ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------ ĐẶNG TRƯỜNG GIANG Tên đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN CAI SỮA ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỢN CON TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
ĐẶNG TRƯỜNG GIANG
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN CAI SỮA ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỢN CON TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN BÌNH MINH, XÃ PHÙ LƯU TẾ, HUYỆN MỸ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
ĐẶNG TRƯỜNG GIANG
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN CAI SỮA ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỢN CON TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN BÌNH MINH, XÃ PHÙ LƯU TẾ, HUYỆN MỸ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã nắm được những kiến thức cơ bản ngành học của mình Kết hợp với 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại công ty Cổ phần phát triển Bình Minh, đã giúp em ngày càng hiểu
rõ kiến thức chuyên môn, cũng như đức tính cần có của một người làm cán bộ khoa học kỹ thuật Từ đó, đã giúp em có lòng tin vững bước trong cuộc sống cũng như trong công tác sau này Để có sự thành công này, em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm
khoa cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi - Thú y
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn
TS Phùng Đức Hoàn đã tận tình hướng dẫn để em thực hiện thành công đề tài
và khóa luận tốt nghiệp
Đồng thời em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, ông Nguyễn Sỹ Bình- chủ trang trại cùng toàn thể anh, chị em công nhân trong trang trại về sự hợp tác giúp đỡ bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này
Một lần nữa em xin được gửi tới các thầy giáo, cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khoẻ cùng những điều tốt đẹp nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Đặng Trường Giang
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng thành phần dinh dưỡng trong thức ăn Prystarter 14
Bảng 2.2 Nhu cầu nước uống cho lợn 21
Bảng 4.1.2 Lịch tiêm phòng vắc xin 31
Bảng 4.1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 35
Bảng 4.2.1: Số lượng lợn con đẻ ra trên lứa 36
Bảng 4.2.2: Khối lượng sơ sinh của lợn con 37
Bảng 4.2.3: Tỷ lệ sống sau 24h của lợn con 38
Bảng 4.2.4: Tỷ lệ sống qua các tuần tuổi của lợn con 38
Bảng 4.2.5: Sinh trưởng tích lũy của lợn con 39
Bảng 4.2.6: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con 40
Bảng 4.7: Sinh trưởng tương đối của lợn con 42
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con qua các giai đoạn 42 Hình 4.2 : Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn con qua các tuần tuổi 43
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2.Yêu cầu 2
1.3.Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1.Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2.Ý ngĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại lợn thuộc công ty CP Bình Minh 3 2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 6
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 7
2.2.1 Sinh lý tiêu hoá của lợn con 7
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 22
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
3.3 Nội dung thực hiện 27
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 27
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 27
Trang 83.4.2 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
PHẦN4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 30
4.1.1 Công tác chăn nuôi 30
4.1.2 Công tác thý y 31
4.1.4 Công tác khác 34
4.2 Kết quả của chuyên đề 36
4.2.1 Số lượng con đẻ ra trên lứa 36
4.2.2 Khối lượng sơ sinh của lợn con 37
4.2.3.Tỷ lệ sống qua các tuần tuổi của lợn con 38
4.2.4.Tỷ lệ sống qua các tuần tuổi của lợn con 38
4.2.5.Sinh trưởng tích lũy của lợn con 39
4.2.6 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con 40
4.2.7 Sinh trưởng tương đối của lợn con 42
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây cùng với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, ngành chăn nuôi thú y nước ta đang từng bước phát triển nhằm đem lại nhiều sản phẩm có chất lượng cho thị trường và đóng góp vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Ngành chăn nuôi thú y nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng là một ngành có truyền thống lâu đời và phổ biến của nhân dân ta Ngành chăn nuôi lợn đã và đang phát triển cả về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng như cơ sở vật chất phục vụ chăn nuôi, tất cả mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước cũng như trong xuất khẩu Tuy nhiên với số lượng đàn lợn ngày càng lớn, mật độ nuôi trong chuồng nuôi lớn cộng với ảnh hưởng liên tục từ các yếu tố khác như: thời tiết, khí hậu, nguồn nước, không khí, Nên vấn đề dịch bệnh có những biến đổi khó lường, đặc biệt là đối với lợn con Quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn con sau này Một trong những biện pháp hiệu quả để phát triển đàn lợn là cho cai sữa sớm để giảm chi phí thức ăn cho lợn con cai sữa, hạn chế truyền một số bệnh từ lợn
mẹ sang lợn con, cho nên thời gian cai sữa có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của lợn con
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa chăn
nuôi thú y, giảng viên hướng dẫn TS Phùng Đức Hoàn và cơ sở thực tập,
em thực hiện chuyên đề:
“ Ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng và phát triển của lợn con tại Công ty cổ phần phát triển Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội „
Trang 101.2 Mục đích nghiên cứu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1.Mục đích
- Đánh giá tình hình chăn nuôi lợn con tại Công ty công ty cổ phần và
phát triển Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
- Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn con nuôi tại trại
- Xác định ảnh hưởng của thời gian cai sữa đến sinh trưởng và phát triển của lợn con nuôi tại trại
1.3.2.Ý ngĩa thực tiễn
Đánh giá được thực tiễn hiệu quả của thời gian cai sữa đến sinh trưởng
và phát triển của lợn con, có thể áp dụng rộng rãi trong thực tiễn chăn nuôi
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại lợn thuộc công ty CP Bình Minh
2.1.1.1 Quá trình thành lập
Trang trại sản xuất lợn giống siêu nạc của ông Nguyễn Sỹ Bình nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân; công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y và cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại
2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại
- Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái, bao gồm: 6 chuồng đẻ, mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô; 2 chuồng bầu, mỗi chuồng có 560 ô, kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô; 3 chuồng cách ly; 1 chuồng đực giống; một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với các chuồng bầu, 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng lợn đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện
Trang 12tích 1,5 m², cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp
hệ thống chống nóng bằng nhựa
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy, dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng bầu
2 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc
và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
01 chủ trại
01 quản lý trại
03 quản lý kỹ thuật
01 kế toán
01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
7 công nhân và 19 sinh viên thực tập
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại
2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại
Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật
Trang 13Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 – 2,5 lứa/năm
Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 9,86 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá ( theo đánh giá của công ty chăn nuôi CP Việt Nam )
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại lợn giống của công ty
Trong trại có 23 lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ hai giống lợn Landrace và Yorshire Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như lợn đực
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại
Công tác thú y:
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty chăn nuôi CP Việt Nam
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, vệ sinh cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở trại đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ
Trang 14Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin được trại thực hiện nghiêm túc, đầy
đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực và lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn đạt 100%
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy,
không gây thiệt hại lớn về số lượng của đàn lợn
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn
Trang 15Trang thiết bị, vật tư, hệ thống chuồng trại chăn nuôi đã cũ, có phần bị
hư hỏng, ảnh hưởng đến công tác sản xuất
Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn
Thị trường tiêu thụ lợn không ổn định về số lượng và giá cả Giá cả lợn bấp bênh ảnh hưởng lớn tới người chăn nuôi Mức độ tiêu thụ lợn trong nước chiếm một phần nhỏ, chủ yếu lợn nước ta được xuất khẩu Thị trường lợn nước ta chủ yếu xuất sang Trung Quốc lên giá cả phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu sử sử dụng lợn của nước bạn, đây là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng ép giá lợn ở nước ta gây thiệt hại lớn đến ngành chăn nuôi lợn nói chung và người chăn nuôi nước ta nói riêng
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Sinh lý tiêu hoá của lợn con
2.2.1.1 Các đặc điểm sinh lý của lợn con
* Đặc điểm của cơ quan tiêu hoá
Lợn con sơ sinh sống nhờ sữa của lợn mẹ, chức năng cơ quan tiêu hoá chưa hoàn thiện nhưng phát triển rất nhanh về kích thước và dung tích
Dung tích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần lúc sơ sinh (lúc sơ sinh dung tích dạ dày khoảng 0,03 lít)
Dung tích ruột non lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc
60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít)
Và dung tích ruột già của lợn con cũng tăng lên so với lúc sơ sinh, 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần, và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít)
Khả năng tiêu hoá thức ăn của lợn con rất kém, nguyên nhân là do một
số men tiêu hoá thức ăn (men pepsin; men amilaza và maltaza; men tripsin;
Trang 16men catepsin; men lactaza; men saccaraza) chưa có hoạt tính mạnh, nhất là giai đoạn 3 đến 4 tuần tuổi đầu (Cù Xuân Dần và cs, 1996) [8]
* Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt
Cơ năng điều tiết nhiệt ở lợn con là chưa hoàn chỉnh, và thân nhiệt chưa được ổn định Để có khả năng điều tiết tốt nhiệt tốt cần có 3 yếu tố: Thần kinh, mỡ và nước
Với lợn con sự điều tiết thân nhiệt ít chịu ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh ban đầu
Và nhiệt độ trên các bộ phận cơ thể của lợn cũng khác nhau, phần bụng có nhiệt độ cao hơn so với phần thân, chân, và phần tai
Khả năng điều tiết thân nhiệt của gia súc non rất kém, do đó nó rất nhạy cảm với sự thay đổi khí hậu bên ngoài, nhất là nhiệt độ lạnh dễ làm gia súc non bị bệnh Ở gia súc non từ 15 - 20 ngày tuổi thân nhiệt mới dần ổn định (Trần Thị Dân, 2003) [7]
Cơ quan điều tiết thân nhiệt của lợn chưa hoàn chỉnh, lớp mỡ dưới da ít nên lợn con rất dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết khí hậu trong đó nhiệt độ và ẩm độ
là hai nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sức khỏe của lợn Do đó chúng ta cần
có biện pháp nuôi dưỡng thích hợp và phòng bệnh cho lợn con
Khi nhiệt độ môi trường tăng lên ở mức 22-250C thì mức tiết dịch tiêu hóa, hàm lượng enzym giảm, sự vận động của ống dạ dày, ruột bị ức chế, khả năng tiêu hóa và sự đồng hóa thức ăn ở ống tiêu hóa giảm (Trần Cừ và cs 1985) [4] Không khí càng nóng lợn càng khó toả nhiệt, trao đổi chất kém nên kém ăn, giảm độ ngon miệng, sự mất tính thèm ăn không phải xuất hiện
từ từ mà khi nhiệt độ khoảng 300C thì lợn không thể điều tiết được quá trình tiêu hóa nữa và khi nhiệt độ gần 350C thì lợn con thể hiện các biến đổi sinh
lý (Trần Cừ và cs 1985) [4]
Ở nhiệt độ 330
C khả năng sử dụng thức ăn hàng ngày của lợn bị giảm,
Trang 17mặt khác một số tác giả thí nghiệm và cho thấy trọng lượng lợn càng tăng mà nhiệt độ tăng cao thì khả năng sử dụng thức ăn và sự hấp thụ càng giảm
Ẩm độ: không có số liệu để xác định ẩm độ tối ưu cho lợn con cai sữa, tuy nhiên nếu lợn con thường xuyên tiếp xúc với ẩm độ cao sẽ dễ bị tiêu chảy (Trần Thanh Xuân, 1994) [26], và có các trường hợp xảy ra sau đây: Nhiệt độ cao, ẩm độ cao không bốc hơi nước được làm cho quá trình điều hòa thân nhiệt của gia súc sẽ gặp khó khăn hơn
Nhiệt độ thấp, ẩm độ thấp sẽ làm tăng sự mất nhiệt cơ thể lợn do nhiệt
độ môi trường giảm cùng với ẩm độ thấp làm cho tế bào da dễ bị khô nứt nẻ,
nó là điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của vi khuẩn
Nhiệt độ cao, ẩm độ thấp nước sẽ bốc hơi nhanh làm cho cơ thể dễ bị mất nước ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể
Tóm lại, ở lợn con có khả năng điều tiết thân nhiệt còn kém, nhất là trong tuần đầu mới đẻ ra Tuổi của lợn con càng ít thân nhiệt của lợn con hạ xuống càng nhiều khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp Sau 3 tuần tuổi thì cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn mới tương đối hoàn chỉnh, thân nhiệt của lợn con được hoàn chỉnh hơn (39-39,5oC)
Đặc điểm về khả năng miễn dịch ở lợn con
Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007) [23], lợn con từ khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Song lượng kháng thể trong máu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu Cho nên nói rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động Nó phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa mẹ Trong sữa đầu của lợn
mẹ có tỷ lệ protein rất cao, những giờ đầu sau khi đẻ trong sữa có tới 18 - 19% protein Trong đó lượng g - globulin chiếm số lượng rất lớn (34 - 45%) cho nên nó có vai trò miễn dịch ở lợn con
Trang 18Theo Trần Văn Phùng (2005) [20], chất - globulin có tác dụng tạo sức đề kháng, cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu - globulin bằng con đường ẩm bào Quá
trình hấp thu nguyên vẹn phân tử - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Phân tử - globulin chỉ có khả năng thấm qua thành ruột lợn con rất tốt trong 24h đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của enzym trypsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con khá rộng
Theo Võ Văn Ninh (2001) [17], nếu lợn nái được chủng ngừa kỹ, nuôi dưỡng trong lúc mang thai và tiết sữa đúng kỹ thuật, biện pháp chăm sóc tốt, thì đàn lợn con sẽ tăng trọng nhanh, ít bệnh tật Nếu nái có bệnh như viêm
vú, viêm tử cung, sốt, bỏ ăn, viêm khớp thì đàn lợn con thường bị ảnh hưởng xấu, gầy còm, tăng trọng kém, dễ bị tiêu chảy, tỷ lệ chết cao
Bên cạnh sự hấp thu kháng thể từ sữa mẹ thì bản thân lợn con trong thời kỳ này cũng có quá trình tổng hợp kháng thể Trước đây, người ta cho rằng, mãi tới 2 tuần tuổi hoặc muộn hơn mới có quá trình tổng hợp kháng thể ở lợn con Song một nghiên cứu tại Bruno (Tiệp Khắc) gần đây cho thấy, chỉ ngay ngày thứ hai sau khi đẻ một số cơ quan trong cơ thể lợn con đã bắt đầu sản sinh kháng thể Nhưng khả năng này còn rất hạn chế và nó chỉ được hoàn chỉnh tốt hơn khi lợn con được một tháng tuổi (Nguyễn Thiện và
Trang 19hấp thu 85 % đường, 87 % protein Ruột già chỉ còn không quá 10 - 15 % (Trương Lăng, 2003) [15]
Thành ruột của lợn con trong 36 giờ đầu tiên có khả năng ngấm thấu được các globulin miễn dịch, kể cả các protein khác và hấp thu nguyên dạng ban đầu Hơn nữa ở lợn con chất ức chế trypsin (antitrypsin) của sữa đầu và niêm mạc ruột của lợn tiết ra giúp cho globulin không bị phân giải Lợn con tự tạo được kháng thể khi đạt từ 21 ngày tuổi trở lên (Võ Ái Quấc, 1991) [21]
Khả năng miễn dịch của lợn con ở 3 tuần tuổi đầu hoàn toàn phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được từ sữa lợn mẹ Trong sữa của lợn mẹ có chứa hàm lượng - globulin cao Thành phần sữa đầu biến đổi rất nhanh,
protein 18-19% giảm còn 7% trong vòng 24 giờ, tỷ lệ - globulin trong sữa
đầu cũng giảm từ 50% xuống còn 27%
Sự thành thục về khả năng miễn dịch của lợn con có được sau một tháng tuổi Do đó lợn con bú sữa đầu là rất quan trọng để tăng sức đề kháng cho lợn con Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì sau 24 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp được kháng thể, vì vậy những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
* Sự phát triển của hệ thống enzym tiêu hoá
Người ta xác định rằng: trong 8 tuần đầu tiên đã có sự thay đổi về hệ thống enzym tiêu hóa ở lợn con Về phương diện định tính, người ta thấy phản ứng enzym nhưng không thấy rõ hiệu lực enzym về phương diện định lượng
Enzym tiêu hóa protid
Độ pH thích hợp cho hoạt động pepsin và phạm vi hoạt động của nó từ dưới 2-4, độ acid dịch vị của lợn con nhỏ hơn lợn lớn Vì vậy, khả năng hoạt động của pepsinogen kém, khả năng diệt khuẩn củng kém Acid HCl xuất hiện 25-30 ngày tuổi và tính chất diệt khuẩn rõ nhất ở lợn 40-50 ngày tuổi (Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi, 1972) [3]
Trang 20Hoạt động phân giải của dạ dày tăng lên chậm trong 2 tuần tuổi đầu sau đó tăng nhanh Khi lợn 4-6 tuần tuổi protid của sữa được tiêu hóa chủ yếu do trypsin, còn tác dụng của pepsin rất ít
Enzym tiêu hóa glucid
Các enzym tiêu hóa tinh bột và đường biến đổi theo tuổi trong thời kỳ
bú sữa Ở lợn con amilase nước bọt hoạt động kém, đạt cao nhất khi 2 - 21 ngày tuổi và sau đó giảm đi 50% Hoạt tính amilase lúc đầu hoạt động kém sau đó tăng mạnh từ tuần tuổi thứ 3 đến tuần tuổi thứ 5 Đó là một thích ứng sinh lý đối với lợn con ở chế độ ăn mới mà người ta xem đó là một thuận lợi
để cho lợn con cai sữa (Trần Cừ và cs 1985) [4]
Riêng lactase thì đặc biệt hơn, có hoạt động ở lợn con sơ sinh mặc dù hoạt động của nó có thể tăng lên trong 1 - 2 tuần tuổi và nó sẽ giảm đi nhanh chóng đến 4-5 tuần tuổi thì thấp Mặc dù lactase trên đơn vị trọng lượng giảm dần theo tuổi nhưng do toàn bộ lượng ruột tăng lên tống hoạt động của lactase tương đối ổn định
Saccharase có rất ít ở dịch ruột khi lợn mới đẻ, sau 2 tuần tuổi lợn mới bắt đầu tăng và sau đó tăng nhanh chóng cùng lứa tuổi
Enzym tiêu hóa lipid
Ở lợn quá ít tuổi mật rất ít và tăng chậm trong 21 ngày tuổi đầu tiên, khi thể trọng gần 7 kg thì lượng mật tăng lên Sự tăng lên này hầu như không có quan hệ trực tiếp đối với sự tăng lên của thể trọng Lipid nếu được nhũ hóa thành những hạt có đường kính < 0,5µ thì chúng có thể hấp thu qua nhung mao ruột Hoạt tính của lipase từ khi mới đẻ cho đến hết tháng thứ nhất rất cao, sau
đó giảm dần theo tuổi một cách rõ rệt (Trần Cừ và cs 1985) [4]
Tuổi cai sữa
Tuổi cai sữa càng sớm thì lợn con càng nhạy cảm với sự thay đổi, cai sữa ở 60 ngày tuổi mỗi ngày ăn được 344g, cai sữa 45 ngày tuổi mỗi ngày ăn 571g, cai sữa 35 ngày tuổi mỗi ngày ăn được 604g thức ăn tinh
Trang 21Khối lượng cai sữa
Lợn con cai sữa 28 ngày tuổi trọng lượng đạt ít nhất là 6,8kg Lợn càng đạt trọng lượng cao lúc cai sữa thì càng có được hệ thống tiêu hóa và miễn dịch phát triển hơn, càng có khả năng đề kháng với stress và khả năng tăng trọng tốt hơn trong thời kì sau cai sữa, (Võ Ái Quấc, 1996) [24]
2.2.1.2.Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng của lợn con
Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con
Sau khi lợn con đẻ ra cần cho bú sữa đầu càng sớm càng tốt Trong sữa đầu hàm lượng dinh dưỡng rất cao, vật chất khô gấp 1,5 lần so với sữa thường, protein gấp 2 lần, vitamin A gấp 5-6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và Fe gấp 1,5 lần Đặc biệt trong sữa có nhiều - globulin và
MgSO4 MgSO4 Và cố định đầu vú cho lợn con để ưư tiên các con nhỏ được bú các vú trước ngực Ngay từ đầu, nếu có định đầu vú đều đặn thì chỉ sau 3- 4 lần lợn con sẽ quen và sẽ tự bú ở vú đã quy định cho nó
Tập cho lợn con ăn sớm
Lợn con sinh trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng cao và đòi hỏi nhu cầu sữa càng nhiều nhưng khả năng tiết sữa của lợn mẹ ngày càng giảm dần Lợn con rơi vào tình trạng thiếu dinh dưỡng, cần bổ sung nguồn dinh dưỡng từ thức ăn bên ngoài Do đó, việc tập cho lợn con ăn sớm là rất cần thiết
Nếu tập ăn đều đặn thì đến 20 ngày tuổi lợn con đã biết ăn tốt, nhanh chóng cai được sữa Nếu không tập ăn sớm thì lợn con được cai sữa muộn làm ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng
* Bổ sung các chất dinh dƣỡng cho lợn con
Để đảm bảo cho lợn sinh trưởng và phát triển bình thường cho lợn con cần bổ sung năng lượng, phải đầy đủ thành phần, dinh dưỡng tốt, dễ tiêu hoá, không ảnh hưởng đến sản xuất và sự sống, sự tăng trọng và phát triển
Trang 22Trong 1kg thức ăn của lợn con cần có 3200-3300 Kcal ME Theo như lời khuyến cáo của hãng thức ăn Proconco thì loại cám Prystarter phù hợp với lợn từ tập ăn đến 60 ngày tuổi, như bảng 2.1
Bảng 2.1 Bảng thành phần dinh dƣỡng trong thức ăn Prystarter
2.2.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con
Trong chăn nuôi lợn phụ thuộc phần lớn vào thức ăn chiếm 70% giá thành của sản phẩm Thức ăn là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sản xuất và sự sống của gia súc, sự tăng trọng về phát triển của gia súc
Vì vậy, chúng ta cần nắm vững nhu cầu dinh dưỡng ở lợn như sau:
Nhu cầu năng lượng
Lợn sơ sinh đòi hỏi được cung cấp năng lượng lập tức ngay sau khi sinh vì giảm glucose huyết và đói là nguyên nhân chủ yếu gây chết ở lợn
sơ sinh (Trần Thị Dân, 2003) [7]
Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007) [23], để có cơ sở bổ sung năng lượng cho lợn con cần căn cứ vào mức năng lượng được cung cấp từ sữa mẹ và nhu cầu của lợn con, từ đó quyết định mức bổ sung cho lợn con
Trang 23Nhu cầu protein
Protein (Pr): Protein rất quan trọng trong khẩu phần thức ăn Là thành phần không thể thay thế được, cần thiết cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể
Con vật càng non trao đổi chất càng mạnh, khả năng tích lũy protein càng lớn Khi gia súc trưởng thành khả năng tích lũy protein giảm dần, đồng thời hàm lượng protein trong cơ thể giảm đi
Như vậy, gia súc còn non cho ăn đầy đủ protein thì chúng càng lớn và rút ngắn được thời gian sinh trưởng Khi gia súc trưởng thành không nên cho
ăn nhiều protein gây lãng phí
Protein là cơ sở của sự sống, protein là chất cấu tạo nên các loại mô bào trong cơ thể, đồng thời cũng là cấu tạo của những chất đều hòa sự sống như hormon, enzym trong cơ thể (Võ Văn Ninh, 2007) [18]
Theo Trương Lăng (2003) [15], protein là nguyên liệu cấu tạo tế bào Cơ chứa đến 30 - 35 % protein Protein do thức ăn đưa vào Phải tính protein tiêu hóa của từng loại thức ăn trên đơn vị thức ăn tiêu chuẩn hàng ngày Lợn nái có thai cần 80 - 90g protein tiêu hóa / ĐVTĂ Lợn nái nuôi con 100 - 110g, lợn con tập ăn từ 120 - 130g protein tiêu hóa / ĐVTA Trong protein có nhiều acid amin Có 2 loại acid amin: loại thay thế và loại không thay thế được Loại không thay thế được, cơ thể heo không tổng hợp được phải lấy từ thức ăn vào là: lysine, tryptophan, threonine, phenylalanine, methionine, leucine, isoleucine, arginine, histidine, valine Thiếu một trong những acid amin này là protein giá trị không hoàn toàn Thiếu tryptophan lợn con ngừng sinh trưởng, thể trọng giảm, hiệu quả sử dụng thức ăn kém, nhất là thiếu lysine Lysine là acid amin giới hạn số một của lợn, giúp tổng hợp thịt nạc
Phải cân bằng để tạo ra “protein lý tưởng” với hàm lượng tối đa lysine
và các acid amin khác để tăng năng suất gia súc
Trang 24Nhu cầu glucid
* Glucid (G):Cung cấp năng lượng cho các hoạt động sống của cơ thể Nhu cầu năng lượng thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng của con vật, thay đổi theo hướng sản xuất cũng như nhiệt độ chuồng nuôi Ví dụ ở nhiệt
độ 20oC thì lượng mô mỡ tăng lên là 0,224 kg Còn ở nhiệt độ 12oC thì lượng mô mỡ tăng lên là 0,192 kg (Võ Trọng Hốt và cs, 2000) [18]
Glucid là những chất chủ yếu đảm bảo năng lượng cho lợn và tham gia vào cấu trúc các mô của cơ thể Những chất như đường, tinh bột, xơ v.v… là những chất đảm bảo 70 - 80% nhu cầu năng lượng của lợn So với các lứa tuổi khác, lợn con có cường độ trao đổi chất và năng lượng cao Sau khi ra khỏi cơ thể mẹ, nguồn năng lượng mất từ mẹ đột ngột, làm thân nhiệt lợn con giảm xuống đột ngột Khi mới sinh thân nhiệt lợn con đạt 38,9 - 39,10C,
30 phút sau giảm xuống 36,7 - 37,1oC Vì vậy, trong vòng 1 giờ sau khi sinh, nếu lợn con được bú sữa đầu thì 8 - 12 giờ sau, thân nhiệt lợn con sẽ được ổn định Qua nhiều tài liệu cho thấy, nhu cầu về năng lượng của lợn con gồm có nhu cầu về duy trì và nhu cầu sinh trưởng, phát triển Để đáp ứng được nhu cầu năng lượng của lợn con, người ta thường dùng cám gạo, bột mì, cao lương, những sản phẩm này có giá trị năng lượng cao (2742, 3147, 3035 kcal/kg), lại vừa có hàm lượng protein cao (80, 106, 66 gam) Trong khẩu phần của lợn có thể dùng đến 50 - 60% loại thức ăn này (Đào Trọng Đạt và
cs, 1999) [10]
Nhu cầu vitamin
Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007) [23], ở giai đoạn này lợn con nhận vitamin chủ yếu từ lợn mẹ, sữa mẹ hầu như đã đáp ứng đủ nhu cầu của lợn con
Trang 25Theo Trương Lăng (2000) [15], cơ thể lợn con cần vitamin cho sự phát triển và phòng ngừa bệnh tật, như: Vitamin A, vitamin B1, B12, vitamin C… tác dụng và hậu quả khi lợn con thiếu các vitamin như sau: Vitamin A: Trong bào thai, thiếu vitamin A lợn con có thể bị mù Hàng ngày lợn con cần
2 - 300 đơn vị vitamin A cho 1 kg thể trọng Nếu dùng caroten thì cần 55 -
60 mg (tính trên 1 kg vật chất khô của khẩu phần) Lợn con dưới 10 ngày tuổi, không có khả năng chuyển hóa caroten thành vitamin A Lợn con 20 ngày tuổi mới chuyển hóa được 25 - 30 % Trong sữa đầu, vitamin A gấp 6 lần so với sữa thường, nên nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu để nâng hàm lượng vitamin A trong cơ thể; Vitamin nhóm B gồm: B1, B2, B5,B6, B12, colin, biotin: B1 tham gia quá trình trao đổi chất, chống viêm dây thần kinh, khử cacboxit của axit piruvic Thiếu B1 lợn con bị phù, viêm dây thần kinh, suy tim; B2 tham gia oxy hóa hoàn nguyên, oxy hóa đường, acid amin, axit lactic; tham gia sự hô hấp của mô bào, vận chuyển hydro, tham gia quá trình tạo hemoglobin, vào sự hình thành axit clohydric của dịch vị và muối mật Thiếu B2 viêm da, rụng lông, ỉa chảy, nôn mửa, kém sinh trưởng Lợn con cần 0,8 - 1,2 mg cho 1 kg vật chất khô Vitamin D: vitamin D tham gia trao đổi Ca - P Thiếu vitamin D gây thiếu khoáng, còi xương Hàng ngày cần 12- 15 UI cho 1 kg thể trọng Cho lợn con vận động dưới ánh nắng mặt trời để cơ thể tổng hợp được vitamin D; Vitamin E: tham gia quá trình trao đổi protein và chuyển axit amin, axit nuclêic Lợn nái thiếu vitamin E thì cơ bắp, cơ tim của thai phát triển kém, thoái hóa tim gan
Nhu cầu khoáng
* Khoáng chất: Ngoài chức năng cấu tạo mô còn tham gia nhiều quá trình chuyển hóa của mô cơ Nếu khẩu phần ăn thiếu khoáng con vật sẽ bị rối loạn trao đổi chất, sinh sản ngừng trệ, sức sản xuất sút kém
Trang 26Chất khoảng quan tâm nhất vẫn là canxi (Ca) và photpho (P), ngoài ra còn có kali (K), natri (Na), magiê (Mg)…Các khoáng chất này giữ vai trò chính trong việc phát triển và duy trì bộ xương và thực hiện chức năng sinh
lý khác: Khả năng sinh trưởng, khả năng thu nhận thức ăn…
Trong khẩu phần của lợn con cần đảm bảo 0,9% Ca, 0,7% P, và Ca/P là 1,2-1,8
Lợn con rất hay thiếu sắt, hậu quả là bị bệnh thiếu máu, ỉa chảy, ỉa phân trắng, chậm lớn, ta thường dùng dextran - Fe tiêm vào ngày thứ 3 sau khi lợn đẻ Nhu cầu dinh dưỡng trong khẩu phần của lợn cần một số khoáng bao gồm: Ca, Cl, Cu, I, Fe, Mg, P, K, Se, Na, S, Zn Ngoài ra, lợn còn cần một số khoáng vi lượng khác như: Br, F, Bo, Sn,…Ngày nay, đa số lợn được nuôi nhốt, không được chăn thả và cung cấp thêm rau xanh, môi trường chăn nuôi này làm tăng nhu cầu bổ sung khoáng chất Nhu cầu về khoáng trong khẩu phần bị ảnh hưởng bởi giá trị sinh học của chất khoáng trong nguyên liệu dùng làm thức ăn
Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007) [23], thì đây là giai đoạn lợn con phát triển rất mạnh cả hệ cơ và hệ xương, cho nên nhu cầu chất khoáng cũng rất cao ở giai đoạn này
Theo Cunha (1980) [28], nhu cầu Ca/P của lợn có trọng lượng 5-10 kg
là 0,8%/0,6% khẩu phần; 10-20 kg là 0,65%/0,50% khẩu phần
Khoáng đa lượng
Ca và P là hai nguyên tố có vai trò rất quan trọng trong hình thành xương Nếu không cung cấp sẽ có nguy cơ dẫn đến hiện tượng còi xương Mức cung cấp trong khẩu phần đối với canxi là 0,8 % so với vật chất khô khẩu phần, còn đối với photpho là 0,6 % so với vật chất khô khẩu phần Nguồn bổ sung chủ yếu sử dụng bột xương (bổ sung cả canxi và photpho), vôi bột hay bột đá (bổ sung canxi) (Trương Lăng 2003) [15]
Trang 27Natri (Na) và Clo (Cl): Na cùng với Cl điều hòa sự thẩm thấu của tế bào, cân bằng acid-base trong máu và thể dịch Hàm lượng muối NaCl trong thức ăn biến đổi từ 0,3 – 1% tùy theo lứa tuổi và tùy giống lợn nuôi Lợn con cần ít muối hơn lợn lớn, lợn nái tiết sữa cần nhiều muối lợn nái chửa, lợn giống nội thích ăn mặn hơn lợn giống ngoại nhập Thiếu Na và Cl trong khẩu phần làm giảm tính thèm ăn, con vật sút cân, gầy yếu và giảm sức sản xuất (cho sữa), nhưng hiếm khi xảy ra Tuy nhiên khẩu phần thừa Na, Cl thì lại gây độc, lợn bị tiêu chảy nặng, da lông xơ xác, chậm lớn (Võ Văn Ninh, 2001) [17]
Magie (Mg): Mg là cũng là một yếu tố trong nhiều hệ enzym và là một yếu tố cấu thành của xương, nó cũng giữ vai trò quan trọng trong sự dẫn truyền thần kinh Khi thiếu Mg, con vật bị kích động mạnh, co cơ, miễn cưỡng khi đứng, yếu cổ chân, mất cân bằng và co giật cho đến chết Thừa
Mg, lợn bị tiêu chảy Đối với lợn thức ăn thường cung cấp đủ cho nhu cầu
Kali (K): K là chất khoáng có nhiều, đứng hàng thứ 3 trong cơ thể của lợn, chỉ sau Ca và P và là khoáng chất có nhiều nhất trong trong tế bào cơ K tham gia cân bằng chất điện phân và hoạt động cơ thần kinh Nó cũng là cation đơn hóa trị để cân bằng anion bên trong tế bào và là một phần của cơ chế sinh lý bơm Na-K Các triệu chứng thiếu K bao gồm chán ăn, xù lông, gầy yếu, không hoạt động, nhịp tim giảm (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái 2005) [2]
Khoáng vi lượng sắt (Fe) và đồng (Cu) là hai nguyên tố bị hạn chế trong quá trình tạo sữa Cho nên cần phải cung cấp trong khẩu phần lợn con Hai yếu
tố này chủ yếu tham gia vào quá trình tạo máu cho lợn con Lượng sắt bổ sung vào khẩu phần ở mức 80 ppm (phần triệu) Sắt được bổ sung ở dạng FeSO2 (FeSO4, 7H20) Tuy nhiên, hiện tượng thiếu máu do thiếu sắt thường xảy ra rất sớm, bởi vậy để khắc phục hiện tượng cần phải thực hiện bổ sung sắt
Trang 28bằng cách sử dụng dextran sắt tiêm cho lợn con Thông thường 1 ml dextran
Fe chứa từ 100 đến 150 mg Fe Tiến hành tiêm lần thứ nhất vào ngày thứ 3 sau khi đẻ và có thể tiêm lần thứ 2 vào ngày thứ 13 Phương pháp này rất đơn giản và mang lại hiệu quả cao Phương pháp bổ sung sắt khác: Tạo ra dung dịch bao gồm: 500g FeSO4 + 75g CuSO4 + 3 lít nước Hàng ngày bôi dung dịch này vào vú mẹ Hoặc đất sét sạch vào máng tập ăn cho lợn con và thay hàng ngày, cũng có thể bổ sung được sắt cho lợn con Đồng (Cu) chỉ cần một lượng rất nhỏ bổ sung vào khẩu phần cho lợn con với mức từ 6-8 ppm Song đối với lợn con bú sữa lượng đồng có thể bổ sung vào khẩu phần với lượng từ 125 đến 250 ppm đem lại tốc độ sinh trưởng cao hơn Dạng bổ sung: CuSO4, 5H20, CuO, CuCO3 (Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt 2007) [23] Mangan (Mn): Chức năng của Mn như thành phần của một số enzym tham dự trong quá trình trao đổi chất của tinh bột, chất béo và protein Mn cần cho việc tổng hợp chondroitin sulfate, một thành phần của mucopolysaccharide trong chất hữu cơ của xương Cho ăn kéo dài khẩu phần chỉ có 0,5ppm Mn dẫn đến phát triển xương không bình thường, tích mỡ tăng, chu kỳ động dục không bình thường hoặc mất hẳn, thai bị hấp thụ, heo sinh ra yếu, nhỏ, sữa giảm (Trần Cừ và cs (1972) [3]
Kẽm (Zn): Là một thành phần của nhiều enzym chứa kim loại như: Synthetase và transferase AND và ARN, các enzym tiêu hóa và được liên kết với hormon insulin Vì vậy, chất này đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất của protein, lipid và carbohydrate Lợn đực giống thường cần nhiều Zn hơn lợn nái và lợn thịt, nái mang thai, nái nuôi con cần nhiều Zn hơn nái khô Các triệu chứng thiếu Zn bao gồm: sừng hóa da, giảm tốc độ và hiệu quả tăng trưởng, mất tính hèm ăn, rối loạn về xương… Ngược lại, khẩu phần có
từ 2000 – 4000ppm có thể gây ngộ độc, triệu trứng ngộ độc Zn là viêm khớp, viêm dạ dày…
Nhu cầu lipid
Lipid (L): Là nguồn dự trữ năng lượng, tích lũy ở dưới da của cơ thể