1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiếng việt 3 kĩ năng sử dụng dấu câu

22 1,4K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 7,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy khi tiến hành các biện pháp dạy học các bài tập sử dụng dấu câu , giáoviên cần lưu ý học sinh các điểm sau: * Dấu phẩy dùng để đánh dấu ranh giới giữa các bộ phận của câu, cụ thể

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN THANH XUÂN

TRƯỜNG TIỂU HỌC NHÂN CHÍNH

Chøc vô : Gi¸o viªn Tµi liÖu kÌm theo: §Üa CD

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

A ĐẶT VẤN ĐỀ 1

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1 Cơ sở lý luận 1

2 Cơ sở thực tiễn 1

II.MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 2

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

B NỘI DUNG .3

1 KIỂU BÀI ĐIỀN MỘT LOẠI DẤU TRONG CÂU 3

2 KIỂU BÀI ĐIỀN DẤU CUỐI CÂU 10

3 KIỂU BÀI HỖN HỢP: ĐIỀN DẤU CUỐI CÂU VÀ DẤU TRONG CÂU 15

4 KẾT QUẢ 16

5 BÀI HỌC KINH NGHIỆM 17

6 NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN BỎ NGỎ VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN 17

C KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .18

1 Khuyến nghị 18

2 Kết luận chung 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

A ĐẶT VẤN ĐỀ.

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận:

“Giáo dục tiểu học là nền tảng giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng

tình cảm đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất trẻ em nhằm hình thành cơ sởban đầu cho sự phát triển nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.(Theo điều 2- Luật phổ cập giáo dục)

Bậc tiểu học là nền móng xây dựng lâu dài văn hoá cho mọi người, cũng

có thể coi bậc tiểu học là đường băng đầu tiên giúp thế hệ trẻ Việt Nam bay vào

vũ trụ bao la của tri thức, của cuộc sống Đường băng đó được tạo ra từ nhữngđiều sơ đẳng nhất như kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, kỹ năng tính toán và nhữnghiểu biết về cuộc sống xã hội Các kỹ năng trên được hình thành khi học sinhhọc môn Tiếng Việt, Toán , Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội

Tiếng Việt là một môn học có vai trò quan trọng Thông qua các bài học, bàitập phát triển kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, Tiếng Việt còn rèn luyện cho học sinhcác thao tác tư duy cơ bản như so sánh, phân tích, tư duy, tưởng tượng Ngoài raTiếng Việt còn là một trong các phương tiện để học tốt các môn học khác

Luyện từ và câu là phân môn có vị trí quan trọng trong Tiếng Việt Nócung cấp hệ thống các từ ngữ, cấu tạo câu …qua các bài luyện tập Dạng bài tậpcủa Luyện từ và câu của lớp 3 mà xuyên suốt cả quá trình học đó là dạng bài vềdấu câu Dấu câu có vị trí không nhỏ trong lượng kiến thức cần chiếm lĩnh củahọc sinh Học tốt mảng “dấu câu” sẽ có tác động tốt khi học phân môn Tập đọc(Có kỹ năng sử dụng dấu câu sẽ biết cách ngắt, nghỉ câu văn, câu thơ đúng chỗ.Ngược lại, biết cách đọc ngắt, nghỉ đúng chỗ sẽ dần dần hoàn thành kỹ năng sửdụng dấu câu) Ngoài ra, học tốt mảng “dấu câu” còn là điều kiện quan trọng đểhọc sinh viết câu văn, đoạn văn với ý tứ rõ ràng, diễn đạt mạch lạc khi học mônTập làm văn

Song qua thực tế giảng dạy 9 năm, nhiều giáo viên chưa thực sự chú tâmvào việc rèn kỹ năng sử dụng dấu câu Thể hiện qua việc khi dạy các bài tập vềdấu câu giáo viên rất lúng túng lựa chọn hình thức tổ chức, việc tìm con đườnggiúp học sinh tiếp cận với lời giải đúng một cách ngắn, nhanh, dễ hiểu nhất làmột việc rất khó khăn Phần lớn thường sa vào giảng giải hoặc ấn định, hoặc

“mớm” sẵn cho học sinh mà không giúp các em vận dụng kiến thức ở các bài tậpdạng khác, ở các phân môn khác để giải quyết vấn đề

Mặt khác, về phía học sinh lớp 3, do còn nhỏ, khả năng tư duy khả năngphân tích chưa cao nên khi gặp các dạng bài tập về dấu câu các em thườngkhông có hứng thú nhiều Các em thường chờ đợi sự gợí ý của giáo viên, hoặc

Trang 4

tuỳ tiện dùng bất kỳ dấu câu nào vào bất kỳ chỗ nào mà không cần cân nhắc tạisao lại điền dấu đó Chính vì thế, đôi khi chúng ta thường hay gặp các bài làmvới cách đặt câu như thế, đọc lên thấy lủng củng, nghĩa của câu cũng thay đổihoàn toàn so với văn bản gốc Với một số em khá giỏi, gặp bài khó phức tạp mộtchút thì làm bài đó vẫn có thể đúng nhưng thường dựa vào cảm tính, phỏng đoánchứ không có kỹ năng phân tích nên khi giáo viên hỏi về lý do đặt dấu đó thì các

em giải thích một cách yếu ớt, không có cơ sở

Xuất phát từ mục đích cần đạt được của môn Tiếng Việt, xuất phát từnhững khó khăn gặp phải của giáo viên Đặc biệt xuất phát tự thực tế học sinh,tôi rất trăn trở và đã cố gắng suy nghĩ tìm giải pháp để khi dạy và học phần dấucâu, với giáo viên mở được con đường bằng phẳng nhất để các em đi, với họcsinh tạo được hứng thú trong học tập và có kỹ năng làm được các bài tập về dấucâu Sau khi áp dụng vào lớp 3A3 có hiệu quả, tôi xin mạnh dạn đưa ra kinhnghiệm nhỏ của mình trong việc “Hình thành kỹ năng sử dụng dấu câu cho họcsinh lớp 3” để các thầy cô tham khảo góp ý và bổ sung thêm

II.MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI.

Giúp giáo viên phân loại các kiểu bài, các dạng bài Từ đó hình thành kỹnăng sử dụng dấu câu cho học sinh

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

Đối tượng: Giáo viên và học sinh lớp 3

Phạm vi nghiên cứu: Hình thành kỹ năng sử dụng dấu câu cho học sinhlớp 3

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Trong quá trình nghiên cứu cũng như tổng kết kinh nghiệm tôi đã sử dụngmột số phương pháp sau :

1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu tài liệu để xác định rõ vị trí,mục tiêu của chương trình, yêu cầu của từng bài

2 Phưong pháp quan sát: Dự giờ, theo dõi tiết dạy của đồng nghiệp để rútđúc kinh nghiệm cho bản thân

3 Phưong pháp đàm thoại

4 Phưong pháp trắc nghiệm

5 Phưong pháp thống kê

Trang 5

Bài tập về điền dấu câu được chia làm 3 kiểu:

1 Kiểu bài điền dấu trong câu.

2 Kiểu bài điền dấu cuối câu.

Kiểu bài này chia thành 2 dạng:

+ Dạng 1: Ngắt một đoạn văn thành các câu rồi viết lại cho đúng chính tả +Dạng 2: Điền dấu câu thích hợp trên một đoạn với các câu được phân cách sẵn bằng các ô trống (hoặc không có ô trống)

Ở dạng này tôi chia làm 2 loại bài:

* Loại bài yêu cầu điền một loại dấu cuối câu

* Loại bài yêu cầu điền nhiều loại dấu cuối câu

3 Kiểu bài hỗn hợp

Điền dấu cuối câu và điền dấu trong câu.

Sau khi quan sát những lỗi sai của học sinh, tôi tìm hiểu nguyên nhân, từ

đó tìm những biện pháp để khắc phục những tồn tại đó của các em Các biệnpháp giải quyết như sau:

1 KIỂU BÀI ĐIỀN MỘT LOẠI DẤU TRONG CÂU.

Như đã nói ở trên, dấu trong câu gồm dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu chấmphẩy Trong các loại dấu này, ở chương trình lớp 3 tập trung nhiều và chủ yếu

là dấu phẩy Dấu phẩy có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình viết văn củahọc sinh Khi hướng dẫn học sinh sử dụng dấu phẩy, điều đầu tiên tôi cần làm đó

là giúp học sinh nhận ra chức năng của dấu phẩy được thể hiện trong câu Dấuphẩy ngăn cách các danh từ, cụm danh từ, động từ, cụm động từ đi liền nhautrong câu; ngăn cách các trạng ngữ với bộ phận chính của câu Tuy nhiên theochương trình thay sách lớp 3 thì các khái niệm về danh từ, động từ, trạng ngữ,chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ không được giới thiệu tường minh mà được thể hiệnthông qua việc nhận diện mẫu câu với những bộ phận chính được diễn đạt dướidạng các câu hỏi: Ai? Cái gì? Làm gì? Như thế nào? Với bộ phận phụ (trạngngữ) diễn đạt qua các câu hỏi: Ớ đâu? Khi nào? Làm gì? Để làm gì? Vì sao?

Do vậy khi tiến hành các biện pháp dạy học các bài tập sử dụng dấu câu , giáoviên cần lưu ý học sinh các điểm sau:

* Dấu phẩy dùng để đánh dấu ranh giới giữa các bộ phận của câu, cụ thể là:

- Đánh dấu ranh giới giữa các thành phần phụ của câu với bộ phận chính của câu.

Ví dụ: Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, lòng tôi lại

nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường

Trang 6

- Đánh dấu ranh giới giữa các từ, cụm từ có cùng chức năng trong câu:

Ví dụ: Giáo lao, cung nỏ, rìu búa, khiên mọc cuồn cuộn tràn theo bóngvoi ẩn hiện của Hai Bà

+Bé kẹp lại tóc, thả ống quần xuống, lấy cái nón của má đội lên đầu

- Đánh dấu ranh giới giữa một từ ngữ với bộ phận chú thích của nó.

Ví dụ: Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, lòng

mẹ âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp

- Đánh dấu ranh giới giữa các vế của câu ghép chức năng này ít được sử

dụng ở các bài tập về dấu ở lớp 3

Ví dụ: Bình minh, mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt

biển, nước biển nhuộm màu hồng nhạt

Sau khi nắm vững các điều cần lưu ý, giáo viên áp dụng vào việc thựchiện các bài tập dấu trong câu như sau:

1.1 Giáo viên đặt những câu hỏi phù hợp giúp học sinh phát hiện ra chỗ cần đặt dấu câu.

Ví dụ 1: Thêm dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong các câu sau:

a.Ông em bố em và chú em đều là thợ mỏ

b.Các bạn mới được kết nạp vào Đội đều là con ngoan trò giỏi

c.Nhiệm vụ của Đội viên là thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy tuân theo Điều lệđội và giữ gìn danh dự Đội

GV: Ai là thợ mỏ?

HS: Ông em - bố em và chú em

GV: Vậy chúng ta có thể đặt dấu phẩy ở đâu ?

HS: Ông em, bố em và chú em

Ngay ở câu a, tôi lưu ý và giúp học sinh hiểu: Dùng dấu phẩy để tách các

từ chỉ sự vật (chỉ người) đứng liền nhau trong câu

Trường hợp cụm từ có từ "và" đứng trước thì không cần phân cách bằngdấu phẩy

Tương tự với cách hỏi như vậy với câu b,c

GV: Các bạn mới được kết nạp vào Đội là người như thế nào?

HS: Con ngoan - trò giỏi

Sau khi trả lời xong, học sinh tự đặt dấu phẩy ở vị trí "con ngoan, trògiỏi:

GV: Nhiệm vụ của đội viên là gì?

HS: Thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy - tuân theo Điều lệ Đội và giữ gìn danh

dự Đội

Học sinh sẽ đặt dấu phẩy ở vị trí " thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy, tuântheo Điều lệ Đội và giữ gìn danh dự Đội"

Ví dụ 2: Có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong câu sau:

a.Ếch con ngoan ngoãn chăm chỉ và thông minh

b.Nắng cuối thu vàng ong dù giữa trưa cũng chỉ dìu dịu

c Trời xanh ngắt trên cao xanh như dòng sông trong trôi lặng lẽ giữanhững ngọn cây hè phố

Trang 7

Với bài tập này, câu hỏi cần được đưa ra để gợi ý hướng dẫn để học sinhđịnh hướng và tìm được vị trí đặt dấu chính xác như sau:

/?/- Ếch con như thế nào?

- Ngoan ngoãn - chăm chỉ và thông minh

Tương ứng: Ngoan ngoãn, chăm chỉ và thông minh

/?/ -Nắng cuối thu như thế nào?

- Vàng ong - dù giữa trưa cũng chỉ dìu dịu

Tương ứng: Vàng ong, dù giữa trưa cũng chỉ dìu diụ

/?/ - Trời như thế nào?

- Xanh ngắt trên cao - xanh như dòng sông trong - trôi lặng lẽ giữa nhữngngọn cây hè phố

Tương ứng: xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông trong, trôi lặng

lẽ giữa những ngọn cây hè phố

Như vậy, với cách đặt câu hỏi như trên, giáo viên đã định hướng giúp họcsinh hiểu

+Dấu phẩy sẽ được đặt ở nội dung câu trả lời

+Dấu phẩy sẽ dùng (sẽ đặt) để tách từng sự vật, từng việc, từng hành độngtừng tính chất, từng đặc điểm có trong nội dung câu trả lời

Sau 2 ví dụ trên, tôi giao tiếp các bài tập tự luyện cho học sinh, yêu cầucác em tự đặt câu hỏi, tự trả lời, tự ghi dấu vào vị trí phù hợp

Bài tập 1: Em đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong mỗi câu sau:

a.Ở nhà em thường giúp bà xâu kim

b Trong lớp Liên luôn luôn chăm chú nghe giảng

c Hai bên bờ sông những bãi ngô bắt đầu xanh tốt

d Trên cánh rừng mới trồng chim chóc lại bay về ríu rít

Bài tập 2: Điền dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu văn sau:

a Lá ngô rộng, dài trổ ra mạnh mẽ nõn nà

b.Cây hồi thẳng cao tròn xoe

c Hồ Than Thở nước trong xanh êm ả có hàng thông bao quanh reo nhạcsớm chiều

d Giữa Hồ Gươm là Tháp Rùa tường rêu cổ kính xây trên gò đất cỏ mọc xanhum

1.2 Dùng câu hỏi kết hợp sơ đồ hỗ trợ học sinh làm việc theo nhóm nhằm phát hiện chỗ cần đặt dấu câu theo yêu cầu.

Ví dụ: Em đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu dưới đây:

a.Vì thương dân Chử Đồng Tử và công chúa đi khắp nơi dạy dân cáchtrồng lúa nuôi tằm dệt vải

b.Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác chị em Xô phi đã

về ngay

c Tại thiếu kinh nghiệm nôn nóng và coi thường đối thủ Quắm Đen đã bịthua

d.Nhờ ham học ham hiểu biết và muốn đem hiểu biết của mình ra giúp đời

Lê Quý Đôn đã trở thành nhà bác học lớn nhất của nước ta thời xưa

Trang 8

Đây là một bài tập khá phức tạp đối với học sinh lớp 3 Với dạng bài tậpnày, giáo viên có thể dùng câu hỏi kết hợp sơ đồ hỗ trợ học sinh làm việc theonhóm nhằm phát hiện chỗ cần đặt dấu câu theo yêu cầu như sau:

Câu a: - Giáo viên đưa ra sơ đồ: Vì sao? Ai? làm gì?

- Học sinh phân cách các phần của câu theo:

Vì thương dân - Chử Đồng Tử và công chúa - đi khắp nơi dạy dân cách

trồng lúa nuôi tằm dệt vải

- Giáo viên đưa ra mô hình phục vụ như sau:

Dạy dân những cách gì?

- Học sinh tách thành 3 việc theo sơ đồ:

Dạy cách trồng lúa - nuôi tằm - dệt vải

Khi học sinh phân cách các phần trong câu theo sơ đồ xong, giáo viênhướng dẫn học sinh đặt dấu phẩy bằng cách đặt câu hỏi như sau:

GV: Như vậy, ta có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong câu a?HS: Vì thương dân, Chử Đồng Tử và công chúa đi khắp nơi dạy dân cáchtrồng lúa, nuôi tằm, dệt vải

Câu b: - Giáo viên đưa ra mô hình tổng quát cho câu b:

Vì sao? Ai? làm gì?

- Giáo viên yêu cầu học sinh so sánh với mô hình câu a) để thấy hai môhình tương tự nhau Vì vậy, giáo viên yêu cầu học sinh tự phân tích mô hình ấy

để tìm ra chỗ cần đặt dấu phẩy

- Học sinh phân tích mô hình như sau:

Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác - chị em Xô phi - đã về ngay.

Vì sao? Ai? Làm gì?Sau khi phân tích theo mô hình như trên, học sinh có thể dễ dàng đặt dấuphẩy vào vị trí đúng như sau:

Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác, chị em Xô phi đã

về ngay

Câu c: Trong câu c) có phần trạng ngữ chỉ nguyên nhân khá phức tạp, với

ba cụm từ chỉ đặc điểm đi liền nhau (tại thiếu kinh nghiệm, nôn nóng và coithường đối thủ)

Vì vậy cần có mô hình hỗ trợ khác để giúp các em tìm ra chỗ cần phâncách bằng dấu phẩy như sau:

Giáo viên đưa ra sơ đồ:

Vì sao? Ai? Thế nào?

Học sinh phân cách các phần của câu theo mô hình như sau:

Tại thiếu kinh nghiệm nôn nóng và coi thường đối thủ - Quắm Đen - đã bị thua

Vì sao? Ai? thế nào?

Trang 9

Giáo viên đưa tiếp mô hình phụ như sau:

Vì nguyên nhân gì Quắm Đen bị thua?

Học sinh phân tích theo mô hình phụ:

Tại thiếu kinh nghiệm - nôn nóng - và coi thường đối thủ

Sau khi học sinh phân cách các phần của câu theo sơ đồ xong, giáo viênhướng dẫn học sinh đặt dấu phẩy bằng cách đặt câu hỏi:

Như vậy, ta có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong câu c?

Học sinh sẽ đặt đúng dấu phẩy vào vị trí thích hợp như sau:

Tại thiếu kinh nghiệm, nôn nóng và coi thường đối thủ, Quắm Đen đã bịthua

- Sau khi học sinh đặt đúng dấu phẩy trong câu c, giáo viên cần nhấnmạnh lại để lưu ý học sinh: Trường hợp cụm từ đi trước nó là từ "và" thì khôngcần phân cách bằng dấu phẩy

Ví dụ:

- Lan, Mai, Hồng đều là học sinh giỏi

- Lan, Mai và Hồng đều là học sinh giỏi

Câu d: Giáo viên cho học sinh nhận xét để thấy câu d có cấu trúc tương tựcâu c với phần trạng ngữ cũng gồm 3 cụm từ chỉ đặc điểm đi liền nhau và cụmcuối cùng đi trước là từ "và" Do vậy, giáo viên yêu cầu học sinh vận dụng cáchlàm ở câu c để tìm ra chỗ cần đặt dấu phẩy

Học sinh sẽ phân tích theo sơ đồ như sau:

Nhờ ham học ham hiểu biết và muốn đem hiểu biết của mình ra giúp đời

Sau khi phân tích theo hai sơ đồ như trên, học sinh nhớ đến điều giáo viên

đã lưu ý trong câu c: trường hợp cụm từ đi trước nó là từ "và" thì không cầnphân cách bằng dấu phẩy Vì vậy, học sinh sẽ đặt dấu phẩy vào vị trí đúng trongcâu d như sau:

Nhờ ham học, ham hiểu biết và muốn đem hiểu biết của mình ra giúp đời,

Lê Quý Đôn đã trở thành nhà bác học lớn nhất của nước ta thời xưa

Sau khi hướng dẫn học sinh làm được các ví dụ như trên, tôi ra thêm cácbài tập về nhà để học sinh tự lập sơ đồ, phân tích theo sơ đồ và tìm ra vị trí đặtdấu phẩy đúng Các bài tập như sau:

Bài tập 1:

Em có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu sau:

a Hằng năm cứ vào đầu tháng 9 các trường lại khai giảng năm học mới

Trang 10

b.Sau ba tháng hè tạm xa trường chúng em lại náo nức tới trường gặp thầygặp bạn.

c Đúng 8 giờ trong tiếng Quốc ca hùng tráng lá cờ đỏ sao vàng được kéolên ngọn cột cờ

Bài tập 2:

Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu sau:

a Bằng những động tác thành thạo chỉ trong phút chốc ba cậu bé đã leolên đỉnh cột

b Với vẻ mặt lo lắng các bạn trong lớp hồi hộp theo dõi Nen-li

c Bằng một sự cố gắng phi thường Nen-li đã hoàn thành bài thể dục

1.3 Tổ chức cho học sinh đặt câu hỏi theo nhóm nhỏ để tự phát hiện

ra các chỗ cần đặt dấu trong câu.

Ở biện pháp này, giáo viên đưa ra một số câu hỏi gợi ý trên bảng phụ, đềnghị học sinh chọn câu hỏi thích hợp cho từng câu trong bài tập

- Học sinh hỏi và trả lời theo nhóm

- Dựa vào câu trả lời xác định chỗ cần đặt dấu câu mà bài tập yêu cầu

Ví dụ:

Điền dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu sau:

a.Tối qua tại nhà văn hoá xã Đoàn Ca nhạc Bông Sen đã biểu diễn phục

vụ bà con xã Hoà Hưng

b Vì muốn xem bóng đá Hùng phải cố làm xong các bài tập cô giao vềnhà

c.Từ khắp nơi bà con nô nức kéo về núi Cương để dự lễ hội đền Hùng

*Ở bài tập này, giáo viên đưa ra một số câu hỏi gợi ý như sau:

- Chọn mô hình phù hợp cho từng câu:

+Bao giờ? Ở đâu? Ai? làm gì?

+Vì sao? Ai? làm gì?

+Từ đâu? Ai? làm gì?

- Câu a, có 1 hay 2 hay 3 dấu phẩy?

- Câu b, có 1 hay 2 hay 3 dấu phẩy?

- Câu b, có 1 hay 2 hay 3 dấu phẩy?

- Có thể đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong câu a(b,c)?

Sau khi học sinh hỏi và trả lời trong nhóm dựa vào các câu hỏi gợi ý trên,học sinh sẽ đặt dấu phẩy vào vị trí đúng như sau:

a.Tối qua, tại nhà văn hoá xã, Đoàn ca nhạc Bông Sen đã biểu diễn phục

vụ bà con xã Hoà Hưng

b Vì muốn xem bóng đá, Hùng phải cố gắng làm xong các bài tập cô giao

về nhà

c.Từ khắp nơi, bà con kéo về núi Cương để dự lễ hội đền Hùng

Để học sinh nắm chắc cách hỏi đáp theo nhóm như trên tôi ra thêm bài tập

để các nhóm tự hỏi và trả lời và tìm ra chỗ đặt dấu câu đúng Bài tập như sau:

Bài tập 1:

Điền dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu sau:

a Vì chạy chơi ngoài nắng Long đã bị cảm sốt

Trang 11

b.Do mất điện cuộc liên hoan văn nghệ trong hội vui học tập phải kết thúcsớm.

Bài tập2:

Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu văn sau:

a.Con gà này có bộ lông mã tía cổ bạnh màu hạt đậu

b.Con gà ông Bảy Hoá có bộ mã khá đẹp lông trắng pha đỏ mỏ búp chuốimào cờ hai cánh như hai vỏ trai úp nhưng lại hay tán tỉnh láo toét

1.4 Khai thác kinh nghiệm ngữ cảm của học sinh.

Ở biện pháp này học sinh sẽ hoạt động theo nhóm (bàn) Một học sinh sẽđọc đoạn (câu) cần điền dấu đã cho, đến chỗ nào các em dừng thì sẽ gạch xổphân cách, sau đó nhóm trao đổi và sửa chữa rồi xác định lại các chỗ cần đặt dấucâu theo yêu cầu Với biện pháp này, tôi khai thác cảm nhận tự nhiên đối vớiTiếng Việt vốn là bản ngữ của các em Trên cơ sở ấy, học sinh trao đổi và xemxét để nhận diện việc sử dụng dấu trong câu một cách có ý thức

Ví dụ:

Đặt dấu phẩy vào vị trí thích hợp trong mỗi câu dưới đây:

Dưới tầm cánh chủ bây giờ là luỹ tre xanh rì rào trong gió là bờ ao vớinhững khóm khoai nước rung rinh Còn trên tầng cao cánh chú là đàn cò đangbay là trời xanh trong và cao vút

Với bài tập này học sinh sẽ đọc và gạch xổ như sau:

Dưới tấm cánh chú bây giờ/ là luỹ tre xanh rì rào trong gió / là bờ ao vớinhững khóm khoai nước rung rinh / Còn trên tầng cao cánh chú / là đàn còđang bay / là trời xanh trong / và cao vút

Dựa vào các gạch xổ phân cách, cả nhóm sẽ thảo luận và tìm ra vị trí đặtdấu phẩy đúng như sau:

Dưới tầm cánh chú bây giờ là luỹ tre xanh rì rào trong gió, là bờ ao vớinhững khóm khoai nước rung rinh Còn trên tầng cao cánh chú là đàn cò đangbay, là trời xanh trong và cao vút

Sau khi học sinh làm đúng được các bài tập trên tôi ra thêm bài tập để họcsinh làm Bài tập như sau:

Bài tập 1:

Đặt dấu phẩy vào những chỗ thích hợp trong đoạn văn dưới đây:

Mỗi cây có một đời sống riêng một tiếng nói riêng Cây lan cây huệ câyhồng nói chuyện bằng hương bằng hoa Cây mơ cây cải nói chuyện bằng lá Câybầu cây bí nói bằng quả Cây khoai cây dong nói bằng củ bằng rễ Phải yêuvườn như Loan mới hiểu được lời nói của của các loài cây

Bài tập 2:

Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong đoạn văn sau:

Bản giao hưởng "Mùa thu" cất lên Những chiếc lá vàng rơi trong nắngnắng lung linh kỳ ảo Lá vàng phủ hai bờ tiếng gió xào xạc nói với lá Hươngmùa thu nhẹ thoảng những con bướm vàng bay rối mắt Giai điệu trữ tình trongsáng quán xuyến từ đầu đến cuối phần biểu diễn của Dế Mèn

1.5 Sử dụng trò chơi tập trung.

Ngày đăng: 27/10/2017, 16:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH THÀNH KỸ NĂNG SỬ DỤNG DẤU CÂU CHO HỌC SINH LỚP 3 - Tiếng việt 3   kĩ năng sử dụng dấu câu
3 (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w