Thực trạng giảng dạy và huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, . Thực trạng ứng dụng các bài tập thể lực chuyên môn cho nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, . Thực trạng kết quả học tập của nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, . Lựa chọn test đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, . Xác định tính thông báo và độ tin cậy của hệ thống test đã lựa chọn để đánh giá trình độ thể lực chuyện môn cho nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT,
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại ngày nay, Cách mạng khoa học và công nghệ đạt đến đỉnh cao củasự phát triển và đòi hỏi con người phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệvà thể chất Trong đó, việc nâng cao sức khỏe cho mọi người là vấn đề trọng tâm, cốtlõi của mọi mô hình phát triển của các Quốc gia, các chế độ chính trị xã hội Vì vậy,
Đảng và Nhà nước ta luôn luôn chú trọng đến phát triển các thế hệ trẻ theo hướng "Cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức".
Trên con đường đổi mới của đất nước, cùng với sự phát triển chung của xã hội,TDTT đã và đang được phát triển không ngừng và trở thành bộ phận không thể táchrời trong đời sống sinh hoạt tinh thần của nhân dân ta Tất cả chúng ta đều hiểu rõ sứckhỏe là vốn quý báu của con người, nó trở thành nền tảng vững chắc, cội nguồn, dồidào để nâng cao sức chiến đấu, học tập, lao động phục vụ Tổ quốc, góp phần vào côngcuộc cải tạo xã hội, thiên nhiên, đổi mới tư duy, phát triển và đổi mới của toàn dân tộcViệt Nam Chỉ thị 36 – CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng ngày 24/03/1994 đã
khẳng định: "Mục tiêu cơ bản và lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền TDTT phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt được vị trí xứng đáng trong các hoạt động thể thao Quốc tế, ", đồng thời, trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII có nêu: "Công tác TDTT cần được coi trọng, nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong trường học, tổ chức hướng dẫn vận động đông đảo quần chúng nhân dân rèn luyện thân thể hàng ngày, nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo bồi dưỡng vận động viên, nâng cao thành tích các môn thể thao".
Từ những chủ trương đó của Đảng và Nhà nước, Ngành TDTT đã không ngừngđược đổi mới trong lĩnh vực đào tạo theo hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạotrong các trường TDTT, đào tạo HLV và giáo viên TDTT, nâng cao chất lượng đào tạovà bồi dưỡng vận động viên có thành tích cao trong các môn thể thao
Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó, Ngành TDTT đã đề ra 5 giải pháp lớn,trong đó đặc biệt coi trọng giải pháp về cải tiến chương trình và phương pháp giảngdạy trong các trường chuyên nghiệp TDTT, nhằm đào tạo HLV, giáo viên, hướng dẫnviên TDTT và từng bước đào tạo HLV bậc cao cho các môn thể thao trọng điểm cóchất lượng tương xứng với trình độ thể thao nước ta
Một trong những khâu quan trọng trong quá trình hoàn thiện cả về hình thức vànội dung giảng dạy trong các cơ quan đào tạo nói chung và các cơ quan đào tạo cán bộ
Trang 2TDTT nói riêng là việc đổi mới về phương tiện và phương pháp giảng dạy Đây là mộttrong những khâu được coi là then chốt Với mục đích nâng cao chất lượng giảng dạyvà hiệu quả của quá trình đào tạo, việc đổi mới theo xu hướng hiện đại hóa nội dung –phương tiện – phương pháp giảng dạy là hết sức cần thiết Công việc này phải đượctiến hành một cách thường xuyên, liên tục và cụ thể ngay ở từng môn học trong nhàtrường.
Điền kinh là một trong những môn thể thao cơ bản của nước ta Điền kinh giữ vaitrò chủ đạo trong quá trình GDTC ở trường học và trong chương trình huấn luyện thểlực cho lực lượng vũ trang cũng như trong chương trình thể thao cho mọi người Tậpluyện Điền kinh một cách hệ thống, khoa học từ lâu đã được khẳng định là có tác dụngtốt trong việc củng cố và tăng cường sức khỏe cho mọi người cùng với việc phát triểntoàn diện các tố chất thể lực, tạo điều kiện nâng cao thành tích các môn thể thao Pháttriển các tố chất thể lực là nhiệm vụ cơ bản trong quá trình giảng dạy và huấn luyện,nó bao gồm cả huấn luyện thể lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn
Thành tích thể thao là tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó thể lực chuyên mônđóng vai trò quan trọng quyết định hàng đầu Việc chuẩn bị thể lực chuyên môn choVĐV điền kinh nói chung và VĐV chạy cự ly 100m nói riêng là công việc cấp thiết,tất yếu trong công tác huấn luyện Chạy cự ly 100m đòi hỏi VĐV sử dụng tốc độ tối đatrên toàn bộ cự ly Bởi vậy, việc phát triển thể lực chuyên môn giúp cho cơ thể VĐVchịu đựng được toàn bộ lượng vận động lớn trong khoảng thời gian ngắn Nếu cácVĐV không có thể lực chuyên môn tốt trong chạy cự ly 100m thì không thể đạt đượcthành tích thể thao cao Vì vậy, phát triển thể lực chuyên môn trong chạy cự ly 100mlà không thể thiếu Vai trò của thể lực chuyên môn phải được chú trọng trong tất cảcác thời kỳ, giai đoạn huấn luyện chuyên môn
Trình độ chuyên môn có quan hệ tỷ lệ thuận với thành tích thể thao, thông quathành tích thể thao có thể đánh giá trình độ thể lực chuyên môn của vận động viên vàngược lại Trình độ chuyên môn là thước đo thành tích ở nội dung chạy cự ly 100mtrong quá trình huấn luyện Việc xây dựng nội dung huấn luyện thể lực chuyên mônđóng vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định đến sự thành bại của quá trình huấnluyện
Nghiên cứu các phương pháp và bài tập huấn luyện thể lực chuyên môn đã đượcrất nhiều nhà khoa học huấn luyện thể thao và giáo dục thể chất trên thế giới nghiên
Trang 3cứu (L.P Matveev – 1976, 1992; V.P Philin – 1979; V.M Volcov – 1983; Bungacova– 1983; Nabatnhicova – 1982; Ilin – 1983; Siris – Gaidarsca – Rachev – 1983,1994, ).Ở Việt Nam, vấn đề này đã thu hút chú sự chú ý quan tâm nghiên cứu của nhiềunhà khoa học TDTT, nhiều huấn luyện viên, giảng viên các trường Đại học chuyênngành nhằm xây dựng hệ thống lý luận và thực tiễn của công tác huấn luyện các tốchất thể lực cho vận động viên Sự đóng góp lý luận và phương pháp huấn luyện Điềnkinh ở Việt Nam như: Dương Nghiệp Chí – 1981, 1985; Võ Đức Phùng – 1981 –1983; Phạm Tiến Bình – Phan Đình Cường – 1981 – 1990; Nguyễn Kim Minh – 1985– 1992; Hoàng Vĩnh Giang – 1985 – 1997; Vũ Đức Thượng – Nguyễn Hoàng An –
1991 – 1993; Nguyễn Đại Dương – 1995 – 1996; Hoàng Mạnh Cường – 1995 – 1996;Dương Đức Thủy – 1997; Đinh Hùng Sơn – 1999; Đàm Thuận Tư – 2004, songchúng ta đều thấy rằng, các công trình và các nghiên cứu trên đã giải quyết nhiều vấnđề mang tính đồng bộ, nhưng giải quyết những vấn đề về huấn luyện tố chất thể lựcVĐV Điền kinh còn cần cụ thể hóa theo các nội dung khác nhau Đặc biệt trong việchuấn luyện các tố chất thể lực chuyên môn đối với từng môn Điền kinh riêng biệttrong các giai đoạn huấn luyện khác nhau
Trường Đại học Hải Phòng ( được thành lập theo Quyết định số 60/2004/QĐ –TTG ngày 09/04/2004 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trường Đại học Sư phạmHải Phòng) đào tạo Giáo viên, Cán bộ quản lý khoa học, kỹ thuật trình độ Trung họcchuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học và Sau đại học Là trung tâm nghiên cứu khoa họcvà chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển giáo dục, kinh tế, văn hóa của đất nướcvà hội nhập kinh tế quốc tế Khoa TDTT của Nhà trường có nhiệm vụ đào tạo cán bộ
sư phạm TDTT cho Thành phố Hải Phòng và các Vùng miền trên cả nước Đào tạo độingũ cán bộ giáo viên TDTT trình độ đại học, sau đại học, Cao đẳng, Trung học cóphẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có khả năng tổ chức quản lý các phong trào hoạt độngTDTT, giảng dạy TDTT tại các trường học, đồng thời có nhiệm vụ nghiên cứu khoahọc phục vụ yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy đào tạo trong xu thế hiện đại vàhội nhập quốc tế Những năm gần đây, công tác nghiên cứu khoa học của Khoa TDTTTrường Đại học Hải Phòng không ngừng phát triển và ứng dụng những tiến bộ khoahọc vào việc cải tiến chương trình môn học, đổi mới phương pháp giảng dạy nhằmkhông ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đại học trong tình hình mới trong đó có mônĐiền kinh cho đối tượng sinh viên chuyên sâu hệ Đại học
Trang 4Trong giảng dạy Điền kinh, để áp dụng những phương tiện, biện pháp giảng dạy– huấn luyện nhằm nâng cao các tố chất thể lực chuyên môn một cách hợp lý, phù hợpvới nội dung giảng dạy, huấn luyện đòi hỏi người dạy phải biết vận dụng một cách hợplý, có đầy đủ cơ sở khoa học về các phương tiện (bài tập) chuyên môn.
Điền kinh là một môn đào tạo chuyên ngành của khoa TDTT trường Đại học HảiPhòng Trong quá trình giảng dạy, do thời gian chương trình giảng dạy quy định ngắn,sinh viên chỉ được học 2 buổi chuyên sâu trong một tuần nên hầu hết các giảng viênchỉ chú ý đến giảng dạy kỹ thuật động tác, phương pháp tổ chức thi đấu và trọng tàimà chưa thực sự chú trọng đến phát triển thể lực chuyên môn cho sinh viên – VĐV.Việc xây dựng hệ thống các bài tập chuyên môn nhằm phát triển thể lực chuyên môncho sinh viên – VĐV chạy cự ly 100m một cách hợp lý sẽ đem lại được thành tích thểthao cao, tiết kiệm được kinh phí, thời gian, nhân lực và phát triển nhân tài, đồng thờilà động lực thúc đẩy tính tự giác tích cực, lòng say mê luyện tập cho sinh viên – VĐV,góp phần vào việc nâng cao chất lượng Giáo dục – Đào tạo của Khoa, Nhà trường.Xuất phát từ những lý do nêu trên, trên cơ sở phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng của
vấn đề nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"
Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT - Trường Đại học Hải Phòng”.
• Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng các bài tập phát triển thể lựcchuyên môn cho nam sinh viên chuyên sâu Điền kinh chạy cự ly ngắn (100m) khoaTDTT, trường Đại học Hải Phòng, đề tài tiến hành lựa chọn bài tập phát triển thể lựcchuyên môn và lựa chọn các test đánh giá phù hợp với đối tượng nghiên cứu cũng nhưđiều kiện thực tiễn của Nhà trường nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo của Nhàtrường
• Mục tiêu nghiên cứu:
Để đạt mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định giải quyết các mục tiêunghiên cứu sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy – huấn luyện thể lực chuyên
môn cho nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng.
- Thực trạng giảng dạy và huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam sinh viênchuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng
Trang 5- Thực trạng ứng dụng các bài tập thể lực chuyên môn cho nam sinh viên chuyênsâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng.
- Thực trạng kết quả học tập của nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn(100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng
- Lựa chọn test đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nam sinh viên chuyênsâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng
- Xác định tính thông báo và độ tin cậy của hệ thống test đã lựa chọn để đánh giátrình độ thể lực chuyện môn cho nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m)khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng
- Thực trạng thể lực chuyên môn của nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn(100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng
Mục tiêu 2: Lựa chọn, ứng dụng và xác định hiệu quả hệ thống các bài tập phát
triển thể lực chuyên môn cho nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng.
- Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho nam sinh viênchuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng
- Ứng dụng hệ thống bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho nam sinh viênchuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng
- Xác định hiệu quả hệ thống bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho nam sinhviên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng
• Giả thuyết khoa học:
Đề tài giả thuyết rằng việc đánh giá thực trạng thể lực chuyên môn của nam sinhviên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng cònyếu Từ đó lựa chọn và áp dụng hệ thống các bài tập phát triển thể lực chuyên môn phùhợp với chương trình và đối tượng thì sẽ nâng cao được thể lực chuyên môn cho namsinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các quan điểm về huấn luyện các tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV các môn thể thao.
Huấn luyện thể thao là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện thể thao, đượctiến hành dựa trên cơ sở các tri thức khoa học Quá trình này được tác động một cáchhệ thống vào khả năng chức phận về tâm – sinh lý và trạng thái sẵn sàng đạt thành
Trang 6tích, nhằm mục đích dẫn dắt các VĐV tới thành tích thể thao cao và ca nhất Do đó cácnhiệm vụ chính của huấn luyện thể thao trước hết phải thể hiện bằng những yêu cầucủa lượng vận động trong huấn luyện Các nhiệm vụ chính của huấn luyện thể thao bắtnguồn từ cấu trúc thành tích Các yếu tố xác định thành tích cá nhân được sắp xếpthành 5 nhóm như sau:
- Các phẩm chất tâm lý cá nhân
- Các tố chất thể lực
- Các khả năng kỹ thuật – phối hợp vận động
- Khả năng chiến thuật
- Khả năng trí tuệ
Lý luận huấn luyện thể thao đã xác định, để đạt được thành tích thể thao cao phảisử dụng các phương tiện khác nhau:
- Các bài tập thể chất
- Các điều kiện tự nhiên (môi trường, không khí, nước, ánh sáng, )
- Các yếu tố vệ sinh
Trong đó, bài tập thể chất là nhóm phương tiện chính để huấn luyện thể thao, làphương tiện quan trọng nhất để nâng cao thành tích thể thao Các bài tập thể chất phảiphù hợp với mục đích, nhiệm vụ của quá trình huấn luyện và tiến hành có phươngpháp và nguyên tắc nhất định Tính mục đích của một bài tập thể thao trong huấnluyện thể thao thành tích cao thể hiện ở chỗ chúng được sử dụng để phát triển thànhtích trong môn thể thao chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu cấu trúc thành tích lâu dài,nâng cao khả năng chịu đựng lượng vận động một cách liên tục và phát triển thành tíchthể thao một cách trình tự theo quy luật
Thông qua việc lựa chọn hợp lý từng bài tập thể thất và việc phân chia một cáchtối ưu lượng vận động của bài tập và nhóm bài tập có thể đảm bảo cho VĐV phát triểnđầy đủ năng lực của họ trong lứa tuổi đạt thành tích thể thao cao nhất
Hiện nay, thể thao thành tích cao là một trong những lĩnh vực được quan tâm đặcbiệt không kém các lĩnh vực văn hóa xã hội, thể hiện khát vọng vươn lên khả năng caonhất của con người Vì vậy tiềm năng của con người đã và đang được khai thác triệt đểnhằm đạt thành tích thể thao trong các cuộc thi đấu Khả năng về kỹ - chiến thuật, thểlực, hoạt động tâm lý, ý trí, tri thức của VĐV là những yếu tố quyết định đến thànhtích thể thao Trong đó, khả năng hoạt động thể lực, đặc biệt là thể lực chung và thể
Trang 7lực chuyên môn là nhân tố quan trọng nhất Điều đó đã được các nhà khoa học, cácchuyên gia hàng đầu trong và ngoài nước nghiên cứu, các HLV luôn quan tâm, chútrọng trong quá trình huấn luyện các tố chất thể lực chung cũng như thể lực chuyênmôn Trong tuyển chọn VĐV, khả năng chịu đựng lượng vận động lớn của con ngườinhờ vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng là sự phát triển thể lực.
Do vậy, huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao là mặt cơ bản để nâng caothành tích thể thao Song về bản chất mức độ phát triển các tố chất thể lực phụ thuộcvào các trạng thái chức năng, cấu tạo của nhiều cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể Quátrình tập luyện để phát triển các tố chất thể lực cũng chính là quá trình hoàn thiện cáchệ thống chức năng có vai trò chủ yếu trong mỗi hoạt động của cơ bắp cụ thể
Theo quan điểm của Aulic I.V, V.P Philin cho rằng: “Các tố chất thể lực pháttriển có tính giai đoạn và không đồng đều, tùy thuộc vào từng thời kỳ của lứa tuổi” Vìvậy, người HLV không những phải nắm vững quy luật phát triển tự nhiên trong cơ thể(đặc biệt là thời kỳ nhạy cảm: thời kỳ thuận lợi cho việc phát triển các tố chất), mà cònphải hiểu sâu sắc những đặc điểm phát triển tố chất thể lực theo độ tuổi của từng cá thểtrong cơ thể VĐV
Theo Harre D 1996, Macximenco G 1980, Novicop Matveep L.P 1990, Pankov
B A 2002, Ozolin M.G 1980, Philin V.P 1996, thì cho rằng: “Dù bất kỳ giai đoạnnào của quá trình đào tạo VĐV, công tác huấn luyện thể lực chung được coi là thenchốt, bởi thể lực chung cùng với thể lực chuyện môn được coi là nền tảng của việc đạtthành tích cao”
Song, một điều cần ghi nhận ở một số công trình nghiên cứu của các tác giả:Nabatnhicova 1985, Ozolin M.G 1980 thì: “Việc huấn luyện các tố chất thể lực chungphải là một quá trình liên tục, nhiều năm trong suốt quá trình đào tạo VĐV Tùy thuộcvào mục đích của từng giai đoạn huấn luyện mà tỷ trọng giữa huấn luyện thể lựcchung và thể lực chuyên môn được xác định cho phù hợp”
Một vấn đề không kém phần quan trọng theo quan điểm của các tác giả Matveep
1990, Pankov 2002, Phomin 1980 cho thấy: “Quá trình huấn luyện thể lực là sự phùhợp của các phương tiện (bài tập thể chất) cũng như các phương pháp sử dụng, trongquá trình huấn luyện phải phù hợp với các quy luật phát triển của đối tượng (lứa tuổi,trình độ tập luyện )”
Trang 8Huấn luyện thể lực (hay quá trình giáo dục các tố chất thể lực chung và chuyênmôn) làm một quá trình tác động liên tục, thường xuyên và theo kế hoạch được sắpxếp hợp lý bằng những bài tập TDTT nhằm phát triển các mặt chất lượng và khả năngvận động Quá trình ấy tác động sâu sắc đối với hệ thống thần kinh, cơ bắp cũng nhưcác cơ quan nội tạng của con người Đương nhiên, muốn có thành tích suất sắc trongmột môn thể thao, trước tiên cần phải có tố chất thể lực tốt phù hợp với yêu cầuchuyên môn, song không có nghĩa là coi nhẹ các mặt khác như kỹ - chiến thuật Thôngthường, các tố chất vận động được chia thành 5 loại cơ bản: Sức nhanh, sức mạnh, sứcbền, mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động (khả năng linh hoạt) Trong đó các tốchất thể lực là: Sức nhanh, sức mạnh và sức bền.
Khi đề cập đến vấn đề thể lực chung cũng như đề cập đến giáo dục các tố chấtthể lực chuyên môn, chúng ta hiểu rõ, trong hoạt động chung của con người thì hoạtđộng cơ bắp là dạng đặc trưng và mang tính trọng tâm
Hoạt động cơ bắp được thể hiện ở 3 phương diện:
- Sự co cơ: phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ cấu trúc sợi cơ, số lượng sợi cơ và thiếtdiện cơ
- Sự trao đổi chất: là quán trình sản sinh năng lượng
- Sự dẫn truyền kích thích: hoạt động thần kinh – cơ
Theo tác giả Ozolin 1980, Philin 1996, Phomin 1980 cho rằng: ba phương diệntrên đây luôn có mối tương quan với khả năng hoạt động của tố chất thể lực Đặc biệt,chúng luôn có mối tương quan chặt chẽ với 3 tố chất thể lực cơ bản là sức nhanh, sứcmạnh và sức bền Trong đó, độ lớn của sức mạnh quan hệ chủ yếu tới khả năng dẫntruyền của hệ thần kinh và liên quan đến thành phần của sợi cơ Do vậy ta có: sứcnhanh phản ứng, sức nhanh vận động và sức nhanh động tác Độ lớn của sức bền quanhệ chủ yếu tới hoạt động trao đổi chất, mà mối quan hệ này dựa trên cơ sở sinh lý giữa
cơ chế yếm khí và ưa khí Chính vì vậy ta có sức bền cự ly ngắn, sức bền cự ly trungbình và sức bền cự ly dài
Lý luận huấn luyện cũng cho thấy, tất cả các tố chất vận động trên luôn hiện diệntrong mối tương quan lẫn nhau (không có biểu thị riêng tuyệt đối) đặc biệt thể hiện ở 3tố chất thể lực (sức nhanh, sức mạnh, sức bền) Ví dụ: Động tác giữ tạ 3 giây trongmôn cử tạ được coi là sức mạnh tối đa là chủ đạo, song trong đó lại chứa đựng yếu tốsức mạnh bền khi thực hiện động tác
Trang 9Thông qua sơ đồ tương tác giữa các tố chất vận động ở trên, chúng ta có thể coiđó là những luận điểm cơ bản nhất trong quá trình giáo dục các tố chất thể lực chungvà chuyên môn cho VĐV.
Hiện nay tồn tại rất nhiều quan điểm về huấn luyện thể lực cho các VĐV trẻ,song nhiều nhà nghiên cứu cho rằng công trình “Hệ thống huấn luyện thể thao hiệnđại” của tác giả N.G.Ozolin 1980 cho thấy hệ thống các quan điểm là đầy đủ hơn cả.Tác giả cho rằng: “ Quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV là việc hướng đến củng cốcác hệ thống cơ quan của cơ thể, nâng cao khả năng chức phận của chúng, đồng thời làviệc phát triển các tố chất vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéoléo)” Quá trình chuẩn bị thể lực cho VĐV bao gồm: Chuẩn bị thể lực chung và chuẩnbị thể lực chuyên môn
- Chuẩn bị thể lực chung là nền tảng cho việc nâng cao thể lực chuyên môn
- Chuẩn bị thể lực chuyên môn cần thiết phải chia làm 2 phần:
+ Chuẩn bị thể lực chuyên môn cơ sở: là hướng đến việc xây dựng các nền tảng
cơ bản phù hợp với đặc thù chuyên môn của môn thể thao nhất định
+ Chuẩn bị thể lực chuyên môn cơ bản mà mục đích của nó là việc phát triển mộtcách rộng rãi tác tố chất vận động thỏa mãn những đòi hỏi của môn thể thao chuyênsâu
Qua nghiên cứu tổng hợp nhiều quan điểm khác nhau trong lĩnh vực huấn luyệnthể lực cho VĐV chúng ta thấy rằng: về nguyên tắc trong một chu kỳ huấn luyện lớn –huấn luyện thể lực chuyên môn dựa trên 3 bước: huấn luyện thể lực chung, huấn luyệnthể lực chuyên môn cơ sở và phát triển cở mức cao hơn các tố chất chuyên môn cơbản, phù hợp với môn thể thao chuyên sâu
Như vậy có thể nói rằng, việc phát triển các tố chất thể lực chung ở bước mộtcàng chặt chẽ bao nhiêu thì ở bước hai và bước ba mới có điều kiện phát triển mộtcách cao hơn, chất lượng hơn Sự phát triển các tố chất vận động phải phù hợp đặc thùmỗi môn thể thao Song cần phải nhớ rằng, mức độ phát triển thể lực chung và chuyênmôn cơ sở (bước 1 và 2) là một quá trình liên tục không gián đoạn và phải được duy trìmột cách ổn định Nó chỉ thay đổi, phát triển ở mức mới do những yêu cầu của nhiệmvụ huấn luyện trong giai đoạn sau
Mặt khác, trong một cho kỳ huấn luyện cần thiết phải đảm bảo hợp lý giữa huấnluyện thể lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn cơ sở
Trang 10Quá trình huấn luyện thể lực chuyên môn theo 3 bước cho các VĐV được ápdụng trong một chu kỳ huấn luyện mà thông thường 2 bước đầu được tiến hành ở thờikỳ chuẩn bị, còn bước thứ ba ở thời kỳ thi đấu Ở thời kỳ chuyển tiếp thường chỉ cònlại việc chuẩn bị thể lực chung Với quy trình đào tạo VĐV hiện đại, quá trình nàyđược tiến hành nhiều năm liên tục Vì thế, trong huấn luyện thể lực ba bước nêu trêncũng là một quá trình liên tục, nhiều năm Song đòi hỏi phải có sự tăng lên cả về mặtchất lượng, số lượng Như vậy có thể tồn tại nhiều phương án khác nhau về tỉ lệ huấnluyện giữa thể lực chung, thể lực chuyên môn cơ sở và thể lực chuyên môn cơ bản.Trong quá trình huấn luyện thể lực chung, VĐV phát triển thể lực một cách toàndiện, mà sự phát triển này được coi là năng lực thể chất Nó được đánh giá bởi mức độphát triển khả năng sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo, khả năng làmviệc của tất cả các cơ quan chức phận Dưới ảnh hưởng của quá trình chuẩn bị thể lựcchung, sức khỏe của VĐV được tăng cường, hệ thống các cơ quan và chức phận của
cơ thể được hoàn thiện Như vậy, khả năng tiếp nhận lượng vận động của VĐV cũngđược nâng lên Chính điều này đã dẫn đến mức độ phát triển các tố chất thể lực caohơn Quá trình phát triển thể lực chung có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục cácphẩm chất tâm lý và ý trí, vì trong quá trình thực hiện các bài tập phát triển thể lựcchung, VĐV phải vượt qua những khó khăn ở mức độ khác nhau do việc thực hiện cácbài tập mang lại
Việc huấn luyện thể lực chung phải đạt được khả năng làm việc của các cơ quanchức phận ở mức độ cao Đó chính là nhiệm vụ cơ bản của quá trình chuẩn bị thể lựcchung Vai trò qua trọng trong quá trình chuẩn bị thể lực chung là việc chọn lựa cácbài tập buộc cơ thể phải huy động một số lượng lớn cơ bắp, các cơ quan chức phận của
cơ thể tham gia (bài tập chạy, bài tập thể dục, ) Mặt khác cũng cần phải lựa chọn cácbài tập chỉ có những ảnh hưởng nhất định Nói một cách khác, các bài tập này phảihướng đến việc phát triển một bộ phận nào đó của cơ thể hoặc tổng hợp các bộ phận,các tố chất vận động có tác dụng làm tăng cường khả năng thể chất VĐV nói chung.Điểm đặc biệt của quá trình chuẩn bị thể lực chung là phải củng cố được những điểmcòn yếu trong cơ thể, những cơ quan chậm phát triển
Huấn luyện thể lực chuyên môn là hướng đến việc củng cố và nâng cao khả nănglàn việc của các cơ quan chức phận, các tố chất vận động phù hợp với đòi của mỗimôn thể thao lựa chọn
Trang 11Thể lực chuyện môn cơ sở được hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển thểlực chung – huấn luyện thể lực chung là nền tảng, còn việc lựa chọn các biện pháp phùhợp mang những nét đặc trưng của môn thể thao, là tiền đề hình thành lên các tố chấtthể lực chuyên môn sau này Việc hình thành thể lực chuyên môn cơ sở của các mônthể thao không có chu kỳ là tương đối khó khăn, ở đây có 2 cách lựa chọn:
- Thứ nhất: bằng cách lặp lại nhiều lần những hoạt động chính, đặc trưng củamôn thể thao lựa chọn
- Thứ hai: Lặp lại nguyên vẹn các bài tập thi đấu của chính môn thể thao đó.Trên đây là các quan điểm của các chuyên gia nước ngoài về huấn luyện thể lựcchung và thể lực chuyên môn trong huấn luyện thể thao
Qua tham khảo các nguồn tư liệu, các công trình nghiên cứu khoa học của nhiềuchuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực lý luận và phương pháp huấn luyện thể thao trongnước như: Lê Văn Lẫm, Lê Bửu, Dương Nghiệp Chí, Phạm Trọng Thanh, NguyệnToán, Nguyễn Thế Truyền, Phạm Danh Tốn, cho thấy: “Quá trình huấn luyện thể lựccho VĐV là hướng đến việc củng cố và nâng cao khả năng chức phận của hệ thống cơquan trước lượng vận động thể lực (bài tập thể chất) và như vậy đồng thời đã tác độngđến quá trình phát triển của các tố chất vận động” Đây có thể coi là quan điểm có xuhướng sư phạm trong quá trình giáo dục các tố chất vận động
Một quan điểm khác theo xu hướng y học của các nhà khoa học Việt Nam như:Nguyễn Ngọc Cừ, Lưu Quang Hiệp, Trịnh Hùng Thanh, Phan Hồng Minh, Lê NguyệtNga cho rằng: “Nói đến huấn luyện thể lực chung và thể lực chuyên môn trong quátrình huấn luyện thể thao là nói tới những biến đổi thích nghi và dự báo về mặt sinhhọc (cấu trúc và chức năng) diễn ra trong cơ thể VĐV dưới tác động của tập luyệnđược biểu hiện ở năng lực hoạt động cao hay thấp
Theo quan điểm tâm lý học của một số chuyên gia Việt Nam đề cập đến vấn đềnày như: Phạm Ngọc Viễn, Lê Văn Xem thì cho rằng: “Quá trình chuẩn bị thể lựcchung và chuyên môn là quá trình giải quyết những khó khăn liên quan đến việc thựchiện các hành động kỹ thuật phù hợp những yếu tố tâm lý trong hoạt động tập luyện vàthi đấu của VĐV”
Như vậy, từ các quan điểm nêu trên cho thấy: Chuẩn bị thể lực nói chung vàchuẩn bị thể lực chuyên môn nói riêng cho VĐV là sự tác động có hướng đích củalượng vận động (bài tập thể chất) đến VĐV nhằm hình thành và phát triển lên mộtmức độ mới của khả năng vận động biểu hiện ở sự hoàn thiện các năng lực thể chất,
Trang 12nâng cao khả năng hoạt động của các cơ quan chức phận tương ứng với các năng lựcvận động của VĐV, nâng cao các yếu tố tâm lý trước hoạt động đặc trưng của mỗimôn thể thao.
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích của VĐV chạy cự ly ngắn
1.2.1 Cơ sở sinh lý của chạy cự ly ngắn.
Mối tương quan giữa các đơn vị vận động nhanh và chậm trong cơ bắp các VĐVđạt thành tích cao ở những môn điền kinh khác nhau cho thấy ở các VĐV chạy cự lydài trình độ cao tỷ lệ phần trăm các đơn vị vận động co rút chậm (các sợi cơ “chậm”)có trong cơ bắp cao rõ rệt Ví dụ: các sợi “nhanh” và “chậm” ở các VĐV chạyMaratông ưu tú (tương quan của các sợi) là từ 18 – 25% đến 82 – 75%; ở các VĐVchạy ngắn cấp cao thì mối tương quan trên là ngược lại: từ 70 – 90% đến 30 – 10%.Những số liệu trên đủ chứng minh về các khả năng có thể xác định sớm việcchuyên môn hóa thể thao sau này của VĐV ngay từ khi chúng mới bước vào tập luyệnthể thao
Một trong những nhiệm vụ hấp dẫn nhất đối với các nhà sinh lý thể thao là làmrõ xem các đơn vị vận động khác nhau sẽ được biến đổi như thế nào theo lứa tuổi vàdưới ảnh hưởng của các chế độ huấn luyện khác nhau Người ta nhận thấy là theo mứcđộ già đi của con người thì số lượng các sợi nhanh trong cơ bị giảm đi Ở những người
20 tuổi, trung bình các sợi nhanh chiếm khoảng 60%, ở những người 60 tuổi là 45%.Ngoài ra trong quá trình phát triển, các sợi nhanh cũng bị bỏ lại theo lứa tuổi Nếu nhưở tuổi 40, diện tích mắt cắt ngang của sợi co rút chậm nhỏ đi 20% thì ở sợi co rútnhanh là 40% Điều này có thể liên quan đến việc giảm sút tích tích cực hoạt động thểlực của những người có tuổi, đặc biệt là giảm các lượng vận động có cường độ lớn đòihỏi sự tham gia tích cực của các đơn vị vận động nhanh trong cơ
Trong huấn luyện thể thao, khi sử dụng các lượng vận động gần giới hạn và giớihạn thì khả năng của hệ thần kinh được cải thiện, thu hút vào vận động một số lượngngày càng nhiều những đơn vị vận động nhanh và chậm Khi tập luyện với cường độthấp thì chủ yếu chỉ những đơn vị vận động chậm tham gia vào hoạt động Trongtrường hợp này nếu không tập luyện nhóm những đơn vị vận động co rút nhanh thìVĐV sẽ thực sự bị giảm tiềm năng tốc độ - sức mạnh của mình
Trong cơ thể người, các khả năng nhất định cả về thể hiện sức bền cũng như sứcnhanh đã được sắp đặt, vì vậy điều quan trọng là làm thế nào để có thể khám phá sớmnhững năng khiếu này và phát triển chúng phù hợp với các quy luật sinh học Việc cải
Trang 13tiến kỹ thuật thực hiện các bài tập, nâng cao tiềm lực năng lượng, hoàn thiện việc huấnluyện tâm lý là tất cả nguồn dự trữ mà khi sử dụng có thể đạt được thành tích cao.Việc áp dụng các phương pháp huấn luyện khác nhau và việc kiểm tra tình trạngcủa VĐV sẽ hiệu quả nhất nếu như nó được dựa trên cơ sở các kiến thức về các quátrình sinh học diễn ra thực tế trong cơ thể con người.
Chỉ trong trường hợp này mới có thể xây dựng được các kế hoạch huấn luyện tối
ưu và tiến hành huấn luyện hợp lý
Tính hiệu quả trong chạy ngắn phụ thuộc vào việc vận động viên thực hiện độngtác của mình mạnh như thế nào và anh ta có thể duy trì lâu như thế nào tốc độ cực đạitrong quá trình chạy giữa quãng Vì vậy các VĐV và huấn luyện viên cần biết các cơchế đảm bảo năng lượng của cơ và tổng năng lượng của nó
1.2.2 Cơ chế cung cấp năng lượng trong chạy cự ly ngắn
Nguồn năng lượng chủ yếu để cơ hoạt động là axit adenozintrifôtforic (ATP) Sựphân chia ATP thành axit adenozindifôtforic (ADP) và phốt phát vô cơ làm giải phóngmột số năng lượng nhất định Vì dự trữ ATP trong tế bào cơ không lớn nên để duy trìcác hoạt động thì cần thường xuyên tái tạo chúng Việc tái tạo ATP trong quá trìnhhoạt động cơ được thực hiện bằng 3 cách khác nhau về tốc độ, thời hạn hoàn lại nănglượng, công suất và dung lượng
Quá trình chủ yếu của việc tổng hợp ATP là cơ chế ưa khí Cơ chế này được thựchiện có sử dụng oxy được hít vào trong quá trình hô hấp Những động tác có cường độthấp trong các bài tập thể thao mà ở đó tần số mạch không vượt quá 140 – 160 l/phút,cũng như những động tác thường ngày của con người như đi, thực hiện công việckhông phức tạp, căng cơ để duy trì tư thế được bảo đảm bởi oxy do dòng máuchuyển đến tổ chức cơ
Những nghiên cứu được thực hiện với các VĐV có đẳng cấp cao cho thấy sốlượng oxy được chuyển đến các cơ đang hoạt động càng nhiều thì thường là thành tíchthể thao trong thi đấu sức bền của họ càng cao Sự tiêu thụ oxy cực đại được xác địnhtheo số lượng tiêu thụ oxy trong thời gian hoạt động với lượng vận động được nângcao theo mức độ đều và được thể hiện ở số lượng oxy tiêu thụ được đưa đến một đơnvị khối lượng cơ thể của con người Ở các VĐV chạy cự ly ngắn, chỉ số này thườngtrong giới hạn 50 – 60 mililit/kg/phút Có thể nói rằng đối với chạy cự ly ngắn cơ chếđảm bảo năng lượng nhờ oxy là không đáng kể và quả đúng là như vậy nếu như chỉxem xét hoạt động thi đấu chạy trên cự ly ngắn Ví dụ: trong chạy 100m VĐV thựchiện từ 13 đến 19 lần hít vào không sâu
Rõ ràng là khi hoạt động với cường độ rất cao, trong cơ thể, máu của con ngườichỉ kịp thực hiện tuần hoàn đầy đủ sau 8 giây Từ lúc súng phát lệch nổ, các VĐVchạy ngắn đã lập tức phải đưa số lượng lớn những nhóm cơ mạnh vào hoạt động.Những nhóm cơ này cần có một lượng oxy mà hêmôglôbin của máu không thể cungcấp đủ Dòng máu đạt được mục tiêu cuối cùng của nó chỉ sau lúc xuất phát 4 – 5 giây,tức là lúc các VĐV đã vượt qua được một nửa cự ly Song dù sao chỉ số tiêu thụ oxytối đa cũng khá quan trọng đối với các VĐV chạy trên cự ly ngắn Tiêu thụ oxy tối đa
Trang 14ở mức cao trước hết cho phép VĐV chịu đựng được lượng vận động tập luyện lớn,giúp VĐV đạt được thành tích cao.
Khả năng ưa khí của VĐV càng cao thì quá trình hồi phục của họ diễn ra càngnhanh hơn Điều này giúp VĐV có khả năng đi tới vòng thi đấu sau ở trạng thái tươngđối khỏe hoặc là có thể sử dụng các buổi tập có cường độ thường xuyên hơn Theomức độ tăng chiều dài của các cự ly chạy ngắn thì ý nghĩa (tầm quan trọng) của cơ chếđảm bảo năng lượng có dùng oxy của các cơ hoạt động sẽ được nâng cao lên
Khả năng ưa khí của con người bị giới hạn bởi kích thước của tim Ở các VĐVchạy cự ly dài ưu tú, thể tích tim vào khoảng 900 Cm3 còn ở các VĐV chạy ngắn, thểtích tim vào khoảng 900 Cm3 Như vậy khi số lần co bóp của tim bằng nhau thì sốlượng máu được chuyển đến cơ hoạt động ở các VĐV chạy cự ly ngắn ít hơn đáng kể.Công suất (sức mạnh) của cơ tim, tốc độ dòng máu, khối lượng máu tuần hoàn, khảnăng mang số lượng oxy lớn hơn của máu, khả năng sử dụng oxy của các cơ hoạt độngcũng là những nhân tố quan trọng bảo đảm cơ chế cung cấp năng lượng có dùng oxy.Từ thực tế huấn luyện cho thấy việc phát triển các khả năng ưa khí là có hiệu quảnhất khi sử dụng lượng vận động tập luyện có cường độ đều, trong đó tần số mạchtrong giới hạn từ 150 – 165 lần/phút
Điểm đến cuối cùng của oxy là sợi cơ Từ tim, máu được làm giàu oxy, đầu tiêntheo động mạch chủ, sau đó theo các động mạch nhỏ hơn đi đến các cơ đang hoạt độngvà tại đó các vi mao mạch thực hiện quá trình oxy hóa sản phẩm trao đổi chất của cơ.Khi thực hiện lượng vận động tập luyện kéo dài ở mức độ đều, lưới mao mạch đượctăng lên đáng kể (số lượng chung của chúng có thể tăng lên 100%) và các khả năngcủa hệ thống tim phổi cũng được nâng cao
Khi tiến hành huấn luyện lặp lại các đoạn chạy luân phiên với những đoạn dừngđể nghỉ thì về cơ bản các khả năng của hệ thống tim – mạch được hoàn thiện Như cáccông trình nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng các đoạn chạy 200m với tốc độ 90% tốcđộ cực đại và các quãng nghỉ kéo dài đến khi tần số mạch đập chưa kịp giảm xuốngdưới 120 l/phút là tối ưu trong trường hợp này
Vì vậy, cơ chế đảm bảo năng lượng ưa khí là quan trọng đối với VĐV chạy ngắndẫu rằng nó không giải quyết nhiệm vụ cung cấp năng lượng chủ yếu khi hoạt độngvới công suất cực đại
Trong chạy cự ly ngắn, các quá trình năng lượng chủ yếu diễn ra khi không có sựtham gia của oxy (quá trình năng lượng yếm khí) Công suất của quá trình yếm khí sovới quá trình ưa khí cao hơn từ 2 – 4,5 lần
Khi không đủ oxy, sự tổng hợp lại ATP từ ADP xảy ra do sự phân hủy Creatinphốt phát (hay sự phân chia men glucoza hay glucogen thành axit lactic) Những quátrình này được gọi tương ứng là lactac yếm khí và gluco phân yếm khí
Việc phân giải Creatin phốt phát là nguồn năng lượng mạnh nhất trong cơ thể,cho phép phát huy tốc độ chạy cao nhất ngay từ lúc xuất phát và nhờ được đưa vàongay từ lúc bắt đầu hoạt động để đạt được độ lớn cực đại ở giây thứ 2 – 3 Do dung
Trang 15lượng của nguồn năng lượng này nhỏ lên việc bảo đảm nhu cầu năng lượng của cơbằng phân hủy Creatin phốt phát được thực hiện chỉ một vài giây, sau đó bắt đầu tíchcực chuyển sang quá trình yếm khí khác – gluco phân.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy việc tiêu thụ năng lượng lớn nhất ở VĐV làtrong giai đoạn chạy lao sau xuất phát Đoạn này chiếm khoảng 1/3 cự ly chạy 100mnhưng tiêu hao về năng lượng hơn 50% Như vậy từ khía cạnh năng lượng việc duy trìtốc độ chạy cao không phải là vấn đề chính yếu vì rằng để giữ được quán tính chuyểnđộng chỉ cần tiêu phí năng lượng để khắc phục sức cản không khí, di chuyển cơ thểcủa VĐV theo quỹ đạo trong từng pha bay, cũng như hoạt động lăng và dừng lại củachân lăng, tay, duy trì tư thế tối ưu
Việc giảm tốc độ trên các cự ly ngắn là do sự tiêu hao dần các nguồn dự trữ bảođảm năng lượng và sự tích lũy axit lactic trong cơ thể Việc nâng cao đáng kể sự tíchtụ sản phẩm của việc trao đổi năng lượng này dẫn đến làm rối loạn sự phối hợp độngtác, sức cơ yếu đi và bị chuột rút
Phân tích việc tập luyện của VĐV chạy cự ly ngắn từ quan điểm năng lượng thìviệc huấn luyện cần được tiến hành theo hướng chủ yếu sau:
- Nâng cao nguồn năng lượng, chủ yếu đảm bảo hoạt động cơ ở chế độ phi lactac– yếm khí, tạo điều kiện nâng cao công suất hoạt động trên đoạn xuất phát và tăng tốcđộ cực đại ở giữa quãng Như các thí nghiệm cho thấy phương pháp chủ yếu để tăngcông suất nguồn năng lượng yếm khí là chạy lặp lại các đoạn 30 – 50m với tốc độ cựcđại Lúc này thời gian kéo dài các đoạn nghỉ cần từ 3 – 5 phút và số lượng lần lặp lạikhông quá 5 – 6 lần
- Tăng công suất của cơ chế đảm bảo năng lượng mang tính chất gluco phân vàtăng dung lượng hệ thống đệm có tác dụng trung hòa những sản phẩm phân hủy glucophân Trong máu người, các chất gluco phân đa dạng thực hiện chức năng này Sốlượng các chất này chế định khả năng duy trì tốc độ cao ở cuối cự ly Trong trườnghợp này, việc tập luyện thường gồm các đoạn chạy 150m và dài hơn, các quãng nghỉtương đối ngắn
Việc nghiên cứu hệ thống huấn luyện các VĐV chạy cự ly ngắn cho thấy, trongcác cuộc thi đấu, VĐV thể hiện thành tích cao hơn so với trong tập luyện
Thi đấu là một tác nhân kích thích mạnh, làm tăng hoạt tính của hệ thần kinh,kích thích việc đẩy máu vào các hoocmon đặc biệt như Adrenalin và Noradrenalin, sựxuất hiện của các hoocmon này với số lượng dồi dào sẽ thúc đẩy nhanh sự phân hủy
Trang 16glucogen trong các cơ, nâng cao áp lực máu và kích thích hệ thần kinh, làm cho sựcung cấp máu và phối hợp động tác của VĐV được tốt hơn.
1.2.3 Các chỉ số về tốc độ trong chạy cự ly ngắn.
1.2.3.1 Diễn biến tốc độ:
1.2.3.1.1 Thời gian xuất phát:
Tốc độ chạy của VĐV là nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố thành phầncó ảnh hưởng quyết định đến thành tích thể thao trong chạy ngắn Song đến khi cácVĐV rời bàn đạp xuất phát và thực hiện bước chạy đầu tiên sau xuất phát thì việcthắng hay thua của VĐV đó trở lên khá rõ ràng Việc thua thiệt (chậm) trong xuất phátkhó có thể bù lại ở giữa quãng, vì vậy điều quan trọng cần làm rõ là các động tác xuấtphát diễn ra trong trình tự nào và có những khả năng nào để tiết kiệm thời gian xuấtphát Tiếng súng phát lệnh của trọng tài là tín hiệu để bắt đầu hành động, nhưng trướckhi VĐV có hành động đầu tiên thì đối với mỗi người cần một khoảng thời gian nhấtđịnh Khoảng thời gian này được gọi là thời kỳ tiềm tàng của phản ứng vận động.Nhưchúng ta đều biết, tốc độ âm thanh trong môi trường không khí vào khoảng 340m/giây Nếu người phát lệnh đứng cách vạch xuất phát khoảng 15m thì sóng âm thanh
đi tới chỗ VĐV xuất phát phải mất khoảng 0,05 giây Sự lan truyền sóng âm thanh, sựbiến đổi của những dao động cơ học thành xung động thần kinh, việc tìm địa chỉ củalệnh, việc truyền xung động thần kinh để tạo nên hoạt động tích cực của các sợi cơ lànội dung cơ bản của thời kỳ tiềm tàng phản ứng vận động Đối với VĐV chạy ngắntrình độ cao, thời kỳ này kéo dài khoảng 0,1 giây đến 0,18 giây Minh họa vấn đề này,các nhà nghiên cứu đã thu được những số liệu trong đợt chung kết chạy 200m tại Đạihội Olympic lần thứ 22 như sau:
1 P.Menhia (Italia) 20,19 giây (0,148 giây)
2 A.Uelxơ (Anh) 20,21 giây (0,168 giây)
3 Đ.Kvôri(Jamaica) 20,29 giây (0,154 giây)
Chỉ số thời gian có trong ngoặc sau thành tích của VĐV chỉ rõ thời gian từ lúcsúng lệnh nổ đến khi tay của VĐV rời khỏi mặt đường Khoảng thời gian từ lúc súnglệnh nổ đến khi VĐV bắt đầu hành động dường như hết sức nhỏ nhoi song rõ ràngtrong suất phát số phận của chiếc huy trương vàng đã được quyết định nghiêng về phíaVĐV Italia, người đã không để mất ưu thế có được trong suất phát cho tới khi về đích.Đối với con người, thời gian tiềm tàng phản ứng vận động là những chỉ số khábảo thủ (khó biến đổi), song vẫn có những phương pháp giúp cải thiện phần nào CácVĐV có kinh nghiệm trong lúc trờ đợi tiếng súng lệnh nổ thường làm căng những
Trang 17nhóm cơ nhất định và bắt đầu ấn nhẹ chân lên mặt tựa bàn đạp suất phát Trong thờiđiểm súng nổ các cơ sẽ bắt đầu hoạt động dường như đã có đà và vì thế thời gian cầnthiết để chuyển sang hoạt động tích cực được rút ngắn lại.
Như vậy thời gian tiềm tàng phản ứng vận động là một trong các chỉ số có thể sửdụng để đánh giá tình trạng chức năng của VĐV trong thời điểm đó
Thời gian tiềm tàng phản ứng vận động cũng phụ thuộc vào trình độ đẳng cấpcủa VĐV Thời gian tập luyện cho xuất phát càng nhiều thì phản xạ có điều kiện đượchình thành ở VĐV sẽ càng vững chắc Việc chuyên môn hóa nhiều năm trong chạy cự
ly ngắn sẽ rút ngắn thời gian tiềm tàng phản ứng vận động xuống còn khoảng một nửa.Thời gian mà VĐV cần từ lúc đạp vào mặt tựa bàn đạp xuất phát đến lúc rời khỏibàn đạp được gọi là thời kỳ vận động của xuất phát Trung bình sự tác động lực củaVĐV vào điểm tựa trong xuất phát chiếm khoảng 0,22 – 0,45 giây Độ dài thời gianlưu lại của VĐV trên bàn đạp xuất phát phụ thuộc vào tốc độ các động tác của tay vàchân, kỹ thuật xuất phát và lực đạp sau vào bàn đạp xuất phát Trình tự kế tiếp nhaucủa các hành động xuất phát và thời gian trung bình mà các VĐV cần để thực hiệnchúng được nêu ra dưới đây:
Phát lệnh:
Thời kỳ tiềm tàng phản ứng vận động 0,14 giây
Rời tay khỏi mặt đường 0,15 giây
Chân sau rời khỏi bàn đạp 0,25 giây
Chân trước rời khỏi bàn đạp 0,38 giây
Thời kỳ vận động cũng như thời kỳ tiềm tàng phản ứng vận động được thay đổitùy thuộc vào trạng thái của VĐV trong chu kỳ huấn luyện năm
Thời gian “chạy tại chỗ” chỉ kéo dài khoảng 0,3 giây và chiếm khoảng 3% thờigian chạy 100m Vì vậy tốc độ cực đại của VĐV và khả năng duy trì tốc độ đó trên cự
ly có ý nghĩa quyết định Nếu ở những VĐV chạy cự ly ngắn ưu tú thì chỉ số tốc độchạy trung bình có ý nghĩa lớn trong các thành tích kỷ lục
Tốc độ chạy trung bình trên các cự ly ngắn đem đến cho VĐV và HLV mộtlượng thông tin nhỏ, vì vậy khi phân tích kết quả của mỗi VĐV điều quan trọng hơn làphải nghiên cứu diễn biến sự thay đổi tốc độ trong quá trình vượt qua cự ly Việcnghiên cứu các đặc điểm tăng tốc độ sau xuất phát, tốc độ cực đại và chạy rút về đíchsẽ giúp ta đánh giá được tình trạng của VĐV, làm rõ những mặt mạnh và yếu của anh
ta, so sánh với các chỉ số tương ứng của các đối thủ và xác định chiến lược huấn luyệnchung của VĐV chạy cự ly ngắn
Trang 18Các phương pháp nghiên cứu diễn biến tốc độ thường xuyên được hoàn thiện.Nếu như đầu tiên các số liệu nhận được trên cơ sở các chỉ số của đồng hồ bấm tay đơngiản thì sau này những nghiên cứu đã áp dụng những phương pháp đo tốc độ chạychính xác và đáng tin cậy hơn Thí dụ việc ghi điện cơ tim khi vượt qua cự ly giúp taphân tích những mối quan hệ tinh tế Gần đây để ghi thời gian chạy trên các đoạnngười ta đã sử dụng cảm biến quang diện Việc hoàn thiện phương pháp này đã chophép sử dụng các cảm biến quang điện đặc thù ghi lại sự thay đổi Với sự hỗ trợ củadụng cụ ghi vận tốc cũng có thể nghiên cứu diễn biến tốc độ chạy ngắn.
Việc phân tích diễn biến các thành phần tốc độ của các VĐV mạnh trên thế giới,một trong phạm vi nhất định sẽ có ý nghĩa như mô hình mẫu để ứng dụng trong huấnluyện Thông thường trong chạy 100m người ta thường tiến hành xác định diễn biếntốc độ qua các đoạn 10m Trên cơ sở xác định được thời gian của từng đoạn trong cự
ly chạy, có thể dễ dàng xác lập biểu đồ diễn biến tốc độ trên cả cự ly chạy
1.2.3.1.2 Tần số bước và độ dài bước chạy
Tốc độ chạy phụ thuộc vào sự thay đổi các thành phần như độ dài bước và tần sốbước Vì vậy để phân tích diễn biến tốc độ chạy thì ngoài thời gian chạy qua các đoạntrong cự ly chạy nhất thiết phải có thông tin về số lượng bước chạy trong các đoạn cự
ly để từ đó xác định tần số bước và độ dài bước chạy trong từng đoạn cự ly chạy.Ngày nay bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại có thể cho phép tiếp nhận cácthông tin về thời gian chạy, số lượng bước chạy trong từng đoạn cự ly chạy với độchính xác cao đảm bảo độ tin cậy Từ các thông tin này sẽ cho phép xác định được độdài bước, tần số bước cũng như làm rõ độ dài bước và tần số bước chạy được thay đổinhư thế nào trong mối liên quan với sự thay đổi tốc độ chạy trên từng đoạn cự ly chạy.Để làm sáng tỏ vấn đề nêu trên, đề tài xin trích dẫn các số liệu của các VĐV vàochung kết tại Giải vô địch điền kinh thế giới ở Tokyo năm 1991 (bảng 1.1)
BẢNG 1.1 KẾT QUẢ THI CHUNG KẾT CHẠY 100m TOKYO – 1991
Họ tên VĐV Thông
số
Các đoạn chạy 10m trong cự ly chạy
101 102 103 104 105 106 107 108 109 1010C.Leuyt
Trang 19t: Thời gian chạy vượt qua 10m (s).
N0: Số lượng bước chạy (bước)
l: Độ dài bước chạy (m)
f: Tần số bước (bước/giây)
V: Tốc độ chạy (m/giây)
● Tốc độ chạy tối đa
Từ kết quả ở bảng 1.1 cho thấy 5 VĐV (Leuyt, Barrell, Myttrell, Phederic,Cryxty) đều đạt được tốc độ tối đa của mình trong đoạn 70 – 80m Mytrell đã đạt đượctốc độ tối đa trong đoạn 60 – 70m; còn Cryxty và Xtyuart đã đạt tốc độ tối đa trongđoạn 40 – 50m Kết quả trên cho thấy hầu như các VĐV (5/8) đều đạt được tốc độ tối
đa của mình trong đoạn 70 – 80m Đặc biệt là VĐV Mytrell đã đạt được tốc độ tối đacủa mình trong đoạn 2 đoạn: 60 – 70m, và 70 – 80m của cự ly chạy
Kết quả trong bảng cho thấy giữa tốc độ tối đa và vị trí thứ hạng của VĐV khôngnhận thấy có mối liên quan với nhau Cryxty và Phederic đã đạt tốc độ tối đa lớn hơnMyttrell nhưng họ chỉ đạt vị trí thứ 4 và 5 trong bảng xếp hạng còn Myttrell lại chiếm
Trang 20ở vị trí thứ 3 VĐV Xtyuart cũng đã đạt tốc độ tối đa như Myttrell nhưng lại ở vị tríthứ 6.
Như vậy trong điều kiện tốc độ tối đa như nhau thì VĐV nào có khả năng lặp lại
2 lần tốc độ tối đa của mình sẽ chiếm vị trí cáo hơn trong bảng xếp hạng Cryxty vàPhederic đều đạt được tốc độ tối đa như nhau nhưng Cryxty đã lặp lại được 2 lần tốcđộ tối đa trong cả cự ly chạy nên đã dành thắng lợi trước Phederic Trong 50m đầu củacự ly chạy, tốc độ chạy của 8 VĐV tham gia chung kết đều tăng, song ở 50m sau củacự ly chạy tốc độ chạy của các VĐV được diễn ra theo dạng: kết hợp tăng tốc độ, duytrì tốc độ và giảm sút tốc độ chạy
● Tần số bước chạy
Các VĐV vào chung kết (Barrell, Myttrell, Cryxty, Xtyuart và Da-Xylva) đã đạttần số tối đa ngay trong giai đoạn 10 – 20m Số VĐV còn lại đạt tần số tối đa tronggiai đoạn 50 – 60m Mức độ đạt được tần số bước không liên quan đến vị trí thứ hạngcủa VĐV Phederic và Xtyuart có tần số bước cao nhất (5,02 bước/giây) nhưng đều chỉđạt vị trí thứ 5 và 6 trong bảng thứ hạng Như vậy cũng phù hợp với nhận định trên.Trong một số trường hợp ta nhận thấy ở các đoạn cự ly chạy mà VĐV đạt đượctần số bước tối đa cũng không tương ứng với các đoạn mà ở đó VĐV đạt được tốc độtối đa của mình
● Độ dài bước chạy
Tất cả các VĐV tham gia thi chung kết (trừ VĐV Da-Xylva) đều đã đạt độ dàibước tối đa trong một đoạn cự ly chạy Nhưng riêng VĐV D.Xylva đã 2 lần đạt đượcđộ dài bước tối đa (30 – 40m và 40 – 50m) Độ dài bước tối đa của bước chạy cũngkhông có liên quan đến vị trí thứ hạng của VĐV: Leuyt (vị trí số 1); Barrell (vị trí số2); Cryxty (vị trí số 4) và Xuryn (vị trí thứ 8) đều đạt được độ dài bước tối đa là2,70m
Như vậy, ở các đoạn cự ly chạy mà tại đó VĐV đã đạt được độ dài bước tối đa cósự trùng hợp với các giai đoạn mà ở đó VĐV cũng đạt được tốc độ tối đa
1.2.4 Mối quan hệ giữa độ dài bước chạy và tần số bước khi tốc độ chạy đã tăng cao.
Số lượng các đoạn trong cự ly chạy mà ở đó tốc độ chạy đã tăng cao có thể daođộng từ 8 – 6 đoạn và số lượng các đoạn này không liên quan đến vị trí thứ hạng củaVĐV Chẳng hạn VĐV Leuyt (xếp thứ 1), VĐV Barrell (vị trí thứ 2) và VĐV Phederic(vị trí thứ 8) có tốc độ chạy tăng cao trong 7 đoạn cự ly chạy Tốc độ chạy tăng cao
Trang 21trong 6 đoạn cự ly chạy cũng đã diễn ra ở các VĐV Myttrell (vị trí thứ 3), Xtyuart (vịtrí thứ 6) và Da – Xylva (vị trí thứ 7).
Sự tăng tốc độ chạy chỉ nhờ tăng tần số bước chạy được nhận thấy ở tất cả cácVĐV Ở Cryxty và Leuyt hiện tượng này chỉ diễn ra trên 2 đoạn cự ly, số còn lại chỉdiễn ra trên 1 đoạn cự ly chạy
Sự tăng tốc độ chạy chỉ nhờ sự tăng độ dài bước cũng nhận thấy ở tất cả cácVĐV trên một số đoạn cự ly chạy như ở VĐV Barrell diễn ra trong 5 đoạn Ở Leuyt,Cryxty và Phederic diễn ra trong 4 đoạn cự ly chạy Ở Myttrell, Xtyuart, Da – Xylvavà Xuryn diễn ra trên 3 đoạn cự ly chạy
Sự tăng tốc độ chạy nhờ tăng tần số và độ dài bước cũng nhận thấy ở tất cả cácVĐV tham gia chung kết, trong 4 trường hợp (Myttrell, Cryxty, Xtyuart và Xuryn)nhận thấy hiện tượng đó được diễn ra trong 4 đoạn cự ly; số còn lại (Leuyt, Barrell,Phederic và Da – Xylva) chỉ diễn ra trên 2 đoạn cự ly chạy
1.2.5 Mối quan hệ giữa độ dài bước và tần số bước chạy khi tốc độ chạy giảm xuống.
Số lượng các đoạn cự ly mà ở đó tốc độ chạy bị giảm xuống thường dao động từ
1 – 3 đoạn trong cự ly chạy Số lượng các đoạn này không liên quan đến vị trí xếphạng của VĐV Chẳng hạn ở VĐV Phederic tốc độ chạy đã giảm xuống trong mộtđoạn cự ly chạy nhưng chỉ đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng Trong khi đó, tốcđộ chạy của Leuyt đã giảm trong 2 đoạn cự ly chạy nhưng VĐV này đã giành chiếnthắng (chiếm vị trí số 1) Ở VĐV Da –Xylva tốc độ chạy cũng bị giảm trong 2 đoạn cự
ly chạy nhưng lại về đích ở vị trí thứ 7
Sự giảm sút tốc độ do giảm tần số bước chạy được nhận thấy trong 5 trường hợp(Myttrell, Cryxty, Phederic, Xtyuart và Da-Xylva) Hơn nữa trong 4 trường hợp đầuthì tốc độ chạy gắn liền với sự ổn định độ dài bước, còn trong trường hợp cuối (Da-Xylva) độ dài bước chạy lại tăng lên
Sự giảm tốc độ do giảm độ dài bước chạy cũng nhận thấy ở 6 VĐV tham giachung kết (Leuyt, Barrell, Cryxty, Xtyuart và Da-Xylva và Xuryn) Trong tất cả cáctrường hợp trên khi tốc độ bị giảm do độ dài bước thì tần số bước lại tăng lên
Sự giảm tốc độ chạy do giảm tần số và độ dài bước được nhận thấy ở 4 VĐV(Leuyt, Barrell, Myttrell và Xuryn) và sự giảm sút này diễn ra trong đoạn 80 – 90mcủa cự ly chạy Điều thú vị trong đoạn 80 – 90m là sự giảm tốc độ chạy diễn ra ở tất cảcác VĐV, nhưng nguyên nhân của sự giảm sút tốc độ lại rất khác nhau: ở 4 VĐV nêutrên sự giảm sút tốc độ là do sự giảm sút của các thành phần tốc độ (giảm độ dài bướcvà tần số bước); ở 3 VĐV (Cryxty, Phederic và Da – Xylva) lại do sự giảm sút tần số
Trang 22bước Trong vấn đề này ở Cryxty, Phederic thì độ dài bước hầu như giữ nguyên khônggiảm, còn ở Da – Xylva thì độ dài bước lại tăng lên Và cuốit cùng ở Xtyuart tốc độchạy trên đoạn 80 – 90m giảm xuống do sự giảm độ dài bước đi đôi với tăng tần sốbước chạy.
Từ những phân tích trên có thể thấy nếu xem xét theo từng thành phần độc lập thìviệc đạt được tốc độ chạy tối đa, độ dài và tần số bước tối đa nhanh hay chậm trên cácđoạn cự ly chạy chưa có cơ sở xác định được kết quả thành tích trong chạy 100m.Trong chạy 100m có thể nhận thấy mối quan hệ giữa độ dài bước và tần số bướcchạy: sự tăng tần số bước sẽ giảm độ dài bước và ngược lại Cũng có thể nhận thấytrong một vài đoạn cự ly của cự ly chạy có sự tăng (10 – 20m) hoặc giảm của độ dàibước và tần số bước
Các đoạn cự ly chạy mà ở đó đạt tốc độ chạy tối đa thì không trung hợp với cácđoạn đạt tần số bước tối đa nhưng nó lại trùng hợp với các đoạn mà ở đó đạt độ dàibước tối đa
Hiện nay tốc độ chạy của VĐV trên bất kỳ đoạn cự ly ngắn nào cũng có thể đượcxác định chính xác khi sử dụng máy quay Video chuyên dụng
Một nhà sinh lý học người Mỹ nổi tiếng A.Hill đã mô tả tốc độ chạy trên cự lyngắn bằng công thức sau:
V t = V m (1 - e kt)
Trong đó: V t – độ lớn tốc độ chạy ở thời điểm bất kỳ của cự ly chạy.
V m – Tốc độ chạy cực đại.
t – thời gian lúc xuất phát
e – cơ số lôgarit
k – hằng số cá nhân
Diễn biến tốc độ của những VĐV chạy ngắn thế giới nổi tiếng trong các cuộc thiđấu lớn đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Người ta nhận thấy các VĐV mạnhnhất đạt được tốc độ cực đại ở đoạn 40 – 50m của cự ly và ở 5m cuối cùng thì tốc độhơi bị giảm xuống Ngoài ra người ta nhận thấy việc xuất hiện của các đỉnh điểm tốcđộ cực đại mà các nhà nghiên cứu đã liên hệ nhịp suất hiện của chúng với tài nghệ củaVĐV
Qua các chỉ số nêu trong bảng 1.2 có thể xem xét một số quy luật phát triển khảnăng phát triển tốc độ của con người Các VĐV chạy ngắn có trình độ cao, sau khi đạtđược tốc độ chạy cực đại chỉ giảm tốc độ này xuống rất ít ở cuối cự ly Họ làm đượcnhư vậy là do họ không chỉ có khả năng tiềm tàng về mặt năng lượng mà cả kỹ thuậtchạy hợp lý, cho phép sử dụng nguồn năng lượng tiết kiệm hơn Trình độ chuẩn bị của
Trang 23VĐV càng thấp thì việc giảm tốc độ chạy của họ càng rõ ràng, thậm chí ở những đoạndài hơn.
Bảng 1.2 Thời gian chạy trung bình để vượt qua các đoạn 5m của cự ly ở
Sự thay đổi tốc độ chạy ngắn có thể được chia làm 3 phần đặc trưng nhất:
- Chạy lao dau suất phát được thể hiện chủ yếu trên đoạn 30m Sau đó phần lớnVĐV đạt được tốc độ chạy cực đại (90 – 94%)
- Chạy với tốc độ cực đại Độ dài này phụ thuộc vào trình độ chuyên môn củaVĐV
- Giảm tốc độ chạy cào cuối cự ly chủ yếu thể hiện đặc điểm sức bền tốc độ củaVĐV
Trong chạy lao sau xuất phát trên đoạn 30m, các VĐV có đẳng cấp khác nhaucần có thành tích sau:
Thành tích chạy 100m (giây) 10.0 10.3 10.7 11.2 11.7 12.3 12.8Thành tích chạy 30m (giây) 3.6 3.8 4.0 4.2 4.4 4.5 4.6Các VĐV đạt được tốc độ chạy cực đại ở đoạn cự ly từ 40 – 60m, và trình độVĐV càng cao thì duy trì tốc độ được lâu
Độ lớn tốc độ cực đại phụ thuộc vào đẳng cấp của VĐV
Trang 24Thành tích chạy 100m (giây) 10.0 10.3 10.7 11.2 11.7 12.3 12.8Thành tích chạy 20m TĐC (giây) 1.65 1.75 1.80 1.90 2.05 2.15 2.30Tốc độ chạy cực đại (m/giây) 12.0 11.5 11.0 10.5 10.0 9.6 9.1Việc tăng thời gian do giảm tốc độ chạy đặc biệt được nhận thấy ở các VĐV cóđẳng cấp thấp Các VĐV có thành tích chạy là 10.2 giây hầu như không bị giảm tốc độở đoạn chạy về đích Việc giảm tốc độ ở 5m cuối cùng thường do việc thay đổi cấutrúc động tác chạy để làm động tác chạm đích.
Ở các VĐV có đẳng cấp khác nhau việc giảm tốc độ chạy rõ rệt được nhận thấykhi cách vạch đích một đoạn khác nhau
Thành tích chạy 100m (giây) 10.0 10.3 10.7 11.2 11.7 12.3 12.8Độ dài đoạn bị giảm tốc độ trước khi về
Trước đây người ta cho rằng phương pháp nâng cao thành tích thể thao tin cậynhất là tăng khối lượng công việc huấn luyện trên tất cả các thông số của chúng Cáchlàm này dường như được tin tưởng tuyệt đối vì đa số các VĐV giữ kỷ lục và các nhà
vô địch đã đạt được thành tích cao
Ngày nay, khối lượng của lượng vận động đã đạt tới một giá trị rất lớn và rõ rànglà việc tiếp tục tăng chúng đối với các VĐV cấp cao không phải là con đường duy nhấtnữa mà thường là cách không hiệu quả để nâng cao thành tích thể thao Vì vậy điềuquan trọng đối với các HLV là phân tích toàn bộ cơ chế phức tạp của hệ thống huấnluyện để tiến hành huấn luyện VĐV của mình ở trình độ hiện đại
Vấn đề tổ chức quá trình huấn luyện trong chạy cự ly ngắn mặc dù các bài tập thiđấu nhìn bề ngoài đơn giản nhất cũng rất phức tạp
Nếu theo dõi sự phát triển của các kỷ lục thế giới đã được ghi lại từ khi thành lậpLiên đoàn Điền kinh quốc tế (tháng 7 năm 1912) thì ở các môn điền kinh khác nhau
Trang 25thành tích được nâng lên với các tỉ lệ khác nhau: Trong ném đẩy (45%), trong các mônnhảy (18 – 20%), trong chạy cự ly dài (10 – 15%), trong chạy cự ly ngắn (5 – 8%).Cần phải nhận thấy là việc thay đổi cơ bản kỹ thuật thực hiện các bài tập thườngcó ảnh hưởng đến việc phát triển các kỷ lục thế giới Ví dụ trong nhảy cao hay nhưviệc xử dụng các dụng cụ hiện đại như sào nhảy và lao Song dù sao thi các kỷ lục pháttriển chủ yếu nhờ vào việc hoàn thiện phương pháp phát triển các tố chất vận động củacon người.
Việc nghiên cứu của các nhà sinh lý cho thấy rằng trong quá trình huấn luyện thểthao, nhiều chức năng của cơ thể ở một chừng mực này hay khác bị biến đổi nhiều Dođó con người có khả năng thực hiện hoạt động lâu hơn hay phát triển công suất lớnhơn Quá trình phát triển của các tố chất vận động riêng xảy ra không đồng đều
Ngày nay các huấn luyện viên và VĐV biết cách phát triển sức mạnh một cáchnhanh chóng, hiệu quả với độ tin cậy cao Việc áp dụng các trọng lượng lớn, chế độ ănuống cân bằng, cường độ huấn luyện cao là những phương pháp huấn luyện sức mạnh.Phương pháp phát triển sức bền cũng được hoàn thiện Nhiều phương pháp huấn luyệncho phép nâng cao sức bền như: huấn luyện khoảng cách Pharơtlec, lượng vận độngMaratong và nhiều phương pháp khác
Khả năng tốc độ của con người được tổng hợp trong chạy ngắn Những biểu hiện
đa dạng nhất của sức nhanh như phản ứng vận động, tốc độ xử lý thông tin, tốc độ củađộng tác đơn, tần số động tác thường là không phụ thuộc vào độ lớn của nhau
Ví dụ: VĐV quyền anh có thể thực hiện phản ứng rất nhanh trước bất kỳ hànhđộng nào của bạn tập song lại thua kém khi chạy 30m xuất phát hay khi thực hiện cáctest về tần số động tác Một vài nhà nghiên cứu cho rằng nhân tố sức nhanh là mộttổ hợp phức tạp hợp nhất sức mạnh, sự khéo léo, sức bền, độ mềm dẻo thành mộtphẩm chất được thể hiện rõ nhất trong chạy ngắn
Kinh nghiệm và thực tiễn huấn luyện thể thao cho thấy, tốc độ chạy được pháttriển chậm hơn 4 lần so với sức mạnh và 2 – 3 lần so với sức bền Sở dĩ như vậy là vì,trước hết trong cơ thể, tốc độ dẫn truyền kích thích là một đại lượng xác định Nókhông tăng trong quá trình huấn luyện thể thao Việc phát triển các khả năng tốc độkhông phải lúc nào cũng diễn ra một cách có hiệu quả và không phải do một nguyênnhân Huấn luyện thể thao là sử dụng thực tế một đặc điểm quan trọng nhất của cơ thểsống – đó là khả năng thích nghi Trong quá trình huấn luyện, khi thực hiện các bài tập
Trang 26đa dạng thì đối với vận động viên các đòi hỏi dần được tăng lên, cơ thể sẽ quen dầnvới những đòi hỏi đó Việc thích nghi với những điều kiện thay đổi xảy ra càng tíchcực khi độ lớn các kích thích tác động đến cơ thể con người càng cao.
Trong thể thao, khi hoàn thiện sức bền, các VĐV chạy sử dụng khối lượng lớncủa lượng vận động làm ảnh hưởng đến tất cả các hệ thống của cơ thể trong thời giankhoảng 3 – 5 giờ mỗi ngày Trong chạy ngắn thì khác, các phương pháp huấn luyệnhiện đại không cho phép tăng đáng kể thời gian tác động của lượng vận động thi đấuchủ yếu lên cơ thể VĐV chạy ngắn Ngày nay trong một ngày huấn luyện, VĐV chạycự ly ngắn có khả năng thực hiện chạy với tốc độ cực đại tối đa là 15 giây Như vậykhối lượng của lượng vận động để thích nghi rõ ràng là chưa đủ Việc áp dụng chạytrong những điều kiện dễ dàng hơn thì không phải lúc nào cũng có hiệu quả vì sử dụngthường xuyên phương pháp này có thể dẫn tới việc phá hỏng kỹ thuật chạy
Vì vậy trong huấn luyện VĐV chạy cự ly ngắn cần lường trước các phương phápgián tiếp đa dạng hay các phương pháp tác động đặc hiệu cho phép phát triển tuần tựcác thành phần của bài tập thi đấu Trong lượng vận động tập luyện của VĐV chạy cự
ly ngắn có thể phân loại khá rõ các bài tập hoàn thiện thành phần này hay khác, ví dụphát triển khả năng tốc độ - sức mạnh của những cơ duỗi chân hay tăng dung lượngcủa các hệ thống cung cấp năng lượng Tính hiệu quả của các cách tiếp cận như vậyđược quyết định bởi việc tất cả các phương pháp này được cân bằng vì khi tập luyệnchung tất cả các bộ phận trong một tổng thể không phải lúc nào cũng nhận được kếtquả dự kiến
Từ lý luận rõ ràng rằng, các bài tập có chu kỳ được thực hiện với tốc độ rất cao,được điều khiển bởi chính những phần cấu trúc của não chịu trách nhiệm về những sựtác động tự hóa và được thực hiện trên cơ sở nhịp điệu được hình thành rõ ràng Vì vậysự nỗ lực đột ngột của một trong những thành phần của một quá trình được cân bằngtốt sẽ dẫn đến việc phá vỡ cấu trúc động tác và làm hỏng kỹ thuật chạy
Cách tiếp cận hiện đại đảm bảo hoạt động tối ưu của các hệ thống phức tạp, trongđó các thành phần riêng nằm trong cả sự phụ thuộc vào nhau cũng như vào kết quảcuối cùng, dựa trên nguyên tắc tiếp cận mang tính hệ thống – cấu trúc đối với vấn đềlập kế hoạch và điều khiển Việc thực hiện cách tiếp cận như vậy trước hết phụ thuộcvào việc giải quyết hai nhiệm vụ chủ yếu:
Trang 27- Làm rõ các thành phần của hệ thống, có nghĩa là xác định tất cả các nhân tố cóảnh hưởng tới thành tích thể thao.
- Xác lập mối quan hệ giữa các thành phần đã được làm rõ của hệ thống
Khoa học thể thao và thực tiễn có đầy đủ các tài liệu về các phương tiện vàphương pháp huấn luyện nào đã được áp dụng cho VĐV chạy cự ly ngắn, song mốiquan hệ rõ ràng giữa chúng chưa được xác định rứt khoát
Trong hệ thống chung của việc huấn luyện VĐV chạy cự ly ngắn (bảng 1.3) cầnphải thể hiện các quy tắc cơ bản sau:
- Mô hình khách quan của hoạt động thi đấu đạt thành tích cao nhất đối với mộtVĐV cụ thể
- Mức độ tương hợp các đặc trưng chủ yếu của VĐV đó với các đặc tính mẫu
- Các phương pháp tác động trong tập luyện (các phương tiện tập luyện, khốilượng và cường độ các bài tập áp dụng, trình tự áp dụng các bài tập )
- Phương pháp kiểm tra tình trạng của VĐV
- Tính toán độ lớn và cấu trúc của lượng vận động tập luyện
- Các phương tiện chủ yếu để hồi phục và bảo đảm quá trình huấn luyện
BẢNG 1.3 HỆ THỐNG HUẤN LUYỆN CHẠY CỰ LY NGẮN
Các thành phần
chủ yếu của hệ
thống
Thành tích thể thao Xuất phát Chạy lao sau
xuất phát Tốc độ cực đại
Giảm tốc độ chạy
Phần đóng góp mẫu
của các thành phần
riêng vào thành tích
Các thông số kỹ
thuật chạy và xuất
phát
Sự bố trí củangười chạy trongsuất phát
Độ dài hợp lý
của các bướcchạy
Độ dài tần số
bước
Sự ổn định kỹthuật của cácbước chạy
Các đặc tính thời
gian và không gian
của động tác:
Thời gian tiềmtàng phản ứng (s) Việc đạt được
tộc độ chạy cựcđại
Giai đoạn bayvà chống củabước chạy (m,s)
Việc giảm tốcđộ (m, m/s)
Thành phần độnglực của suất phát(s)
Tốc độ chạy banđầu (m/s)
Các nhân tố hạn chế Vóc dáng người, chiều cao, cấu trúc của sợi vận động, tình trạng
Trang 28(giới hạn) chủ yếu hocmon, loại hệ thống thần kinh, tốc độ của các quá trình thần
kinh
1 Tính ổn định:
2 Được phát triển
dưới ảnh hưởng của
các tác động tập
luyện:
- Phản ứngtheo tín hiệuxuất phát
- Sức mạnhtuyệt đối củacác cơ duỗiđùi và thân
- Các đặc tínhtốc độ - sứcmạnh của các cơduỗi chân
- Công suất của
cơ chế bảo đảmnăng lượng
Các đặc tính tốc độ - sức mạnhcủa những cơ cẳng chân và đùi
- Dung lượngcủa cơ chế bảođảm năng lượng
Hướng huấn luyện
chung:
- Sự phối hợp hoạt động cơ, kỹ thuật hiệu quả, hợp lý, độ dẻo,tình trạng tâm lý, các bài tập huấn luyện thể lực
Các phương tiện và
phương pháp huấn
luyện chuyên môn:
- Những bàitập phát triểnsức nhanhphản ứng
- Những bàitập phát triểnsức mạnh củacác cơ duỗiđùi và thântrên
- Chạy xuất pháttrong những điềukiện khác nhau
- Nhảy nhiềubước
- Chạy với tốcđộ cực đại
- Chạy trongđiều kiện dễ
- Chạy các đoạnngắn với tốc độcực đại cùng cácquãng nghỉ hạnchế
- Chạy lặp lại vàthay đổi
Các phương tiện
huấn luyện đảm bảo
quá trình hồi phục:
- Các phương tiện hồi phục bằng biện pháp sinh lý, các sản phẩmdược lý, khẩu phần ăn, tập luyện điều chỉnh tâm lý, vệ sinh, chếđộ sinh hoạt
Các phương pháp
kiểm tra chủ yếu:
- Chạy 30m xuất phát
- Nhảy 3 bước tại chỗ
- Chạy 30mTĐC
- Tốc độ chạycực đại
- Độ dài và tầnsố bước
200m
Tính toán các
phương tiện huấn
luyện
- Xuất phát (số lần)
- Các bài tập với tạ
- Nhảy bật nhiều lần (số lần
- Chạy với tốcđộ cực đại trêncác đoạn ngắn
Chạy để pháttriển sức bền tốcđộ (m)
Trang 29bật lên).
(m)
- Chạy vượt rào(số lượng rào)
Các bài tập huấn luyện thể lực chung (giờ).
Thành phần chủ yếu của bảng này là thành tích thể thao Đó là mục tiêu cuốicùng mà việc đạt được nó phụ thuộc vào tác động của toàn bộ hệ thống Các nhiệm vụriêng có ảnh hưởng đến thành tích chung được xác định ở mức tiếp sau
Việc chi tiết hóa tỉ mỉ các nhiệm vụ riêng như vậy tạo điều kiện cho việc lập kếhoạch huấn luyện VĐV và tiến hành kế hoạch hợp lý nhất Trong chạy trên cự ly ngắncác chỉ số đặc trưng cho xuất phát, chạy lao sau xuất phát, tốc độ chạy cực đại và việcgiảm tốc độ ở nửa sau của cự ly là các nhiệm vụ riêng
Việc lập kế hoạch tổng lượng vận động tập luyện cần phải bố trí theo hình thứcsao cho bằng những phương pháp phù hợp có thể đạt được các thành tích dự định.Các thành phần riêng tạo nên thành tích thể thao cần được nêu ra cùng các đặctính thời gian và không gian chính xác để có thể so sánh thành tích của VĐV với tiêuchuẩn cũng như ghi lại sự thay đổi của chúng dưới tác động của những chương trìnhhuấn luyện Trong hoạt động thực tế, điều rất có lợi đối với VĐV là có được toàn bộkết quả kiểm tra các VĐV về tất cả các thông số kỹ thuật xuất phát và chạy, trong đócần ghi lại thời gian tiềm tàng phản ứng vận động, thành phần động lực của xuất phát,tốc độ chạy ban đấu, trình tự về độ dài bước, thời điểm đạt được tốc độ chạy cực đại,độ dài và tần số bước, việc giảm xút tốc độ chạy
Việc so sánh tiếp tục các số liệu thu được cho phép làm rõ khâu yếu và có thểđiều chỉnh kế hoạch huấn luyện phù hợp
Các đặc tính mô hình của các VĐV chạy ngắn cấp cao giúp ta có được các giá trịkhách quan của các chỉ số kỹ thuật, tính chất tốc độ, sức mạnh, năng lượng và thựcchất là các mục tiêu cần đạt được khi sử dụng các thủ pháp cụ thể
Trong bảng 1.3 trình bày các phương tiện và phương pháp huấn luyện chủ yếuđược áp dụng trong huấn luyện VĐV chạy ngắn Chúng được xếp thành nhóm theohướng tác động chủ yếu, mỗi phương tiện được sử dụng có thể ảnh hưởng tích cực,song đôi khi có ảnh hưởng tiêu cực đến việc phát triển các thành phần kèm theo củachạy ngắn Ví dụ: chạy với sự thay đổi tốc độ định kỳ được sử dụng rộng rãi tronghuấn luyện của các VĐV chạy ngắn ở Mỹ là một phương tiện phát triển sức bền tốc độtuyệt vời Việc áp dụng nó sẽ ảnh hưởng tốt đến tốc độ trong lúc tăng tốc độ chạy laosau xuất phát, cũng như tạo điều kiện cho việc hoàn thiện phối hợp hoạt động cơ trongbước chạy Các bài tập sức mạnh với trọng lượng lớn là một trong những phương tiệnhuấn luyện xuất phát và chạy lao sau xuất phát tốt nhất, song nó có thể có ảnh hưởngxấu đến tốc độ chạy cực đại và sức bền tốc độ
Trang 30Vì vậy, thực tế công tác huấn luyện đòi hỏi phải thường xuyên thay đổi cácphương tiện huấn luyện đa dạng có tính đến ảnh hưởng của chúng tới VĐV Chính vìvậy nó đòi hỏi sự làm việc sáng tạo trong hoạt động của HLV và VĐV.
1.3.2 Các phương tiện trong giảng dạy – huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV chạy cự ly ngắn.
1.3.2.1 Khái niệm về bài tập thể chất.
Giáo dục thể chất là một quá trình sư phạm nên người ta sử dụng cả nhữngphương tiện giáo dục nói chung như: lời nói và trực quan Trong giáo dục thể chấtngười ta sử dụng nhiều phương tiện giáo dục thể chất khác nhau Các phương tiệnchuyên môn này bao gồm các bài tập thể chất (còn gọi là bài tập TDTT)và các nhân tốcủa môi trường tự nhiên như: nước, ánh sáng, không khí và các điều kiện vệ sinh trongđó bài tập thể chất được coi là phương tiện chủ yếu và chuyên biệt của giáo dục thểchất
Bài tập thể chất là hành động vận động được lựa chọn sử dụng phù hợp với quy luật của giáo dục thể chất nhằm giải quyết các nhiệm vụ của giáo dục thể chất.
Bài tập thể chất là những hoạt động chuyên biệt do con người sáng tạo ra mộtcách có ý thức, có chủ đích Dấu hiệu bản chất nhất của bài tập thể chất là sự lặp lại.Chỉ có thông qua lặp lại nhiều lần một hành động vận động nào đó mới có thể hìnhthành được kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực
Bài tập thể chất là phương tiện giáo dục thể chất, bài tập thể chất được thực hiệnbằng sự vận động cơ bắp một cách tích cực Nói cách khác, bài tâp thể chất là sự vậnđộng tích cực của cơ thể con người phù hợp với quy luật của giáo dục thể chất
1.3.2.2 Bài tập thể chất phát triển các tố chất thể lực chuyên môn.
Bài tập thể chất là phương tiện huấn luyện chủ yếu trong các môn thể thao Tùythuộc vào các môn thể thao khác nhau mà các bài tập đó được chuyên môn hóa saocho phù hợp với yêu cầu tập luyện của môn thể thao chuyên sâu Bài tập thể chất làphương tiện chủ yếu để huấn luyện thể lực Các bài tập được thực hiện lặp lại nhiềulần mới có thể phát triển toàn diện các tố chất thể lực chung và chuyên môn cho từngmôn thể thao Căn cứ vào nội dung huấn luyện thể lực, phương thức của bài tập thểchất có thể phân chia thành bài tập phát triển thể lực toàn diện (bao gồm các bài tậpvới dụng cụ, không có dụng cụ và các bài tập khác) và bài tập mang tính chuyên mônđể phát triển thể lực cho môn thể thao chuyên sâu Phương pháp thực hiện các bài tập
Trang 31thể lực cũng rất đa dạng, tác dụng tới một tố chất đơn lẻ hoặc nhiều tố chất thể lực tùytheo mục đích sử dụng của HLV.
Bài tập thể chất bao gồm các thành phần tạo nên bài tập đó và các quá trình cơbản diễn ra trong cơ thể do việc thực hiện bài tập đó Các quá trình này quyết định tácdụng của bài tập đối với người tập Các quá trình diễn ra trong cơ thể rất phức tạp, đadạng và có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: tâm sinh lý, sinh hóa Vềgóc độ sinh lý học, nội dung bài tập TDTT là những biến đổi trong hoạt động chứcnăng của cơ thể khi thực hiện bài tập làm cho cơ thể chuyển sang một mức độ hoạtđộng cao hơn so với lúc yên tĩnh Nhờ vậy khả năng chức phận của cơ thể được hoànthiện Ngoài ra, người ta còn tính tới cả những biến đổi trước và sau khi thực hiện bàitập Tùy theo đặc điểm bài tập, những biến đổi sinh lý có thể đạt mức khá lớn Nhữngbiến đổi sinh lý đó kích thích quá trình hồi phục và thích nghi của cơ thể sau khi thựchiện bài tập vì vậy được coi là nhân tố tác dụng mạnh mẽ, làm tăng khả năng chứcphận và hoàn thiện những đặc điểm cấu trúc của cơ thể
Để nắm được bản chất của bài tập TDTT nào đó, nhà sư phạm phải hiểu đượcphương hướng, tác dụng của bài tập đối với những nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡngđã đặt ra
Một đặc trưng quan trọng của bài tập TDTT là được xây dựng trên cơ sở nhữnghoạt động vận động có ý thức, tức là được điều khiển từ các trung tâm thần kinh ở vỏnão Đó là những hành vi vận động có chủ đích, liên quan đến nhiều quá trình tâm lýnhư sự biểu tượng về động tác, hoạt động tư duy, cảm xúc Bài tập TDTT được coi lànhững hành vi vận động có ý thức thể hiện sự thống nhất giữa hoạt động thân thể vàtâm lý, không chỉ tác động đến cơ thể và cả đối với nhân cách, tâm lý người tập
Bài tập thể lực cho VĐV chạy cự ly ngắn 100m là việc thực hiện các động tác cụthể để tăng cường thể chất và nâng cao trình độ thể thao Để đạt được thể thao thànhtích cao, người ta sử dụng các phương tiện khác nhau kể cả các phương tiện chung củaquá trình sư phạm Trong huấn luyện chạy cự ly ngắn (100m), thì nhóm phương tiệnđặc trưng bao gồm: điều kiện về dụng cụ (tạ, bóng nhồi ), điều kiện về môi trường tựnhiên và bài tập thể lực Trong đó bài tập thể lực là phương tiện chính nhằm chuẩn bịthể lực chung và phát triển thể lực chuyên môn cho VĐV chạy cự ly ngắn (100m).Các bài tập thể lực trong chạy cự ly ngắn (100m) được sử dụng phải phù hợp vớimục đích nhiệm vụ của quá trình huấn luyện Thông qua việc lựa chọn một cách hợp
Trang 32lý từng bài tập thể lực và thông qua việc phân chia một cách tối ưu khối lượng vậnđộng và cường độ vận động của từng bài tập hoặc từng nhóm bài tập, các bài tập phảiđược xắp xếp theo trình tự, hệ thống nhằm phát triển đầy đủ những năng lực cần thiếtvà phù hợp với yêu cầu của kỹ - chiến thuật.
Trong huấn luyện chạy chạy cự ly ngắn (100m) hiện đại, tập luyện là một quátrình không những diễn ra theo từng giai đoạn, từng năm mà còn diễn ra hàng tuần vàtừng buổi tập Mỗi buổi tập không chỉ diễn ra một bài tập mà phải sử dụng nhiều bàitập Do đó, tập luyện phải là quá trình luân phiên liên tục Trong từng thời kỳ khácnhau tính chất và yêu cầu của bài tập cũng mang ý nghĩa khác nhau
Bài tập thể lực chuyên môn là tổng hợp các yếu tố động tác của thi đấu mangnhững nét đặc trưng gần giống hoặc giống yêu cầu thi đấu Ưu thế của các bài tập pháttriển thể lực chuyên môn trong chạy 100m là thông qua việc thay đổi các đặc điểm củalượng vận động tập luyện so với đặc điểm của lượng vận động thi đấu sẽ tác động cótrọng điểm vào từng năng lực riêng biệt
Có hai loại bài tập phát triển thể lực chuyên môn: Bài tập phát triển thể lựcchuyên môn cơ sở và bài tập phát triển thể lực chuyên môn cơ bản
Bài tập phát triển thể lực chuyên môn cơ sở được hình thành và phát triển trên cơsở phát triển thể lực chung, biện pháp thực hiện các bài tập là lặp lại nhiều lần Việclựa chọn bài tập có ý nghĩa rất quan trọng vì nếu không nắm được các nguyên tắc,phương pháp, tính hệ thống, tính phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể sẽ dẫn đến sailầm và có ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển các tố chất thể lực chuyên môn Chonên các bài tập được lựa chọn làm phương tiện giáo dục các tố chất thể lực chuyênmôn cơ sở còn phải thực hiện với cường độ nhỏ, mặt khác khối lượng thực hiện cácbài tập đó cũng phải được tăng lên một cách từ từ trong những điều kiện từ dễ đếnkhó
Bài tập phát triển thể lực chuyên môn cơ bản là việc nâng cao đến mức cần thiếtsự phát triển các tố chất vận động và khả năng chức phận của các cơ quan nội tạng.Trước tiên, các bài tập này phải phù hợp với việc phát triển các tố chất vận động mà sựphát triển các tố chất này phụ thuộc chủ yếu vào các bài tập riêng có cường độ nhưcường độ thi đấu hoặc giảm hơn hoặc cao hơn chút ít
Khi thực hiện các bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho VĐV chạy 100m cầnhướng tới việc củng cố và hoàn thiện các mặt năng lực cần thiết của cơ thể Sức mạnh
Trang 33tốc độ, tốc độ, sức bền tốc độ là những tố chất đặc thù của chạy 100m Song khi ứngdụng các bài tập này cần thực hiện với khối lượng vừa phải, chú ý phát triển các nhóm
cơ nhỏ, khối lượng được nâng dần theo từng thời kỳ của lứa tuổi, đặc biệt ở khả năngphối hợp vận động thì tính linh hoạt lại chiếm vị trí then chốt cần ưu tiên sử dụng.Khi sử dụng bài tập phải đảm bảo tính phù hợp, tính hệ thống, tính khoa học Cónhư vậy mới có thể tác động đúng và hiệu quả đến sự phát triển các tố chất thể lực đặcthù của chạy 100m Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về lựa chọn và sắp xếp các bàitập thể lực chuyên môn cho VĐV chạy 100m, song không có tài liệu nào nêu cụ thể vềviệc sắp xếp các bài tập phát triển các tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV chạy100m giai đoạn chuyên môn hóa sâu một cách cụ thể, có căn cứ thực tiễn và khoa học.Xuất phát từ thực tế huấn luyện và thông qua việc kiểm nghiệm Nhiều tác giảcho rằng đối với VĐV chạy cự ly ngắn (100m) cần sử dụng các bài tập phát triển:
- Sức mạnh tốc độ
- Tốc độ
- Sức bền tốc độ
Đối với VĐV có trình độ kỹ thuật thành thục nên lấy phát triển sức mạnh chuyênmôn làm chính Trước khi luyện tập sức mạnh tốc độ cần phải khởi động kỹ, chú ý thảlỏng nhằm nâng cao tính đàn hồi của cơ bắp Trong huấn luyện các bài tập nên sắp xếpvào nửa đầu của buổi tập, không nên tập luyện tốc độ và linh hoạt vào lúc đã mệt mỏi.Bởi vì mệt mỏi sẽ ảnh hưởng không tốt đến các nhân tố tạo nên sức mạnh, sẽ mất đitính nhịp điệu Nếu tập luyện miễn cưỡng thường không có hiệu quả, đôi khi còn táchại Khi huấn luyện cần tăng số lần lặp lại
Đối với VĐV chạy 100m trong giai đoạn chuyên môn hóa sâu cần đưa các bàitập phát triển sức mạnh tộc độ, tốc độ, sức bền tốc độ thực hiện trong thời gian ngắnvới phương pháp lặp lại Mục đích chính của các bài tập nhằm tạo khả năng thích ứngcủa các chức phận trong hệ thống cơ quan cơ thể đối với sự tác động của lượng vậnđộng, hỗ trợ cho việc thực hiện các bài tập phát triển thể lực chuyên môn chạy 100m ởgiai đoạn sau
Vì vậy khi lựa chọn, sắp xếp bố trí hệ thống các bài tập phát triển các tố chất thểlực trong quá trình huấn luyện, chúng ta cần tuân thủ các nguyên tắc tăng dần lượngvận động, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc lựa chọn phù hợp và cá biệt hóa các bàitập được tiến hành tuần tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp và phải căn cứ vào
Trang 34quy luật phát triển lứa tuổi, trình độ và đặc điểm tâm sinh lý của từng đối tượng thamgia tập luyện.
1.3.2.4 Bài tập thể chất phát triển tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV chạy
cự ly ngắn.
Một trong những đặc điểm quan trọng của phương pháp huấn luyện hiện đại làhuấn luyện với lượng vận động lớn Huấn luyện với lượng vận động lớn là cơ sở để đạtđược thành tích xuất sắc của các môn thể thao Song tiến hành huấn luyện với lượngvận động lớn phải dựa trên cơ sở trình độ thể lực nhất định Trình độ thể lực càng caothì tố chất thể lực chuyên môn phát triển càng tốt, có lợi cho việc nắm vững kỹ thuậtcác môn thể thao, thúc đẩy sự phát triển và duy trì trạng thái thi đấu tốt cho VĐV trongnhững cuộc thi đấu lớn Thể lực chuyên môn là một trong những yếu tố cơ bản củanăng lực thể thao trong thi đấu và cũng được coi là một thành phần quan trọng của sứckhỏe con người
Qua tổng hợp các quan điểm của các chuyên gia, HLV điền kinh trên phạm vitoàn quốc, các bài tập huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV chạy sự ly ngắn(100m) bao gồm:
● Các bài tập nhằm phát triển sức nhanh.
Sử dụng các bài tập tốc độ, chạy tăng tốc, chủ yếu dùng phương pháp lặp lại ởcác cự ly 20m – 30m – 50m – 100m, các bài tập dẫn bóng tốc độ và ném bóng vào rổ,đẩy bóng ra xa rồi tăng tốc đuổi theo của các bài tập dẫn bóng Để có hiệu quả caohơn, các bài tập trên đều phải thực hiện theo thời gian, lưu ý thời gian nghỉ giữa cáclần tập phải đủ để cơ thể hồi phục trở lại gần tới mức ban đầu mới cho chạy lặp lại
● Các bài tập nhằm phát triển sức mạnh.
Để giáo dục sức mạnh người ta sử dụng các bài tập sức mạnh, đó là các bai tậpcó sử dụng lực đối kháng Các bài tập với lực đối kháng lại bao gồm 2 loại Các bài tậpvới lực đối kháng bên ngoài: các bài tập với dụng cụ nặng; các bài tập với lực đốikháng của người cùng tập; các bài tập đối kháng của môi trường bên ngoài (chạy trêncát, ); các bài tập với lực đàn hồi; các bài tập khắc phục trọng lượng cơ thể
● Các bài tập nhằm phát triển sức bền.
Bao gồm các bài tập chạy cự ly trung bình và cự ly dài, chủ yếu dùng phươngpháp biến tốc, lặp lại trong các cự ly 800m, 1500m và trên 3000m có tính thời gian
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu.
Trang 35Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 50 nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn(100m) hệ Đại học, khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng và được chia làm hainhóm: Nhóm theo dõi ngang và nhóm thực nghiệm sư phạm.
- Nhóm theo dõi ngang: 50 nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m)
khóa đại học 9, 10 và 11 khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng (các đối tượng họcnăm thứ nhất, năm thứ hai và năm thứ ba) Đối tượng kiểm tra sư phạm mục đích lựachọn hệ thống các test đánh giá và tiến hành xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thểlực chuyên môn cho đối tượng nghiên cứu
- Nhóm thực nghiệm sư phạm: 20 nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn
(100m) khóa Đại học 10, khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng Nhóm này được lựachọn ngẫu nhiên và được chia thành 2 nhóm: Nhóm thực nghiệm (10 nam sinh viên)và nhóm đối chứng (10 nam sinh viên) Đối tượng này được sử dụng trong quá trìnhthực nghiệm sư phạm nhằm xác định hiệu quả hệ thống các bài tập chuyên môn pháttriển tố chất thể lực chuyên môn đã lựa chọn
2.2 Phương pháp nghiên cứu.
Để giải quyết các nhiệm vụ nêu trên trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụngcác phương pháp nghiên cứu sau:
2.2.1 phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.
Sử dụng phương pháp này là việc thông qua quá trình nghiên cứu các tài liệuchung và chuyên môn có liên quan đến vấn đề huấn luyện tố chất thể lực chung vàchuyên môn cho VĐV, vấn đề huấn luyện kỹ - chiến thuật cho VĐV điền kinh nóichung và VĐV chạy cự ly ngắn (100m) nói riêng việc sử dụng phương pháp nàytrong quá trình nghiên cứu là phục vụ chủ yếu cho việc giải quyết các nhiệm vụ nghiêncứu của đề tài Các tài liệu chuyên môn có liên quan được lấy từ các nguồn tài liệu củacác nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước, nhằm tìm hiểu các luận cứ khoa họcphù hợp với thực tiễn của Việt Nam và những vấn đề liên quan đến công tác huấnluyện phát triển tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV chạy cự ly ngắn (100m) Ngoài
ra cũng thông qua các nguồn tài liệu, đề tài sẽ tiến hành xác định phương pháp, lựachọn các test đánh giá các tố chất thể lực chuyên môn cho đối tượng nghiên cứu
Khi sử dụng phương pháp nghiên cứu này đề tài đã tham khảo nhiều nguồn tưliệu khác nhau, chủ yếu là các nguồn tư liệu thuộc thư viện trường Đại học TDTT BắcNinh, thư viện trường Đại học Hải Phòng, tủ sách chuyên môn của bộ môn điền kinhtrường Đại học Hải Phòng, và các tư liệu mà cá nhân chúng tôi thu được, bao gồm: 86tài liệu tham khảo hoặc công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước,
Trang 36hoặc các tạp chí nguyên ngành, các kỉ yếu của các hội nghị khoa học TDTT , cũngnhư các tài liệu mang tính lý luận phục vụ mục đích nghiên cứu của đề tài.
Danh mục các tài liệu nêu trên được trình bày trong “danh mục tài liệu thamkhảo”
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm.
Là phương pháp được sử dụng trong quá trình điều tra thực trạng việc sử dụngcác test đánh giá trình độ thể lực chuyên môn, cũng như các bài tập trong giáo trìnhgiảng dạy – huấn luyện nhằm phát triên tố chất thể lực chuyên môn cho sinh viênchuyên sâu chạy 100m khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng, quá trình phỏng vấn,điều tra được tiến hành tại các trung tâm thể thao phát triển mạnh như: Hà Nội, BắcNinh, Bắc Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh và các huấn luyện viên, giáo viên đang trựctiếp làm công tác giảng dạy, huấn luyện sinh viên, VĐV điền kinh trẻ tại trường đạihọc TDTT Bắc Ninh Mặt khác, thông qua hình thức dùng phiếu phỏng vấn, chúng tôicó thêm cơ sở thực tiễn để lựa chọn các bài tập chuyên môn, các test nghiên cứu đánhgiá đã được sử dụng trong quá trình giảng dạy – huấn luyện
Ngoài ra, đối tượng phỏng vấn của đề tài còn có 30 giáo viên, HLV, các chuyêngia đang làm công tác huấn luyện VĐV chạy cự ly ngắn thuộc các trung tâm huấnluyện VĐV năng khiếu môn điền kinh mạnh trên toàn quốc như: Trung tâm huấnluyện thể thao Quốc gia Hà Nội, trường Đại học TDTT Bắc Ninh, các trung tâmTDTT Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng Kết quả của việc sửdụng phương pháp nghiên cứu này được chúng tôi trình bày ở phần kết quả nghiên cứucủa đề tài
2.2.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm.
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài tiến hành tổ chức kiểm tra sư phạm Mục đíchcủa quá trình này nhằm kiểm nghiệm trong thực tiễn độ tin cậy, tính thông báo của hệthống các test đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu chạy100m khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng Đồng thời trên cơ sở của việc kiểm tra
sư phạm, đề tài tiến hành xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ chuẩn bị thể lựcchuyên môn cho đối tượng nghiên cứu Quá trình tổ chức kiểm tra được tiến hànhtrong 5 tháng Đối tượng kiểm tra sư phạm của đề tài là 50 sinh viên chuyên sâu chạycự ly ngắn (100m) khóa đại học giáo dục thể chất 10 của khoa TDTT, trường Đại họcHải Phòng Cả 50 sinh viên trên đều được học tập và tập luyện theo chương trình
Trang 37giảng dạy môn học chuyên sâu điền kinh do khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòngxây dựng Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng hệ thống các test đánh giá trìnhđộ chuẩn bị thể lực chuyên môn đã lựa chọn vào các thời điểm kiểm tra (thời điểmkiểm tra ban đầu, và kiểm tra sau khi kết thúc mộc học) Kết quả các lần kiểm tra đượctrình bày ở chương 3 của đề tài.
2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Là phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của đề tài để đánh giáhiệu quả của hệ thống các bài tập đã lựa chọn để áp dụng nhằm phát triển các tố chấtthể lực chuyên môn cho đối tượng nghiên cứu Đối tượng thực nghiệm sư phạm của đềtài gồm 20 sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khóa Đại học 10, và đượcchia thành 2 nhóm:
- Nhóm thực nghiệm: Bao gồm 10 nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn
(100m) khóa Đại học 10 khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng Nhóm này được ápdụng các bài tập chuyên môn đã lựa chọn Các bài tập này được coi là những bài tậpchính, sắp xếp vào trong chương trình giảng dạy, trong từng giáo án của môn họcnhóm thực nghiệm
- Nhóm đối chứng: Bao gồm 10 nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn
(100m) khóa Đại học 10 khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng Nhóm này vẫn đượcáp dụng các bài tập chuyên môn theo chương trình giảng dạy môn học chuyên sâuĐiền kinh của khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng Các bài tập này được áp dụngtừ trước đến nay Đối tượng thực nghiệm của hai nhóm trên được lựa chọn ngẫu nhiên.Trước khi tiến hành thực nghiệm sư phạm, trình độ truyên môn của đối tượng nghiêncứu và các yếu tố chuyên môn khác của hai nhóm không có sự khác biệt rõ rệt
2.2.5 Phương pháp toán học thống kê.
Phương pháp này được sử dụng trong việc phân tích và xử lý các số liệu thu thậpđược trong quá trình nghiên cứu của đề tài Trong quá trình xử lý các số liệu của đề tài,các tham số và các công thức toán thống kê truyền thống được trình bày trong cuốn
“Đo lường thể thao”, “Những cơ sở của toán học thống kê”, “Phương pháp thống kêtrong TDTT”
Các tham số đặc trưng mà chúng tôi quan tâm là: ´x, t, δ, r, W
● Giá trị trung bình cộng:
Trang 38W: Nhịp độ phát triển (%).
V1: kết quả kiểm tra lần trước của các chỉ tiêu
V2: kết quả kiểm tra lần sau của các chỉ tiêu
● Điểm theo thang độ C:
C = 5 + 2Z
Trong đó: Z= x i− ´x
δ
Trang 39● So sánh Khi bình phương (χ2
Q i: tần số quan sát.
L i: tần số lý thuyết.
2.3 Tổ chức nghiên cứu.
2.3.1 Kế hoạch nghiên cứu.
Toàn bộ đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 10năm 2012 và được chia làm các giai đoạn nghiên cứu sau:
- Giai đoạn chuẩn bị: Từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 01 năm 2011 Là giai
đoạn xác định các vấn đề nghiên cứu, xây dựng đề cương và kế hoạch nghiên cứu, bảovệ đề cương nghiên cứu
- Giai đoạn cơ bản: Từ tháng 02 năm 2011 đến tháng 07 năm 2011 Là giai đoạn
tiến hành giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Trong giai đoạn này, đề tàitiến hành xác định cơ sở lý luận về huấn luyện các tố chất thể lực chuyên môn, các yếutố ảnh hưởng đến các tố chất thể lực chuyên môn cho đôi tượng nghiên cứu, đồng thờitiến hành điều tra thực trạng việc sử dụng các test đánh giá trình độ thể lực chuyênmôn, các bài tập chuyên môn trong giảng dạy – huấn luyện phát triển các tố chất thểlực chuyên môn cho đối tượng nghiên cứu
Trong giai đoạn nghiên cứu này, đề tài cũng tiến hành khảo sát, phỏng vấn cácchuyên gia, HLV, các nhà chuyên môn thuộc các trung tâm thể thao, các trường Đạihọc TDTT (hoặc các trường Đại học có khoa TDTT đào tạo chuyên ngành Đại họcTDTT) về thực tiễn công tác ứng dụng các bài tập chuyên môn trong giảng dạy – huấnluyện phát triển các tố chất thể lực chuyên môn cho nam sinh viên, VĐV chạy cự lyngăn (100m) Đồng thời, kết quả nghiên cứu ở giai đoạn này sẽ xác định được cơ sở lýluận, những căn cứ khoa học cho việc lựa chọn các bài tập chuyên môn ứng dụngtrong giảng dạy – huấn luyện phát triển các tố chất thể lực chuyên môn cũng như cáctest kiểm tra, đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho đối tượng nghiên cứu
Trong giai đoạn nghiên cứu này, đề tài còn tiến hành các công việc:
+ Kiểm tra sư phạm và thực nghiệm sư phạm trên đối tượng nghiên cứu
Trang 40+ Tổ chức kiểm tra, thu thập các số liệu đánh giá trình độ thể lực chuyên môn vàkết quả kiểm tra môn học chuyên sâu điền kinh.
+ Tổ chức thực nghiệm sư phạm, kiểm tra đánh giá trình độ thể lực chuyên mnocho đối tượng thực nghiệm sư phạm ở các giai đoạn trước, giữa và sau thực nghiệm.Các lần tổ chức kiểm tra đều được tiến hành tại khoa TDTT, trường Đại học HảiPhòng
- Giai đoạn kết thúc: Từ tháng 06 năm 2012 đến tháng 10 năm 2012 Là giai
đoạn xử lý các số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu, phân tích các kết quảnghiên cứu, viết và hoàn thiện kết quả nghiên cứu Chuẩn bị và bảo vệ kết quả nghiêncứu trước Hội đồng nghiệm thu
2.3.2 Địa điểm nghiên cứu.
Đề tài đươc tiến hành nghiên cứu tại:
- Trường Đại học TDTT Bắc Ninh
- Trường Đại học Hải Phòng
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy – huấn luyện các tố chất thể lực chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu chạy 100m khoa TDTT trường Đại học Hải Phòng.
3.1.1 Thực trạng về chương trình giảng dạy môn học điền kinh.
Trường Đại học Hải Phòng có nhiệm vụ đào tạo giáo viên TDTT có trình độ Đạihọc, Cao đẳng và Trung cấp cho các tỉnh, thành trên toàn quốc (trong đó hệ đại họcchính quy là các sinh viên có hộ khẩu thường chú tại Hải Phòng) Sinh viên vào trườnghọc tập chuyên môn điền kinh đều là những em có năng khiếu đã qua học tập, rènluyện môn điền kinh tại các trường phổ thông Tuy nhiên, các em lại có rất ít kiến thứcvà kỹ năng, kể cả chiến thuật cơ bản của các môn điền kinh, chưa được rèn luyện cáctố chất thể lực một cách có hệ thống, đặc biệt là các tố chất thể lực chuyên môn cònnhiều hạn chế Do đó, khi bước vào trường qua công tác tuyển sinh cho thấy, nhiềusinh viên đã không đảm bảo được thể lực chuyên môn cần thiết, thành tích chạy cự lyngắn (100m) còn nhiều hạn chế
Thực tế giảng dạy cho thấy, khi các tố chất thể lực chuyên môn còn nhiều yếukém đã ảnh hưởng lớn đến thành tích chạy 100m Việc phát triển các tố chất thể lựcchuyên môn cho sinh viên là rất cần thiết và không thể thiếu được, bởi tố chất thể lực