của NHNN (các nước như Mỹ, Pháp, Anh, Nhật, Đức, Canada, úc, Phần Lan, Thụy Sỳ, v.v , đều đã hoặc mới chuyển sang áp dụng mô hình theo nhóm (ii).
Một số nước như Slovakia, Đài Loan, Hàn Quốc, Latvia, Estonia hay gần đây nhất
là Indonesia, Trung Quốc chuyển chức năng TTGSNH ra ngoài NHNN, thì một số nước khác như Ireland, Netherlands, Chính phủ quyết định đưa Cơ quan TTGSNH vào trong NHNN và tăng cường củng cố vị thế, cũng như mở rộng phạm vi giám sát của chúng trong các bộ máy NHNN này
Trên giác độ vĩ mô, Heller (1991), Goodhart và Shoenmaker (1995), Carmine Di Noia và Giorgio Di Giorgio (1999) đều cho là: Mô hình NHNN không có chức năng Thanh tra, giám sát ngân hàng, dường như thành công hơn trong việc theo đuối mục tiêu kiềm chế lạm phát so với những NHNN có một phần hoặc đầy đủ trách nhiệm giám sát ngân hàng Lý do là những ngân hàng đó tập trung được toàn bộ nguồn lực của mình vào việc điều hành chính sách tiền tệ - một nhiệm vụ ngày nay được cho là quan trọng nhất của bất kỳ một NHNN nào Hơn nữa, chúng tránh được những xung đột vốn có giữa việc điều hành chính sách tiền tệ và việc thực thi chức năng giám sát
Trên giác độ vi mô, có bốn cách sắp đặt bộ máy giám sát ngân hàng: (1) đặt trong NHNN như là một Vụ; (2) là một Vụ trong Bộ Tài chính; (3) thành lập một cơ quan độc lập (superintendency) như nhiều nước châu Mỳ Latin lựa chọn; và (4) pha trộn giữa các cách lựa chọn trên, chẳng hạn như nâng tầm Đơn vị thanh ra, giám sát ngân hàng lên thành bán độc lập và vẫn đặt trong NHNN
Mỗi mô hình đều có những mặt mạnh, yểu nhất định, xét cả dưới giác độ vĩ mô và
vi mô, trước mắt và lâu dài Nhằm khai thác tối đa những lợi thế của mỗi loại mô hình, đồng thời hạn chế được những nguy cơ xung đột có thể có, mặt khác vẫn theo đuổi được
ý định tăng cường tính độc lập của NHNN VN, việc lựa chọn “Mô hình hồn họp - tổ chức giám sát ngân hàng vẫn được đặt trong NHNN nhưng được nâng lên vị thế bán độc lập” là phương án tối ưu nhất - Các nước trên thế giới hiện đang thực hiện thành công như (MAS của Singapore, HKMA của Hồng Kông) Mô hình này có những ưu điểm: