Được sự nhất trí của giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng Xã Khánh
Trang 1- -
ĐÀO THỊ HẢI YẾN
Tên chuyên đề:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI
LỢN NGUYỄN XUÂN DŨNG XÃ KHÁNH THƢỢNG - HUYỆN BA VÌ -
TP HÀ NỘI VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2- -
ĐÀO THỊ HẢI YẾN
Tên chuyên đề:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI
LỢN NGUYỄN XUÂN DŨNG XÃ KHÁNH THƯỢNG - HUYỆN BA VÌ - TP
HÀ NỘI VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y
Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Hữu Hòa
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em thật sự sẽ không thể trở thành một người như ngày hôm nay nếu không có những người yêu thương, hướng dẫn, dạy dỗ, ủng hộ, động viên, truyền cảm hứng cho em trên chặng đường em đã đi qua, đặc biệt là 4 năm đại học
Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lời cảm ơn sâu sắc tới Nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn tới thầy Th.s Nguyễn Hữu Hòa, giảng viên Khoa Chăn Nuôi Thú y trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn em trong thời gian thực tập để em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ công nhân viên trại lợn Nguyễn Xuân Dũng thuộc Xã Khánh Thượng - Huyện Ba Vì - TP Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ
em hoàn thành chuyên đề trong quá trình thực tập tại cơ sở
Em xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập, thực tập để hoàn thành chuyên đề này
Trong quá trình thực tập, bản thân em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô để em được trưởng thành hơn trong cuộc sống sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Đào Thị Hải Yến
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 28
Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí các phác đồ điều trị 31
Bảng 4.1 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn 34
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 36
Bảng 4.3: Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh ở đàn lợn được theo dõi 39
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện công tác khác trên đàn lợn con 42
Bảng 4.5: Điều tra quy mô đàn lợn nái 2 năm 2015-2016 của trại 42
Bảng 4.6: Tỷ lệ viêm tử cung ở đàn lợn nái theo dõi ở 3 dãy chuồng 43
Bảng 4.7: Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 43
Bảng 4.8: Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung ở điều kiện thời tiết khác nhau 45
Bảng 4.9: Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh viêm tử cung theo giống lợn 45
Bảng 4.10: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo phác đồ điều trị 46
Bảng 4.11: Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái sau điều trị 47
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1
1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề 1
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại 4
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 5
2.2.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái 5
2.2.1.1 Âm môn (vulva) 6
2.2.1.2 Âm vật (clitoris) 6
2.2.1.3 Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism) 6
2.2.1.4 Âm đạo (vagina) 6
2.2.1.5 Tử cung (uterus) 6
2.2.1.6 Ống dẫn trứng 7
2.2.1.7 Buồng trứng 7
2.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 8
2.2.2.1 Sự thành thục về tính 8
2.2.2.2.Chu kỳ tính 9
2.2.2.3 Khoảng cách giữa các lứa đẻ 9
2.2.3 Sinh lý lâm sàng 10
Trang 72.2.4 Quá trình viêm tử cung 11
2.2.5 Các bệnh thường gặp về viêm tử cung 12
2.2.5.1.Viêm cổ tử cung (Cervitis) 12
2.2.5.2 Viêm tử cung 13
2.2.6 Một số nguyên nhân gây viêm tử cung 16
2.2.6.1 Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý 16
2.2.6.2 Chăm sóc quản lý vệ sinh 16
2.2.6.3 Tiểu khí hậu chuồng nuôi 16
2.2.6.4 Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe 17
2.2.6.5 Đường xâm nhiễm của mầm bệnh 17
2.2.7 Một số bệnh khác ở đường sinh dục của lợn nái 17
2.2.7.1 Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo 17
2.2.7.2 Viêm buồng trứng 18
2.2.7.3 Thể vàng tồn tại (Corpus luteum persistens) 18
2.2.8 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung 19
2.2.8.2 Biện pháp điều trị 20
2.2.9 Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng trong chuyên đề Tính chất dược lý hóa, thành phần, công dụng của thuốc dùng 21
2.3 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước 24
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 24
2.3.2 Các nghiên cứu ngoài nước 26
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 27
3.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Thời gian và địa điểm 27
3.3 Nội dung tiến hành 27
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 27
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 27
3.4.2 Phương pháp thực hiện 27
3.4.2.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 27
Trang 83.4.2.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh 28
3.4.2.3 Phương pháp đánh giá cường độ nhiễm bệnh 29
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
3.4.4 Phương pháp điều trị cho lợn mắc bệnh viêm tử cung 30
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn tại trại 32
4.2 Quy trình vệ sinh chuồng nuôi và phòng bệnh cho đàn lợn 35
4.3 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái và lợn con
tại trại 36
4.4 Kết quả các công tác khác 40
4.5 Kết quả thực hiện chuyên đề 42
4.5.1 Quy mô và cơ cấu đàn lợn nái 2 năm 2015-2016 42
4.5.2 Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo dõi ở 3 dãy chuồng qua 2 năm (2015 - 2016) 43
4.5.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 43
4.5.4 Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung ở các điều kiện thời tiết khác nhau 44
4.5.6 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo phác đồ điều trị 46
4.5.7 Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái sau điều trị 47
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.1.1 Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh
tại trại 49
5.1.2 Kết luận của chuyên đề 49
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
i Tài liệu tiếng việt 1
II Tài liệu tiếng Anh 2
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong Nhà trường, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các tiễn bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho sinh viên có tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo, để khi ra trường trở thành một người cán bộ có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển Đất Nước
Xuất phát từ quan điểm trên và được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Được sự nhất trí của giáo hướng dẫn và sự
tiếp nhận của cơ sở, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Tình hình mắc bệnh
viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng Xã Khánh Thượng - Huyện Ba Vì - TP Hà Nội và sử dụng một số phác đồ điều trị"
Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nên trong bản khóa luận tốt nghiệp này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót
Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của bạn bè để bản chuyên đề được hoàn thiện hơn
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề
- Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh
- Xác định hiệu lực và độ an toàn của một số loại thuốc điều trị bệnh
Trang 101.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm những hiểu biết
về bệnh viêm tử cung ở lợn, là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng trị bệnh
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
xã rất thuận lợi cho việc giao thông, vận chuyển thức ăn cũng như việc buôn bán, vận chuyển hàng hóa của trại
2.1.2 Điều kiện khí hậu
Huyện Ba Vì nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Do đó, trại lợn Nguyễn Xuân Dũng cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng, nhiệt độ thay đổi theo mùa rõ rệt Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 8), mùa đông lạnh, khô (từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau) Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,40C Ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,70C; nhiệt độ tối cao lên tới 420C Ở độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm 20,60C; Từ độ cao 1000m trở lên nhiệt độ chỉ còn 160C Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,20C Nhiệt độ cao tuyệt đối 33,10C Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8 Độ
ẩm không khí 86,1% Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1 Từ độ cao 400m trở lên không có mùa khô Mùa đông có gió Bắc với tần suất >40% Mùa Hạ
có gió Đông Nam với tấn suất 25% và hướng Tây Nam Với điều kiện khí hậu như vậy, tương đối thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển
Trang 122.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại gồm có 20 người trong đó có:
+ 1 quản lý
+ 2 kỹ sư chính của công ty
+ 2 tổ trưởng (1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ)
+ 1 bảo vệ
+ 14 công nhân
+ 2 cấp dưỡng
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại
Trại mới được xây dựng nên cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng đều được quan tâm và chú trọng
+ Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư hơn hết:
- Trại được xây dựng trên quả đồi khoảng 5 ha với 6 dãy chuồng lớn chạy dài lợp mái tôn Mỗi 1 dãy lớn lại được chia làm 2 dãy chuồng nhỏ
- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng bầu) và giường nằm (đối với chuồng đẻ) được lắp đặt theo dãy
- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước cho lợn tự động
- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông
- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho
cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện
- Về cơ sở hạ tầng:
Trang 13+ Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân, sinh viên và khu chuồng nuôi
+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi
+ Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn ca (buổi trưa) và nhà ăn chung (buổi tối)
+ Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ
+ Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại
- Hệ thống chuồng nuôi
Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân, gồm: 6 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 1 chuồng lợn đực và 2 chuồng cách ly Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông - Tây, Nam - Bắc Đảm bảo thoáng mát về mùa hè và
ấm áp về mùa đông Chuồng nuôi xây dựng theo kiểu 2 mái gồm 6 dãy chuồng chạy dài Trong đó có 3 dãy chuồng đẻ, mỗi dãy được tách ra làm 2 chuồng nhỏ với 58 ô chuồng sàn Chuồng lợn bầu gồm 2 chuồng với kiểu chuồng cũi sắt Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự động
ở mỗi ô chuồng Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt thông gió và dàn mát Mùa đông có hệ thống làm ấm bằng đèn hồng ngoại
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái
Quá trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng và cơ bản, giúp gia súc trong hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống Cấu tạo gồm bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong
Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ thấy
và quan sát được Bao gồm: âm môn, âm vật và tiền đình Bộ phận sinh dục bên trong không nhìn thấy được nhưng bằng phương pháp gián tiếp người ta có thể quan sát, hoặc sờ thấy bao gồm: âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng
Trang 14Mỗi bộ phận này đều đảm nhiệm một chức năng khác nhau và giữ một vai trò quan trọng khác nhau
2.2.1.1 Âm môn (vulva)
Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn Bên ngoài có hai môi, bờ trên của hai môi có sắc tố, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và tuyến tiết mồ hôi
2.2.1.2 Âm vật (clitoris)
Âm vật của con cái được cấu tạo giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng Trên âm vật có các nếp da tạo ra mũ âm, ở giữa
âm vật gấp xuống dưới là chỗ tập trung các đầu mút các dây thần kinh
2.2.1.3 Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism)
Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước là âm đạo Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm mạc gấp lại tạo thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về
âm vật
2.2.1.4 Âm đạo (vagina)
Âm đạo là một ống tròn, trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh Âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp:
Lớp liên kết bên ngoài
Lớp cơ trơn: bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, chúng liên kết với các cơ tử cung
Lớp niêm mạc: trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc
Ngoài ra âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ trong tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm
2.2.1.5 Tử cung (uterus)
Tử cung của lợn có hai sừng, một thân và một cổ tử cung
Cổ tử cung: là phần ngoài của tử cung, cổ tử cung của lợn dài và tròn, không gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt dài xen kẽ cài răng lược với nhau do đó dễ
Trang 15dàng cho việc thụ tinh nhân tạo đồng thời cũng dễ gây sảy thai (Đặng Quang Nam
và Phạm Đức Chương, 2002 [11])
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] thì cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm
Thân tử cung: thân tử cung lợn ngắn, độ dài khoảng 3 - 5 cm nối giữa sừng
tử cung và cổ tử cung Niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp nhăn nheo theo chiều dọc
Sừng tử cung: Sừng tử cung của lợn ngoằn ngoèo như ruột non dài 0,5 - 1
m Ở lợn thai làm tổ đều hai sừng tử cung
2.2.1.6 Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng (vòi fallop) nằm ở màng treo buồng trứng Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau Cấu tạo ống dẫn trứng cũng phù hợp với chức năng này, một đầu ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có loa kèn là một màng mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều ôm lấy trứng Trứng được vận chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra quá trình thụ tinh và phân chia của phôi Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày Trên đường di hành, tế bào trứng có thể ở lại các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng
Có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn chức năng: đoạn tua điểm, đoạn phễu, phồng của ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng
Trang 16những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng
Noãn bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là noãn bào, noãn bào lúc đầu
có hình dẹt sau có hình trụ Noãn bào thứ cấp do noãn bào tăng sinh và hình thành xoang noãn bào ép trứng về một phía, khi noãn bào chín là quá trình sinh trưởng đã hình thành Noãn bào nổi lên trên bề mặt buồng trứng, đến một giai đoạn nhất định
sẽ vỡ ra, tế bào trứng theo dịch noãn bào vào loa kèn rồi đi vào ống trứng, nơi noãn bào vỡ sẽ hình thành thể vàng
Thể vàng tiết ra progesteron, khối lượng thể vàng và hàm lượng progesteron tăng nhanh từ ngày thứ 8 và tương đối ổn định cho đến ngày thứ 15, sự thoái hóa thể vàng bắt đầu từ ngày thứ 17 - 18 và sẽ chuyển thành thể bạch nếu trứng không được thụ tinh
2.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.2.1 Sự thành thục về tính
Thành thục về tính là tuổi con vật có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản So với thành thục thể vóc, sự hình thành về tính ở gia súc nói chung và lợn nói riêng thường sớm hơn, nên người ta thường bỏ qua chu kỳ động dục đầu tiên, mà phối cho lợn ở chu kỳ sau, khi đó lợn đã phát triển toàn diện về thể vóc và sẵn sàng đảm nhiệm vai trò làm mẹ
Sự thành thục về tính được nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận ngoài của cơ quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh Đầu tiên hai mép âm môn sưng đỏ và có dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ thẫm và keo dính Tương ứng là sự biến đổi về thần kinh lúc đầu hưng phấn sau chuyển sang giai đoạn mê ì Cùng với sự biểu hiện sinh dục bên ngoài, ở bên trong buồng trứng cũng có sự biến đổi, các noãn bào nổi trên bề mặt trứng và chín, niêm mạc tử cung tăng sinh, cổ tử cung mở dần kèm theo tiết dịch
Tuổi đầu tiên của nái hậu bị trung bình là 4 - 5 tháng tuổi nhưng tuổi phối giống lần đầu thích hợp là 7 - 8 tháng tuổi và tuổi đẻ lứa đầu là 11 - 12 tháng tuổi
Trang 17Sở dĩ trứng rụng có tính chu kì: Dưới sự điều khiển của thần kinh trung ương, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao phát triển, trong khi đó LH làm trứng chín, khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì khi đó rụng trứng, hình thành thể vàng Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ nếu gia súc được thụ thai, nó chỉ tồn tại từ 3 - 15 ngày nếu trứng không được thụ tinh, sau đó nó teo
đi dưới tác dụng của PGF2α làm co mạch máu ngoại vi nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không được cung cấp chất dinh dưỡng và bị tiêu hủy trong vòng 24 giờ, kết quả làm hàm lượng progesteron giảm, lúc này FSH và LH được giải phóng làm trứng phát triển và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo
Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải trứng sau Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác nhau Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động trong phạm vi từ 18 -
25 ngày Khi tiến hành phối giống lợn có chửa thì lợn không động dục lại Thời gian có chửa của lợn là 114 ngày, thời gian động dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày
2.2.2.3 Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên bao gồm thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai lứa sau, do vậy khoảng cách lứa đẻ ảnh hưởng đến số con cai sữa/nái/năm Nhiều công trình nghiên
Trang 18cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao động không đáng kể, từ 113 - 115 ngày, đây là yếu tố ít biến đổi
Để rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời gian
bú sữa của lợn con bằng cách cai sữa sớm ở lợn con Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng để rút ngắn thời gian sau đẻ đến phối giống lại có kết quả cao thì phải chăm sóc nuôi dưỡng tốt và đặc biệt phải cai sữa sớm cho lợn con, điều đó tăng số con cai sữa/nái/năm Để rút ngắn thời gian cai sữa, phải tập cho lợn con ăn sớm từ 5 ngày tuổi đến khi lợn con có thể sống bằng thức ăn được cung cấp, không cần sữa mẹ
Hiện nay các cơ sở chăn nuôi tập trung, thời gian cai sữa ở lợn con là 21 ngày, sau cai sữa 5 - 6 ngày nái mẹ được phối giống lại Như vậy khoảng cách các lứa đẻ trung bình là 140 ngày, một năm nái có thể sản xuất được 2,5 lứa
Thân nhiệt của lợn trong điều kiện sinh lý bình thường dao động trong khoảng 38,5 - 39,50C
+ Sốt:
Sốt là phản ứng toàn thân đối với các tác nhân gây bệnh mà đặc điểm chủ yếu là thân nhiệt cơ thể cao hơn so với sinh lý bình thường Quá trình chủ yếu là do tác động của vi sinh vật gây bệnh, độc tố và những chất khác được hình thành trong quá trình sinh bệnh Những chất đó chủ yếu là protein hay sản phẩm của nó (Hồ Văn Nam và cs, 1997 [12]) Một số kích tố như adrenalin, parathyoroxyn, nước muối, glucoza ưu trương đều có thể gây sốt
Trang 19+ Tần số hô hấp
Tần số hô hấp là số lần thở trên phút, nó phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất, tuổi, tầm vóc Gia súc non có cường độ trao đổi chất mạnh nên tần số hô hấp tăng hơn Động vật nhỏ cũng có tần số hô hấp cao hơn so với động vật có thể vóc lớn Ngoài ra trạng thái sinh lý, vận động, nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến nhịp thở Tần số hô hấp bình thường dao động trong khoảng 8 - 18 lần/phút
2.2.4 Quá trình viêm tử cung
Viêm là phản ứng toàn thân chống lại các tác nhân gây bệnh, thường biểu
hiện ở cục bộ, quá trình viêm xảy ra nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn có những biểu hiện khác nhau Tại ổ viêm thường xảy ra các biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau Xét trên mặt tích cực, viêm là phản ứng nhằm ổn định các hằng số nội môi
trong cơ thể, giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh
Theo Metchnikov (1821 - 1902) sau khi quan sát hiện tượng di động và nuốt các dị vật của bạch cầu đa nhân trung tính cho rằng, trung tâm của phản ứng viêm là
sự hoạt động của những tế bào thoát mạch và chống lại các vật kích thích viêm mà ông gọi là hiện tượng thực bào (phagocytosis) (Hồ Văn Nam và cs, 1997 [12])
Viêm gây tổn thương các mạch quản, tổ chức liên kết và hệ thần kinh đối với tính phản ứng của cơ thể
Theo Vũ Triệu An và cs (1990) [1] thì viêm là một phản ứng của cơ thể mà nền tảng của nó là phản ứng của tế bào Phản ứng này hình thành và phát triển trong quá trình tiến hóa của sinh vật
Ngày nay người ta cho rằng viêm là phản ứng toàn thân chống lại mọi kích thích có hại cho cơ thể, thể hiện ở cục bộ mô bào (Nguyễn Hữu Nam, 2005 [13])
* Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm
Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây ra các rối loạn chủ yếu sau:
+ Rối loạn chuyển hóa
Tại ổ viêm quá trình oxy hóa tăng mạnh, nhu cầu oxy tăng nhưng vì có rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp oxy không đủ, gây rối loạn chuyển hóa
Trang 20gluxit, lipit và protein làm thay đổi PH, gây tăng độ axit, xeton, lipit, polypeptit, và các axit amin tại ổ viêm
+ Tổn thương ở mô bào
Các tế bào bị thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại ổ viêm, chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh học cao và hạ thấp PH tại ổ viêm
+ Dịch rỉ viêm
Dịch rỉ viêm được hình thành do tăng áp lực thủy tĩnh trong các mạch quản tại
ổ viêm, tăng áp lực thẩm thấu, tăng tính thấm thành mạch là các yếu tố quan trọng nhất và các protein bị thoát ra ngoài làm tăng lượng nước ngoại vi gây phù thũng
+ Tăng sinh ở mô bào
Là hiện tượng tăng lên về số lượng, các tế bào này có thể từ máu tới hoặc các
tế bào tại chỗ sinh sản và phát triển ra Trong quá trình viêm giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng phản ứng của cơ thể (Phạm Khắc Hiếu và Lê Thị Ngọc Diệp, 1997 [7])
+ Các tế bào viêm
Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm, bao gồm bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu đơn nhân lớn
2.2.5 Các bệnh thường gặp về viêm tử cung
2.2.5.1.Viêm cổ tử cung (Cervitis)
Cổ tử cung lợn có những u thịt xen kẽ khép lại với nhau theo lối cài răng lược (Phạm Xuân Vân, 1982 [19])
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm, tròn không
có nếp gấp nên dễ thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò
Cổ tử cung luôn đóng chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can
Trang 21thiệp bằng tay hay dụng cụ không đúng làm niêm mạc cổ tử cung bị xây sát Ngoài
ra, viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử cung (Trần Tiến Dũng
và cs, 2002 [4])
Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra ngoài được Khi ta dùng mỏ vịt và đèn soi khám qua âm đạo thấy cổ tử cung mở đường kính từ 1 - 2 cm thấy niêm mạc xung huyết hoặc phù
rõ, cá biệt có vết loét dính mủ (Nguyễn Văn Thanh, 2003 [16])
2.2.5.2 Viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2003 [16])
Chính vì vậy, bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] thì viêm tử cung chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung
a Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Theo Black (1983) viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc tử cung Đây
là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái.Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viên tử cung (trích Phùng Thị Vân, 2004 [20])
Nguyên nhân: Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn thương, vi
khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella, Brucella, roi trùng
xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây ra viêm nội mạc tử cung Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại:
Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ
Viêm nội mạc tử cung có màng giả
Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ (Endomestritis puerperalis
Catarhalis purulenta acuta)
Trang 22Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở bò, trâu và lợn Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây sát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp
Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: Thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết…
Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều
Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường
Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau Thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co nhỏ lại của chúng yếu ớt Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều mủ thì
có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng
Viêm nội mạc tử cung màng giả
Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử
Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt lên cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…
b Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)
Theo Settergreen I (1986), viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc
tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm suất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn
Trang 23thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ, có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay hoại tử từng đám (trích Nguyễn Văn Thanh (2002) [15])
Ở thể viêm này, gia súc biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ đó cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch bẩn trong tử cung càng thải ra nhiều
Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau
c Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis)
Theo Athur (1964) viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng (trích Đặng Đình Tín (1985) [18])
Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Con vật luôn luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn
mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dầy cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng
Trang 24Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
2.2.6 Một số nguyên nhân gây viêm tử cung
Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004) [9], trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: Bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết lưu và viêm tử cung
Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:
2.2.6.1 Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý
Khẩu phần ăn thừa hay hiếu protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung
Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ, gây viêm tử cung do xây sát Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung
Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau
2.2.6.2 Chăm sóc quản lý vệ sinh
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh Do quá trình can thiệp khi lợn đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn cái Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn cái
Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng Vệ sinh trang trại, cơ sở chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt… sẽ làm giảm tỷ lệ viêm
2.2.6.3 Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm cho lợn nái bị viêm tử cung Vì vậy chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối với lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung
Trang 252.2.6.4 Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe
Nái đẻ những lứa đầu và nái đẻ nhiều lứa thường hay ít bị viêm tử cung hơn Nái già do sức khỏe kém, hay kế phát một số bệnh, sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ dẫn đến viêm tử cung
2.2.6.5 Đường xâm nhiễm của mầm bệnh
Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là do nhu động của ruột kém
Xâm nhập có thể từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân, nước tiểu Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và dường niệu đạo cũng là nguyên nhân gây bệnh
Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật thường xuyên có mặt trong chuồng lợn Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung, âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập gây viêm tử cung
2.2.7 Một số bệnh khác ở đường sinh dục của lợn nái
2.2.7.1 Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo
Theo tác giả Đặng Đình Tín (1985) [18] nguyên nhân chính của viêm âm
môn tiền đình và âm đạo ở lợn là những sai sót kỹ thuật khi đỡ đẻ Khi gia súc đẻ khó, phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không phù hợp, không đảm bảo vô trùng, gây tổn thương niêm mạc âm môn, tiền đình, âm đạo hoặc sử dụng các thuốc điều trị bệnh ở tử cung, âm đạo kích thích quá mạnh làm niêm mạc âm đạo, âm môn, tiền đình bị viêm
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [4], trong quá trình sinh đẻ, niêm mạc
âm môn, tiền đình và âm đạo bị xây sát, tổn thương do bào thai hay do can thiệp các trường hợp đẻ khó Do trong quá trình đỡ đẻ thao tác kỹ thuật không đúng, dụng cụ
đỡ đẻ không vô trùng gây tổn thương các bộ phận sinh dục bên ngoài Ngoài ra, bệnh có thể kế phát từ hiện tượng sảy thai, thai thối rữa trong tử cung hoặc từ bệnh sát nhau
Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có triệu chứng
Trang 26toàn thân Con vật rặn vặt, đi đái rắt Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử màu trắng chảy ra ngoài
Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo mãn tính, niêm mạc trở nên khô cứng, màu sắc nhợt nhạt, trên bề mặt niêm mạc có chỗ trắng, đỏ không đều Khi kiểm tra
âm đạo, con vật đau đớn Những con viêm mãn tính thì ủ rũ, uể oải, kém ăn, lượng sữa giảm Gia súc luôn rặn, khi rặn từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch rỉ viêm gồm mủ lẫn mảnh tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh, dính vào gốc đuôi, hai bên mông
Viêm màng giả trên niêm mạc được phủ một màng mỏng, tổ chức hoại tử màu trắng, nâu hoặc vàng xám Phía dưới lớp màng có những vết loét nằm rải rác hay tập trung lại thành từng đám lớn trên niêm mạc Con vật đau đớn rõ rệt, khi kiểm tra âm đạo, con vật luôn cong đuôi rặn, dịch rỉ viêm, máu, mủ lẫn tổ chức hoại
tử màu vàng nâu, mùi tanh thối chảy ra Viêm màng giả rất dễ dẫn tới nhiễm trùng huyết Hậu quả là do tế bào của âm đạo tăng sinh, niêm mạc âm đạo sẹo hóa, nhăn nhúm, lòng âm đạo bị hẹp ảnh hưởng đến quá trình phối giống và sinh sản lần sau
2.2.7.2 Viêm buồng trứng
Theo Madec (1995) [10], viêm buồng trứng ở gia súc chủ yếu là do viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, viêm phúc mạc Nếu viêm cả hai buồng trứng ở thể cấp tính thì gia súc mất hẳn chu kỳ sinh dục, buồng trứng sưng to nên hình thành hình
tròn, mềm và mặt ngoài nhẵn bóng, không có noãn bào và thể vàng
Nếu viêm buồng trứng mãn tính, buồng trứng sưng to rõ rệt, rắn, mặt ngoài
có nhiều chỗ lồi lõm khác nhau Nếu buồng trứng bị viêm kéo dài, tế bào trứng bị thoái hóa, các tổ chức liên kết bị tăng sinh, cả hai buồng trứng bị sơ cứng, con vật mất khả năng sinh sản
2.2.7.3 Thể vàng tồn tại (Corpus luteum persistens)
Trong điều kiện sinh lý bình thường, khi gia súc cái xuất hiện động dục lúc
đó noãn bào chín và nổi rõ trên mặt buồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh hormone, áp suất noãn bào vỡ, giải phóng tế bào trứng đồng thời sản xuất ra dịch follicolin Sau khi noãn bào vỡ, dịch nang chảy ra, nang degraff xẹp xuống, đường
Trang 27kính ngắn lại, tạo ra những vách ngăn trên vách xoang ăn sâu vào trong và chứa nhiều tế bào hạt làm thu hẹp kích thước xoang tế bào trứng Lúc này thay thế cho tế bào trứng là thể vàng và đây chính là nơi tiết ra hormone progesteron
Từ ngày thứ nhất cho đến ngày thứ tư, thể vàng gọi là thể huyết Sau ngày thứ tư có thể sờ thấy qua trực tràng sau ngày thứ tư đến ngày thứ mười hai nó hoàn toàn có màu vàng và tiết ra hormone progesteron Nếu không có thai, thể vàng nhanh chóng đạt đến độ tối đa và bắt đầu tiêu biến Nếu gia súc có thai thể vàng tồn tại trong suốt thời gian mang thai cho đến ngày gia súc chuẩn bị đẻ Trường hợp sau khi gia súc đẻ xong hoặc có hiện tượng động dục nhưng chưa phối giống, phối giống nhưng không đậu thai mà thể vàng tồn tại kéo dài hàng tháng trên buồng trứng được gọi là bệnh thể vàng tồn tại Đây là một trong những nguyên nhân làm cho gia súc không động dục, vô sinh
Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1994) [14] cho rằng, nguyên nhân bệnh có thể do kế phát từ viêm tử cung tích mủ, thai canxi hóa, sát nhau
Gia súc bị thể vàng tồn tại hoàn toàn không động dục, có thể khám qua trực tràng phát hiện thể vàng to, nhô lên trên bề mặt buồng trứng
Ngoài ra ở lợn còn có thể bị bệnh thiểu năng và teo buồng trứng, xơ cứng buồng trứng, u nang buồng trứng …
2.2.8 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung
Trang 28phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực lẫn lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch,
2.2.8.2 Biện pháp điều trị
Để điều trị tốt bệnh viêm tử cung cần phải theo dõi, phát hiện bệnh kịp thời
và chẩn đoán đúng bệnh Phát hiện điều trị bệnh sớm sẽ rút ngắn được thời gian
điều trị, đỡ tốn kém thuốc mà bệnh chóng khỏi, con vật chóng hồi phục
+ Tiêm kháng sinh
Cách 1: Tiêm Hanmolin - LA: tiêm bắp 1ml/ 10kg TT/2 ngày, dùng liên tục
3 - 5 ngày
Tiêm Oxytocine: liều 40 - 50UI/con/2 - 3 lần/ ngày
Cách 2: Tiêm Genta Tylo: tiêm bắp liều 1ml/15kg TT/ngày liên tục 3 - 5 ngày Tiêm Oxytocine: liều 40 - 50UI/con/2 - 3 lần/ ngày
+ Tiêm thuốc trợ sức: Catosia B, Anagine-C Lưu ý khi pha thuốc tiêm vitamin C không dùng chung với kháng sinh peniciline, sulfamid và thuốc khác
+ Tiêm thuốc tạo sữa: Thyroxin ngày 1 - 2 ống, liên tiếp 2 - 3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể hạ xuống bình thường
* Phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng
Phác đồ I:
Hanmolin LA tiêm bắp 1ml/10kg TT/2 ngày
Tiêm Oxytocine: liều 40 - 50UI/con/2 - 3 lần/ ngày
Thụt 1 triệu UI Penicillin + 1g streptomycine
Liệu trình ngày 1 lần
Phác đồ II:
Genta - Tylo, tiêm bắp 1ml/15kg TT/ngày
Tiêm Oxytocine: liều 40 - 50UI/con/2 - 3 lần/ ngày
Thụt 1 triệu UI Penicilin + 1g Streptomycine
Liệu trình ngày 1 lần
Trang 29Điều trị cục bộ
Thụt rửa tử cung bằng dung dịch thuốc sát trùng Han Iodine (pha 1 ml với
100 ml nước sạch) mỗi lần dùng cho 1 con từ 2000 ml đến 2500 ml dung dịch đã pha Bơm dung dịch đã pha vào tử cung của lợn và chờ khoảng 30 phút cho dung dịch và dịch viêm ra hết Sau đó dùng hỗn hợp kháng sinh
Penicilin 1 triệu UI
Streptomycin 1g
Nước cất 50 ml
Hòa tan hỗn hợp bơm trực tiếp vào tử cung
Điều trị toàn thân
Tiêm kháng sinh: Hanmolin LA dùng tiêm bắp thịt, tiêm 1ml/10kg TT/2 ngày Tiêm thuốc trợ sức: vitamin C, Catosia B
Cùng với việc điều trị, con vật được chăm sóc, nuôi dưỡng vệ sinh tốt
2.2.9 Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng trong chuyên
đề Tính chất dược lý hóa, thành phần, công dụng của thuốc dùng
- Dung dịch Han Iodine 10%
+ Thành phần: Trong 1000 ml chứa:
P.V.P lodine: 100000 mg
Glycerin:100000 mg
Dung môi vừa đủ: 1000 ml
+ Tính chất: Là lod hữu cơ có tác dụng sát trùng mạnh diệt hầu hết các loại:
Virus: Cúm gà, newcastle, Gumboro, dịch tả lợn, dịch tả vịt, LMLM , Vi khuẩn: Gram (+), Gram (-), đơn bào, xoắn khuẩn Các loại đa bào, và khử các mùi
hôi thối Thuốc dùng để khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, môi trường xung quanh khu chăn nuôi, tay chân của nhân viên, vùng mổ ngoại khoa
+ Công dụng: Tiêu độc chuồng trại: pha với nước sạch 1 lít Han Iodine 10
%/100-250 lít nước Phun đều bề mặt chuồng, dụng cụ chăn nuôi và môi trường xung quanh Tuần 1-2 lần, liên tục 2-3 tuần Sát trùng vết thương hay nốt lở loét do
Trang 30bệnh lở mồm long móng: Pha loãng ½ bôi trực tiếp lên vết thương Sát trùng tay chân, nơi tiêm, vùng mổ ngoại khoa: 10 ml/1 lít nước Sát trùng đầu vú, núm vú và tay vắt sữa, thụt rửa dạ con, âm đạo: 10 ml/1 lít nước
Lưu ý: Khi sử dụng Han Iodine thụt rửa pha tỷ lệ 1/100 không được pha quá
liều dẫn đến se, cháy niêm mạc tử cung làm cho khó giao phối lần sau
vi khuẩn tốt nhất dù chỉ sử dụng thuốc với liều lượng thấp
+ Công dụng: Bên trong chuồng có vật nuôi, nền chuồng, mái và các vách ngăn, pha sát trùng nước uống (1:3000), dụng cụ vắt sữa, các máy móc, thiết bị, vật dụng chăn nuôi (1:500), rửa tay, sát trùng ngoài da, sát trùng bầu vú vật nuôi, sát trùng vết thương và dụng cụ phẫu thuật (1:1000), khử mùi hôi trong chuồng trại (1:250)
Trang 31gram âm, Gentamycin là kháng khuẩn nhóm Aminoglycocid tác dụng mạnh với cả
vi khuẩn gram dương và gram âm
+ Công dụng: Điều trị các bệnh đường hô hấp: Viêm phổi, viêm màng phổi,
tụ huyết trùng Các bệnh đường tiêu hóa: viêm ruột, viêm dạ dày, tiêu chảy, phân trắng, phó thương hàn, bệnh đường sinh dục, viêm vú, viêm tử cung
Amoxycillin ở ngựa, trâu, bò, lợn, dê, cừu, cho, mèo Bệnh ỉa chảy do E coli,
Salmonella, phân trắng, phân vàng, phân xanh, phó thương hàn.Chữa viêm phổi,
phế quản, tụ huyết trùng; viêm thận, cầu thận, bàng quang; nhiễm khuẩn hậu phẫu; viêm vú, hội chứng M.M.A Chữa viêm nhiễm mô mềm, da, vú, dạ con; áp-xe, mụn nhọt, lở loét, viêm chân, móng, khớp, rốn, uốn ván, phù nề Bơm vào tuyến sữa
chữa viêm vú bò do Staphylococcus sp., Streptococcus sp., E coli
ruột như E.coli Penicilin chủ yếu dùng tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch bởi nó thải trừ rất
nhanh và ít gây tác dụng phụ, gần đây người ta đã điều chế ra loại penicilin tổng hợp, loại này có thể dùng cho đường tiêu hóa rất tốt
Khi dùng penicilin tiêm cần phải thử phản ứng vì nó hay xảy ra phản ứng thuốc Khi xảy ra phản ứng cần có thuốc chống phản ứng histamin tiêm kịp thời
Penicilin có tác dụng chủ yếu với các bệnh: Nhiệt thán trâu bò - dùng liều cao - tiêm nhiều ngày, Actiromy cosis ở bò, bệnh đóng dấu lợn, bệnh viêm vú