1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Theo dõi khả năng sinh sản của lợn nái và một số bệnh thường gặp trên lợn nái nuôi tại trại chăn nuôi bình minh, mỹ đức hà nội

74 283 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 880,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ lệ mắc một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của đàn lợn nái sinh sản tại trại .... Ảnh hưởng của một số bệnh sinh sản đến khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại..... Tỷ lệ mắc một s

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn Nuôi Thú Y

Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017 Giảng viên HD: GS.TS Từ Quang Hiển

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất về sự quan tâm và

giúp đỡ tận tình của thầy giáo GS.TS Từ Quang Hiển, người đã trực tiếp

hướng dẫn em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này

Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới các cấp, chính quyền xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội cùng Ban lãnh đạo và công nhân viên công ty cổ phần phát triển Bình Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 09 tháng 06 năm 2017

Sinh viên

Đàm Thị Tình

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 45 Bảng 4.2 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại 46 Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại (n =50) 46 Bảng 4.4 Khả năng sản xuất của đàn lợn nái 49 Bảng 4.5.Các chỉ tiêu về khối lượng của lợn con 51 Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của đàn lợn nái sinh sản tại trại 52 Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú sau đẻ của đàn lợn nái theo các tháng khác nhau 54 Bảng 4.8 Kết quả điều trị một số bệnh sinh sản chính của lợn nái 55 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của một số bệnh sinh sản đến khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 56

Trang 5

KLCS: Khối lƣợng cai sữa

KLSS: Khối lƣợng sơ sinh

TTTA: Tiêu tốn thức ăn

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn 3

2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 4

2.2 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh 5

2.2.1 Qúa trình thành lập 5

2.2.2 Cơ sở vật chất 5

2.2.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 6

2.2.4 Tình hình sản xuất của trang trại 6

2.2.5 Thuận lợi và khó khăn 7

2.2.5.1 Thuận lợi 7

2.2.5.2 Khó khăn 8

2.3 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 8

2.4 Đặc điểm về khả năng sản xuất của lợn nái 12

2.5 Đặc điểm và nguyên nhân gây ra một số bệnh trên lợn nái sinh sản 15

2.6 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài 26

Trang 7

2.7 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28

2.7.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 28

2.7.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 30

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32

3.3 Nội dung nghiên cứu 32

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 32

3.4.1 Theo dõi khả năng sản xuất của lợn nái 32

3.4.2 Theo dõi một số bệnh thường gặp trên lợn nái và kết quả điều trị 34

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 36

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 38

4.1.1 Công tác phòng và trị bệnh 38

4.1.2 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 41

4.1.2.1 Công tác chọn giống 41

4.1.2.2 Thức ăn 42

4.1.2.3 Chuồng trại 45

4.2 Kết quả thực hiện chuyên đề 46

4.2.1 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại chăn nuôi Bình Minh 46

4.2.2 Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 46

4.2.3 Khả năng sản xuất của lợn nái nuôi tại trại 49

4.2.4 Nghiên cứu các chỉ tiêu về lợn con 51

4.2.5 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái nuôi tại trại 52

4.2.5.1 Tỷ lệ mắc một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của đàn lợn nái sinh sản tại trại 52

Trang 8

4.2.5.2 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ở lợn nái theo tháng tại cơ sở thực tập 53

4.2.5.3 Kết quả và thời gian điều trị 54

4.2.6 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị 56

4.2.7 Đề xuất một số biện pháp để nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái 56 Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Đề nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

I Tiếng Việt 60

II Tiếng Anh 63

PHỤ LỤC

Trang 9

Ngoài ra,chăn nuôi lợn còn góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu, là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân, chính vì vậy mà ngành chăn nuôi nước ta ngày càng phát triển cả về số lượng, năng suất cũng như chất lượng sản phẩm

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, ngành chăn nuôi lợn còn gặp không ít khó khăn, đó là vấn đề dịch bệnh Do kỹ thuật không đảm bảo, vệ sinh chuồng trại không phù hợp, không tiêm phòng vacxin hoặc có tiêm phòng nhưng không đúng quy trình kỹ thuật, tập quán chăn nuôi lạc hậu cũng làm cho chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế thấp

Vì vậy, để phát triển đàn lợn trong mỗi trại, mỗi gia đình một cách nhanh chóng, bền vững và có chất lượng tốt thì bên cạnh việc cải tạo, chọn lọc giống việc nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn là rất quan trọng Khả năng sinh sản của đàn lợn ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính gây ra đó là các bệnh sinh sản ở lợn nái như: viêm tử cung, viêm

âm đạo, đẻ khó… Các bệnh này có thể làm giảm hoặc mất khả năng sinh sản ở lợn nái Do đó, đánh giá tình hình nhiễm bệnh sau sinh của đàn lợn nái, đồng thời đưa ra phác đồ điều trị có kết quả cao đang là vấn đề cấp thiết hiện nay

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất em tiến hành nội dung đề tài:

“Theo dõi khả năng sinh sản của lợn nái và một số bệnh thường gặp trên lợn nái nuôi tại trại chăn nuôi Bình Minh, Mỹ Đức- Hà Nội”

Trang 10

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích của chuyên đề

- Nắm được khả năng sinh sản của đàn lợn

- Đánh giá được khả năng sinh sản của lợn nái và đưa ra các biện pháp tăng sức sinh sản cho lợn nái

- Xác định được một số bệnh sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại và đưa ra được phác đồ điều trị có hiệu quả cao

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Nắm được và thực hiện tốt quy trình chăn nuôi lợn nái và lợn con theo mẹ

- Đánh giá được khả năng sinh sản của lợn nái cần theo dõi

- Nắm được triệu chứng lâm sàng các bệnh thường gặp trên lợn nái và biện pháp điều trị

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Xã Phù Lưu Tế là một xã nằm trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội, cách thị trấn Vân Đình 12 km về phía Nam Xã Phù Lưu Tế có địa giới hành chính như sau:

- Phía Tây giáp xã Xuy Xá

- Phía Nam giáp thị trấn Đại Nghĩa

- Phía Bắc giáp xã Hòa Xá của huyện Ứng Hòa

- Phía Đông giáp xã Phùng Xá

2.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn

- Khí hậu : xã Phù Lưu Tế nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên khí hậu mang tính chất chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa

- Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2,157 mm, thấp nhất là1,060

mm, trung bình là 1,567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7 trong năm

- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%

- Nhiệt độ trung bình trong năm là 210C đến 230C, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa trong năm

- Về chế độ gió: Gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau

Trang 12

2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội

-Tình hình dân cư: Qua số liệu thống kê cho thấy dân số của xã là: mật

độ dân số 1070 người/km2, số người trong độ tuổi lao động chiếm 56% dân

số, chủ yếu là lao động nông nghiệp Lao động chưa có chuyên môn kỹ thuật chiếm 80,2% Dân cư trong xã phân bố chưa đồng đều Các khu vực lân cận thị trấn và gần trục đường giao thông chính, mật độ dân cư đông, sống tập trung hơn Dân tộc ở đây chủ yếu là dân tộc Kinh (chiếm 96%), bên cạnh đó còn có một số dân tộc ít người như: Mường, Thái, H’Mông (chiếm 4%) Người dân trong xã cần cù trong lao động, sáng tạo trong sản xuất, đoàn kết trong nếp sống

- Công tác thú y: Huyện Mỹ Đức hàng năm đã tổ chức tốt kế hoạch tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm Công tác kiểm tra xuất nhập con giống

và kiểm soát giết mổ được thực hiện nghiêm ngặt

Hiện nay, người dân đã nhận thức được lợi ích của việc tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm nên công tác tiêm phòng đạt hiệu quả cao, góp phần làm giảm thiểu thiệt hại đối với sản xuất Hàng năm vào tháng 3-4 và tháng 9-

10

Trạm Thú y huyện Mỹ Đức kết hợp với thú y cơ sở ở xã tiến hành tiêm phòng tất cả đàn trâu, bò, lợn, gia cầm và chó

- Với trâu, bò: Tiêm vaccine Tụ huyết trùng, Lở mồm long móng

- Với lợn: Tiêm vaccine Tụ dấu, Dịch tả, Tai xanh

- Với gia cầm: Tiêm vaccine cúm H5N1, Newcastle,

Vì vậy, công tác thú y ở xã đã đảm bảo an toàn dịch bệnh cho đàn gia súc - gia cầm, thực hiện nghiêm Pháp lệnh thú y

Trang 13

2.2 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh

2.2.1 Qúa trình thành lập

Trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán

bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm chủ trại, cán bộ

kỹ thuật của công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại

2.2.2 Cơ sở vật chất

Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 5400 lợn hậu bị bao gồm: 9 chuồng mỗi chuồng có 9 ô, 8 ô kích thước 7m × 7m/ô, 1 ô khích thức 3m × 7m/ô Hệ thống chuồng trại cho 1200 nái bao gồm: 6 chuồng đẻ mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, 2 chuồng bầu mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, 3 chuồng cách

ly, 1 chuồng đực giống Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Trang 14

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, đầu mỗi chuồng có 1 bể riêng để pha thuốc cho lợn uống phòng khi lợn ốm Nước tắm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

2.2.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

01 chủ trại

01 quản lý trại

03 quản lý kỹ thuật

01 kế toán

01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

10 công nhân và 19 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau ở các khu nái, khu hậu bị, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại

2.2.4 Tình hình sản xuất của trang trại

* Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất lợn con giống, nuôi lợn thịt

và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại

* Công tác thú y:

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty chăn nuôi CP Việt Nam

Trang 15

- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động

- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ

Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn

Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%

- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được

kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không

gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn

2.2.5 Thuận lợi và khó khăn

2.2.5.1 Thuận lợi

Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông

Trang 16

Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân

Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất

Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại

2.2.5.2 Khó khăn

Dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn

Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý

nước thải của trại còn nhiều khó khăn

2.3 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

* Một số đặc điểm của cơ quan sinh dục lợn cái

Theo Đặng Quang Nam (2002) [17], cơ quan sinh dục cái có các bộ phận sau: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo và các cơ quan sinh dục bên ngoài Cơ quan sinh dục bên trong được đỡ bằng dây chằng rộng Dây chằng này gồm những màng treo buồng trứng (đỡ buồng trứng), màng treo ống dẫn trứng (đỡ ống dẫn trứng) và màng treo tử cung (đỡ tử cung)

Buồng trứng được bọc ở ngoài bởi màng liên kết sợi chắc, bên trong chia làm 2 phần, cả 2 phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loạt chất đệm Dưới lớp màng liên kết của buồng trứng có nhiều tế bào trứng non phát triển dần thành nang trứng nguyên thủy, sau đó phát triển thành nang trứng sơ cấp và cuối cùng phát triển thành bao noãn chín Dưới tác dụng của kích tố đặc biệt là kích tố sinh dục tuyến yên, trứng chín sẽ rụng Như vậy, buồng trứng có 2 chức năng là sản sinh ra tế bào trứng và tiết ra

hormone sinh dục có ảnh hưởng tới tính biệt, tới chức năng tử cung (đặc tính

thứ cấp của con cái)

Trang 17

- Ống dẫn trứng (Oviductus): Ống dẫn trứng dài 15-20cm, uốn khúc

nằm ở cạnh trước dây chằng rộng Ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung và được chia làm 2 phần: Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bào trứng chín rụng, phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2-0,3cm nối với sừng tử cung Cấu tạo ống dẫn trứng xếp từ ngoài vào trong gồm có: Màng tương mạc đến từ dây chằng rộng, lớp cơ (2 lớp: Cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài), lớp niêm mạc trong cùng có nhiều gấp nếp chạy dọc và không có tuyến

- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi cung cấp dinh dưỡng và phát triển

của thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái Tử cung gồm 3 phần: Sừng, thân, cổ tử cung Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non, dài 30-50cm, có dây chằng rộng rất dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng tử cung

Cổ tử cung không có gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau Cấu tạo tử cung xếp từ ngoài vào trong có: Tương mạc được nối với dây chằng rộng, lớp cơ rất phát triển (dày, khỏe, có cấu tạo phức tạp phù hợp với chức năng chứa thai phát triển và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong và phát triển mạnh ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt), lớp niêm mạc trong cùng màu hồng nhạt có nhiều gấp nếp với nhiều tuyến tiết chất nhờn

* Sự thành thục về tính

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục

và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục

đã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục Khi

đó, con cái các noãn bào chín và rụng trứng (lần đầu) Đối với các giống gia

Trang 18

súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 - 210 ngày)

Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,…

Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55

kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi

Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Lợn cái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg

Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố sinh dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục, là do sự tích lũy mỡ xung quanh buồng trứng và

cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng Mặt khác, do béo quá ảnh hưởng tới các hormone oestrogen và progesterone trong máu, làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa Hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức

Trang 19

+ Ngoài các nhân tố trên, chu kỳ động dục còn chịu tác động của một số nhân tố khác như: Nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, pheromone, tiếng kêu của con đực

Chu kỳ tính dục: Ở gia súc, việc giao phối bị hạn chế trong khoảng thời gian chịu đực, trùng hợp với thời gian rụng trứng, vì vậy việc nghiên cứu chu

kỳ tính dục sẽ giúp cho chúng ta xác định được thời điểm phối giống thích hợp, nâng cao được năng suất sinh sản của con cái Trung bình ở lợn chu kỳ động đực: 19 - 20 ngày, thời gian chịu đực: 48 - 72 giờ, thời điểm rụng trứng:

35 - 45 giờ kể từ khi bắt đầu chịu đực Cho phối giống quá sớm hay quá muộn, đều ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra /ổ (Hoàng Văn Tiến và cs (1995) [32])

Đối với lợn nái có thể cho phối kép, tức là phối hai lần với hai lợn đực giống khác nhau, khoảng cách giữa hai lần phối giống từ 12 - 14 giờ đối với lợn nái cơ bản Đối với lợn nái hậu bị thì thời gian giữa hai lần phối là 10 - 12 giờ

Cơ chế động dục: Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], cơ chế động dục của lợn nái: Khi lợn nái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích thích bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, pheromone của con đực và các kích thích nội tiết đi theo dây thần kinh li tâm, đến vỏ đại não qua vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra kích tố FRF (Folliculin Releasing Factors), có tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH, làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục,thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn, làm cho lợn nái có biểu hiện động dục ra bên ngoài

Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [23]: Chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước động dục: Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển Các tuyến

Trang 20

trong dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng của hormone estrogen Thay đổi của đường sinh dục: Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết

+ Giai đoạn động dục: Bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng Bao noãn tiết nhiều estrogen và đạt cực đại Các thay đổi ở đường sinh dục cái càng sâu sắc hơn, để chuẩn bị đón trứng Biểu hiện của con vật: Hưng phấn về tính dục, đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực

Âm hộ ướt, đỏ, tiết dịch nhày, càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này thì trứng rụng

+ Giai đoạn sau động dục: Thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra progesteron có tác dụng ức chế sự co bóp của đường sinh dục Niêm mạc tử cung vẫn còn phát triển, các tuyến dịch nhờn giảm bài tiết, mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài

Biểu hiện hành vi về sinh dục: Con vật không muốn gần con đực, không muốn cho con khác nhảy lên, và dần trở lại trạng thái bình thường

+ Giai đoạn yên tĩnh: Thể vàng teo dần đi, con vật trở lại trạng thái bình thường, biểu hiện hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo

2.4 Đặc điểm về khả năng sản xuất của lợn nái

Để đánh giá một cách đúng đắn năng suất sinh sản của lợn cái cần phải xác định được các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng, lấy đó làm cơ sở, thước đo để định ra thời gian sử dụng lợn cái hiệu quả Các chỉ tiêu này cần phải được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn cái từ lứa đẻ đầu tiên đến lứa đẻ cuối cùng

Nguyễn Thiện và cs (2005) [28] cho rằng khi khảo sát và đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái cần chú ý các chỉ tiêu: tuổi thành thục sinh dục, chu kỳ động dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian mang thai và số con đẻ ra/lứa Tuy

Trang 21

nhiên, Nguyễn Thiện, Hoàng Kim Giao (1996) [27] cho rằng số lợn con cai sữa/nái/năm là chỉ tiêu thể hiện sự đánh giá đúng đắn và chính xác nhất về năng suất sinh sản của lợn nái Cũng theo Legault (1985) [43], các chỉ tiêu ảnh hưởng đến số lợn con cai sữa/nái/năm bao gồm: số con đẻ ra, tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian

từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau

Nguyễn Khắc Tích (2002) [31] cũng cho rằng khả năng sản xuất của lợn nái chủ yếu được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm Từ

đó cho thấy số lợn con cai sữa/nái/năm phụ thuộc vào 2 yếu tố là số con đẻ ra

Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm:

- Tuổi động dục lần đầu: là tuổi tính từ khi sơ sinh đến khi lợn nái hậu

bị động dục lần đầu Tuổi động dục khác nhau tùy theo dinh dưỡng và chế độ

chăm sóc

- Tuổi phối giống lần đầu: là sau khi lợn đã thành thục về tính và phát triển về thể vóc tương đối hoàn chỉnh có thể cho phối giống

- Tuổi đẻ lứa đầu : là tuổi mà lợn cái hậu bị đẻ lứa thứ nhất, chính là

tuổi phối giống có kết quả cộng với thời gian mang thai Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi phối giống lần đầu, kết quả phối giống, thời gian mang thai và từng giống lợn khác nhau

- Số con đẻ ra/lứa: tính cả số con đẻ ra còn sống và số con chết và cả

số thai chết được đẻ ra Chỉ tiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng

Trang 22

nuôi thai của lợn nái Đồng thời đánh giá được kỹ thuật nuôi dưỡng và khả năng chăm sóc của người chăn nuôi

- Số con sống đến 24 giờ/lứa: là số con sinh sống đến 24 giờ kể từ khi

đẻ ra con cuối cùng Nói lên khả năng đẻ ra được nhiều hay ít con và đánh giá được chất lượng đàn con

- Số con cai sữa/nái/năm: là chỉ tiêu tổng quát đánh giá năng suất chăn

nuôi lợn nái Chỉ tiêu này phụ thuộc vào thời gian cai sữa lợn con và số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa đẻ.Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào trình độ chăn nuôi bao gồm kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng chống dịch bệnh Số lợn con cai sữa/lứa đẻ tuỳ thuộc kỹ thuật chăn nuôi lợn cái nuôi con, kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ cũng như khả năng tiết sữa của lợn mẹ và sức

đề kháng và khả năng phòng chống bệnh của lợn con (Vũ Đình Tôn, Võ Trọng Thành, (2006) [34]

- Khả năng tiết sữa (kg): Trịnh Văn Thịnh (1978) [29] cho rằng: Thức

ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có màu trong hơi vàng và đặc, tiết

ra trong 2 – 3 ngày đầu khi đẻ Trong sữa đầu, các thành phần hoá học đều đặc hơn sữa thường như: lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 – 18 % so với 5 – 6 %) Trên 50 % protein của sữa đầu là globulin, đặc biệt là  -

globulin Hàm lượng  - globulin giảm rất nhanh, sau 12 giờ đã giảm đi 3/4,

 - globulin là thành phần quan trọng tạo nên sức đề kháng chống đỡ bệnh tật

của lợn con sơ sinh

Từ Quang Hiển và cs (2001) [12] cho rằng nhất thiết lợn con sơ sinh cần phải được bú sữa đầu giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là các chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Vì thế cần cho lợn con bú sữa trong ba ngày đầu, đảm bảo toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của lợn mẹ

Khả năng tiết sữa của lợn mẹ giảm rõ rệt sau 3 tuần tiết sữa nuôi con Đồng thời, hàm lượng các chất khoáng đặc biệt là sắt và canxi còn rất ít, không

đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con Lúc này mâu thuẫn giữa khả năng

Trang 23

cung cấp sữa của lợn mẹ và nhu cầu dinh dưỡng của lợn con nảy sinh Đó cũng

là lúc ta cần bổ sung thức ăn sớm cho lợn con (Từ Quang Hiển và cs, 2001) [12]

Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho lợn con cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày thứ 28, hoặc ngày thứ 42… tuỳ theo trình độ

chăn nuôi của từng cơ sở

2.5 Đặc điểm và nguyên nhân gây ra một số bệnh trên lợn nái sinh sản

 Bệnh viêm tử cung

Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, các khu thực vật ở mỗi vùng là khác nhau Khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung (Đỗ Quốc Tuấn, 2005 [35]),

* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Trần Tiến Dũng và cs (2002) [10] cho rằng viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản

ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [4], Phạm

Sỹ Lăng và cs (2002) [13], Nguyễn Hữu Phước (1992) [20], bê ̣nh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

Trang 24

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Đoàn Kim Dung và Lê Thi ̣ Tài (2002) [9] cho biết, nguyên nhân gây viêm tử

cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết (streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E coli…

Lê Văn Năm và cs (1999) [18] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như : Do thức ăn nghèo dinh dưỡng , do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng du ̣ng cu ̣ hay thuố c sản khoa sai kỹ thuâ ̣t dẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa , kết hợp với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣m quá trình thu teo sinh lý của

dạ con (trong điều kiê ̣n cai sữa bình thường da ̣ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ ) Đây là điều kiê ̣n tốt để vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bênh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào dạ con gây lê n trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân ta ̣o sai kỹ thuâ ̣t

Bê ̣nh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý : Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước , trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đế n viêm tử cung Lợn nái sử du ̣ng quá nhiều tinh bô ̣t gây đẻ khó , viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung

Trang 25

* Các thể viêm tử cung

Nghiên cứu của Đặng Đình Tín (1986) [33], Trần Tiến Dũng và cs (2002) [10] cho biết bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể: Viêm nô ̣i ma ̣c tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương ma ̣c tử cung

- Viêm nội mạc tử cung

Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao,… thường gây ra viêm nội mạc tử cung Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại: viêm nội mạc

tử cung thể cata cấp có mủ và viêm nội mạc tử cung có màng giả

- Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ

Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở trâu, bò, lợn Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây xát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp

Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: Thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, những mảnh tổ chức chết,…

Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải

ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường (Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]

- Viêm nội mạc tử cung màng giả

Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thường

đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử

Trang 26

Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt lên cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch; dịch viêm, máu, mủ, những mảnh tổ chức hoại tử

và niêm dịch… (Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]

- Viêm cơ tử cung

Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2002) [19] cho rằng viêm cơ

tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung

bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to

Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc

Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh

- Viêm tương mạc tử cung

Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng

Trang 27

Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó, các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất

rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm

có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây nên tình trạng viêm thể Parametritis và dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn

mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, kích thích con vật biểu hiện trạng thái đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

* Triệu chứng:

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4-5 ngày cá biệt tới 6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41-420C trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ

+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy

ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo

tử cung lan sang thai làm chết thai

* Hậu quả của bê ̣nh viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan

Trang 28

sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Nghiên cứu của Trần Tiến Dũng và cs (2002) [10], Trần Thị Dân (2004) [8] cho biết khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả

chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co

thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có

thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử

cung tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây

co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi

đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử

cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để

giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone

giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có

mặt của vi khuẩn E coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân

tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn

Trang 29

sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF 2α giảm, do đó thể

vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone

Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự

phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ

* Chẩn đoán lâm sàng bê ̣nh viêm tử cung

Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung

Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì

có thể bị nhầm lẫn

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ

Trang 30

nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ

đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ

cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân

-Viêm nội mạc tử cung: Sốt nhẹ, dịch viêm màu trắng hoặc trắng xám,mùi tanh,bỏ ăn một phận hoặc bỏ ăn hoàn toàn

-Viêm cơ tử cung: Sốt nhẹ, dịch viêm màu hồng hay nâu đỏ, mùi tanh thối, bỏ ăn hoàn toàn

-Viêm tương mạc tử cung: Sốt cao, dịch viêm màu nâu rỉ sắt, múi thối khắm, đau đớn, bỏ ăn hoàn toàn

 Bệnh viêm vú

* Nguyên nhân gây bệnh viêm vú

- Trần Minh Châu (1996) [5] cho rằng, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không

đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn

đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây

ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm

Trang 31

-Vi khuẩn gây viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm: E coli chiếm 18,2%, Staphylococcus chiếm 19%, Streptococcus chiếm 27,18%, Klebsiella chiếm 14,7%

+ Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh

+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (Trương Lăng, 2000) [14]

+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu

vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm

* Triệu chứng

Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 -

7 ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [25], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú

có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42o

C kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [16] Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

* Hậu quả của bệnh viêm vú

Trang 32

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó

sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

- Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15] cho rằng, bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con

- Nguyễn Xuân Bình (2000) [4] cũng khẳng định: Mất sữa sau khi đẻ

là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con

bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau

 Hiện tượng đẻ khó

Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy

ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó không những gây tổn thương cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả lợn mẹ và lợn con có thể chết

* Nguyên nhân

- Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ: Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn

Trang 33

đẻ của lợn yếu, thậm trí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài

Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Lợn quá gầy cũng dẫn đến đẻ khó

Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: Cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn

Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ độ giãn

nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra đươc Khi quá trình rặn

đẻ kéo dài, sức co bóp lớn ép lợn con bị chết

Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép

tử cung làm tử cung bị xoắn vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây đẻ khó

- Đẻ khó do nguyên nhân bào thai

Chiều hướng, tư thế của thai lúc đẻ không bình thường.Các trường hợp lợn con nằm không đúng tư thế: Bốn chân lợn con hướng về xương sống lợn

mẹ, lợn con nằm đưa vai ra trước, lợn con đầu ngước ra sau lưng, lợn con đầu quẹo sang một bên, lợn con đưa đầu và bốn chân ra một lượt, lợn con mõm ra trước, hai chân trước co xuống bụng, lợn con đầu cúp xuống ngực

Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ Thai bị dị hình hay quái thai

Đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4, những nguyên nhân

và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bào thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế thai không bình thường… khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra được

Trang 34

* Triệu chứng

Lợn nái đến ngày đẻ, nước ối vỡ ra, trong nước ối có lẫn phân su nhưng không thấy thai ra Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí lợn nái còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưng thai vẫn không ra Do thời gian rặn đẻ mạnh và kéo dài mà thai vẫn không ra làm cho lợn nái mệt mỏi Nếu để lâu có thể dẫn đến hiện tượng thai bị ngạt

mà chết Khi đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai to hoặc ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu

Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây xát niêm mạc

tử cung, hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một

số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm… khi đó, niêm mạc sẽ

có nhữngvết sẹo gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ… dẫn đến xảy thai, tiêu thai, đẻ non ở những lần sinh sản tiếp theo, thậm trí là vô sinh

2.6 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài

Công dụng: Nhiễm trùng đường tiêu hóa, nhiễm trùng đường hô hấp

(như các bệnh do Pasteurella gây ra), nhiễm trùng da và mô mềm, nhiễm

Trang 35

trùng đường sinh dục, tiết niệu (viêm bàng quang, viêm vú, viêm tử cung), nhiễm trùng sau khi giải phẫu

Liều lượng và cách dùng: Tiêm bắp 2 ngày/lần, tiêm 1 ml/10 - 15kg thể trọng, tiêm bắp, điều trị trong 5 ngày Kết hợp sử dụng một số thuốc có tác dụng giảm đau hạ sốt, trợ sức trợ lực… làm tăng hiệu quả điều trị của thuốc kháng sinh

* Các thuốc khác:

- Lutalyse: Quy cách lọ 5ml Thuốc do công ty TNHH Thuốc thú y Agrovet sản xuất

Thành phần: Dinoprost 5mg/ml( chứa muối dinoprost tromethamine)

có chứa cồn benzyl 1,65% như chất bảo quản

Công dụng: Kích đẻ, trục thai, điều trị viêm tử cung , sát nhau, tống sạch chất còn sót lại sau khi sinh ra ngoài,gây động dục đồng loạt, kiểm soát phối giống, làm con vật sinh theo ngày mong muốn

Cách dùng và liều dùng: Tiêm bắp 2ml/nái Sau khi quá ngày đẻ dự kiến 3 ngày,và sau sinh 24-48 giờ

Thuốc có tác dụng giúp mở cổ tử cung kích thích co bóp tử cung đẩy giúp thai ra ngoài thuận lợi hơn, các chất còn lại trong tử cung dễ dàng bị loại

bỏ, làm quá trình điều trị diễn ra nhanh chóng hơn

- Oxytocin: Quy cách lọ 20ml Thuốc do công ty Thuốc Thú y Thủy Sản Minh Dũng sản xuất

Thành phần: Oxytocin: 10UI; Tá dược vừa đủ

Công dụng: Tăng co bóp tử cung khi đẻ, chống sót nhau, kích thích tiết sữa Cách dùng và liều dùng: Tiêm bắp thịt, tiêm dưới da hoặc tiêm chậm vào tĩnh mạch

Sinh sản: Trâu cái, bò cái: 10ml/con, heo nái: 6ml/con, cừu cái, dê cái: 5ml/con, chó cái, mèo cái: 1ml/con

Kích thích tiết sữa: Trâu cái, bò cái: 3ml/con, heo nái: 2ml/con, cừu cái,

dê cái: 1ml/con, chó cái, mèo cái: 1ml/con

Cơ chế tác dụng của oxytocin:

Trang 36

Oxytocin tác dụng gây co bóp cơ trơn tử cung có tác dụng đẩy thai ra ngoài trong quá trình đẻ

Một tác dụng khác không kém phần quan trọng của Ocytocin là kích thích bài tiết sữa

Nó cũng có ảnh hưởng nhẹ lên sự co bóp của cơ trơn bóng đái và cơ trơn ruột Oxytocin còn gây co mạch máu tử cung

2.7 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.7.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Theo thống kê của FAO (1999), tổng đàn lợn thế giới năm 1991 là 857,891 triệu con, đến năm 1998 số lượng lợn là 957,469 triệu con Trong đó đàn lợn phân bố không đồng đều giữa các châu lục :

- Châu Á có số lượng cao nhất là 577,025 triệu con,

- Châu Âu đứng thứ hai với 199,254 triệu con,

- Bắc và Trung Mỹ 94,074 triệu con,

- Nam Mỹ 59,075 triệu con,

- Châu Phi 22,398 triệu con,

- Châu Đại Dương cuối cùng là 5,016 triệu con

Nước có số lượng cao nhất thế giới là Trung Quốc với 485,698 triệu con

Trong vài thập niên trở lại đây nhiều nghiên cứu trên thế giới đã áp dụng thành công các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào lĩnh vực chăn nuôi lợn và đã đưa năng suất sinh sản của đàn lợn nái lên rất cao

Theo Jan Gordon (1997) [42], lai giống trong chăn nuôi lợn đã có từ 50 năm trước, việc sử dụng lai 2, 3 hay 4 giống để sản xuất lợn thịt thương phẩm

đã trở nên phổ biến

So sánh các công thức lai hai, ba, bốn giống, Ostrowski và cs (1997) [44] cho thấy con lai có 25% và 50% máu Pietrain có tỷ lệ nạc cao và chất lượng tốt Các nghiên cứu của Gerasimov và cs (1997)[41] cho biết lai hai,

Trang 37

ba, giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: Số con đẻ ra trên lứa, tỷ lệ nuôi sống, khối lượng 60 ngày/con Lai hai giống làm tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần, tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa Vì vậy việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và năng suất thịt thương phẩm

White và cs (1991)[48] cho biết lợn Yorkshire có tuổi động dục lần đầu là 201 ngày, số con đẻ ra còn sống (SCĐRCS/ổ) là 7,2 con ở lứa 1 Các giống có nguồn gốc khác nhau cho năng suất sinh sản khác nhau : Số con đẻ ra/ổ của Yorkshire Thụy Điển , Yorkshire Anh và Yorkshire Ba Lan là 10,6; 9,7 và 10,5; còn Landrace của Bỉ, Landrace Bungary là 8,5 và 10 con/ổ Theo John Millanrd, đàn lợn nái Yorkshire hạt nhân của Anh có SCĐRCS là 10,82 con/ổ

Stoikov và Vassilev (1996)[47] đã tiến hành nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn Yorkshire và Landrace có nguồn gốc khác nhau được nuôi ở Bungari cho biết số con đẻ ra/ổ ở các giống là khác nhau Cụ thể là lợn Yorkshire Anh 9,7 con/ổ, Yorkshire Thụy Điển 10,6 con/ổ, Yorkshire Ba lan 10,5 con, Landrace Anh là 9,8 con, Landrace Bungari 10 con, Landrace Bỉ là 8,5 con/ổ

Mục đích của chăn nuôi lợn là tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, hiệu quả kinh tế lớn Trên thế giới đã ứng dụng thành công và phổ biến công thức lai để tạo con lai thương phẩm có 2, 3, 4 hoặc 5 máu trong thành phần Park

và cs (1982) [45] đã sử dụng các cái nền là Landrace và Yorkshire hoặc F1còn đực giống chủ yếu Landrace, Yorkshire, Duroc, Pietrain và đực lai

Các nghiên cứu của Gerasimov và cs (1997) [41], cho biết lai ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/ổ, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Con lai sinh trưởng tốt và có năng suất

Ngày đăng: 27/10/2017, 16:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w