1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tieu luan hoat dong xay dung phap luat cua chinh phu ta hien nay

24 379 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Cùng với việc đề ra đờng lối đẩy mạnh công cuộc đổimới toàn diện đất nớc, đa nớc ta vào thời kỳ phát triển mới -thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

Trang 1

Mục lục

A - Mở đầu 2

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

4 Phơng pháp nghiên cứu của đề tài

5 Kết cấu của đề tài

B - Nội dung 4

Chơng 1 Những vấn đề lý luận cơ bản 4

1.1 Khái niệm hoạt động xây dựng pháp luật

1.2 Tính tất yếu khách quan của hoạt động xây dựng pháp luật

Chơng 2 Thực trạng hoạt động xây dựng pháp luật của Chính phủ ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay 7

2.1 Những thành tựu chủ yếu

2.2 Những hạn chế và tồn tại

2.3 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế

Chơng 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lợng hoạt động xây dựng pháp luật của Chính phủ ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay 16

C - Kết luận 20

Danh mục tài liệu tham khảo 23

Trang 2

A - Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với việc đề ra đờng lối đẩy mạnh công cuộc đổimới toàn diện đất nớc, đa nớc ta vào thời kỳ phát triển mới -thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhậpquốc tế và khu vực, để đáp ứng yêu cầu tăng cờng quản lýnhà nớc theo pháp luật và xây dựng nhà nớc pháp quyền ViệtNam xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã sớm có chủ trơng đổi mới

và tăng cờng, nâng cao chất lợng công tác xây dựng phápluật Năm 1996, Quốc hội đã ban hành Luật Ban hành văn bảnquy phạm pháp luật, xác lập các chuẩn mực giá trị và quytrình trong công tác này, trớc hết là trong việc soạn thảo vàthông qua các dự án luật và pháp lệnh, đánh dấu một bớc tiếnquan trọng trong đổi mới công tác xây dựng pháp luật củaNhà nớc ta

Kể từ khi thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạmpháp luật, mặc dù đạt đợc những thành tựu nhất định, nhất

là về tiến độ xây dựng luật, pháp lệnh nhng về cơ bản,công tác soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh của Chính phủcòn không ít hạn chế, bất cập trên các mặt, các giai đoạncủa quy trình xây dựng luật, pháp lệnh, làm ảnh hởngkhông những đến tiến độ mà đặc biệt là chất lợng của các

dự án luật, pháp lệnh Tình trạng chất lợng của các dự án,pháp lệnh đã trực tiếp tác động tiêu cực đến tiến trình

đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nớc

Không chỉ phần lớn (trên 90%) các dự án luật, pháp lệnh

mà Quốc hội, ủy ban Thờng vụ Quốc hội ban hành là doChính phủ chuẩn bị, mà thực tế còn cho thấy, quyết định

Trang 3

đến chất lợng các dự án này chủ yếu thuộc các khâu và quytrình chuẩn bị của Chính phủ Mặt khác, để nâng caonăng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nớc trên các lĩnh vực,việc nâng cao chất lợng xây dựng thể chế, trớc hết là các dự

án luật, pháp lệnh là nội dung quan trọng đợc u tiên trongchiến lợc cải cách hành chính của Chính phủ

Chính vì vậy, đánh giá đúng thực tiễn, tìm rõ nguyênnhân, đề ra và thực hiện tốt các giải pháp nhằm nâng caochất lợng các dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ chuẩn bịtrình Quốc hội, ủy ban Thờng vụ Quốc hội xem xét thôngqua, từng bớc hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở choviệc nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý,chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và hệ thống hành chínhtrên các mặt đời sống kinh tế - xã hội đang là yêu cầu bứcxúc đặt ra hiện nay không chỉ thuộc nội dung của đổi mớicông tác lập pháp mà còn cả của công cuộc cải cách hànhchính

Với lý do đó em chọn đề tài nghiên cứu là: “Hoạt

động xây dựng pháp luật của Chính phủ ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay - Thực trạng và giải pháp”.

2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu về hoạt động xây dựng pháp luật củaChính phủ ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích:

Đề tài nghiên cứu thực trạng, hoạt động xây dựng phápluật của Chính phủ để từ đó đề xuất các giải pháp nhằmphát huy u điểm và khắc phục những hạn chế đang tồn tại

3.2 Nhiệm vụ:

Trang 4

Để thực hiện mục đích trên, đề tài cần phải thực hiệnnhững nhiệm vụ sau:

Một là, phân tích làm rõ cơ sở lý luận của hoạt động

xây dựng pháp luật

Hai là, phân tích thực trạng, chỉ ra u điểm, hạn chế

trong hoạt động xây dựng pháp luật của Chính phủ

Ba là, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lợng của

hoạt động xây dựng pháp luật của Chính phủ

4 Phơng pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài sử dụng các phơng pháp: phân tích, tổng hợp, sosánh và tổng kết thực tiễn

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, đề tài đợc chia thành 3 chơng

B - Nội dung

Chơng 1

Những vấn đề lý luận cơ bản 1.1 Khái niệm hoạt động xây dựng pháp luật

Để có nhận thức đúng đắn về khái niệm hoạt độngxây dựng pháp luật trớc hết cần làm rõ những vấn đề sau:Bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật là gì? Hoạt

động xây dựng pháp luật gồm những nội dung và đặc

điểm gì? Tuân theo nguyên tắc nào?

- Bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật thể hiện

ở chỗ đó là hoạt động thể hiện và thực hiện quyền lực nhànớc, quyền lực nhân dân

- Nội dung của hoạt động xây dựng pháp luật bao gồmmột loạt các hiện tợng, quá trình phức tạp từ việc làm sáng tỏ

Trang 5

nhu cầu về mọi mặt của việc điều chỉnh pháp luật cácquan hệ xã hội, việc xác định khuynh hớng, tính chất vàhình thức của việc điều chỉnh đó, việc soạn thảo các vănbản quy phạm pháp luật, việc thảo luận, thông qua, công bố

và đa ra các văn bản đã đợc thông qua vào hiệu lực pháp lý

- Hoạt động xây dựng pháp luật có những đặc điểmsau:

+ Hoạt động xây dựng pháp luật là một hình thức (loại)hoạt động của nhà nớc

+ Hoạt động xây dựng pháp luật là một hình thức (loại)hoạt động quản lý của nhà nớc đối với xã hội

+ Hoạt động xây dựng pháp luật là một trong nhữnghình thức pháp lý cơ bản của việc thực hiện các chức năngcủa nhà nớc

+ Hoạt động xây dựng pháp luật là khâu đầu tiên củaquá trình điều chỉnh pháp luật

- Hoạt động xây dựng pháp luật là một quá trình địnhhớng có mục đích đợc lập luận về mặt khoa học và đợc tiếnhành theo những nguyên tắc nh: dân chủ, khách quan vàkhoa học, nguyên tắc điều chỉnh đồng bộ và có hệ thống

Nh vậy, hoạt động xây dựng pháp luật là một hình

thức hoạt động của nhà nớc đợc tiến hành theo những nguyên tắc nhất định nhằm đa ý chí của nhân dân, của nhà nớc, của giai cấp lãnh đạo xã hội lên thành các quy định pháp luật bằng cách làm sáng tỏ nhu cầu điều chỉnh pháp luật, chuẩn bị soạn thảo, thông qua và công bố các văn bản quy phạm pháp luật.

Trang 6

1.2 Tính tất yếu khách quan của hoạt động xây dựng pháp luật

Tính cấp thiết và tính khách quan của hoạt động xâydựng pháp luật bắt nguồn từ đòi hỏi xây dựng nhà nớc phápquyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; từ xâydựng và phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hộichủ nghĩa; từ việc mở cửa và hội nhập kinh tế khu vực vàthế giới Chúng ta không sớm xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật để tạo ra môi trờng pháp lý bình đẳng,thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế tồn tại và phát triển thìcác chủ trơng phát huy nội lực, tăng nhanh vốn đầu t từ trongnớc và nhất là từ nớc ngoài, tăng trởng kinh tế cao và bềnvững, nâng cao đời sống cho nhân dân… sẽ rất chậm chạp,khó đi vào cuộc sống và khó trở thành hiện thực Có thể nóimột cách đơn giản rằng không có hệ thống pháp luật đồng

bộ, minh bạch, không ngừng hoàn thiện thì không thể cóvốn đầu t, không thể có công nghệ cao để đẩy nhanh sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, không thể códân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh nh

đờng lối của Đảng đã đề ra

Thực tiễn hoạt động xây dựng pháp luật của nớc ta thờigian qua tuy đã có nhiều cố gắng và đạt đợc một số kết quả,nhng nhìn chung cha đáp ứng các đòi hỏi của công cuộcxây dựng và phát triển đất nớc Hệ thống pháp luật của nớc tavẫn còn cha đầy đủ và đồng bộ Nhiều lĩnh vực của đờisống xã hội vẫn cha có luật điều chỉnh Ngay trong lĩnh vựckinh tế vẫn còn thiếu rất nhiều luật nh luật về cạnh tranh,luật kiểm toán nhà nớc, luật về đấu thầu, luật về chống bánphá giá… Ngoài ra các lĩnh vực khác nh an ninh, quốc phòng,trật tự an toàn xã hội… vẫn còn thiếu nhiều luật Hơn nữa, các

Trang 7

luật đã ban hành còn thiếu độ minh bạch, thiếu ổn định,nhiều quy định không trực tiếp điều chỉnh đợc các quan hệxã hội mà phải chờ đợi văn bản hớng dẫn mới đi vào cuộc sốngnên kém hiệu lực và hiệu quả Điều đó đòi hỏi phải thờngxuyên bám sát thực tiễn cuộc sống để sửa đổi, bổ sung vàhoàn tiện Trớc tình hình đó, việc nâng cao hoạt động xâydựng pháp luật cả về số lợng và chất lợng là một nhu cầu tấtyếu và bức xúc trong giai đoạn hiện nay.

Chơng 2

Thực trạng hoạt động xây dựng pháp luật

của Chính phủ ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay 2.1 Những thành tựu chủ yếu

Qua gần 20 năm đổi mới, Việt Nam đã hình thành đợcmột hệ thống pháp luật ngày càng đồng bộ hơn, tạo đợc bớcchuyển cơ bản trong hoạt động quản lý của bộ máy Nhà nớc

từ quản lý chủ yếu bằng chính sách, nghị quyết, mệnh lệnhhành chính sang quản lý bằng pháp luật Số lợng các luật,pháp lệnh tăng nhanh đáng kể, hơn 200 luật, pháp lệnh đợcban hành, lớn hơn rất nhiều so với số lợng ban hành trong 40năm trớc đó

Số lợng các dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ thôngqua để trình Quốc hội, ủy ban Thờng vụ Quốc hội nhữngnăm gần đây là rất lớn: Năm 1999 là 12 dự án (2 luật, 10pháp lệnh) Năm 2000 là 11 dự án (5 luật, 5 pháp lệnh) Năm

2001 là 22 dự án (11 luật, 10 pháp lệnh, 1 nghị quyết) Năm

2002 là 6 dự án (4 luật, 2 pháp lệnh) Năm 2003 là 34 dự án(20 luật, 14 pháp lệnh) Năm 2004 là 36 luật, pháp lệnh Năm

2005 có 44 dự án

Trang 8

Các dự án luật, pháp lệnh đợc Chính phủ chuẩn bị,trình và đợc Quốc hội, ủy ban Thờng vụ Quốc hội thông qua

đã quán triệt đờng lối, chủ trơng, chính sách đổi mới của

Đảng, bám sát yêu cầu của thực tiễn, từng bớc hình thành cơchế quản lý mới trên rất nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế

- xã hội, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trờng

định hớng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết những vấn đề bứcxúc của công cuộc đổi mới và phát triển đất nớc đặt ra.Nhiều dự án luật, pháp lệnh đợc chuẩn bị công phu, bảo

đảm chất lợng, tính đồng bộ, tính hợp Hiến, hợp pháp, thấusuốt tinh thần đổi mới, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn,cho nên sau khi ban hành đã nhanh chóng đi vào cuộc sống

và phát huy hiệu quả tích cực

Thành tựu đáng kể nhất là đẩy nhanh việc hình thànhkhuôn khổ pháp lý đồng bộ cho phát triển kinh tế thị trờng

định hớng xã hội chủ nghĩa Để đáp ứng nhu cầu phát triểnkinh tế là trung tâm, Chính phủ đã u tiên tập trung vào soạnthảo và trình Quốc hội, ủy ban Thờng vụ Quốc hội thông quanhiều dự án luật và pháp lệnh về kinh tế Nhiều văn bản luậtnày sau khi ban hành đã thực sự hình thành khuôn khỏiquản lý mới, nhanh chóng tạo đợc bớc chuyển biến cơ bản,tích cực trên các lĩnh vực nh quản lý doanh nghiệp, tín dụngngân hàng, thuế, hội nhập khu vực và quốc tế… Luật Doanhnghiệp, Luật Hải quan, các luật thuế VAT… đã thúc đẩy sựphát triển của các thành phần kinh tế, phát huy tối đa tiềmnăng của các ngành, các lĩnh vực cho mục tiêu phát triển.Những kết quả đó thực sự đã góp phần quan trọng vàonhững thành tựu đổi mới của đất nớc trong những năm qua

Trang 9

2.2 Những hạn chế và tồn tại

So với yêu cầu của quản lý đặt ra, hiệu quả công tácxây dựng luật, pháp lệnh còn thấp cả về số lợng và chất lợngcác luật, pháp lệnh đợc ban hành Nhìn chung, do chất lợngchuẩn bị cha đạt yêu cầu nên nhiều luật, pháp lệnh ngay saukhi ban hành đã bộc lộ không ít những bất cập so với yêu cầucủa cuộc sống, ít có tính khả thi, một số luật phải sửa đổi,

bổ sung nhiều lần Ngợc lại, có nhiều vấn đề luật quy địnhkhông còn phù hợp với cuộc sống nhng chậm đợc sửa đổi;phổ biến vẫn còn tình trạng luật, pháp lệnh khung, quy

định chung chung có tính nguyên tắc, thiếu cụ thể, muốnthi hành đợc phải cần nhiều văn bản quy định chi tiết hớngdẫn thi hành; một số luật, pháp lệnh còn mâu thuẫn, chồngchéo nhau, hiệu lực thi hành trong thực tế rất thấp; tuổi thọcủa luật, pháp lệnh còn rất ngắn: cha có luật, pháp lệnh nàotồn tại quá 10 năm, thậm chí có văn bản sau 2 - 3 năm đãphải sửa đổi, bổ sung, thờng thì 3 - 5 năm sau khi banhành là luật, pháp lệnh đã đứng trớc yêu cầu cần phải đợcsửa đổi, bổ sung

Hạn chế thuộc về nội dung của quy trình xây dựngluật, pháp lệnh đã bộc lộ trên hầu hết các công đoạn của quytrình này, biểu hiện chủ yếu trên các mặt sau đây:

+ Việc xây dựng chơng trình xây dựng luật, pháplệnh cha thực sự khoa học, cha đợc xây dựng trên cơ sở mộtchiến lợc xây dựng pháp luật dài hạn với những dự báo nhucầu lập pháp và cân đối các khả năng, nguồn lực đáp ứngnhu cầu đó Xác định trọng tâm và thứ tự u tiên trong côngtác xây dựng luật, pháp lệnh cha đáp ứng yêu cầu quản lý

đặt ra Trên thực tế, chơng trình xây dựng luật, pháp lệnh

Trang 10

còn quá nặng nề, thiếu tính khả thi, việc thực hiện chỉ đạt

60 - 70% các dự án đăng ký, điều này dẫn đến hệ thốngpháp luật cha theo kịp nhu cầu của thực tiễn

+ Quan điểm, nhận thức về mức độ điều chỉnh củaluật còn cha rõ ràng, tình trạng phổ biến vẫn là soạn thảo vàthông qua các luật, pháp lệnh mang tính chất khung, muốnthi hành đợc cần phải có nhiều văn bản quy định chi tiết vàhớng dẫn thi hành của nhiều cấp chính quyền, nhiều cấp độvăn bản, làm cho các luật, pháp lệnh đó chậm đợc thực thi,thậm chí còn bị hớng dẫn trái hoặc mâu thuẫn với nội dungquy định gốc Tính đến hết năm 2003 vẫn còn 63 văn bảnhớng dẫn thi hành 32 luật, pháp lệnh cha đợc ban hành

+ Quy trình soạn thảo và thông qua các dự án luật, pháplệnh của Chính phủ còn mang nặng tính hình thức, thiếuthông tin; chất lợng chuẩn bị ở từng khâu cha tốt, hoạt độngcủa Ban soạn thảo còn rất hình thức, mang tính “mặt trận”,chỉ chú trọng tính đại diện của các bộ, ngành có liên quan,

sự tham gia của các nhà khoa học, các chuyên gia còn nhiềuhạn chế, cha thực sự đợc coi trọng Nh vậy, các ban soạn thảo

về thực chất là thiết chế hợp thức hóa lợi ích cục bộ của bộ,ngành chủ trì việc soạn thảo luật, pháp lệnh

+ Quy trình xây dựng luật, pháp lệnh còn cha đảmbảo sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Chính phủ, Thủ t-ớng Chính phủ từ khâu lập chơng trình, soạn thảo và thôngqua các dự án luật, pháp lệnh; cha quy định và thực hiệnviệc Chính phủ, Thủ tớng Chính phủ đa ra t tởng chỉ đạo vềnội dung cơ bản của các dự án luật, pháp lệnh ngay từ đầu

để định hớng hoạt động của Ban soạn thảo, cho các cơ quanthẩm định, thẩm tra

Trang 11

2.3 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế

Nguyên nhân của những thành tựu:

Một là, tập thể Chính phủ nhất trí cao và quán triệt

sâu sắc hơn vai trò của Chính phủ trong xây dựng các dự

án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, ủy ban Thờng vụ Quốc hội

Hai là, sự quan tâm, phối hợp chặt chẽ ngay từ đầu với

Chính phủ của ủy ban Thờng vụ Quốc hội, các ủy ban củaQuốc hội, các đoàn thể quần chúng nhân dân

Ba là, trên tinh thần đổi mới trong việc xây dựng pháp

luật, vừa qua Thủ tớng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Nâng

cao chất lợng công tác xây dựng pháp luật của Chính phủ” và

đề án này đã bớc đầu đợc khởi động Nội dung của đề ánthể hiện quyết tâm cao của Chính phủ nhằm đáp ứng yêucầu nâng cao chất lợng và đẩy nhanh tiến độ xây dựng các

dự án luật, pháp lệnh

Nguyên nhân của những hạn chế:

+ Nguyên nhân khách quan:

Có thể khẳng định mặc dù đã gần 20 năm đổi mới,nhng nền kinh tế nớc ta vẫn đang trong giai đoạn chuyển từ

kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thịtrờng định hớng xã hội chủ nghĩa, vẫn còn không ít vấn đề

lý luận cơ bản cha đợc làm sáng tỏ, t duy cũ, cách làm cũ cha

đợc xóa bỏ hoàn toàn, công cuộc đổi mới, cải cách còn thiếu

lý luận mới để soi sáng Trong bối cảnh đó, hệ thống phápluật đợc xây dựng và hoàn thiện trong điều kiện vừa tìmtòi, vừa rút kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những hạnchế, bất cập

+ Nguyên nhân chủ quan:

Trang 12

Gồm có những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, lãnh đạo các bộ, ngành cha nhận thức đầy đủ

và sâu sắc mục đích, nội dung, yêu cầu của việc xây dựngcác dự án luật, pháp lệnh; cha chú trọng tổng kết thực tiễn thihành pháp luật để từ đó nhận thức đúng thực tiễn quản lýcủa ngành, lĩnh vực đợc phân công; cha thực sự đổi mới t duyquản lý theo yêu cầu của cơ chế quản lý mới; bám giữ nếpnghĩ và cách làm cũ và hợp thức hóa vào nội dung các dự ánluật, pháp lệnh đợc phân công chủ trì soạn thảo

Thứ hai, thiếu một chiến lợc xây dựng pháp luật dài hạn

làm cơ sở cho việc xây dựng dự kiến chơng trình xâydựng luật, pháp lệnh của Chính phủ cho từng thời kỳ, từngnăm một cách khoa học và khả thi Trớc yêu cầu lập pháp rấtlớn của Chính phủ, việc thiếu một chiến lợc nh vậy sẽ làm choviệc xây dựng luật, pháp lệnh trở nên chắp vá, bị động và

đối phó Không cân đối và chủ động bảo đảm đợc cácnguồn lực cần thiết cho công tác lập pháp, do thiếu các địnhhớng, mục tiêu dài hạn, thiếu trọng tâm và thứ tự u tiên Đây

là “nguyên nhân chính và trực tiếp nhất”1 ảnh hởng trớc tiên

Thứ ba, thiếu cơ chế, chính sách để thu hút và tập

trung, coi trọng trí tuệ của các chuyên gia giỏi, các nhà khoahọc trong từng lĩnh vực phục vụ cho công tác xây dựng luật,pháp lệnh Cha thực sự coi trọng ý kiến của nhân dân và cácnhà doanh nghiệp, các đoàn thể, hội nghề nghiệp cũng nhcủa các đối tợng khác chịu sự điều chỉnh của các dự án luật,pháp lệnh

1 Báo cáo công tác cả nhiệm kỳ Khóa X của Quốc hội (1997 - 2002) do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An trình bày tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội Khóa X, phiên họp ngày

Ngày đăng: 27/10/2017, 14:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w