1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Lễ hội Tịch Điền ở Hà Nam

67 319 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 921,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các lễ hội này vẫn duy trì các trò chơi dân gian truyền thống phản ánh tín ngưỡng cổ xưa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước như vật cầu, cướp cầu, đấu vật, trọi gà, đánh đu…Đặc biệt,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HÒA

LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN Ở HÀ NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HÒA

LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN Ở HÀ NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ VIỆT HẰNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS.Nguyễn Thị Việt Hằng -

người trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình giúp em hoàn thành khóa luận này

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để em hoàn thành khóa luận

Hà Nội, ngày 24 tháng 04 năm 2016

Người thực hiện

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả riêng của bản thân, không trùng với bất cứ một kết quả nào khác

Hà Nội, ngày 24 tháng 04 năm 2016

Người thực hiện

Trang 5

UBMTTQ Uỷ ban mặt trận Tổ quốc

VHTTDL Văn hóa thông tin du lịch

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Cấu trúc của khóa luận 5

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6

1.1 Lễ hội 6

1.1.1 Khái niệm lễ hội 6

1.1.2 Phân loại lễ hội 8

1.1.3 Thời gian và không gian diễn ra lễ hội 9

1.1.4 Cấu trúc của lễ hội 9

1.1.5 Những giá trị của lễ hội cổ truyền 12

1.2 Những đặc trưng văn hóa của tỉnh Hà Nam 17

1.2.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 17

1.2.2 Văn hóa – Xã hội 19

CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN Ở HÀ NAM 24

2.1 Lễ Tịch điền trong hệ thống các nghi lễ nông nghiệp ở Việt Nam 24

2.2 Những đặc điểm cơ bản của lễ hội Tịch điền ở Hà Nam 29

2.2.1 Nguồn gốc, lịch sử 29

2.2.2 Không gian, thời gian, địa điểm tổ chức 33

2.2.3 Cấu trúc của lễ hội Tịch điền 36

2.2.4 Giá trị của lễ hội 47

Trang 7

2.2.5 Thực trạng của lễ hội 48 2.2.6 Giải pháp 49 KẾT LUẬN 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, lễ hội đã trở thành một nét văn hóa không thể thiếu trong đời sống của mỗi người dân Việt Nam Lễ hội được tổ chức thỏa mãn các nhu cầu về vui chơi, giải trí, đặc biệt thỏa mãn nhu cầu về tâm linh Vì vậy, vấn đề nghiên cứu về một lễ hội nào đó rất có ý nghĩa thiết thực

Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, có nền văn minh lúa nước lâu đời và nền văn hóa dân gian phong phú thể hiện qua các điệu chèo, hát chầu văn, hầu bóng, ả đào, đặc biệt là hát dậm Hà Nam cũng được coi là quê hương của những lễ hội cổ truyền mang đậm bản sắc với trên

100 lễ hội truyền thống, trong đó có 5 lễ hội là: Lễ hội Trần Thương, Lễ hội đền Trúc - Ngũ Động Thi Sơn, Lễ hội Lảng Giang, Lễ hội vật Liễu Đôi và Lễ hội Long Đọi Sơn Các lễ hội này vẫn duy trì các trò chơi dân gian truyền thống phản ánh tín ngưỡng cổ xưa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước như vật cầu, cướp cầu, đấu vật, trọi gà, đánh đu…Đặc biệt, vào năm 2009 Viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam phối hợp với phòng văn hóa thông tin huyện Duy Tiên và ban văn hóa xã Đọi Sơn cùng toàn thể nhân dân trong xã

đã tiến hành phục dựng thành công “Lễ hội Tịch điền”, một nghi lễ cổ truyền

có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tín ngưỡng nông nghiệp

Với tư cách là là một sinh viên chuyên ngành Việt Nam học, một người con được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hà Nam, việc nghiên cứu về lễ hội Tịch điền giúp em thấy được những giá trị về lịch sử và văn hóa của tỉnh Hà Nam Từ đó, có thể đưa ra các giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của địa phương trong giai đoạn hiện nay

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

Trên thực tế, tuy đã có nhiều ghi chép nghiên cứu, các bài viết về quản

lí, tổ chức lễ hội truyền thống ở di tích Long Đọi Sơn (Đọi Sơn - Duy Tiên -

Hà Nam) nhưng nghiên cứu về phục dựng lại nghi lễ cày Tịch điền của vua

Lê Đại Hành năm 987 thì hoàn toàn chưa có và các tài liệu khoa học làm căn

cứ để phục dựng còn quá ít ỏi

Các sử liệu cổ như Đại Nam Nhất Thống Chí, Đại Việt sử kí toàn thư,

Việt sử lược chỉ có chép vài dòng ngắn ngủi về sự kiện này mà không có bất

cứ chi tiết nào miêu tả tỉ mỉ về quy mô của nghi lễ: Theo Việt Sử lược - cuốn

sử có niên đại sớm nhất của nước ta: “năm Đinh Hợi, niên hiệu Thiên Trù

năm thứ 7 (987), vua Lê Đại Hành cày ruộng Tịch điền ở Đọi Sơn, được một

lọ vàng, cày ở núi Bà Hối được một lọ nữa, vua đặt tên đất đó là ruộng Kim Ngân” [6, tr 57] Đại Việt sử kí toàn thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn vào thế kỉ

XV chép về sự kiện này cụ thể hơn: “Đinh Hợi, Thiên Phúc năm thứ 8 (987)

mùa xuân vua (Lê Đại Hành) lần đầu cày ruộng Tịch điền ở núi Đọi, được một chĩnh nhỏ vàng, lại cày ở núi Bàn Hải được một chĩnh bạc, vì thế đặt tên

là ruộng Kim Ngân” [7, tr.299] Nay trên nóc nhà thờ tổ chùa Long Đọi Sơn

(Duy Tiên - Hà Nam) còn bức phù điêu khắc họa cảnh vua đi cày thời ấy, tục đẹp này truyền mãi gần nghìn năm qua các triều đại lịch sử Như vậy, các khối sử cũ đều ghi chép Lê Đại Hành là ông vua đầu tiên dưới chế độ phong kiến Việt Nam tiến hành lễ cày Tịch điền nhằm mục đích sản xuất nông

nghiệp Đại Việt Sử kí toàn thư còn ghi lại một số sự việc: “…Mùa đông,

tháng 10, được mùa to Ngày 14, vua thân ra ruộng ở Điểu Lộ xem gặt, nhân đổi tên cánh ruộng ấy gọi là ruộng Vĩnh Hưng Ngày ấy, trở về cung…” (14

tháng 10 năm Canh Ngọ, 1930) [7, tr.287], nhà Lý, năm 1032, “ Mùa hạ,

tháng tư, ngày mồng một vua (Lý Thái Tông) ngự đến Tín Hương ở Đỗ Động Giang cày ruộng Tịch điền Có nhà nông dâng cây lúa thơm chín bông thóc,

Trang 10

vua xuống chiếu đổi tên đất ấy là ruộng Ứng Thiên” [7, tr.287 - 288], “ Đến năm 1038 vua ngự ra Bối Hải Khẩu cày Tịch điền Quan Hữu ty dọn cỏ đắp

bờ Vua tế thần Nông, rồi tự cầm cày Các quan tả hữu có người tâu rằng: Đó

là việc của nông phu, bệ hạ cần gì phải làm như thế? Nhà vua nói: Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lại lấy gì cho thiên hạ noi theo” Sử thần Ngô Sĩ Liên dâng lời bàn: “Thái Tông khôi phục lễ cổ, tự mình cày ruộng Tịch điền là nêu gương cho thiên hạ Trên để cúng tông miếu, dưới để nuôi dân Công hiệu trị nước dẫn đến dân đông, của giàu, nên thay!” [7, tr.294] Sách Đại Nam thực lục phần Chính biên đã ghi chép vào tháng 2 năm Mậu Tý

(1828) vua Minh Mạng đã ban hành lời Dụ về việc cày ruộng tịch điền nhƣ

sau: “Vua bảo bày tôi rằng: “Đời xưa vua cày ruộng tịch điền, để lấy gạo làm

xôi tế Giao Miếu, nhân thể để xét thời tiết làm ruộng khuyên tốt nhân dân, thực là việc lớn trong vương chính Cái điển ba đường cày, sách vở còn chứng Nước ta đời Trần đời Lê gián hoặc có làm nghi điển ấy, nhưng phần nhiều giản lược Trẫm từ thân chính đến nay, chăm nghĩ đến dân, thường lấy việc dạy dân chăm nghề gốc làm gấp Hiện nay triều đình nhàn rỗi, giảng tìm phép xưa, thực là việc nên làm trước Nên chọn đất ở Kinh thành làm chỗ Tịch điền” Bèn sai đặt ở hai phường Hậu Sinh và An Trạch, bên tả dựng đài Quan canh, đằng trước làm ruộng đế tịch, đằng sau làm điện thay áo, bên hữu đặt dàn Tiên Nông và đình Thần Thương thu thóc Sai Trung quân Tống Phước Lương coi làm Thưởng tiền cho thợ và biền binh làm việc 5000 quan Lại đặt sở Diễn canh (tập cày) ở phía Bắc cung Thánh Ninh, gọi là vườn Vĩnh Trạch Sai bộ Lễ bàn định điển lệ Hàng năm cứ tháng trọng Hạ (tháng 5) chọn ngày tốt làm lễ…[11, tr 21 - 24] Từ thời nhà Lý đến thời nhà Nguyễn

đều tổ chức lễ Tịch điền nhƣ một quốc lễ Sau một thời gian gián đoạn, năm

2009, lễ hội Tịch điền đƣợc khôi phục lại sau gần 100 năm không tổ chức Vì

Trang 11

vậy, với bài khóa luận tốt nghiệp này sẽ làm sáng tỏ thêm về lễ cày Tịch điền

ở Hà Nam một cách khái quát nhất

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, làm rõ đƣợc đến các vấn đề liên quan đến lễ hội nói chung từ khái niệm, phân loại, thời gian không gian diễn ra lễ hội, cấu trúc của lễ hội

và giá trị của lễ hội

Thứ hai, tìm hiểu về lễ hội Tịch điền ở Hà Nam với các vấn đề nhƣ nguồn gốc, lịch sử, thời gian, địa điểm tổ chức, cấu trúc và các giá trị của lễ hội Đồng thời cho thấy đƣợc vị trí của lễ hội trong hệ thống các nghi lễ nông nghiệp ở Việt Nam

Thứ ba, tìm hiểu về thực trạng của lễ hội Tịch điền ở Hà Nam từ đó đƣa

ra các giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của lễ hội

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu của chính khóa luận là toàn bộ các yếu tố, hiện tƣợng và mọi khía cạnh liên quan đến lễ hội Tịch điền Đọi Sơn thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là không gian địa lí hành chính, không gian văn hóa của xã Đọi Sơn Luận văn tập trung nghiên cứu toàn bộ quy trình lễ hội Tịch điền Đọi Sơn thông qua các huyền thoại, huyền tích,

Trang 12

nghi thức, trò diễn xướng, trò chơi dân gian Về thời gian, khóa luận đề cập đến nguồn gốc của lễ hội Tịch điền và lễ hội Tịch điền sau khi được phục dựng từ năm 2009 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã sử dụng một số biện pháp sau như:

Phương pháp điền dã

Phương pháp thu thập và xử lí thông tin dựa trên nguồn tài liệu thu thập được như sách báo, internet, tài liệu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nam…kết hợp với phương pháp phân tích chọn lọc các dữ liệu vào bài viết một cách hợp lí làm nổi bật vấn đề nghiên cứu

Ngoài ra còn sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp điều tra xã hội học để tiếp cận, giải mã các vấn đề có liên quan đến lễ hội Tịch điền ở Hà Nam

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của khoa luận gồm hai chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Những đặc trưng cơ bản của lễ hội Tịch điền ở Hà Nam

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Lễ hội

1.1.1 Khái niệm lễ hội

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống mang đậm màu sắc tôn giáo tín ngưỡng, chứa đựng các giá trị tinh thần, ý nghĩa lịch sử văn hóa, là tấm gương phản chiếu khá trung thực đới sống của mỗi dân tộc, nó ra đời, tồn tại gắn liền với quá trình phát triển của làng xã người Việt, phản ánh nhiều giá trị trong đời sống của cộng đồng Khi xã hội ngày một phát triển, cuộc sống con người càng đòi hỏi cao về tinh thần vui chơi giải trí, tìm hiểu lịch sử văn hóa nghệ thuật, phong tục tập quán thì lễ hội gần như đáp ứng đầy

đủ các yếu tố đó Đến với lễ hội truyền thống là dịp con người được trở về với

tự nhiên, về với văn hóa xưa và về với kí ức cũ

Hàng năm, ở các làng quê Việt Nam cứ đến dịp tết đến, xuân về thì đua nhau mở hội, chính sự tồn tại và phát triển của hội làng đã phản ánh và thể hiện nét đặc sắc của bản sắc văn hóa dân tộc địa phương, vùng miền trong một lãnh thổ quốc gia thống nhất, một nền văn hóa “thống nhất trong sự đa dạng” Có thể nói, lễ hội ra đời cùng lịch sử, tồn tại và vận hành cùng lịch sử

Lễ hội có từ trước năm 1945 được gọi là “lễ hội cổ truyền”, “lễ hội dân gian” Những lễ hội ra đời sau năm 1945 được gọi là “lễ hội hiện đại” Và dù là lễ hội dân gian hay lễ hội hiện đại thì ở mỗi nơi, mỗi con người có cách tiếp cận khác nhau và gọi bằng các tên khác nhau Có thể kể đến hai dòng tên gọi: Dòng tên gọi dân gian (trò, hội, Đám xứ, Tiệc làng, Việc làng, Hội làng, Làng vào đám, Làng mở hội, Hội hè đình đám) Dòng tên gọi theo các nhà nghiên cứu (Lễ hội, Hội lễ, Lễ hội cổ truyền, Lễ hội dân gian, Liên hoan du lịch làng nghề truyền thống, Ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc, Lễ hội văn hóa -

Trang 14

thể thao - du lịch, Lễ hội du lịch, Festival) Cách gọi “Lễ hội” về cơ bản đã đi vào đời sống văn hóa ở nước ta và được đặt trong quy chế tổ chức lễ hội do

Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành năm 2001

Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về lễ hội tùy thuộc vào cách tiếp cận:

Khi nghiên cứu về những đặc tính và ý nghĩa của lễ hội nước Nga,

M.Bachie cho rằng: “Thực chất lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức lễ tế và trò diễn là cuộc sống lao động và chiến đấu của cộng đồng cư dân Tuy nhiên, bản thân cuộc sống không thể hình thành lễ hội được nếu như chính nó không được sự thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới của tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiệu, đạt tới hiện thực lí tưởng mà ở đó mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả.” [5, tr23]

Xem xét về tính chất và ý nghĩa của lễ hội Nhật Bản, Giáo sư

Kurahayasi lại định nghĩa: “Xét về tính chất xã hội, lễ hội là quảng trường của tâm hồn, xét về tính chất văn hóa, lễ hội là cái nơi sản sinh và nuôi dưỡng nghệ thuật như mỹ thuật, nghệ thuật giải trí, kịch văn hóa và với ý nghĩa đó, lễ hội tồn tại và có liên quan mật thiết với sự phát triển văn hóa”

[5, tr.24]

Ở Việt Nam, trong cuốn Bản sắc văn hóa lễ hội, Thuận Hải cho rằng:

“Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con

người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống,

từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự yên bình cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở

Trang 15

của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà bao đời nay đã quy tụ vào miền mơ ước chung với bốn chữ “nhân khang vật thịnh” [4, tr.5]

Theo Dương Văn Sáu trong cuốn Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển

du lịch thì: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trong một địa bàn dân cư trong thời gian không xác định, nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng

xử văn hóa của con người với tự nhiên-thần thánh và con người trong xã hội”

[10, tr.35]

Có thể các cách định nghĩa, các cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận nhưng nhìn chung đều cho rằng, lễ hội tạo ra một môi trường mới, huyền diệu, giúp con người thỏa mãn nhu cầu tâm linh và nhu cầu giải trí

Chính vì vậy mà lễ hội là một tài nguyên có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc

ta từ xưa đến nay

1.1.2 Phân loại lễ hội

Theo Quy chế tổ chức lễ hội [3] lễ hội nước ta gồm bốn loại hình:

Lễ hội dân gian

Lễ hội tôn giáo

Lễ hội lịch sử, cách mạng

Lễ hội du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam

Theo số liệu thống kê của Cục Văn hóa cơ sở (2008), nước ta có khoảng 7.966 lễ hội, trong đó có 7.039 lễ hội dân gian, chiếm 88,36%; 332 lễ hội lịch sử cách mạng, chiếm 4,16%; 544 lễ hội tôn giáo, chiếm 6,82%; 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài vào chiếm 0,12%; 40 lễ hội khác, chiếm 0,5% Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dương và Phú Thọ

Trang 16

1.1.3 Thời gian và không gian diễn ra lễ hội

Lễ hội thường diễn ra vào hai dịp xuân thu: Mùa xuân thì mở màn vụ gieo trồng, mùa thu là để bước vào vụ thu hoạch Đây chính là các mốc mở đầu và kết thúc, tái sinh một chu kì sản xuất Qúa trình sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên là chính Vì vậy,tư lúc cắm cây mạ, gieo hạt xuống ruộng nương, người nông dân chỉ còn biết trông chờ vào sự phù hộ của các lực lượng siêu nhiên Để tăng thêm niềm tin họ tìm mọi cách tác động, cầu xin các lực lượng tự nhiên giúp đỡ Từ đó sinh hoạt lễ hội và các tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ sự cầu mùa Do vậy, phần lớn các lễ hội được tổ chức vào mùa xuân, từ tháng giêng đến tháng ba âm lịch Phần khác, một số lễ hội lại được tổ chức vào mùa thu, từ tháng bảy đến tháng tám âm lịch Đó là thời gian làng quê đã xong công việc cày bừa, cấy hái Khoảng thời gian nghỉ ngơi này cũng là dịp để người dân cảm tạ thần linh phù hộ cho họ một mùa màng

đã qua và vừa cầu xin thần linh phù hộ cho một mùa màng sắp tới

Lễ hội thường được tổ chức ở nơi thờ tự như: Đình, Đền, Phủ, Miếu, Chùa…Lễ sơ kì xuất phát từ nơi thần linh ngự, nhất là Đình - trung tâm của

cả làng, sau đó tỏa ra vùng rộng, ra nhiều điểm để thực hiện các hình thức sinh hoạt văn hóa - nghệ thuật khác

1.1.4 Cấu trúc của lễ hội

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần

và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hoá nghệ thuật, linh thiêng và đời thường…là một sinh hoạt có sức hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội Lễ hội là dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân , hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất giải trí Thông thường lễ hội được chia thành hai bộ phận: phần lễ và phần hội

Trang 17

Phần lễ là các nghi thức được thực thi trong lễ hội Tùy vào tính chất của lễ hội mà nội dung của phần nghi lễ sẽ mang ý nghĩa riêng Có thể phần nghi lễ mở đầu ngày hội mang tính tưởng niệm lịch sử hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, tưởng niệm một vị anh hùng dân tộc Cũng có thể phần lễ là nghi thức thuộc về tín ngưỡng, tôn giáo bày tỏ lòng tôn kính đối với các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong được những điều tốt đẹp trong cuộc sống Phần nghi lễ có ý nghĩa quan trọng và thiêng liêng, chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống, giá trị thẩm mĩ và triết học sâu sắc của cộng đồng Nó mang trọn ý nghĩa hấp dẫn của lễ hội đến với du khách Phần nghi lễ chính là phần hạt nhân của lễ hội Lễ hội là một sự kiện thực hiện rất nhiều nghi thức mang tính bắt buộc Các nghi thức này được tiến hành theo một trình tự chặt chẽ, nghiêm ngặt từ khi chuẩn bị lễ hội cho đến khi hết hội Thông thường một lễ hội có các nghi lễ: lễ mộc dục, lễ tế gia quan, lễ rước, lễ tế khai hội và

tế giã đám

Lễ mộc dục (lễ tắm tượng thần hay thần vị): lễ này thường được tiến

hành vào nửa đêm hôm trước ngày khai hội Trước khi làm lễ mộc dục, có nơi người ta tổ chức lễ rước nước.Trước khi thực hiện việc tắm tượng (lau chùi tượng thờ) phải làm lễ cáo thần Sau lễ mộc dục là tế gia quan (mặc áo,

đội mũ cho tượng thần) Nếu thần không có tượng mà chỉ có bài vị (thần vị) thì áo mũ đặt lên ngai Sau đó tượng thần (hay thần vị, hoặc có khi chỉ là áo mũ) đặt lên kiệu, chuẩn bị cho đám rước thần sáng ngày khai hội

Lễ rước: trong một lễ hội thường có rước thần, rước thành hoàng, rước văn hay rước nước Lễ rước thần hay rước thành hoàng thường cử hành trước

khi vào lễ khai hội và kết thúc hội Nội dung, ý nghĩa của lễ rước ở mỗi lễ hội đều có sự khác biệt về đối tượng rước, cách thức tiến hành, trình tự đoàn rước, thành phần người tham gia Trong số các lễ rước thì rước thần và rước nước phổ biến hơn cả Lễ hội thường tôn vinh đối tượng thiêng, đó là

Trang 18

“Thánh”, “Thần”, nhưng thánh và thần thường được thờ ở đền, miếu Đa số

lễ hội thường được tổ chức ở đình làng, đền, nơi rộng rãi tiện cho việc hành

lễ và tổ chức các trò chơi Do vậy trước khi khai hội, người ta thường tổ chức cuộc rước thần đi theo lộ trình từ đền hoặc đình về nơi hành lễ, xong hội lại rước thần trở lại nơi thờ cũ Sau lễ rước sẽ là lễ tế thần và khai hội Đặc biệt

có nơi, trong dịp lễ hội ngày nào cũng có rước, lễ rước này không phải rước

thần mà là rước sớ (rước văn), tức bài văn cúng thần Mỗi ngày người ta

cúng thần bằng một bài sớ riêng Trong đám rước văn, bài sớ cũng được đặt

lên kiệu rước, gọi là kiệu văn Lễ rước trong các lễ hội truyền thống thường

quy định người trực tiếp tham gia rước phải là nam giới tuổi từ mười tám trở lên, không có phụ nữ, trừ một vài lễ hội thờ nữ thần (như lễ hội Phủ Dày, lễ hội Hạ Lôi) đoàn rước lại chủ yếu do nữ đảm nhiệm Người tham gia rước

(gọi là giai đô), là những người được dân làng lựa chọn, cắt cử Họ là những

chàng trai khoẻ mạnh, có tài có đức, không có điều tiếng đáng chê trách trong làng xóm Ai được chọn trong đội rước là vinh dự cho bản thân và gia đình Đám rước khi đi đường có biểu tượng riêng để tránh sự trùng lặp giữa các nhóm cộng đồng Trước khi khởi hành, chiêng, trống nổi lên từ trong đền, đình (trước đây đốt pháo) Thường từ nửa đêm, tiếng trống đã gióng liên hồi

để mọi người đều biết, ai có phận sự phải lo sửa soạn trước Ngày xưa thường đốt pháo lệnh trước khi đám rước bắt đầu

Phần hội là phần có tổ chức những trò chơi, thi đấu biểu diễn Mặc dù cũng hàm chứa những yếu tố văn hóa truyền thống nhưng phạm vi nội dung của nó không khô cứng mà hết sức linh hoạt, luôn luôn được bổ sung bằng những yếu tố văn hóa mới Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy nơi nào bảo tồn

và phát triển được những nét truyền thống trong phần hội với những trò chơi mang tính dân gian thì lễ hội nơi đó có giá trị hơn Thông thường phần hội gắn với tình yêu, giao duyên nam nữ Một số trò chơi dân gian thường được

Trang 19

tổ chức trong các dịp lễ hội như đánh đu, kéo co, bơi chải, chọi gà, đấu vật, cờ người, các hội thi diễn xướng hát chèo, quan họ, chầu văn…Cũng có những lễ hội mà ở đó hai phần lễ và phần hội hòa quyện với nhau, trong đó trọng tâm

là phần hội, nhưng bản thân phòng hội đã mang trong mình ý nghĩa tâm linh của phần lễ Thực ra, tách biệt ra các phần kể trên cũng chỉ là để xem xét cho

rõ ràng để nhìn nhận, còn trong lễ hội tất cả luôn đan xen với nhau một cách linh hoạt Có thể lúc trong đình đang làm lễ rất long trọng thì ngoài sân đình hay xung quanh đó lại diễn ra các trò chơi Lễ hội nói chung là một hiện tượng văn hóa tổng hợp trong đó các yếu tố của nó đan xen, liên kết chặt chẽ với nhau nhưng đồng thời cũng tác động, bổ sung cho nhau để tạo nên bộ mặt hoành tráng của lễ hội mà ta còn thấy đến bây giờ Lễ hội nào về cấu trúc cũng thể hiện lễ trước hội sau, gần như là một tục lệ bắt buộc có tính truyền thống Sự khác nhau chỉ là ở các nghi thức lễ, nghi thức hội, các diễn xướng, các tích trò, các cuộc thi, thời gian mở hội và thời gian kéo dài đến bao giờ Những sự khác biệt về nội dung của hội, trước hết đó là vị thần linh nào mà làng, hoặc vùng thờ, chính vị thần linh được thờ đó sẽ quyết định các hình thức hội diễn (chẳng hạn thần linh là nhiên thần sẽ khác thần linh là nhân thần, thần linh là anh hùng dân tộc sẽ khác với thần linh là tổ sư dạy nghề) Ngoài ra còn có sự khác nhau về phong tục tập quán và hoàn cảnh tự nhiên,

xã hội của làng (vùng), nơi tiến hành lễ hội

1.1.5 Những giá trị của lễ hội cổ truyền

Lễ hội là yếu tố vừa đặc trưng cho mỗi dân tộc, vừa góp phần làm cho văn hóa đất nước đặc sắc hơn Lễ hội là sự kết tinh thành quả lao động sản xuất, chiến đấu của các cá nhân, tập thể trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Lễ hội còn là dịp hội tụ, kết tinh và lan tỏa những giá trị văn hóa được hun đúc trong quá trình phát triển di lên của đất nước Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn

Trang 20

giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường…là một sinh hoạt có sức hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội Đánh giá về vai trò của lễ hội đối với sự phát triển của xã hội hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau Qua nghiên cứu và tìm hiểu, trong xã hội đương đại

lễ hội truyền thống còn giữ được rất nhiều những giá trị có thể kể đến như:

Giá trị cố kết cộng đồng, lễ hội nào cũng là của và thuộc về một cộng

đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng) đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ Chính lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết, như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và lợi ích kinh tế (công hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt động sáng tạo

và hưởng thụ văn hoá (cộng cảm) Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng Ngày nay, trong điều kiện xã hội hiện đại, con người càng ngày càng khẳng định “cái cá nhân”, “cá tính” của mình nhưng không vì thế cái “cộng đồng” bị phá vỡ, mà

nó chỉ biến đổi các sắc thái và phạm vi, con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng, có nhu cầu cố kết cộng đồng Trong điều kiện như vậy, lễ hội vẫn giữ nguyên giá trị biểu tượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên sự cố kêt cộng đồng ấy

Giá trị hướng về cội nguồn, tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về

nguồn, đó là nguồn cội tự nhiên mà con người từ đó sinh ra, nguồn cội cộng đồng như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hóa…hơn thế nữa, hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam “uống

Trang 21

nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Chính vì thế, lễ hội bao giờ cũng gắn với hành hương – du lịch Ngày nay, trong thời đại cách mạng khoa học kĩ thuật, tin học hóa, toàn cầu hóa, con người nhận ra mình đang tách dần với tự nhiên môi trường, với lịch sử xa xưa, với truyền thống văn hóa độc đáo đang bị mai một Chính trong môi trường tự nhiên và xã hội như vậy, hơn bao giờ hết, con người càng có nhu cầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình, hòa mình vào với môi trường thiên nhiên, trở về tìm lại và khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hóa của mình trong cái chung của văn hóa nhân loại Chính nền văn hóa truyền thống, trong đó lễ hội cổ truyền là một biểu tượng, có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy Đó cũng chính

là tính nhân bản bền vững và sâu sắc của lễ hội có thể đáp ứng nhu cầu của con người ở mọi thời đại

Giá trị cân bằng đời sống tâm linh, bên cạnh đời sống vật chất, đời

sống tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đời sống tâm linh Đó là đời sống con người hướng về cái cao cả thiêng liêng, chân thiện mỹ, cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong đó có niềm tin tôn giáo tín ngưỡng Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm linh, tuy nhiên không phải tất

cả đời sống tâm linh là tôn giáo tín ngưỡng Chính tôn giáo, tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người, đó là “cuộc đời thứ hai”, là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu Xã hội hiện đại với nhịp sống công nghiệp, các hoạt động của con người dường như được “chương trình hóa” theo nhịp hoạt động của máy móc, căng thẳng, đơn điệu, ồn ào, chật chội nhưng vẫn cảm thấy cô đơn Một đời sống như vậy tuy có đầy đủ vật chất nhưng vẫn khô cứng về đời sống tinh thần và tâm linh, một đời sống chỉ có dồn nén, trật tự mà thiếu sự cởi mở, xô

bồ Tất cả những cái đó hạn chế khả năng hòa đồng của con người, làm thui chột những khả năng sáng tạo văn hóa mang tính đại chúng Một đời sống

Trang 22

như vậy không có sự bùng cháy, thăng hoa Trở về với lễ hội cổ truyền, con người hiện đại dường như được tắm mình trong dòng nước mát đầu nguồn của văn hóa dân tộc, tận hưởng những giây phút thiêng liêng, ngưỡng vọng những biểu tượng siêu việt, cao cả, được sống những giờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần cộng đồng, con người có thể phô bày tất cả ngững gì tinh túy đẹp đẽ nhất của bản thân qua các cuộc thi tài, qua các hình thức trình diễn nghệ thuật, cách ăn mặc lộng lẫy, đẹp đẽ khác hẳn ngày thường Đó là trạng thái thăng hoa từ đời sống hiện thực, vượt lên trên đời sống hiện thực Nói cách khác, lễ hội đã thuộc về phạm trù cái thiêng liêng của đời sống tâm linh, đối lập và cân bằng với cái trần tục của đời sống hiện thực

Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, lễ hội là một hình thức sinh

hoạt tín ngưỡng – văn hóa cộng đồng của nhân dân ở nông thôn cũng như ở

đô thị Trong các lễ hội đó, nhân dân tự đứng ra tổ chức, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hóa cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hóa và tâm linh,

do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc Đặc biệt trong lễ hội, khi mà tất cả mọi người chan hòa trong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì cách biệt xã hội giữa các cá nhân ngày thường dường như được xóa nhòa, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa của mình

Giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, lễ hội

không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hóa dân tộc, mà còn là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hóa dân tộc ấy Lễ hội được tổ chức làm vang dậy những tiếng trống chiêng, những đoàn người tụ hội nơi đình chùa, nơi này, con người hóa thân thành văn hóa, văn hóa làm biến đổi con người, văn hóa dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Làng xã Việt Nam là cái nôi hình thành, bảo tồn, sản sinh văn hóa truyền thống của dân tộc nhất là trong cảnh bị xâm lược và đồng

Trang 23

hóa Trong cái làng xã nghèo nàn ấy, ngôi đình, mái chùa, cái đền cùng với nó

là lễ hội chính là tâm điểm của cái nôi văn hóa đó, sự nghiệp bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hóa truyền thống dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Lễ hội là nơi bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Qua đây, có thể thấy, lễ hội là dịp để nhân dân bằng nghi thức tôn giáo nhắc lại công lao của vị thần đang được nhân dân thờ phụng, để toàn thể mọi người được ngưỡng mộ, ghi nhớ, coi như một lần đọc lại lịch sử trước dân làng Đồng thời đây cũng là dịp để người ta dâng lên các vị thần những sản phẩm do dân làng làm ra với lòng kính trọng và lòng biết ơn về sự bảo trợ của thần cho dân làng năm qua được yên ổn, thịnh vượng Để rồi, người ta tiếp tục cầu xin thần phù hộ, giúp đỡ cho dân làng trong những năm tới lại càng thịnh vượng và bình an hơn nữa, đồng thời đây cũng là dịp để người ta tập hợp cộng đồng trong một niềm cộng cảm, tình đoàn kết gắn bó một cách chặt chẽ giữa các thành viên, dòng họ với nhau trước một vị thần linh chung của cả cộng đồng, một sự đoàn kết, cộng cảm tự giác và bền chặt

Với những người dân quê cuộc sống hàng ngày lam lũ vất vả, một nắng hai sương, do vậy họ có ít thời gian để nghỉ ngơi Ngoài ra, những hoạt động văn hóa, cho đến nay ở nông thôn vẫn còn hạn chế, vì thế ngày hội là thời điểm mà họ có thể thoải mái nghỉ ngơi thư giãn một chút Người đến hội không chỉ tham quan, xem xét mà có thể trực tiếp tham gia vào những hoạt động của lễ hội, phần hội của lễ hội sẽ tạo điều kiện cho họ thực hiện điều đó Tại lễ hội, các chàng trai, cô gái sẽ trổ hết tài năng của mình vào những cuộc thi tài và mặc những bộ cánh đẹp nhất để thu hút sự chú ý của mọi người Và bao tình duyên đôi lứa, những cuộc hẹn hò đã bắt nguồn từ đây Đến với lễ hội người ta có dịp để mua bán vài thứ sản phẩm, chút quà kỉ niệm, một ít đặc sản địa phương Dù bận bịu quanh năm ngày tháng thì đến ngày hội người ta cũng cố đi, đi để vui để nghỉ, để giải trí và còn để lễ thần, cầu xin sự bảo trợ,

Trang 24

giúp đỡ của thần linh cho bản thân, cho gia đình an khang thịnh vượng Đi để được hòa mình vào cộng đồng cùng hưởng thụ và chia sẻ vinh dự cùng trách nhiệm Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả, hoặc là dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất giải trí

1.2 Những đặc trưng văn hóa của tỉnh Hà Nam

1.2.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên

Hà Nam là một tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam, phía bắc tiếp giáp với Hà Nội, phía đông giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía nam giáp với tỉnh Ninh Bình, phía đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp tỉnh Hòa Bình Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh Hà Nam thuộc vùng Hà Nội

Đất đai, địa hình : Hà Nam là một tỉnh đồng bằng giáp núi nên địa hình

có sự tương phản giữa địa hình đồng bằng và địa hình đồi núi Mật độ và độ sâu chia cắt địa hình so với các vùng núi khác trong cả nước hầu như không đáng kể Hướng địa hình đơn giản, duy nhất chỉ có hướng Tây Bắc - Đông Nam, phù hợp với hướng phổ biến nhất của núi sông Việt Nam Hướng dốc của địa hình cũng là hướng Tây Bắc – Đông Nam theo thung lũng sông Hồng, sông Đáy và dãy núi đá vôi Hòa Bình - Ninh Bình, phản ánh cấu trúc đơn giản của cấu trúc địa chất Phía tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa với các dãy núi đá vôi, núi đất và đồi rừng, nhiều nơi có địa hình dốc Vùng núi

đá vôi ở đây là một bộ phận của dãy núi đá vôi Hòa Bình - Ninh Bình, có mật

độ chia cắt lớn tạo nên nhiều hang động có thạch nhũ có hình dáng kì thú.Xuôi về phía đông là những dải đồi đất thấp, xen lẫn núi đá và những thung lũng ruộng.Phần lớn đất đai trong vùng đồi núi bán sơn địa là đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng trên phiến đá sét, đất nâu đỏ trên đá bazơ và đất đỏ nâu trên đá vôi, thích hợp với các loại cây lâm nghiệp, cây ăn quả và cây công nghiệp Với những hang động và các di tích lịch sử văn hóa, vùng này còn có

Trang 25

tiềm năng lớn để phát triển các khu du lịch Phía đông là vùng đồng bằng do phù sa bồi tụ từ các dòng sông lớn, đất đai màu mỡ, thích hợp cho canh tác lúa nước, rau màu và các loại cây nông nghiệp ngắn ngày như mía, dâu, đỗ tương, lạc và một số cây ăn quả Phần lớn đất đai ở vùng này bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá dày đặc Vì vậy, ở đây có diện tích mặt nước ao, hồ, đầm, phá, ruộng trũng và sông ngòi khá lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và chăn nuôi gia cầm dưới nước

Khí hậu: Hà Nam có điều kiện thời tiết, khí hậu mang đặc trưng của khí

hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23 - 24°C, số giờ nắng trung bình khoảng 1300 - 1500 giờ/năm Trong năm thường có 8 - 9 tháng có nhiệt độ trung bình trên 20°C (trong đó

có 5 tháng có nhiệt độ trung bình trên 25°C), nhưng không có tháng nào nhiệt

độ dưới 16°C Hai mùa chính trong năm là mùa hạ và mùa đông, với các hướng gió thịnh hành, mùa hạ gió nam, tây nam và đông nam, mùa đông gió bắc, đông và đông bắc Lượng mưa trung bình khoảng 1900 mm, năm có lượng mưa cao nhất là 3176 mm (năm 1994), năm có lượng mưa thấp nhất là 1265,3 mm (năm 1998) Độ ẩm trung bình hàng năm là 85%, không có tháng nào độ ẩm trung bình dưới 77% Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất trong năm là tháng 3 (95,5%), tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất trong năm là tháng 11 (82,5%) Khí hậu có sự phân hóa theo chế độ nhiệt với hai mùa tương phản nhau là mùa hạ và mùa đông cùng với hai thời kì chuyển tiếp tương đối là mùa xuân và mùa thu Mùa hạ thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đông thường kéo dài từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 3, mùa xuân thường kéo dài từ giữa tháng 3 đến hết tháng 4 và mùa thu thường kéo dài từ tháng 10 đến giữa tháng 11

Thủy văn: Hà Nam có lượng mưa trung bình cho khối lượng tài nguyên

nước rơi khoảng 1.602 tỷ m3

Dòng chảy mặt từ sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ hàng năm đưa vào lãnh thổ khoảng 14.050 tỷ m3 nước Dòng chảy ngầm

Trang 26

chảy qua lãnh thổ cũng giúp cho Hà Nam luôn luôn được bổ sung nước ngầm

từ các vùng khác Nước ngầm ở Hà Nam tồn tại trong nhiều tầng và có chất lượng tốt, đủ để đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Chảy qua lãnh thổ Hà Nam là các sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Châu và các con sông do con người đào đắp như sông Nhuệ, sông Sắt, sông Nông Giang…Sông Hồng là ranh giới phía đông với các tỉnh Hưng Yên và Thái Bình Trên lãnh thổ Hà Nam, sông có chiều dài 38,6 km, có vai trò tưới tiêu quan trọng và tạo nên các bãi bồi màu mỡ với diện tích gần 10.000 ha Sông Đáy trên đất Hà Nam có chiều dài 47,6 km còn là ranh giới giữa Hà Nam và Ninh Bình Sông Châu khởi nguồn trong lãnh thổ Hà Nam Sông Nhuệ là sông đào dẫn nước sông Hồng từ Thụy Phương - Từ Liêm - Hà Nội đi vào Hà Nam với chiều dài 14,5 km, sau đó đổ vào sông Đáy ở Phủ Lý

Dân cư: Theo thống kê vào năm 2013, tổng số hộ dân cư của tỉnh Hà

Nam là 243.787 hộ, trong đó số hộ gia đình là 243.051 hộ Tổng số nhân khẩu thường trú là 846.653 người Trình độ kinh tế, dân trí và trình độ văn hóa xã hội của dân cư phát triển khá cao, thu nhập và đời sống của đa số dân cư đã được cải thiện và nâng cao đáng kể Đặc điểm nổi trội của cư dân và nguồn lực con người Hà Nam là truyền thống lao động cần cù, vượt lên mọi khó khăn để phát triển sản xuất, là truyền thống hiếu học, ham hiểu biết và giàu sáng tạo trong phát triển kinh tế, mở mang văn hóa xã hội Đây là nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

1.2.2 Văn hóa – Xã hội

Một số công trình văn hóa, di tích lịch sử tiêu biểu: Nhà hát Chèo Hà Nam nằm ở trung tâm thành phố Phủ Lý, là đơn vị nghệ thuật chèo chuyên nghiệp Danh thắng Kẽm Trống thuộc xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm, đây

là nơi dòng sông Đáy chảy xen giữa hai dãy núi đá vôi tạo thành cảnh quan sơn thủy thơ mộng Đền Trúc - Ngũ Động Sơn: nằm tại thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, cách Phủ Lý hơn 7 km theo quốc lộ 21A Tương

Trang 27

truyền Lý Thường Kiệt trên đường chiến thắng trở về đã cho quân dừng ở đây

để tế lễ và ăn mừng Sau này để tưởng nhớ ông, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ dưới chân núi Cấm gọi là đền Trúc Trong dãy núi còn có danh thắng Ngũ Động Sơn, là năm hang đá nối liền nhau thành một dãy động liên hoàn,

có chiều sâu trên 100 m Chùa Bà Đanh: Mới được cải tạo lại từ năm 2010, nằm ở đoạn uốn khúc của dòng sông Đáy và nằm giữa đê sông Đáy và sông đáy Đối diện với chùa và ở phía bên kia sông là núi Ngọc Chùa cách cầu nối đường 21A và thị trấn Quế khoảng 4 km Xung quanh chùa là vườn cây rộng

và um tùm, xa hơn là dòng sông đáy trong veo nên không gian rất yên tĩnh, vắng vẻ, thậm chí có thể nghe được cả tiếng là rơi Chùa Long Đọi được xây dựng từ đời vua Lý Thánh Tông Chùa nằm trên đỉnh núi Đọi, với độ cao 79

m so với mặt nước biển, thuộc địa phận xã Đọi Sơn huyện Duy Tiên, cách thủ

đô Hà Nội 50 km về phía nam; cách thành phố Phủ Lý 10 km về phía đông bắc Long Đọi sơn tự nằm trên thế đất cửu long Toàn cảnh núi Đọi nhìn xa giống như một con rồng đất rất lớn nằm phục ở giữa đồng bằng vùng chiêm trũng Tuy được xây dựng từ giữa thế kỷ XI nhưng thực sự phát triển và xây dựng bề thế vào năm 1118, đời vua Lý Nhân Tông, tháp Sùng Thiện Diên Linh đã được xây dựng với ý nghĩa cầu thiện Đền Lăng thuộc xã Liêm Cần, Thanh Liêm là nơi thờ các vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành, tương truyền đây cũng là quê hương của Lê Hoàn Ngoài ra còn có hồ Tam Chúc và tượng phật bằng đồng cao khoảng 20 m

Đến với Hà Nam du khách có thể thưởng thức các món đặc sản như:

Bánh cuốn chả nướng Phủ Lý: có hương vị rất riêng, gần gũi với ẩm thực Hà

Nội, nhẹ nhàng mà tinh tế, bánh thường là loại bánh không nhân, ăn kèm với chả nướng Để làm nên những miễng chả thơm ngậy, người ta tẩm ướp thịt với gia vị rồi xiên vào que tre trên than hồng chứ không phải nướng đại trà

trên vỉ sắt Món ăn tuyệt ngon khi thêm vài giọt tinh dầu cà cuống Mắm cáy

Trang 28

Bình Lục: Ở Hà Nam, cáy có nhiều ở các vùng nước lợ như Thanh Liêm,

Bình Lục, Kim Bảng… thế nhưng nghề làm mắm cáy phát triển mạnh nhất ở huyện Bình Lục Mắm cáy được chế biến công phu Những con cáy nhỏ được lột yếm, bóc trắng, giã cho thật nhuyễn, trộn muối rồi đem ủ kín trong vại Sự cầu kỳ của món ăn đòi hỏi người dân phải phơi đủ nắng, đủ sương sao cho

thật ngấu mới đem dùng Cá kho niêu đất Vũ Đại: cá kho là món ăn quen

thuộc với nhiều gia đình song cá kho Hà Nam tạo được thương hiệu riêng nhờ khâu chế biến cầu kỳ cùng hương vị hấp dẫn Nguyên liệu được chọn làm món ăn thường là cá trắm đen, làm sạch rồi đặt vào niêu đất Dưới niêu được lót lớp riềng nhằm tránh cá bị cháy khi kho suốt 10 - 12 giờ Cá kho đúng điệu khi khúc cá có màu nâu sậm, thịt mềm, xương tan… ăn không phải bỏ đi

chút nào Rượu làng Vọc: Làng Vọc có nghề nấu rượu gạo truyền thống Bao

đời truyền nối, họ vẫn chỉ trung thành với một công thức chưng cất rượu: nấu bằng gạo ủ men ta - thứ men gồm 36 vị thuốc Bắc Dù tốn nhiều công và số lượng rượu làm ra không nhiều như các quy trình công nghiệp hơn nhưng đổi lại, rượu làng Vọc an toàn và tạo danh tiếng riêng Chỉ cần mở nắp chai rượu làng Vọc ra là ngửi thơm ngào ngạt hương gạo, vị đậm đà, ngọt mà không

say, không đau đầu Chuối ngự Đại Hoàng: Nổi tiếng là đặc sản tiến vua,

chuối ngự vùng chiêm không giống như chuối ngự trâu quả to, ăn nhạt Buồng chuối khá nhỏ nhưng rất đẹp, quả căng tròn, vàng óng, cuống xanh, đầu ruồi có 3 chiếc tua cong đẹp mắt Khi ăn, chuối có vị ngọt, hương thơm,

càng ăn càng thấy ngon Bún Tái Kênh: Làng Tái Kênh ghi tên trong bản đồ

ẩm thực bằng món bún dẻo dai nức tiếng Bún Tái Kênh trắng, trong, săn sợi

và không dùng chất bảo quản Qua nhiều giai đoạn ngâm gạo, xay gạo, nhào nặn bột, luộc, giã theo bí truyền riêng của gia đình, dòng họ trong làng mà mới có thành quả là những lá bún, vắt bún ngon lành Bún Tái Kênh được người dân trong vùng và các khu lân cận rất ưa chuộng Người ta hay bảo

Trang 29

nhau, bún này ăn với mắm cũng thấy ngon là có lý do của nó Quýt Lý Nhân:

Quýt Lý Nhân quả dẹt, vỏ giòn, mỏng, khi chín màu vàng ươm Quýt vùng này mọng nước bên trong và nhiều tinh dầu bên ngoài Dùng tay bóc vỏ thấy mùi thanh mát tỏa ra dễ chịu Quýt Lý Nhân nổi tiếng khắp nơi không những trong nước mà còn được xuất khẩu ra thị trường thế giới và cũng ừng dùng làm đặc sản tiến vua khi xưa Vì thế, qua Hà Nam mùa quýt, nên tranh thủ thưởng thức món ngon đặc biệt trong thiên hạ

Hà Nam còn có một số làng nghề truyền thống như: trống Đọi Tam, thêu ren Thanh Hà, dệt lụa Nha Xá, làng mây tre đan Ngọc Động…Hà Nam

là vùng đất văn hóa có nhiều danh nhân như: Lê Hoàn, Nam Cao, Nguyễn Khuyến, Đinh Công Tráng…

Một số lễ hội truyền thống tiêu biểu: Lễ hội đền Trúc (còn gọi là hội Quyển Sơn) tổ chức ở xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng tổ chức từ mùng 6 tháng Giêng đến mùng 10 tháng 2 Âm lịch Hội chùa Đọi Sơn ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, thờ Phật, thờ Lê Đại Hành, Nguyên phi Ỷ Lan, và Lê Thánh Tông; hội tổ chức vào 21 tháng 3 Âm lịch Hội đền Trần Thương ở xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, được tổ chức hàng năm vào ngày 20 tháng 8 Âm lịch và đêm

14 tháng Giêng Âm lịch Đền Trần Thương thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo), là nơi được ông chọn làm kho lương, cung cấp lương thảo cho quân đội trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ thứ XIII Lễ hội phát lương đền Trần Thương là một trong những lễ hội lớn của tỉnh Hà Nam, tưởng nhớ công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc, góp phần phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tuyên truyền, giáo dục cho con cháu về truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của ông cha Hội làng Duy Hải ở huyện Duy Tiên, thờ Trần Khánh Dư, được tổ chức hằng năm vào 22 tháng giêng Lễ hội Tịch điền: diễn

ra tại Đọi Sơn, Duy Tiên là nơi vua Lê Đại Hành mở đầu nghi thức cày ruộng

Trang 30

tịch điền trong lịch sử với mục đích cầu mùa, cầu cho mùa màng bội thu, nhân dân được ấm no, đây là lễ hội tiêu biểu của tỉnh Hà Nam và đã trở thành

“thương hiệu văn hóa” của tỉnh

Tiểu kết chương 1:

Lễ hội là yếu tố vừa đặc trưng cho mỗi dân tộc, vừa góp phần làm cho văn hóa đất nước đặc sắc hơn Lễ hội là sự kết tinh thành quả lao động sản xuất, chiến đấu của các cá nhân, tập thể trong quá trình xây dựng và gìn giữ đất nước Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường…Lễ hội là nơi để con người trở về nguồn cội, tỏ lòng biết ơn với các

vị thần của cộng đồng Hà Nam là mảnh đất hội tụ nhiều yếu tố văn hóa truyền thống hấp dẫn du khách, nổi bật trong đó là Lễ hội Tịch đền đã trở thành “thương hiệu văn hóa” của tỉnh

Trang 31

CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN

CỦA LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN Ở HÀ NAM

2.1 Lễ Tịch điền trong hệ thống các nghi lễ nông nghiệp ở Việt Nam

Nông nghiệp là ngành sản xuất có lịch sử phát triển lâu đời, ở Việt Nam, nền nông nghiệp (trong đó trồng trọt ruộng nước giữ vai trò chủ đạo) hình thành và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, gắn với quá trình khai hoang lập làng, từ những công xã nông thôn đến các làng tiểu nông trong thời kì phong kiến Nông nghiệp là hoạt động cơ bản nhất và được xem là nghề gốc của các làng, nó bao trùm và chi phối đến các hoạt động kinh tế khác Lấy nông nghiệp làm cốt lõi sinh tồn đã trở thành tập quán sinh sống, thành tư tưởng, ý thức và tình cảm thấm sâu trong tiềm thức của người nông dân Nông nghiệp vừa là tất yếu sinh tồn nhưng cũng là giấc

mơ, khát vọng về sự giàu có, sung túc, thịnh vượng của người dân Trước đây, do trình độ sản xuất lạc hậu nên phần lớn hoạt động sản xuất và sinh hoạt của nông dân lệ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Ngay từ xa xưa, các cộng đồng dân cư luôn phải tìm cách cải tạo các yếu tố tự nhên, thích ứng và ứng phó với những tác động bất lợi của tự nhiên như: bão, lũ, hạn hán, sâu bệnh…để bảo vệ sản xuất và đời sống Ở những vùng đồng bằng, hầu hết các làng đều đắp đê để bảo vệ khu cư trú và vùng sản xuất trước những cơn lũ và bước đầu xây dựng hệ thống thủy lợi để tưới tiêu cho đồng ruộng Sản xuất càng phát triển thì việc cải tạo đất đai, hệ thống thủy lợi, các biện pháp bảo vệ sản xuất càng trở nên quan trọng và cần thiết Trong quá trình lao động bền bỉ

để cải tạo tự nhiên và ứng phó với những biến đổi bất lợi của nó, người nông dân đã từng bước tích lũy cho mình được những kinh nghiệm sản xuất quý báu, cũng như những hiểu biết về tự nhiên, biết làm thế nào để có thể chung sống hài hòa với tự nhiên Kinh nghiệm và sự hiểu biết về thời tiết, khí hậu,

Trang 32

đất đai, thủy triều hay mùa vụ phát triển các loại cây trồng nông nghiệp, vật nuôi được đúc kết đã được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thủy sản, săn bắt và khai thác các sản vật của tự nhiên Chính mối quan hệ mật thiết, hài hòa với tự nhiên trong sản xuất cũng như trong đời sống đã tạo ra cho con người, các cộng đồng dân cư nông nghiệp những tình cảm sâu đậm với thiên nhiên, những giá trị văn hóa tinh thần hết sức phong phú, sáng tạo Thiên nhiên trở thành một phần trong đời sống văn hóa tinh thần, tín ngưỡng và tình cảm của con người Nhiều yếu tố của tự nhiên được con người sùng bái và trở thành tín ngưỡng thiêng liêng như thần sấm, thần mưa, thần gió, thần sông, thần núi…cùng với những lễ hội truyền thống, mang đậm sắc thái văn hóa của các cộng đồng, các vùng quê như lễ hội cầu mưa, rước nước, xuống đồng, tịch điền…

Nông nghiệp của người Việt là nền nông nghiệp lúa nước, dùng cày lấy con trâu làm sức kéo Trâu là biểu tượng của sức mạnh dẻo dai, bền bỉ, là hình ảnh của sự nhẫn nại, cần cù Trâu là con vật thân thương, gắn liền với hình ảnh đồng quê, với những bờ tre, với những người nông dân ngày xưa, con trâu được coi là sản nghiệp, có câu: “Ruộng sâu, trâu nái” hay “Con trâu là đầu cơ nghiệp” nên nhà nông không nói là “mua trâu” mà là “tậu trâu”

Tậu trâu - lấy vợ - làm nhà Trong ba việc ấy ắt là khó thay

Trong câu ca dao này, không hề có sự so sánh mà chính là nói lên ba sự khó của một người đàn ông thời xưa Ngày xưa, dân ta chủ yếu sống bằng nghề nông nên con trâu trở thành đầu cơ nghiệp, có được trâu tốt sẽ dẫn đến

sự sung túc ấm no, nên việc chọn lựa mua một con trâu là một việc cực kì quan trọng, là một trong ba việc hệ trọng của đời người Hình ảnh con trâu đi trước cái cày đi sau cùng với người nông dân đã trở thành quen thuộc, phổ biến trong xã hội Việt Nam xưa, tuy vất vả nhưng người nông dân luôn lạc

Trang 33

quan và tin tưởng vào tương lai Họ coi công việc cày cấy là niềm vui Hình ảnh con trâu luôn gắn bó với hình ảnh của người nông dân, có câu ca dao:

Rủ nhau đi cấy đi cày Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Hình ảnh con trâu với lũy tre xanh, những đồng lúa thẳng cánh cò bay,

đã tạo nên bức tranh đặc sắc Con trâu là một hình ảnh vừa hiền lại vừa hung

đó là cái hiền hòa và cái cái hùng mạnh Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học cộng với các loại mấy móc thiết bị hiện đại ra đời, hình ảnh con trâu

đi trước cái cày theo sau cùng với người nông dân một nắng hai sương hầu như không còn xuất hiện phổ biến ở làng quê Việt Tuy vậy, hình ảnh con trâu

đã đi vào tâm linh, tinh thần của người Việt Trải qua biết bao thế hệ, ông cha

ta đã đúc kết và nhắc nhở thế hệ con cháu luôn coi trọng nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm gốc, phải biết trân trọng con vật đã gắn bó với người nông dân và với nền nông nghiệp từ bao đời nay Con trâu sẽ mãi được ghi nhớ trong tâm thức của mỗi người Từ đó, khuyên răn các thế hệ sau phải biết quý trọng nông nghiệp, nông nghiệp trở thành nền tảng vững chắc cho mọi sự phát triển

Đất đai, ruộng vườn, lúa gạo hay trâu bò luôn được coi là thước đo sự giàu có trong xã hội nông nghiệp, tư tưởng “dĩ nông vi bản” (lấy nghề nông làm gốc) đã trở thành ý thức hệ phổ biến, hầu như bất di bất dịch không chỉ với người nông dân và còn đối với cả vua quan và các tầng lớp dân cư khác

Để khuyến khích nông nghiệp phát triển, trước đây, vua Lê Đại Hành đã tổ chức lễ cày Tịch điền đầu tiên vào năm 987 Lễ cày Tịch điền là một trong các dạng lễ nghi nông nghiệp Các lễ nghi nông nghiệp thường gắn liền với sản xuất nông nghiệp, trước hết, đó là cầu mong được mùa Lễ nghi nông

Ngày đăng: 27/10/2017, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w