1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con từ 01 đến 21 ngày tuổi tại trại lợn đào trọng tâm, xã đại hưng huyện mỹ đức thành phố hà nội và biện pháp điều trị

55 195 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

i LỜI CẢM ƠN Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành khóa luận của mình, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017 Giảng viên HD: TS Trần Thị Hoan

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành khóa luận của mình, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y và chủ trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản Đào Trọng Tâm tại xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức,

Hà Nội Em cũng nhận được sự chỉ bảo nhiệt tình của kỹ sư, công nhân trong trang trại, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình

Nhân dịp này em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Trần Thị Hoan đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn em thực hiện thành công khóa luận này

Em xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới trang trại lợn nái Đào Trọng Tâm, đã giúp đỡ về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình thực tập tại trang trại

Em xin cảm ơn anh Lê Trung Thành kỹ thuật trại đã chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp quý báu cho em

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới người thân, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, cổ vũ, động viên về tinh thần và vật chất cho em trong suốt thời gian tiến hành thực tập và hoàn thành khóa luận này

Xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ đó!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017

Sinh viên

Đặng Ngọc Dương

Trang 4

ii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Sơ đồ theo dõi bệnh phân trắng lợn con 22

Bảng 4.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi 30

Bảng 4.2 Lịch tiêm phòng cho đàn lợn con và lợn nái của trại lợn 31

Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 35

Bảng 4.4 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại 36

Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo dãy chuồng 37

Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi năm 2016 38

Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo giai đoạn tuổi 40

Bảng 4.8 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 42

Bảng 4.9 Kết quả điều trị phân trắng lợn con 44

Trang 6

iv

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trang trại 3

2.1.2 Đánh giá chung 6

2.2 Cơ sở khoa học 6

2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ 6

2.2.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hoá ở lợn con 7

2.2.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt 9

2.2.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch 10

2.2.5 Một số hiểu biết về E.coli 11

2.2.6 Bệnh phân trắng lợn con (Colibacillosis) 14

2.2.7 Thuốc dùng trong điều trị bệnh phân trắng lợn con tại trang trại 19

2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 19

2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 19

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

Trang 7

v

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH21

3.1 Đối tượng và phạm vi tiến hành 21

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21

3.3 Nội dung tiến hành 21

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 21

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 21

3.4.2 Phương pháp theo dõi 21

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 24

4.1.1 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 24

4.1.2 Công tác phòng và trị bệnh 27

4.2 Kết quả nghiên cứu đề tài 36

4.2.1 Tình hình mắc bệnh phân trắng ở đàn lợn con tại trại 36

4.2.2 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo dãy chuồng 37

4.2.3 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi 38

4.2.4 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tuần tuổi 39

4.2.5 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 42

4.2.6 Kết quả điều trị phân trắng lợn con 42

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC

Trang 8

1

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Ngành chăn nuôi Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, vượt bậc

về số lượng các loài vật nuôi Cùng với đó là sự thay đổi với nhiều hình thức, phương thức, quy mô chăn nuôi khác nhau, từ hình thức chăn nuôi theo hộ gia đình đến mô hình trang trại vừa và lớn, từ phương thức thủ công, tận dụng đến chăn nuôi công nghiệp hiện đại

Trong ngành chăn nuôi, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Vì đó là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho người tiêu dùng, bên cạnh đó còn mang lại nguồn ngoại tệ tương đối lớn thông qua việc xuất khẩu lợn trên thị trường quốc tế

Một trong những khó khăn điển hình hay xảy ra đối với ngành chăn nuôi nước ta là dịch bệnh, xảy ra nhiều nhất đối với ngành chăn nuôi lợn là ở giai đoạn lợn con theo mẹ từ 1 đến 21 ngày tuổi Do nhiều nguyên nhân khác nhau như thời tiết thay đổi đột ngột, ẩm độ cao, chuồng trại vệ sinh không đảm bảo, thức ăn… Mặc dù công tác phòng bệnh đã được quan tâm nhưng vẫn không tránh khỏi những bệnh tật xảy ra đối với lợn con giai đoạn này, hay gặp nhất đó là bệnh phân trắng lợn con

Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính Lợn con mắc bệnh này sẽ bị ỉa

chảy, bệnh do vi khuân Escherichia coli gây nên, khi lợn con mắc bệnh nếu

điều trị không kịp thời sẽ dẫn đến còi cọc, chậm lớn, làm ảnh hưởng đến chất lượng con giống, khả năng sinh trưởng, phát triển chậm, gây tổn thất kinh tế lớn cho người chăn nuôi Do đó ngoài yếu tố dinh dưỡng, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng thì công tác thú y là khâu rất quan trọng Việc phòng và điều trị

Trang 9

Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự hướng dẫn của giáo viên hướng

dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Theo dõi tình hình mắc bệnh phân

trắng lợn con từ 01 đến 21 ngày tuổi tại trại lợn Đào Trọng Tâm xã Đại

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi

- Áp dụng quy trình phòng và trị bệnh phân trắng lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi

Trang 10

3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trang trại

2.1.1.1 Quá trình thành lập

Trại lợn Đào Trọng Tâm nằm trên địa phận thôn Trinh Tiết, xã Đại

Hưng, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Trại do ông Đào Trọng Tâm làm

chủ trại Trại được thành lập vào tháng 12 năm 2015

Sinh viên thực tập: 2 người

2.1.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại

* Hệ thống chuồng trại

Hệ thống chuồng trại được xây dựng trên nền đất cao, dễ thoát nước Được bố trí tách biệt với khu hành chính và hộ gia đình, được xây dựng theo hướng Đông Nam, đảm bảo mát về mùa hè, ấm về mùa đông Xung quanh khu sản xuất có hàng rào bao bọc và có cổng ra vào riêng

Hiện nay trại xây dựng với quy mô phù hợp theo hướng chăn nuôi công nghiệp Hệ thống chuồng lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái chờ phối và lợn nái chửa Chuồng lồng, nền sàn nhựa cho lợn nái đẻ, lợn con và lợn con sau cai sữa cùng với hệ thống nước uống tự động Hệ thống che chắn kín đáo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hệ thống mái che hai ngăn có độ thông thoáng tốt, có tường rào bao quanh chuồng trại Ở cuối mỗi ô chuồng

Trang 11

4

đều có hệ thống thoát phân và nước thải Hệ thống nước sạch được đưa về từng ô chuồng đảm bảo cho việc cung cấp nước uống tự động cho lợn, nước tắm cho lợn và nước rửa chuồng hàng ngày Trại đã lắp đặt hệ thống nước máy đảm bảo cung cấp nước sạch cho lợn uống, tắm và vệ sinh chuồng trại

* Các công trình khác

Gần khu chuồng trại cho xây dựng một phòng kĩ thuật, một nhà kho, một phòng thay đồ, phòng tắm, nhà vệ sinh, nhà ăn riêng

Phòng kỹ thuật được trang bị đầy đủ các dụng cụ thú y như: Panh, dao

mổ, bơm tiêm, kìm bấm số tai, kìm bấm nanh, bình phun thuốc sát trùng, cân, các loại thuốc thú y và máy soi tinh, đóng tinh

Nhà kho được xây dựng gần khu chuồng, là nơi chứa cám cho lợn Bên cạnh đó trại còn cho xây dựng một giếng khoan, 2 bể chứa nước, 4 máy bơm nước đảm bảo cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của công nhân và cán bộ kĩ thuật trại

2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại

* Công tác chăn nuôi

Hiện nay, trại có 60 nái sinh sản và 5 nái hậu bị Số con sơ sinh là 10,23 con/lứa, số con cai sữa là 10,7 con/lứa, lợn con theo mẹ được nuôi đến

21 ngày tuổi, chậm nhất là 28 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang chuồng thịt tại nhà hoặc bán cho các trại khác

Ngoài ra trại có 3 con lợn đực Duroc 100 và 1 con lợn đực Landrace, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Lợn nái được phối 4 lần và được luân chuyển đến khu chăm sóc nuôi dưỡng riêng

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty TNHH Hưng Phát cấp cho từng đối tượng lợn của trại

Trang 12

5

* Công tác vệ sinh thú y của trại

Vệ sinh phòng bệnh là công tác rất quan trọng Nó có tác dụng tăng sức

đề kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, hạn chế những bệnh

có tính chất lây lan từ đó phát huy tốt tiềm năng của giống

- Công tác vệ sinh: Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa hè,

mùa đông được che chắn cẩn thận, ấm áp, xung quanh các chuồng nuôi đều trồng các cây xanh tạo cho các chuồng nuôi có độ thông thoáng và mát tự nhiên Trước cửa vào các khu có rắc vôi bột từ đó hạn chế được rất nhiều tác động của mầm bệnh bên ngoài đối với lợn nuôi trong chuồng Hàng ngày quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ sư, khách thăm quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng sạch sẽ, thay quần áo theo quy định của trại

- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa

các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột Quy trình phòng bệnh bằng vaccine luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn thịt, lợn con Lợn được tiêm vaccine khi lợn trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ an toàn khi tiêm phòng vaccine cho đàn lợn luôn đạt 100%

- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra

đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn gia súc

Trang 13

6

2.1.2 Đánh giá chung

2.1.2.1 Thuận lợi

Trại được Công ty TNHH Hưng Phát cung cấp về con giống, thức ăn

và Công ty Cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet cung cấp về thuốc thú

y có chất lượng tốt

Trang trại có vị trí thuận lợi, địa hình, đường đi khá thuận tiện cho việc vận chuyển con giống cũng như thức ăn chăn nuôi

Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn

quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân

Kèm theo đó là kỹ thuật viên với chuyên môn vững vàng, năng động và

có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Do đó đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại

2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

Lợn con hay gia súc nói chung trong thời kỳ bào thai phát triển tốt sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau Sau sơ sinh, lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh Qua nghiên cứu thí nghiệm và thực tế sản xuất, người ta nhận thấy rằng, so với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi, khối lượng lợn con tăng gấp 2 lần, sau 20 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, sau 30 ngày tuổi tăng gấp 5 -

6 lần, sau 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, sau 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và sau 60 ngày tăng gấp 12 - 14 lần So với các gia súc khác, trong giai đoạn này, tốc độ sinh trưởng của lợn con nhanh hơn (sau 60 ngày tuổi, khối lượng bê

nghé chỉ tăng gấp 3 - 4 lần)

Trang 14

7

Do sinh trưởng và phát dục nhanh nên khả năng đồng hoá, trao đổi chất của lợn con rất nhanh Ví dụ: lợn con 20 ngày tuổi mỗi ngày tích luỹ 9 - 14g Pr/1kg khối lượng cơ thể, trong khi lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được 0,3 - 0,4g Pr/1kg khối lượng cơ thể

Lợn con phát triển nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn, nhanh

trong 21 ngày tuổi đầu, sau đó giảm Sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ giảm sau 3 tuần và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con cũng giảm

Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn thức ăn ít hơn lợn trưởng thành

Do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, nên khả năng tích lũy các chất dinh dưỡng rất mạnh, vậy nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại và tăng trọng theo tuổi giảm xuống, điều trị làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003)[7]

2.2.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hoá ở lợn con

* Cấu tạo và dung tích của đường tiêu hoá

Khi nghiên cứu sự phát triển đường tiêu hoá ở lợn con, nhiều tác giả đã kết luận cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh hơn các cơ quan khác

Cơ quan tiêu hoá của lợn con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hóa, biểu hiện:

Dung tích của dạ dày lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc

sơ sinh khoảng 0,03 lít)

Dung tích ruột non ở lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc

20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít)

Trang 15

8

Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít)

* Đặc điểm tiêu hoá ở dạ dày

Theo Từ Quang Hiển và cs (2001)[4], lợn con dưới 1 tháng tuổi thì trong dịch vị hoàn toàn không có HCl tự do Lúc này lượng axit ít và nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch Hiện tượng này gọi là hypoclohydric và

là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá ở dạ dày lợn con Vì thiếu HCl tự

do nên dịch vị không có tính chất sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày

có điều kiện phát triển gây bệnh về đường tiêu hoá ở lợn con như bệnh phân trắng, tiêu chảy

Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009)[3], cho rằng: “Nếu nuôi lợn trong điều kiện bình thường thì phải sau 25 - 30 ngày sau đẻ mới có HCl tự do Nếu tiến hành cho lợn con tập ăn sớm từ 7 - 10 ngày tuổi bằng thức ăn hạt thì đến ngày thứ 14 đã thấy có HCl ở dạng tự do”

Mặt khác, do sản lượng sữa mẹ tăng dần đến 3 tuần sau đẻ, sau đó giảm

đi cả về số lượng và chất lượng Nhưng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng cao do tốc độ sinh trưởng nhanh Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Đây là cơ sở cho việc bổ sung thức ăn sớm và cai sữa sớm cho lợn con, vì nó rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl

* Đặc điểm sinh lý tiêu hoá ở ruột

Phân tiết các men tiêu hoá ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ tiêu hoá các loại thức ăn đơn giản như sữa, đậu nành nhưng không thể tiêu

hoá được protein của gạo, bột cá…

Lợn con 20 - 30 ngày tuổi lượng dịch tuỵ phân tiết trong một ngày là

150 – 300 ml Sự phân tiết dịch tuỵ tăng theo tuổi: ở 40 ngày tuổi là 460 ml, 3

Trang 16

Bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh, song khả năng chống

đỡ bệnh tật lại rất kém Do đó cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống…và có các biện pháp kỹ thuật phòng bệnh đường tiêu hoá cho lợn con (giữ ấm, ẩm độ ổn định, tiêm phòng…)

2.2.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt

Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009)[3], lợn con mới sơ sinh có sự thay đổi rất lớn về điều kiện sống đang ở trong cơ thể mẹ với nhiệt độ ổn định 38,5°C và khi ra bên ngoài với điều kiện nhiệt độ rất hay thay đổi tùy theo từng mùa khác nhau

Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém, nó do nhiều nguyên nhân:

- Lông lợn con thưa, lớp mỡ dưới da mỏng nên khả năng giữ nhiệt kém

- Lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả năng cung cấp năng lượng để chống lạnh bị hạn chế

- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt nằm ở vỏ não, mà vỏ não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở cả 2 giai đoạn trong và ngoài thai

- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên lợn con bị mất nhiệt nhiều khi lạnh

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Tỏa nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn sẽ bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi để dẫn đến phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh đường tiêu hóa

Trang 17

10

2.2.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch

Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009)[3], lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Song lượng kháng thể trong máu lợn con tăng lên rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, nó phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ

Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng protein rất cao, những ngày đầu mới đẻ trong sữa có tới 18 - 19% protein, trong đó lượng γ-globulin chiếm số lượng rất lớn (34 – 35%), có tác dụng tạo sức đề kháng, cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con

Lợn con hấp thu γ-globulin bằng con đường ẩm bảo Quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử γ-globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Phân tử γ-globulin chỉ có khả năng thấm qua thành ruột lợn con rất tốt trong 24h đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men trypin tuyến tụy và nhờ vào khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con khá rộng Cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng γ-globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3 mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, nên sự hấp thụ γ-globulin kém hơn, hàm lượng γ-globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng

24 mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65 mg γ-globulin trong 100ml máu) Do đó, lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Do đó những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao

Trang 18

11

2.2.5 Một số hiểu biết về E.coli

* Đặc điểm hình thái

E.coli là một trực khuẩn Gram âm hình gậy ngắn, kích thước 0,6 x

2-3µm, hai đầu tròn Trong cơ thể E.coli có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ,

đôi khi xếp thành chuỗi ngắn, có lông ở quanh nên có thể di động được, khi nhuộm bắt màu Gr (-) không hình thành nha bào, có thể có giáp mô Trong tổ chức và dịch thể ngấm ra từ bệnh tích, thỉnh thoảng thấy hiện tượng bắt màu sẫm ở hai đầu Tuy nhiên cũng có khi gặp những biến chủng không có lông, không di động

* Đặc điểm nuôi cấy

Theo Nguyễn Quang Tuyên (1993)[13] trực khuẩn E.coli hiếu khí và

yếm khí tùy tiện, sinh trưởng ở nhiệt độ 5 - 400C, nhiệt độ thích hợp 370C và

pH 7,4 Trong nước thịt phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn lắng xuống đáy màu tro nhạt, đôi khi hình thành màu xám nhạt

Trên môi trường thạch thường nuôi cấy sau 8 - 10 giờ có thể nhìn thấy khuẩn lạc riêng rẽ, qua kính phóng đại khuẩn lạc to dần, tròn lồi hơi phồng, mặt nhẵn, bờ đều, đường kính khoảng 1,5mm Những ngày sau, khuẩn lạc chuyển thành màu xám xanh, giữa đục xám Có thể thấy khuẩn lạc dạng R (xù xì) và M (nhầy)

Trên môi trường gelatin, vi khuẩn mọc tròn vết cấy mặt ống tạo thành một lớp bụi xám Trên môi trường E.M.B.E chúng hình thành những khuẩn

lạc màu tím đen Trên môi trường Endo, E.coli hình thành khuẩn lạc màu đỏ

* Đặc điểm sinh hoá

- Trực khuẩn E.coli biểu hiện các đặc tính sinh hoá rõ rệt, chúng lên

men và sinh hơi đường glucoza, glactoza, matoza, lactoza, fluctoza Không lên men đường adonit và inozit

Trực khuẩn E.coli làm đông vón sữa sau 24 - 27h, ở 370C không làm tan chảy gelatin

Trang 19

12

* Sức kháng của mầm bệnh

Trực khuẩn E.coli chịu nhiệt kém, chúng bị tiêu diệt ở 600C trong vòng

30 phút, 1000C trực khuẩn chết nhanh chóng Trong đất và nước E.coli sống

được vài tháng, các chất sát trùng thông thường như: hocmon 11%, Crezit

5%, nước vôi 20% có thể diệt E.coli trong vòng 15 - 20 phút

Sức sống của E.coli bị giảm xuống đáng kể khi độ ẩm trong chuồng hạ

xuống 30%

E.coli rất mẫn cảm với nhiều kháng sinh như: Streptomycin, ampocilin,

gentamicin…

* Cấu trúc kháng nguyên

Trong cơ thể lợn con thường có mặt 3 loại E.coli gây bệnh đó là loại

sinh độc tố hướng ruột (ETEC), loại gây bệnh đường ruột (EPEC) và loại sinh độc tố mạch máu Với ba loại kháng nguyên gây bệnh là: O, H và K

Kháng nguyên O còn gọi là kháng nguyên thân, chịu nhiệt khi đun sôi

+ Kháng nguyên B bị phá huỷ ở nhiệt độ 1000C trong vào 1 giờ Khi

đó, kháng nguyên trị mất tính kháng nguyên nhưng vẫn giữ được khả năng liên kết và kết tủa

Trang 20

13

+ Kháng nguyên A chịu nhiệt tốt hơn chúng không bị phá huỷ khi đun sôi 1000C trong vòng 2 giờ 30 phút, tính kháng nguyên có khả năng liên kết

và kết tủa đều, giữ nguyên

* Độc tố của vi khuẩn E.coli

Trực khuẩn E.coli tạo ra hai loại độc tố: nội độc tố và ngoại độc tố

- Nội độc tố gây độc của E.coli là yếu tố gây độc nằm trong tế bào vi

khuẩn, chúng gắn chặt vào trong tế bào vi khuẩn Nội độc tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp như phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học rồi chiết xuất bằng axittrichoxetic, phenol-lipit Vì vậy, nó thuộc loại kháng nguyên hoàn

toàn và có tính đặc hiệu cao Ngoài ra còn có một loại E.coli sinh độc tố

hướng mạch máu gây bệnh phù thũng ở lợn

- Ngoại độc tố của vi khuẩn E.coli là một chất không chịu được nhiệt,

dễ bị phá huỷ ở 560C trong vòng 10 - 30 phút Dưới tác dụng của focmon và nhiệt độ, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố có tính hướng thần kinh và gây ra hoại tử

* Tính gây bệnh của E.coli

- Bệnh phân trắng lợn con thường xuất hiện trong thời gian độ ẩm cao

- Chuồng trại ẩm ướt, sân chơi chật chội cũng tạo điều kiện cho bệnh phát triển, ngoài ra thành phần sữa nhiều chất khô, mỡ khó tiêu từ đó vi khuẩn

E.coli có tác dụng phân huỷ sữa thành axit gây viêm cho dạ dày và thành ruột

- Do thời tiết khí hậu, chế độ ăn uống, vệ sinh chuồng trại cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm bệnh

- Lợn con chủ yếu khi ăn uống bị nhiễm mầm bệnh E.coli do trữ lượng

sắt của lợn con từ bào thai chưa đủ, khi sinh ra không đủ sữa mẹ cung cấp nhu cầu sữa cho lợn con, nên có thể suy yếu không thể hấp thu đầy đủ chất dinh dưỡng và tiêu hoá kém dẫn đến ỉa chảy

- Vi khuẩn E.coli thường làm đông sữa 24 - 37 giờ ở 30C không làm tan Gelatin, thường sinh ra Indol không sản sinh H2S

Trang 21

14

2.2.6 Bệnh phân trắng lợn con (Colibacillosis)

* Quá trình sinh bệnh

Đây là bệnh rất phổ biến ở lợn con theo mẹ, đặc biệt là lợn mới sinh từ

1 đến 21 ngày tuổi, tập trung chủ yếu trong 10 ngày đầu Có con mắc ngay sau khi sinh 2 - 3 giờ

Vi khuẩn tập trung chủ yếu ở ruột già nên phân gia súc là nguồn gây bệnh lớn, đặc biệt là gia súc mắc bệnh Chúng cũng tồn tại trong đất, nước, chất thải và chất độn chuồng

Bệnh do E.coli xảy ra ở hầu hết các đàn lợn trong vụ đẻ, nguồn thải

bệnh nhiều nhất là nái chờ phối (96,6%), ít nhất là nái chửa kỳ hai Trong

trường hợp này, lợn con bị nhiễm E.coli ngay sau khi sinh, lợn bệnh sau khi

Theo Phạm Ngọc Thạch (2006)[11], cơ chế sinh bệnh: đầu tiên dạ dày giảm tiết dịch vị, nồng độ HCl giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả năng tiêu hóa protein Khi độ kiềm trong đường tiêu hóa tăng cao tạo điều kiện cho các vi khuẩn trong đường ruột phát triển mạnh, làm thối rữa các chất chứa trong đường ruột và sản sinh nhiều chất độc Những sản phẩm trên kích thích vào niêm mạc ruột làm tăng nhu động ruột, con vật sinh ra ỉa chảy, khi bệnh kéo dài, con vật bị mất nước (do ỉa chảy) gây nên rối loạn trao đổi chất

Trang 22

15

trong cơ thể như nhiễm độc toan hoặc mất cân bằng các chất điện giải, làm cho bệnh trở nên trầm trọng, gia súc có thể chết

Nguyễn Quang Tuyên (1993)[13] cho biết: Súc vật mới sinh không có

E.coli trong ruột nhưng chỉ sau khi sinh vài giờ đã có Bình thường E.coli chỉ

cư trú ở ruột già và phần cuối ruột non với số lượng ít Phần đầu và giữa ruột non gần như không có Khi sức đề kháng của cơ thể lợn con giảm, vi khuẩn

E.coli phát triển mạnh lên cả về số lượng cũng như độc lực, hình thành nên

những chủng E.coli cường độc gây bệnh cho lợn con

* Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con

- Nguyên nhân nội tại

Do đặc điểm sinh lý lợn con, tất cả cơ quan bộ phận đều phát triển chưa hoàn thiện Hơn nữa, lợn con lại có nhu cầu dinh dưỡng và khoáng chất rất lớn, nếu không được bổ sung đầy đủ thì lợn con sẽ bị suy dinh dưỡng, ăn bẩn gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996)[1], thì một trong các yếu tố làm cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bầm huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc bệnh phân trắng

- Do gia súc mẹ

Lợn mẹ không được nuôi dưỡng đầy đủ khi mang thai cũng như trong giai đoạn đang nuôi con Nhưng khi cho lợn mẹ ăn quá nhiều thức ăn giàu dinh dưỡng thì cũng làm ảnh hưởng đến đường tiêu hóa của lợn con

Trong thời gian mang thai, lợn nái không tiêm phòng vaccine chống các bệnh như: dịch tả, phó thương hàn, Parvovirus… thì lợn con sinh ra dễ mắc hội chứng tiêu chảy hơn

Trong thời gian nuôi con, lợn mẹ bị mắc một số bệnh như: viêm vú, viêm tử cung, kém sữa… thì sau khi sinh sẽ lây nhiễm vi khuẩn vào đường

Trang 23

16

tiêu hóa lợn con Hoặc lợn mẹ động dục trở lại sớm sẽ là một nguyên nhân làm số lượng và chất lượng sữa giảm vì thế bệnh sẽ dễ xảy ra

- Nguyên nhân ngoại cảnh

Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của gia súc Khi có sự thay đổi các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, độ thoáng khí của chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của lợn

Đặc biệt là lợn con theo mẹ, do cấu tạo, chức năng sinh lý của các hệ

cơ quan chưa ổn định và hoàn thiện Hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện Vì vậy, lợn con là đối tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất bởi các phản ứng thích ngi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu

Kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng thời tiết thay đổi đột ngột cụ thể

là yếu tố nóng, lạnh, khô, ẩm không ổn định hoặc không thích hợp với nhu cầu sinh lý của lợn con đều là nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh phân trắng lợn con

- Do chăm sóc, quản lý

Việc chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn không tốt cũng ảnh hưởng lớn tới sự xuất hiện của bệnh như: lợn con không được bú sữa đầu, cắt rốn, bấm nanh không đúng kỹ thuật, úm lợn con không đảm bảo nhiệt độ,bổ sung sắt không được thực hiện đầy đủ và đúng kỹ thuật cũng dẫn đến tiêu chảy

* Triệu chứng lâm sàng

Bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ dưới 1 tháng tuổi Lợn con mắc bệnh có biểu hiện: chậm chạp, bú ít hoặc bỏ bú (khi bị nặng và kéo dài), thân nhiệt thường hạ sau vài giờ đến một ngày Lợn đi ỉa nhiều lần trong ngày, phân lỏng màu trắng như vôi, trắng xám hoặc hơi vàng, cá biệt có con đi lẫn máu, mùi tanh khắm Lợn con bụng tóp lại, da nhăn nheo, lông xù, đi đứng

Trang 24

có khi không bú hoàn toàn, nằm nhiều hơn đi lại

Bệnh thường gặp ở 3 thể:

- Thể quá cấp tình: Lợn tiêu chảy rất mạnh và có thể chết sau 6 - 20 giờ

kể từ khi bỏ bú Lợn bỏ bú hoàn toàn, đi đứng siêu vẹo, loạng choạng hay nằm bẹt một chỗ, co giật rồi chết Thể này rất ít gặp

- Thể cấp tính: Lợn ỉa chảy nặng, mất nước, mất điện giải rồi chết sau vài ngày mắc bệnh Thể này hay gặp trong thực tế

- Thể mãn tính: Thường gặp ở lợn tập ăn đến lúc cai sữa Con vật ỉa chảy liên tục, phân lúc lỏng, lúc sền sệt, có mùi rất khó chịu, lợn gầy còm, lông xù Nếu bệnh kéo dài không được cứu chữa hậu quả thường dẫn tới bị viêm dạ dày, ruột rồi chết

* Bệnh tích

Khi lợn chết, xác gầy, thân sau bê bết phân Mổ khám thấy bên trong dạ dày giãn rộng, chứa đầy sữa đông vón không tiêu Ruột non căng phồng chứa đầy hơi và những đám xuất huyết ở thành ruột Chất chứa trong ruột lẫn máu, hạch lâm ba ruột tụ huyết Các cơ quan khác như phổi, gan, thận ít biến đổi

Theo dõi trên đàn lợn thực nghiệm quan sát được: lợn chết ở thể cấp tính và mãn tính là chủ yếu, khi mổ khám thấy bệnh tích tập trung chủ yếu ở xoang bụng, dạ dày tích thức ăn không tiêu hóa, lổn nhổn bọt khí Niêm mạc

dạ dày lác đác có đám sung huyết, sưng, dễ bong tróc, có nốt loét Niêm mạc ruột non sưng dày có nhiều đám xuất huyết Hạch lâm ba sưng, mềm, có hoại

tử, túi mật căng, tim to, cơ tim nhão

Trang 25

18

* Phòng bệnh

- Bệnh phân trắng lợn con là bệnh hay gặp ở lợn con sơ sinh đến 30 ngày tuổi, để hạn chế bệnh phát ra ta cần chú ý một số biện pháp phòng bệnh sau:

- Tiêm phòng vaccine E.coli cho lợn mẹ, miễn dịch sẽ di truyền từ cơ

thể mẹ đến lợn con qua sữa Với liều dùng tiêm dưới da 2ml cho lợn mẹ đang

kì mang thai

- Nhỏ kháng thể E.coli cho lợn con sau sinh với liều lượng 2ml/con

- Giữ chuồng trại luôn khô, sạch, ấm Ta cần làm ổ úm ấm và có rơm rạ hoặc đệm để lót chuồng, không cho lợn mẹ ăn trong chuồng, giữ nền chuồng khô sạch, không nên rửa chuồng trại vào những ngày mưa khi không cần thiết

- Nuôi dưỡng tốt lợn nái mẹ trong thời gian cho con bú, bổ sung thêm khoáng đa vi lượng và các vitamin cần thiết, tránh thay đổi thức ăn đột ngột

- Điều trị bằng đông dược

Theo Bùi Thị Tho và Nguyễn Thị Thanh Hà (2009)[12], trong dân gian còn có một số bài thuốc trị tiêu chảy cho lợn con hiệu quả như:

Lá cây sài đất (200g) + lá ổi (100g) cho vào 1 lít nước, sắc lấy 300ml, cho uống ngày 2 lần

Búp ổi, lá bạc thau, cây cỏ sước, lá bách bệnh, lá mơ

Trang 26

19

2.2.7 Thuốc dùng trong điều trị bệnh phân trắng lợn con tại trang trại

Thuốc Big coc

Liệu trình 2 - 4 ngày

Lợn con dưới 15 ngày tuổi: 0,5 - 1ml/con/lần Ngày 2 - 3 lần Lợn con trên 15 ngày tuổi: 1,5 - 2ml/con/lần Ngày 2 - 3 lần

Gluco KC: 2/1lít nước uống hoặc 10g/40kg thức ăn

Trong quá trình thực tập tại trại em đã tham gia điều trị 7 lợn mắc bệnh phân trắng lợn con, khỏi 7 con, đạt tỷ lệ khỏi bệnh 100%

Trong quá trình thực tập tại trại em đã tham gia điều trị 18 lợn mắc

2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Bệnh phân trắng lợn con là bệnh phổ biến ở lợn con theo mẹ, nó gây ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng đàn lợn và gây thiệt hại đáng kể

về kinh tế Bệnh có mặt ở mọi nơi trên thế giới, từ chăn nuôi hộ gia đình đến chăn nuôi trang trại lớn Đã có nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài về bệnh phân trắng lợn con

- Theo Purvis G.M và cs (1985)[17] cho rằng: Phương thức cho ăn không phù hợp là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở lợn

- Theo Pensaert MB de Bouck P.A (1978)[16], nguyên nhân chủ yếu là

do stress lạnh ẩm Khi tác nhân stress tác động vào cơ thể dễ gây ra cơ chế bệnh lý làm mất thăng bằng, giảm khả năng thích nghi của cơ thể với điều kiện ngoại cảnh, tạo điều kiện phát sinh bệnh

- Theo Erwin M.Kohrler và cs (1996)[15], thành phần protein huyết thanh ở lợn 2-3 tuần tuổi và 7 tuần tuổi là khác nhau Lợn con 7 tuần tuổi

đã ăn thức ăn thực vật nên thành phần protein tăng hơn so với lợn 2-3 tuần tuổi Lợn con bị tiêu chảy do các loại vi khuẩn thường được gọi là rối loạn đường ruột

Trang 27

20

- Theo Jones (1976)[18], khả năng bám dính của vi khuẩn là yếu tố vô cùng quan trọng để thực hiện bước đầu của quá trình gây bệnh Trong quá trình liên kết đòi hỏi vi khuẩn phải có khả năng di động

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở nước ta bệnh phân trắng lợn con đã và đang được nhiều tác giả nghiên cứu tìm hiểu sâu về nguyên nhân và phương pháp phòng và điều trị

- Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008)[14], thì bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng hay một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc biệt là viêm dạ dày

ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh chủ yếu ở lợn là E.coli, nhiều loại Salmonella và đóng vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus

- Theo Nguyễn Quang Tuyên (1993)[13], cho biết bộ máy tiêu hoá ở lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật ở ruột và dạ dày còn yếu Do đó, cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống, và áp dụng các biện pháp kĩ thuật phòng chống bệnh đường tiêu hoá cao hơn

- Tạp chí VietDVM (2014)[10] cho rằng: Bệnh tiêu chảy lợn con chủ

yếu là do trực khuẩn E.coli gây ra Ngoài ra, còn một số yếu tố khác như thiết

bị chuồng trại bẩn, sữa đầu ít, thiếu sắt, sưởi ấm lợn con không đầy đủ

- Nhu cầu Fe và Cu trong máu rất cần cho duy trì hemoglobin và dự trữ cho cơ thể phát triển Ở lợn sơ sinh, trong 100 ml máu có 10,9 mg Hb, sau 10 ngày tuổi chỉ còn 4-5mg Nếu lợn con chỉ Fe qua sữa sẽ thiếu Fe dẫn đến thiếu máu gây suy dinh dưỡng, ỉa phân trắng

- Lê Thị Tài và cs (2000)[9] cho biết: Để điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con, ngoài kháng sinh đặc hiệu với vi khuẩn đường ruột như: Trimanzon, berberin có hiệu quả điều trị 75 - 80% Chúng ta cần luôn phối hợp các chế phẩm sinh học biosubtyl, chế phẩm sinh học ND sẽ tăng hiệu quả điều trị và

bổ sung diện giải, tăng tỷ lệ khỏi bệnh từ 80 - 95% con vật mau hồi phục, đảm bảo số lượng cũng như chất lượng con giống

Ngày đăng: 27/10/2017, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w