1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc

69 287 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây nhờ áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, ngành chăn nuôi lợn nước ta có những bước phát triển như: Tổng đàn tăng, cơ cấu đàn lợn đa dạng, năng suất, chất

Trang 1

-

ĐẶNG VĂN ĐỨC Chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHOĐÀN LỢN NÁI NUÔI CON TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN CHIÊM, XÃ ĐẠO TÚ, HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành/Ngành: Chăn nuôi – Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y

Khóa học: 2013 – 2017

Thái Nguyên – Năm 2017

Trang 2

-

ĐẶNG VĂN ĐỨC Chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI NUÔI CON TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN CHIÊM, XÃ ĐẠO TÚ, HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành/Ngành: Chăn nuôi – Thú y Lớp: CNTY –K45 – N01

Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: Th.S Hà Thị Hảo

Thái Nguyên – Năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở em đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy, cô giáo và bạn bè Đến nay em đã hoàn thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp

Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành khóa luận của mình,

em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Chăn nuôi thú y và trang trại chăn nuôi lợn gia công của công ty Cổ Phần Charoen Pokphand Việt Nam

Em cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình

Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp

đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt em xin cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của cô giáo Th.S Hà Thị Hảo người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành bản khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn cán bộ công nhân viên tại trại lợn nái sinh sản Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ em hoàn thành tốt thời gian thực tập

Thái Nguyên, ngày 30 tháng 1 năm 2017

Sinh viên

Đặng Văn Đức

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3 1: Lịch sát trùng trại lợn nái 36

Bảng 4 1: Tình hình chăn nuôi của trại năm 2014 đến tháng 11/2016 46

Bảng 4 2: Kết quả thực hiện quy trình nuôi dƣỡng, chăm sóc đàn lợn 47

Bảng 4 3: Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 49

Bảng 4 4: Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại 50

Bảng 4 5: Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái 51

Bảng 4 6: Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con tại trại 53

Bảng 4 7: Kết quả thực hiện chăm sóc hộ lý trên đàn lợn con 54

Bảng 4 8: Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại 55

Trang 5

: Kilogam : gam : Mililit : Nhà xuất bản STT : Số thứ tự

TT : Thể trọng

LH :Luteinsing Hormone

E.coli : Escherichia coli

Trang 6

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1.Đặt vấn đề 1

1.2.Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1.Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1.Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2.Điều kiện cơ sở 3

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6

2.2.1.Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 6

2.2.2.Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 9

2.2.3.Những hiểu biết về những bệnh gặp tại cơ sở 13

2.2.4.Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 21

2.2.5.Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 26

2.3.Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 29

2.3.1.Các nghiên cứu trong nước 29

2.3.2.Tình hình nghiên cứu ngoài nước 31

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34 3.1 Đối tượng nghiên cứu 34

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 34

3.3 Nội dung thực hiện 34

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 34

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 34

3.4.2 Phương pháp thực hiện 34

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46

4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 46

Trang 7

4.2 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn 47

4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trại 48

4.3.1 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 48

4.3.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin 49

4.4 Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn tại trại 51

4.4.1 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái 51

4.4.2 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con 52

4.4.3 Kết quả thực hiện biện pháp chăm sóc, hộ lý trên đàn lợn con tại trại

53

4.5 Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại 54

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Đề nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Hiện nay, cùng với sự hội nhập và phát triển kinh tế của Việt Nam với các nước trên thế giới, ngành chăn nuôi nước ta càng đóng vai trò quan trọng đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn.Chăn nuôi lợn chiếm vị trí quan trọng trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi

Sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn mang lại giá trị lớn cho con người,

đó là nguồn cung cấp thực phẩm với số lượng lớn, chất lượng tốt Bên cạnh

đó, nghề chăn nuôi lợn cũng cung cấp một lượng không nhỏ phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ như: da, lông, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến

Chăn nuôi lợn không chỉ đáp ứng yêu cầu cung cấp thịt trong nước mà còn xuất khẩu ra thế giới mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi, ngoài ra nghề chăn nuôi lợn còn tận dụng được sức lao động nhàn rỗi, tận dụng được phế phẩm cho nông nghiệp… chính vì vậy, lợn được nuôi nhiều ở hầu hết các tỉnh trên toàn quốc

Chăn nuôi lợn nái sinh sản là một yếu tố quyết định đến số lượng cũng như chất lượng của sản phẩm từ ngành chăn nuôi lợn Trong những năm gần đây nhờ áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, ngành chăn nuôi lợn nước ta có những bước phát triển như: Tổng đàn tăng, cơ cấu đàn lợn đa dạng, năng suất, chất lượng cao… Chăn nuôi theo kiểu hộ gia đình ngày càng giảm thay vào đó là các trang trại với quy mô nhỏ và vừa ngày càng tăng

Tuy nhiên, nghề chăn nuôi lợn luôn gặp khó khăn Ngoài các nguyên nhân như sự cạnh tranh với các ngành nghề khác, các chính sách, chi phí đầu vào, chi phí thức ăn… ngành chăn nuôi lợn còn phải đối mặt với tình hình dịch bệnh, lợn hay mắc một số bệnh như: Bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng,

Trang 9

đặc biệt là bệnh sản khoa Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợn nái: giảm

tỷ lệ thụ thai, gây chết thai, lưu thai, sẩy thai… nghiêm trọng hơn bệnh vẫn

âm thầm làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn Với mục đích góp phần vào nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn, nâng cao hiệu quả phòng trị bệnh, tiết kiệm chi phí nái nuôi tại trại lợn nái sinh sản Nguyễn Văn Chiêm Từ thực tế đó em tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

 Mục tiêu

- Thực hiện được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng,chăm sóc đàn lợn nái nuôi con tại cơ sở

- Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế

- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi

 Yêu cầu

- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái nuôi con

- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con

- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở

- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

 Vị trí địa lý

Xã Đạo Tú - Tam Dương - Vĩnh phúc có diện tích 7,88 km², dân số là

6510 người (năm 2003), mật độ dân số đạt 826 người/km² Giáp với các xã, Thanh Vân, Kim Long, Hướng Đạo, An Hòa

 Khí hậu thủy văn

Xã Đạo Tú - Tam Dương - Vĩnh phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, được chia thành 4 mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm là 230

C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 6, tháng 7 là 29,40C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 1000C thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng Bình quân số giờ nắng trong năm là 1400 - 1600 giờ/năm.Lượng mưa trung bình hàng năm

1400 - 1500 mm, phân bố không đều, tập trung vào tháng 6, 7, 8 và 9.Độ ẩm không khí trung bình cao từ 80 - 84 %, tương đối đều các tháng trong năm Nhìn chung, điều kiện khí hậu, thủy văn của huyện thuận lợi cho sự phát triển

hệ sinh thái động, thực vật đa dạng cũng như các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, khí hậu thủy văn ở Tam Dương cũng có nét riêng biệt là do dãy núi Tam Đảo chắn hướng gió mùa Đông Bắc nên thường xảy ra mưa nhiều, thỉnh thoảng có gió xoáy, tạo lốc, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống dân sinh

2.1.2 Điều kiện cơ sở

 Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

 1 chủ trại

 1 quản lý trại

Trang 11

 Cơ sở vật chất của trại

Trại được xây dựng từ năm 2008 trang thiết bị đã có phần đã cũ, xuống cấp gây nhiều khó khăn

 Trại được xây dựng nằm ở khu vực đồi rộng lớn thuộc thôn Đoàn Kết

2, có địa hình tương đối bằng phẳng với diện tích là 5 ha Với 3 dãy chuồng lớn chạy dài lợp mái tôn Mỗi 1 dãy lớn lại được chia làm 2 dãy chuồng nhỏ

 Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng bầu) và giường nằm (đối với chuồng đẻ) được lắp đặt theo dãy

 Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước cho lợn tự động

 Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông

Trang 12

 Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện

 Về cơ sở hạ tầng:

 Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt : khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân,sinh viên và khu chuồng nuôi

 Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh

 Khu nhà ăn cũng được tách biệt

 Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ

 Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc,vắc xin , dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại

 Hệ thống chuồng nuôi

Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 600 nái cơ bản bao gồm: 3 chuồng đẻ (mỗi chuồng có 56 ô), 1 chuồng nái chửa (mỗi chuồng có 600 ô), 1 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh

Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

Trong khu chăn nuôi,đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Trang 13

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan.Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 3 và chuồng nái chửa 1.Nước phục vụ cho các công tác khác như nước tắm, nước

xả gầm được bố trí từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể

chứa ở giữa các chuồng

 Thuận lợi và khó khăn của trại

 Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

 Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn

 Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng

 Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử

lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

 Sự thành thục về tính

 Sự thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và

có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục

Trang 14

 Các giống khác nhau có thời gian thành thục về tính khác nhau: lợn nội

là 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), lợn ngoại là 6 - 7 tháng tuổi (180 - 210 ngày)

cơ thể đạt 50-55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục 6-7 tháng khi lợn có khối lượng 60-80kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn

ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4-5 tháng tuổi (121-158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7-8 tháng tuổi

- Chế độ dinh dưỡng: lợn được nuôi trong điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém

- Mùa vụ: Mùa hè lợn nái hậu bị thành thục muộn hơn so với mùa thu - đông

- Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông tuổi thành thục sẽ chậm Nếu lợn nái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn so với lợn nái không được tiếp xúc với đực giống

 Sự thành thục về thể vóc:

Theo Nguyễn Đức Hùng và cs(2003)[7] tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc

Trang 15

ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục

về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn

mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110kg mới nên cho phối

2.2.1.2 Chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi

đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính

Theo Nguyễn Thiện và cs (1993)[22], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19-21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3-4 ngày (lợn nội) hoặc 4-5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)

Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35-40h, với lợn nội là 25-30h

Trang 16

+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên

lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28-30h

+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở,

đuôi cụp và không chịu đực

- Thời điểm phối giống thích hợp

Theo Nguyễn Thiện và cs(1993)[22] trứng rụng tồn tại trong tử cung 3h và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30-48h Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục.Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

2-2.2.2 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

2.2.2.1 Phòng bệnh

Như ta đã biết „„Phòng b ệnh hơn chữa b ệnh‟‟‚ nên khâu phòng b ệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể h ạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu , xoay quanh các yếu tố môi trường , mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị, bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau

 Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt :

Theo Nguyễn Ngọc Phụng [16] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa

ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần

Trang 17

lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Theo Lê Văn Tạo và cs (1993)[18], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là vi

khuẩn tồn t ại trong môi trường , đường tiêu hoá của v ật chủ Khi môi trường quá ô nhi ễm do vê ̣sinh chuồng tr ại kém , nước uống thức ăn bi ̣nhi ễm vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm

trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thu ật là điều rất cần thiết , chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ t ạo ra những gia sú c khỏe mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu đ ộc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo

27 – 300C đối với lợn sơ sinh và 28 – 300

C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[15] từ 3 – 5 ngày trước dự kiến đẻ,

ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn

nái trước khi đẻ

 Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền

Trang 18

nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi

chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1-2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

 Phòng bệnh bằng vắc xin :

Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs(2012)[8] vắc xin là một chế phẩm sinh học

mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào

đó ( mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, AND… ) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật

lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử ( vắc xin thế hệ mới – vắc xin công nghệ gen ) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễm dịch làm cho động vật có miễm dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ướng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

2.2.2.2 Điều trị bệnh

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012)[8] nguyên tắc để điều trị bệnh là : + Toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dung thuốc

Trang 19

+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs(2012)[8] các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là :

+ Hộ lý : cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt ( thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân , nước tiểu phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó.Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược:phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau.Khi cần, có thể phối

Trang 20

hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị,vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn.Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh.Vì vậy, khi dung thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dung đúng thuốc, dung sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dung phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,

dung thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.3 Những hiểu biết về những bệnh gặp tại cơ sở

2.2.3.1 Bệnh viêm tử cung

 Nguyên nhân bê ̣nh viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs(2002)[6], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Trang 21

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011)[11] đưa ra nhận định rằng do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ dẫn tinh không vô trùng đã đưa các vi khuẩn nhiễm và bộ phận sinh dục của lợn nái Do lợn đực nhảy trực tiếp, mà niệu quản và dương vật bị viêm sẽ truyền bệnh sang lợn nái

Theo Đoàn Kim Dung và cs (2002)[5] cho biết, nguyên nhân gây viêm

tử cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais,Klebriella,

E.coli….

Theo Lê Văn Năm và cs (1999)[14] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoa ̣i cảnh gây bê ̣nh như : Do thức ăn nghèo dinh dưỡng , do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng du ̣ng cu ̣ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuâ ̣t dẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh du ̣c bi ̣ phá hủy hoă ̣c kết tủa, kết hợp với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣m quá trình thu teo sinh

lý của dạ con (trong điều kiê ̣n cai sữa bình thường da ̣ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ ) Đây là điều kiê ̣n tốt để vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bênh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào da ̣ con gây lên trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử cung mở ) và

do thu ̣ tinh nhân ta ̣o sai kỹ thuâ ̣t

 Bê ̣nh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý:

 Thiếu khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sừng niêm mạc, sót nhau (Lê Hồng Mận, 2002) [13]

Trang 22

 Triệu chứng:

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4-5 ngày cá biệt tới 6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

 Thể cấp tính: Con vật sốt 41-420C trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy

đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ

 Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy

ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo

tử cung lan sang thai làm chết thai

 Hâ ̣u quả của bê ̣nh viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002)[6],Trần Thị Dân (2004)[3], khi lợn

nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

 Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

Trang 23

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co

thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có

thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử

cung tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2αgây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây

co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi

đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử

cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

 Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu

Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng

Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung

giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ

mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

 Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có

mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân

tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

 Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF 2αgiảm, do đó thể

vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone

Trang 24

Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát

triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được

Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau

là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

 Chẩn đoán lâm sàng bê ̣nh viêm tử cung

Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung

Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì

có thể bị nhầm lẫn

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ

Trang 25

nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ

đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

2.2.3.2 Bệnh viêm vú

 Nguyên nhân gây bệnh viêm vú

Theo Trần Minh Châu (1996)[2] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi

không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi

khuẩn đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú

hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm

 Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh

 Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (Trương Lăng, 2000)[10]

 Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm

Trang 26

 Triệu chứng

Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 -

7 ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006)[19], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú

có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42o

C kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [13] Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

 Hậu quả của bệnh viêm vú

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó

sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

 Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004)[12], bệnh viêm tử cung và viêm

vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con

 Theo Nguyễn Xuân Bình (2000)[1], cũng khẳng định: Mất sữa sau khi

đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con

bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp

Trang 27

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh

hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau

2.2.3.3 Bệnh sót nhau

Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết, can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được nhau ra

Nguyên nhân: theo Trịnh Đình Thâu và cs (2010)[21]: Sau khi dẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là

Ca và P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức

 Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác

 Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền

nhiễm đặc biệt bệnh sẩy thai truyền nhiễm (Brucellalosis), hoặc do cấu tạo

của nhau

 Triệu chứng: Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:

 Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắc thường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn

 Sót nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ

- Điều trị: Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm Oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước

Trang 28

muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu và

cs, 2010)[21]

2.2.4 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

 Đặc điểm về sinh trưởng, phát dục:

Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[15] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp

4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần

Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này

là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh

Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4gam protein/1kg khối lượng cơ thể theo Trần Văn Phùng và cs ( 2004)15

Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơthể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1kg mỡ

 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa

Trang 29

Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn

Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần

Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh

Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức

ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất

Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa

Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl trong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu

Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung

Trang 30

thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)

Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2005)[20] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein

Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con

Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh

ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh

 Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng

lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)

Trang 31

Theo Từ Quang Hiển và cs (2001)[9] ở lợn con, khả năng sinh trưởng

và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần

cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con

và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa

Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng

Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá

 Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con

Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất

lạ là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng,

Trang 32

do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá

và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai

đoạn này mầm bệnh (Salmonella spp, E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể

qua đường tiêu hoá và gây bệnh

Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[15] trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 - 19%, trong đó lượng  - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng  - globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử  - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng  - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu  - globulin kém hơn, hàm lượng  - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng

Trang 33

tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao

2.2.5 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.5.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[15] thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức

ăn, đẻ trước 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ

có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 -3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 -5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

Trang 34

- Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và

cs (2004)[15] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu

vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 -15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 -5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ snh lợn nái sạch sẽ, lợn nái đượclau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm

hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sach sẽ cho lợn nái,chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[15] ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt,

mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 -10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bịn xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm : 1,2m x

Ngày đăng: 27/10/2017, 16:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Lịch sát trùng trại lợn nái - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú  huyện Tam Dương  tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái (Trang 43)
Bảng 4.2: Kết quả thực hiện quy trình nuôi dƣỡng, chăm sóc đàn lợn - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú  huyện Tam Dương  tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dƣỡng, chăm sóc đàn lợn (Trang 54)
Bảng 4.3: Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú  huyện Tam Dương  tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại (Trang 56)
Bảng 4.4: Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú  huyện Tam Dương  tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 4.4 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại (Trang 57)
Bảng 4.5: Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú  huyện Tam Dương  tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 4.5 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái (Trang 58)
Bảng 4.6: Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con tại trại - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú  huyện Tam Dương  tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 4.6 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con tại trại (Trang 60)
Bảng 4.7: Kết quả thực hiện chăm sóc hộ lý trên đàn lợn con - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú  huyện Tam Dương  tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện chăm sóc hộ lý trên đàn lợn con (Trang 61)
Bảng 4.8: Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú  huyện Tam Dương  tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại (Trang 62)
Hình 1. Tiêm sắt cho lợn con  Hình 2. Cho lợn con uống thuốc - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú  huyện Tam Dương  tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 1. Tiêm sắt cho lợn con Hình 2. Cho lợn con uống thuốc (Trang 68)
Hình 3. Bấm tai cho lợn con - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú  huyện Tam Dương  tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 3. Bấm tai cho lợn con (Trang 68)
Hình 4.Thuốc Amoxicillin  Hình 5.Thuốc  Anazine 20% - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú  huyện Tam Dương  tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 4. Thuốc Amoxicillin Hình 5.Thuốc Anazine 20% (Trang 69)
Hình 6. Pendistrep L.A - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú  huyện Tam Dương  tỉnh Vĩnh Phúc
Hình 6. Pendistrep L.A (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm