ĐỀ TÀI 18:PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM Theo thống kê mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nước ta hiện nay có khoảng ba trăm khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp nằm rải rác ở nhiều tỉnh thành, giải quyết việc làm cho hàng triệu người cũng như góp phần rất lớn vào tình hình kinh tế chung. Mặc dù vậy, những hệ lụy mà những khu công nghiệp này gây ra về môi trường ô nhiễm, các chất thải rắn, kim loại, chất thải hóa chất và đặc biệt là nguồn nước cũng khá nghiêm trọng, cần có những biện pháp cụ thể để giải quyết.
Trang 1ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Bách Khoa 2015
ĐỀ TÀI 18 :PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
BÀI TIỂU LUẬN
Giáo viên hướng dẫn: Võ Thị Lệ Hà Sinh viên thực hiện : Phạm Hoàng Hải 20131265
Phạm Thị Hà 20131179 Nguyễn Thị Minh Hà 20131165
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Theo thống kê mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi
trường, nước ta hiện nay có khoảng ba trăm khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp nằm rải rác ở nhiều tỉnh thành, giải quyết việc làm cho hàng triệu người cũng như góp phần rất lớn vào tình hình kinh tế chung.
Mặc dù vậy, những hệ lụy mà những khu công nghiệp này gây ra về môi trường ô nhiễm, các chất thải rắn, kim loại, chất thải hóa chất và đặc biệt là nguồn nước cũng khá nghiêm trọng, cần có những biện pháp cụ thể
để giải quyết.
Trang 3Kết cấu bài tiểu luận
1. Tình hình phát triển và vi phạm pháp luật về môi
trường tại các KCN tại Việt Nam
2. Thực trạng ô nhiễm môi trường
3. Nguyên nhân của tình trạng trên
4. Giải pháp
Trang 4Tính đến hết tháng 12/2014, tổng vốn đầu
tỷ USD Trong đó, thu hút từ đầu tư nước
ngoài đạt 5.593 dự án với tổng vốn đầu tư đã
trong nước đạt 5.464 dự án đầu tư
trong nước với tổng vốn đăng ký gần 542
nghìn tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt
Trang 5Số vụ vi phạm pháp luật về BVMT tại các KCN đã bị lực lượng Cảnh sát môi trường phát hiện trong giai đoạn
2007-2014 là 8.021 vụ Số lượng các vụ vi phạm pháp luật về BVMT bị lực lượng Cảnh sát môi trường phát
hiện, xử lý đều tăng qua các năm, lớn nhất trong năm
2014 với 2.110 vụ.
Trang 7a Ô nhiễm môi trường nước
b Ô nhiễm môi trường không khí
c Ô nhiễm môi trường đất
Trang 8Lượng nước thải của các khu công nghiệp thải ra môi trường rất lớn
Thành phần nước thải công nghiệp chưa qua xử lý thường ở mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép nghiêm trọng Hàm nước BOD, COD và hàm lượng các chất độc hại khác như kẽm, cadimi,
chì… vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
Trang 9Năm 2008, vụ ô nhiễm nước thải nghiêm trọng ở sông Thị Vải mà thủ phạm chủ yếu thuộc về
Vedan, với hành động xả chui hơn 100.000 m3 nước thải độc ra sông mỗi tháng.
Trang 11Tải lượng ô nhiễm đối với 5 thông sỗ chất lượng nước (TSS, BOD5) COD, N tổng, p tổng)
Trang 12 Ô nhiễm môi trường không khí mang tính cục bộ, tập trung ở các KCN cũ, chủ yếu
do hai nguồn:
quá trình đốt nhiên liệu tạo năng lượng cho hoạt động sản xuất và sự rò rỉ chất
ô nhiễm từ quá trình sản xuất
Trang 13Những tác động về mặt vật lý:
Gây xói mòi, nén chặt đất và phá hủy cấu trúc đất do kết quả của các hoạt động xây dựng, sản xuất và khai thác mỏ Các tác động này thể hiện rất rõ tới sự biến đổi hoạt động của VSV trong đất.
Về mặt hóa học: các chất thải rắn, lỏng, khí thải ra từ các hoạt động công nghiệp thường là các sản phẩm
độc hại ở dạng dung dịch như nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt và dạng rắn nhu: than, bụi , xỉ quặng, chất hữu cơ có trong thành phần rác thải.
Trang 14Ô nhiễm do tác nhân sinh học: tác động của hoạt động sản xuất công nghiệp ngày càng nhiều và có tính ô
nhiễm ngày càng cao Việc thải bỏ chất thải sinh học mất vệ sinh như chất thải sinh hoạt, phân rác, các
thành phần dư thừa của thực phẩm… tạo điều kiện
thuận lợi cho các loài VSV phát triển, từ đó những trực khuẩn lị, thương han, amip, kí sinh trùng có thể gây
bệnh cho con người
Trang 15Tổng lượng chất thải rắn tăng qua từng năm
Lượng phát thải chất thải rắn trên đơn vị diện tích tăng
Trang 16Thống kê cho thấy, năm 2011 mỗi ngày các KCN nước ta thải ra khoảng tám nghìn tấn chất thải rắn (CTR ), tương
đương khoảng ba triệu tấn một năm Tuy nhiên, lượng CTR đang tăng lên cùng với việc gia tăng tỷ lệ lấp đầy các KCN, nếu như tính trung bình cả nước, năm 2005 – 2006, một ha diện tích đất cho thuê phát sinh CTR khoảng 134 tấn/năm, thì đến năm 2008 – 2009, con số này đã tăng lên 204
tấn/năm (tăng 50%).
Sự gia tăng phát thải trên đơn vị diện tích đã phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu sản xuất công nghiệp , xuất hiện các ngành có mức phát thải cao và quy mô ngày càng lớn tại các khu công nghiệp và dự báo tổng phát thải CTR từ các KCN năm 2015 sẽ vào khoảng 6 đến 7,5 triệu tấn/năm và đến năm 2020 đạt từ 9 đến 13,5 triệu tấn/năm.
Trang 17Chưa có quy hoạch tổng thể và đồng bộ các KCN một cách lâu dài, hoàn thiện
Một số cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác BVMT và phát triển bền vững
Hệ thống pháp luật về BVMT còn bộc lộ một số vấn đề bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn, nhiều quy định còn chưa rõ ràng gây khó khăn hoặc không thể áp dụng
trong thực tiễn
Chế tài xử lý vi phạm pháp luật về môi trường còn quá nhẹ, thiếu tính răn đe
Trang 18Lực lượng quản lý nhà nước về BVMT và lực lượng Cảnh sát môi trường còn mỏng, năng lực, trang thiết bị còn hạn chế.
Công tác xã hội hóa hoạt động BVMT và quản lý tài
nguyên chưa thực sự hiệu quả; chưa huy động sức
mạnh toàn dân.
Trang 194 Giải pháp
Cần xây dựng chiến lược phát triển KCN phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế và BVMT, tránh tình trạng phát triển
ồ ạt, nhưng hiệu quả không cao, gây lãng phí đất đai.
Tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT nói chung và trong phát triển các KCN nói riêng
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về BVMT đối với
các KCN: Việc cấp phép các dự án phải được thực hiện
nghiêm túc, chỉ thu hút đầu tư và cho phép đi vào hoạt
động khi đã đảm bảo các yêu cầu về BVMT
Tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và
vi phạm pháp luật về môi trường