1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một vài kinh nghiệm kiểm tra và đánh giá học sinh lớp 6 qua

26 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 198 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi cuốnsách giáo khoa mới được đưa vào trong nhà trường trung học cơ sở cùng vớinhững thay đổi trong phương pháp dạy học thì loại bài tập trắc nghiệm cũngđược sử dụng nhiều hơn.. Tron

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 4

PHẦN THỨ HAI:GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 7

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 7

2.3 CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH 8

2.4 Loại câu ghép đôi (Matching) 10

2.4 HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 22

PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN 24

MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 2

PHẦN THỨ NHẤT:

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khi xã hội phát triển thì nhu cầu mở rộng giao lưu, quan hệ, ,hợp tác quốc tếngày càng mạnh mẽ thi việc học tiếng Anh được coi là nhiệm vụ bắt buộc TiếngAnh được coi như là một chìa khoá để mở các cánh cửa giao lưu,hợp tác quốc tế.Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy và học tiếng Anh, bộ Giáo Dục vàĐào tạo đã đưa tiếng Anh vào giảng dạy ở các trường phổ thông, từ bậc mầmnon,tiểu học(khuyến khích) đến bắt buộc ở các bậc phổ thông và đại học Đổi mớiphương pháp dạy và học là một vấn đề nóng hổi luôn được không chỉ nghành giáodục mà toàn xã hội quan tâm Nhưng đổi mới như thế nào cho hiệu quả và phù hợpvới đối tượng học sinh là điều mà mỗi giáo viên chúng tôi luôn trăn trở

Ngay từ những năm đầu bước chân vào nghề và được phân công giảngdạy khối lớp 6, khi cầm trên tay cuốn sách giáo khoa Tiếng Anh lớp 6 và tiếpxúc với học sinh lớp 6, tôi bắt đầu tự hỏi mình rằng liệu việc chỉ dạy học sinh từmới, mẫu câu, rèn luyện bốn kĩ năng; nghe, nói, đọc, viết, đã là đủ với các em?Tôi thì cho là chưa đủ nếu chỉ dừng lại ở những vấn đề đó Bởi lẽ các em họcsinh lớp 6 đang ở lứa tuổi rất hiếu động, sôi nổi, tò mò, thích khám phá tìm hiểunhững điều mới lạ và thế giới xung quanh nhưng cũng còn rất non nớt, bỡ ngỡvới phương pháp và cách học trên bậc học THCS

Trong quá trình dạy học, đánh giá là một khâu cực kì quan trọng thể hiện kếtquả của cả một quá trình dạy và học lâu dài, đánh giá là một bộ phận không thểtách rời của quá trình dạy học Đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh sẽ

là cơ sở đưa ra những quyết định hợp lí trong quá trình dạy học nói riêng và quátrình giáo dục và đào tạo nói chung

Phương pháp dạy và học tiếng Anh có rất nhiều đổi mới theo xu hướngtiến bộ của thế giới Một trong những đổi mới đó là kiểm tra bằng bài tập trắcnghiệm, vì trong thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều kiến thức cụ thể, đivào những khía cạnh khác nhau của một kiến thức, chống lại khuynh hướng học

tủ, học lệch do phạm vi của bài tập trắc nghiệm là khá rộng Sử dụng trắcnghiệm đảm bảo tính khách quan khi chấm điểm, gây được tính hứng thú và tínhtích cực học tập của học sinh, học sinh có thể tự đánh giá bài làm của mình vàtham gia đánh giá bài làm của bạn

Trắc nghiệm rèn luyện cho học sinh khả năng phản xạ nhanh, quyết địnhdứt khoát bởi bài tập trắc nghiệm luôn được giáo viên chuẩn bị ở nhà từ trước,học sinh không phải ghi chép nhiều nên thời gian dành cho dạng bài tập nàythường không nhiều

Trang 3

Thực tế cho thấy hệ thống giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay, mặc dùmục tiêu giao dục đã thay đổi do yêu cầu của xã hội, phương pháp dạy học đãđược nâng cao, nhưng cách thức và công cụ đánh giá kết quả học tập của họcsinh chưa được cải tiến cho phù hợp với xu thế tiến bộ của thế giới Khi cuốnsách giáo khoa mới được đưa vào trong nhà trường trung học cơ sở cùng vớinhững thay đổi trong phương pháp dạy học thì loại bài tập trắc nghiệm cũngđược sử dụng nhiều hơn Trong một công văn của Sở GD & ĐT Hà Nội hướngdẫn công tác chuyên môn của bộ môn Tiếng Anh cấp THCS có yêu cầu giáoviên cần “cải tiến nội dung các bài kiểm tra bằng cách có thể đưa thêm các hìnhthức trắc nghiệm tự luận, trắc nghiệm khách quan.” Điều đó khẳng định giá trịcủa việc đánh giá bằng loại bài tập trắc nghiệm đã được quan tâm.

Một điều hiển nhiên là, không có một biện pháp đánh giá nào lại khôngtồn tại những điểm yếu của nó Cho nên sự lựa chọn, xây dựng và sử dụngchúng như thế nào cho phù hợp với đối tượng học sinh của mình, trong mộthoàn cảnh dạy học cụ thể, để tận dụng được những ưu điểm của nó và đem lạihiệu quả cao trong việc đánh giá việc học tập của học sinh, mà qua đó ngườigiáo viên có thể rút kinh nghiệm trong việc giảng dạy của mình chính là điều tôiluôn trăn trở, quan tâm

Trong phạm vi của bài viết này tôi cũng chỉ mong muốn đưa ra một số ýkiến nhằm trao đổi, xây dựng bộ môn Tiếng Anh ngày càng vững mạnh, pháthuy được vị thế quan trọng của mình trong nền giáo dục nước nhà Tuy nhiên,trong quá trình viết bài chắc cũng không tránh khỏi sai sót, tôi rất mong HộiĐồng Khoa Học các cấp và các bạn đồng nghiệp góp ý, rút kinh nghiệm

Những năm gần đây, các phụ huynh trẻ tuổi cũng có những suy nghĩ tiến

bộ hơn, họ bắt đầu biết quan tâm đến con em mình nhưng lại không biết phươngpháp nên đa phần là nhờ nhà trường quyết định Nhưng nhìn chung các em đềuthuần, dễ bảo, và cũng ham mê những điều mới lạ, cũng thích được tìm tòi,khám phá Với sự đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên, cũng như nhữngcuốn sách giáo khoa mới với nhiều hình ảnh màu minh hoạ, nội dung phongphú, gần gũi với các em, học sinh của tôi cũng rất thích thú, nhiệt tình hưởngứng những hoạt động dạy - học do tôi và các giáo viên khác trong nhóm TiếngAnh cùng nhau dựng lên

Khi tôi chọn đề tài này để nghiên cứu, tôi cũng xác định rõ, những đốitượng nghiên cứu của mình là những học sinh khối 6 trong trường ở mức độ đạitrà, yêu thích bộ môn Tiếng Anh nhưng chưa nắm vững phương pháp học bài,làm bài và tự làm các bài tập trắc nghiệm môn Tiếng Anh

Trang 4

Với mong muốn thực hiện đề tài được thành công, tôi đã tìm đọc tất cảcác tài liệu có liên quan đến chủ đề không những bằng tiếng Việt mà cả bằngtiếng Anh Song song đó bộ sách tiếng anh 6 có sách giáo khoa, sách giáo viên,sách bài tập là những tài liệu giảng dạy chính Đặc biệt, cuốn “Tài liệu bồidưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kỳ 3 (2004 – 2007) và cuốn

“Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS – môn Tiếng Anh”của nhàxuất bản giáo dục đã hỗ trợ rất nhiều cho công tác nghiên cứu của tôi

Mặt khác, tôi tiến hành điều tra, khảo sát và đối thoại cùng học sinh củamình, đồng thời tôi thường xuyên tham gia dự giờ các bạn đồng nghiệp trong tổ

bộ môn để học hỏi kinh nghiệm Bên cạnh đó tôi còn trao đổi ý kiến với đồngnghiệp bộ môn cả trong trường lẫn các trường khác về chủ đề này để mong tìm

ra giải pháp tối ưu nhất Đặc biệt, tôi không quên kiểm tra khảo sát học sinh đểđối chiếu kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp này

Trang 5

PHẦN THỨ HAI:

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN.

Thực hiện nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội, chỉ thị số 14/2001/

CT – TTg của Thủ Tướng Chính Phủ về đổi mới chương trình giáo dục phổthông và quyết định số 14/2004/QĐ – BGD&ĐT ngày 17/5/2004 về việc banhành chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kỳ 3 (2004– 2007)

Phương pháp chủ đạo trong dạy học ngày nay là “lấy học sinh làm trungtâm” Thầy chỉ là người gợi mở vấn đề, hướng dẫn học sinh làm việc Học sinh

tự tìm tòi nắm bắt kiến thức cho bản thân mình

Đặc biệt, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến trên thế giới được dùng làmphương tiện giao tiếp và trao đổi thông tin với nhau Cùng với việc nước ta đãgia nhập WTO và xu thế hội nhập hiện nay thì học tiếng Anh sẽ giúp học sinh cóthể giao tiếp với bạn bè thế giới và làm chủ kho tàng kiến thức của nhân loại.Hơn nữa, xu thế và chủ trương của nghành giáo dục ngày nay là mở rộng việcthi cử, kiểm tra đánh giá học sinh bằng hình thức trắc nghiệm Chính vì vậy màviệc tăng cường kiểm tra, đánh giá học sinh bằng các dạng bài tập trắc nghiệmngay từ khi mới bước chân vào ngưỡng của trường THCS là vô cùng quan trọngnhằm giúp học sinh vững vàng, tự tin và đạt được kết quả tốt hơn khi làm cácbài kiểm tra

2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ

Theo thực tế, khi chưa áp dụng giải pháp này thì học sinh khá giỏi là nhânlực chủ yếu trong lớp Riêng học sinh trung bình, yếu kém rất hiếm khi phátbiểu xây dựng bài và luyện tập bài học ở lớp

Số học sinh đạt điểm trên trung bình trong mỗi lần kiểm tra đánh giá củagiáo viên chỉ khoảng 50% Hơn nữa, các dạng bài tập trắc nghiệm là một phạmtrù khá mới đối với học sinh lớp 6 Nhiều học sinh còn bỡ ngỡ không biết phảilàm các dạng bài tập trắc nghiệm mà cô giáo ra như thế nào

Qua quá trình giảng dạy, tuy chưa có nhiều kinh nghiệm nhưng tôi cũng

đã tích lũy được một số vốn kiến thức từ các lớp tập huấn, các chuyên đề của Sởgiáo dục, Phòng giáo dục và tổ bộ môn Tôi mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng

giải pháp “Một vài kinh nghiệm kiểm tra và đánh giá học sinh lớp 6 qua các dạng bài tập trắc nghiệm Tiếng Anh” nhằm mong muốn cải thiện kết quả học

Trang 6

tập của học sinh lớp 6 và nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn tiếng Anh tạitrường THCS Phan Đình Giót

kỉ 19, do một nhà khoa học người Mỹ nghĩ ra nhằm thủ đánh giá trí thôngminh của con người Sau đó, hai nhà tâm lý học người Pháp soạn ra bộ giáo ántrắc nghiệm

- Trong lĩnh vực giáo dục, một trắc nghiệm cần phải đạt được những tínhchất sau:

+ Tính khách quan: là độ phù hợp giữa những phán xét được đưa ra bởi những giám định viên độc lập.

+ Tính giá trị: là mức độ mà một bài trắc nghiệm đo lường được đúng cái mà nó cần đo.

+ Tính tin cậy: là trắc nghiệm đo được bất cứ cái gì, nó đo chính xác đến đâu, ổn định đến mức độ nào.

+ Tính thuận tiện: xác định bởi thời gian cần thiết để xây dựng một bài trắc nghiệm, giải thích kết quả.

+ Tính phù hợp: là tôn trọng những tiêu chí đã được xác định trong việc lựa chọn những câu hỏi nhằm làm cho chúng phù hợp với mục đích trắc nghiệm

1.2 Trắc nghiệm kết quả học tập.

Trong lĩnh vực giáo dục bao gồm trắc nghiệm năng lực và trắc nghiệm kếtquả học tập Về mặt lý thuyết, trắc nghiệm năng lực được xây dựng để đo tiềmnăng kết quả học tập trong tương lai, còn trắc nghiệm kết quả học tập nhằm để

đo kết quả học tập ở hiện tại Trắc nghiệm về kết quả học tập là một trắc nghiệmđược sử dụng rộng rãi, chúng cung cấp một số đo về những gì đã được hoànthành và dự báo những gì có thể hi vọng trong tương lai Các trắc nghiệm này cóthể chia làm ba loại chính:

+ Trắc nghiệm kết quả tổng quát.

+ Trắc nghiệm chuẩn đoán.

+ Trắc nghiệm cụ thể của từng môn học.

2 Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan.

Trang 7

Thông thường, bài trắc nghiệm khách quan bao gồm nhiều câu, mỗi câuthường có thể trả lời bằng một dấu hiệu đơn giản hay là một từ Chính vì cónhiều câu hỏi trong một bài trắc nghiệm khách quan nên nó có thể bao quát nộidung, chương trình giảng dạy, do đó làm tăng thêm giá trị của việc kiểm tra,đánh giá Những bài trắc nghiệm này có thể đo được những khả năng suy luậnnhư: sắp đặt ý tưởng, suy diễn, so sánh và phân biệt, có thể đánh giá kiến thứccủa học sinh một cách hữu hiệu.

Trắc nghiệm khách quan bao gồm những loại sau:

2.1 Loại trắc nghiệm nhiều lựa chọn (Multiple choice) : đây là loại bài

tập thông dụng nhất, còn gọi là trắc nghiệm đa phương án Loại câu này baogồm hai phần: Phần câu dẫn và phần lựa chọn Phần câu dẫn là một câu hỏi hoặc

là một câu bỏ lửng (câu chưa hoàn tất) Phần lựa chọn là những từ, cụm từ, hay

là những câu trả lời Tuỳ theo yêu cầu của đề bài mà người học Tiếng Anh sẽchọn một đáp án đúng nhất, hoặc sai, hoặc không có liên quan Những câu cònlại được soạn để làm nhiễu, gây lúng túng cho học sinh

Loại trắc nghiệm nhiều lựa chọn có những ưu điểm sau:

+ Độ tin cậy tăng lên do số phương án lựa chọn nhiều, buộc học sinh phải nắm chắc kiến thức Các yếu tố may rủi, đoán mò giảm đi.

+ Tính giá trị được nâng cao vì với nhiều lựa chọn cho sẵn, giáo viên có thể đo được các khả năng của học sinh như: nhớ, hiểu, suy diễn, tổng hợp

Nhược điểm của loại câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn:

+ Khó soạn những câu, từ, cụm từ làm nhiễu Những câu, từ hoặc cụm từ làm nhiễu nên ít nhiều có liên quan đến phần kiến thức đang được kiểm tra VD như trong một câu bỏ lửng, học sinh cần phải điền thêm một động từ, thì đáp án nên dùng vẫn động từ ấy nhưng được chia ở các dạng (nếu mục đích của giáo viên muốn kiểm tra dạng đúng của động từ), hay các từ loại khác như danh từ, tính từ, trạng từ

(khi mục đích của giáo viên là kiểm tra về từ loại) chứ không nên cho một đáp án đúng, rồi những câu nhiễu muốn là gì cũng được

+ Đối với học sinh thông minh, có nhiều sáng kiến thì một đáp án đúng chưa chắc đã khiến các em thoả mãn, nếu các em tìm thấy cách trả lời khác

tương đương, hoặc thậm chí còn hay hơn.

Tuy nhiên với những ưu điểm vượt trội so với các loại câu trắc nghiệm khác nên đây vẫn là loại được dụng nhiều nhất.

2.2 Loại câu hỏi đúng sai (True or False?): Câu trắc nghiệm loại này

thường bao gồm một câu phát biểu để phán đoán và đi đến quyết định là đúng – sai

Trang 8

* Ưu điểm của loại câu đúng sai:

+ Dễ soạn thảo đối với giáo viên.

+ Có thể tiến hành nhanh chóng ở học sinh.

Nhiều chuyên gia cho rằng loại câu trắc nghiệm này có thể dựa vào sự may rủi

2.3 Loại câu điền vào chỗ trống (Gap-filling).

Loại câu trắc nghiệm này đòi hỏi trả lời bằng một từ, hay là một cụm từ,cho một câu hỏi trực tiếp hay một câu nhận định chưa đầy đủ Thực ra loại trắcnghiệm điền khuyết hay trắc nghiệm có câu trả lời ngắn chỉ là một Nếu trìnhbày dưới dạng câu hỏi thì gọi là câu trả lời ngắn, còn nếu được trình bày dướidạng một câu phát biểu chưa đầy đủ thì được gọi là câu điền khuyết

Loại trắc nghiệm này có những ưu điểm sau:

+ Tạo cho học sinh có cơ hội để trả lời về một chủ đề nào đó Chính điều này phát huy được óc sáng tạo của học sinh.

+ Do học sinh phải nhớ lại hoặc nghĩ ra câu trả lời nên dạng bài tập trắc nghiệm này khiến học sinh khó có thể đoán mò.

+ Loại câu trắc nghiệm này dễ soạn thảo hơn loại trắc nghiệm đa phương án và câu ghép đôi.

Tuy nhiên nó vẫn tồn tại một số nhược điểm sau:

+ Khi có nhiều chỗ trống trong câu, học sinh thường hay bị hoang mang, khó làm chính xác hết được.

+ Loại câu trắc nghiệm này khó có thể xây dựng cho rõ ràng vì có thể có nhiều câu trả lời có giá trị như nhau và do đó cũng gây nên khó khăn khi chấm bài.

+ Chấm bài loại trắc nghiệm này thường mất nhiều thời gian hơn so với các loại câu trắc nghiệm khác.

2.4 Loại câu ghép đôi (Matching).

Có tác giả cho rằng loại câu này là hình thức đặc biệt của câu trắc nghiệm

đa phương án, trong đó một dãy phương án lựa chọn được dùng để trả lời hoặc

để gắn kết với các câu khác Loại câu trắc nghiệm này thường bao gồm hai hoặc

Trang 9

ba dãy thông tin gọi là câu dẫn và câu đáp Trong những dãy thông tin này, sốcâu được đưa ra có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau Nhiệm vụ của họcsinh là ghép chúng lại với nhau một cách thích hợp.

Loại bài tập trắc nghiệm này có những ưu điểm sau:

+ Kiểm tra được nhiều loại thông tin, kiến thức của học sinh.

+ Giáo viên không mất nhiều thời gian để soạn thảo.

+ Học sinh rất hứng thú khi sử dụng loại bài tập trắc nghiệm này do dễ định hướng, dễ sử dụng.

+ Yếu tố đoán mò ở học sinh giảm đi nhiều.

Những nhược điểm còn lại:

+ Nếu soạn thảo những câu để đo mức độ kiến thức cao thì giáo viên phải soạn thảo rất công phu, mất rất nhiều thời gian.

+ Nếu bài tập loại này được soạn thảo quá dài thì học sinh phải mất nhiều thời gian để đọc, lựa chọn và tìm câu ghép Học sinh cũng dễ bị rối mắt khi phải nhìn hết cột này sang cột kia.

Nói tóm lại mỗi loại câu trắc nghiệm đều có những ưu điểm và nhượcđiểm của chúng Nhưng chúng ta cần nắm rõ đặc điểm của chúng để có thể hạnchế nhược điểm và tận dụng những ưu điểm để việc dùng câu trắc nghiệm đạtđược hiệu quả cao

3 Nguyên tắc viết câu hỏi trắc nghiệm.

Các chuyên gia đã đưa ra những kỹ thuật khác nhau để soạn thảocâu trắc nghiệm Theo kinh nghiệm của bản thân, tôi nghĩ giáo viên chúng tanên tuân thủ theo những nguyên tắc sau:

a Mô tả tổng quát về nội dung cần trắc nghiệm Giáo viên cần định hình

trong đầu những nội dung chi tiết mà mình sẽ chuẩn bị kiểm tra học sinh

b Lựa chọn dạng bài tập trắc nghiệm phù hợp, sao cho đảm bảo tính

thuận tiện khi sử dụng

c Chú ý đến các đặc điểm của kích thước và đáp ứng.

d Các cách sắp xếp để thay đổi (giúp cho người soạn thảo tạo ra nhiều

câu trắc nghiệm khác nhau trong một lĩnh vực.)

4 Các bước xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan.

Để xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan, giáo viên cần tiến hànhtheo các bước sau:

Bước 1: Xác định mục tiêu đánh giá.

Để xác định được mục tiêu đánh giá, giáo viên cần căn cứ vào:

+ Mục đích, yêu cầu của môn học.

Trang 10

+ Chương trình giảng dạy.

+ Yêu cầu về từng mức độ nhận thức.

Bước 2: Viết câu trắc nghiệm.

Trước khi viết câu trắc nghiệm giáo viên cần thành lập bảng đặc trưng dạng bài tập mình chuẩn bị kiểm tra học sinh:

* Với dạng bài trắc nghiệm đa phương án.

- Đối với câu dẫn:

+/ Dùng một câu hỏi hay câu nhận định không đầy đủ làm câu dẫn, câu dẫn phải chứa đựng đủ khối lượng thông tin cần thiết và không quá 45 từ.

+/ Hoàn toàn không dùng câu mang tính chất phủ định kép, viết câu dẫn và câu trả lời khi gắn với nhau phải

hợp ngữ pháp.

- Đối với phần trả lời:

Phần trả lời thường bao gồm từ 3 đến 5 lựa chọn, nhưng hợp lí nhất là bốn.Viết những câu nhiễu sao cho có vẻ hợp lí và có sức hấpdẫn tương đương Câuđúng được sắp xếp theo một trật tự ngẫu nhiên

* Với dạng bài trắc nghiệm đúng - sai.

- Viết thật ngắn gọn, không trích dẫn nguyên mẫu những câu trong tàiliệu hay trong sách giáo khoa Không viết những câu mang tính phủ định kép

* Với dạng bài điền từ vào chỗ trống.

- Không để quá nhiều chỗ trống làm cho câu trở nên khó hiểu Cố gắng viếtcâu hỏi sao cho để chỉ thấy rõ duy nhất một câu trả lời đúng, hạn chế dùng nguyênmẫu trong tài liệu vì chúng chỉ có nghĩa khi nằm trong một ngữ cảnh cụ thể

* Loại câu ghép đôi:

- Sắp xếp các danh mục một cách rõ ràng, đảm bảo hai danh mục là đồngnhất, có giải thích cơ sở để ghép đôi, tránh việc sắp xếp để tạo nên kiểu ghép 1 –

1 , vì điều này sẽ mang tới sự loại trừ dần dần

- Để tăng phần hấp dẫn cho dạng bài tập này, giáo viên có thể cho mộtbên danh mục ít hơn hoặc nhiều hơn danh mục còn lại, tạo sự thách thức khiếnhọc sinh phải tăng cường suy nghĩ, không dám làm mò

Bước 3: Kiểm soát đề sau khi soạn bài tập.

- Xem xét sự chính xác về thuật ngữ và cách diễn đạt

- Phát hiện những câu không có phương án nào trả lời đúng trong sốnhững phương án đã cho, hoặc lại có nhiều phương án đúng như nhau trong câulựa chọn phương án đúng Đồng thời phát hiện những câu nhiễu chưa hợp lí

Bước 4: Hoàn thiện câu trắc nghiệm.

Trang 11

Để hoàn thiện câu trắc nghiệm giáo viên cần đánh giá chỉ số của bài trắc nghiệm theo độ khó của bài trắc nghiệm, độ tin cậy của bài trắc nghiệm, độ phân biệt của bài trắc nghiệm, và mức độ lôi cuốn của các câu trả lời

5 Hệ thống câu trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của học sinh lớp 6 ( Unit 1, 2, 3, 4)

Trong phạm vi của bài viết này tôi chỉ xin được nêu ra một số ví dụ

về cách viết bài tập trắc nghiệm dùng cho bài 1,2,3,4 Sách Giáo Khoa lớp 6 mà tôi đã làm và áp dụng.

EXERCISES for Unit 1

I Choose the correct answers to fill in the gaps

( am, is, are) 1 This ……….Lan 4 How……… you ? 2 My name…………Linda 5 I …………fine, thanks 3 How old…………you ? 6.She my teacher II Write the right words after the times (morning, afternoon, evening or night) 1 8.00 a.m ………

2 14.00 p.m ………

3 18.00 p.m ………

4 22.00 p.m ………

III Fill in the blanks.

1 A TE N N

2 O N ING

3 E E ING

4 E LO

5 R ETING

6 NI H

IV Put the sentences below in the correct order to make a complete dialogue

- Hello, Mai

- Fine, thank And you?

- Hello, Linh

- How are you?

- I’m fine, thank you

V Choose and fill in the gaps with suitable words

( years, thanks, this, are, good, old, how, hello, am )

Trang 12

Huong: ………… (1) morning, Mr Hung

Mr Hung: Hi, children ………….(2) ……… (3) you, Huong?

Huong: I ……… (4) fine, thank you And you?

Mr Hung: Fine, ……… (5).

Huong: Mr Hung, … …….(6) is Nhung

Mr Hung: Oh, … …(7), Nhung How…………(8) are you?

Nhung: I’m twelve …… (9) old

VI Matching column A with column B

A thank B thanks you C thank you

EXERCISES for Unit 2.

I Choose one word having pronunciation different from others words:

A afternoon B school C classroom D door

II Put “ my, your, I, you or it” into the blanks

1 ………… live on LeLoi street

Trang 13

2 Hello, ………… name’s David.

3 What’s ………… name and how do ………… spell …………?

4 Where do ………… live? 5 How old are …………, Lien ? ………… am twelve 6 Is this ………… classroom? III Put “ in or on ” into the blanks. 1 Mary and Tom live ………… London 2 I live ………… the Huong river 3 She lives ………… Tran Hung Dao Street 4 We live ………… Hue City 5 Peter and David live ……… the USA 6 They live………… a small flat………… Leloi Street IV Put “Where, What or How ’’ into the blanks. 1 ……… are you? 2 ……… old are you? 3 ………… do you live? 4 ……… is your name? 5 ……… do you spell it? 6 is your pen? V Which word is different? 1 A pen B board C desk D teacher 2 A ruler B pencil C pen D student 3 A classroom B eraser C pen D pencil 4 A class B door C window D clock 5 A house B school C eraser D classroom VI Put true (T) into the correct sentences, false (F) into the wrong sentences 1 What is your names?

2 What is your name?

3 Where do you live?

4 I lives in a small house

5 I’m threeteen years old

6 This is a eraser

7 That is my classroom

8 He lives at Tran Phu street

9 She is fourteen years old

Ngày đăng: 28/10/2017, 00:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w