cùng các nhãn hàng truyền thống của Việt Nam là Viso, và P/S đãđược giới thiệu rộng rãi và với ưu thế về chất lượng hoàn hảo và giá cả hợp lý phùhợp với túi tiền của người tiêu dùng Việt
Trang 1Lập kế hoạch quản trị vấn đề Đa văn hóa tại tập đoàn Unilever
Planning for good governance to multicultural issues of a company/organization that you knows
Please present ways to improve business ethics and social responsibility of the members of the company / organization of you.
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4
1 Giới thiệu về công ty Unilever Việt Nam 4
2 Xác định cơ sở nền tảng của công ty Unilever Việt Nam 5
2.1 Về giá trị 5
2.2 Về chuẩn mực 5
2.3 Về quy định 6
2.4 Về chế tài 6
3 Xác định nguyên nhân gây ra những khó khăn trong nhóm làm việc đa văn hóa tại công ty Unilever Việt Nam 6
3.1 Khác biệt trong văn hóa giao tiếp 6
3.2 Không thông thuộc ngôn ngữ 7
3.3 Quan điểm khác nhau về cấp bậc và quyền hạn 7
4 Lập kế hoạch để quản trị tốt vấn đề Đa văn hóa của công ty Unilever Việt Nam 7
4.1 Lập kế hoạch thích nghi 8
4.2 Lập kế hoạch can thiệp vào cấu trúc tổ chức 8
4.3 Kế hoạch can thiệp bằng quản trị 9
4.4 Thuyên chuyển 9
5 Những giai thoại của lãnh đạo Công ty Unilever Việt Nam cần học hỏi về cách quản trị nhân viên đa văn hóa 9
5.1 Những sai lầm thường thấy khi quản trị đa văn hóa là gì thưa ông? 9
5.2 Làm sao để xác định các mâu thuẫn trong đội ngũ là do khác biệt văn hóa hay tính cách? 9
5.3 Những hoạt động nào có thể giúp gắn kết các thành viên đa văn hóa? 10
5.4 Nhân viên Việt Nam hay có thói quen xì xầm về mức lương, theo ông, làm sao để sửa đổi việc này? 10
5.5 Xin ông cho một người mới bắt đầu lãnh đạo một tập thể đa văn hóa một lời khuyên? 10
Trang 36 Hoạt động thực tế và kết quả của việc thực hiện đạo đức kinh doanh và trách nhiệm
xã hội của công ty Unilever Việt Nam 10
6.1 Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng 12
6.2 Với lĩnh vực bảo vệ môi trường 14
6.3 Với lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề 16
7 Đề xuất giải pháp để nâng cao đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của công ty Unilever Việt Nam 19
7.1 Tiếp tục phổ biến tăng cường nhận thức về CSR cho các bên có liên quan 19
7.2 Sớm hình thành các tiêu chuẩn, quy tắc ứng xử ở tầm ngành và quốc gia về CSR 20
7.3 Từng bước áp dụng chế độ báo cáo về CSR 20
7.4 Từng bước lấy CSR là một tiêu chí để lựa chọn nhà đầu tư vào Việt Nam 21
7.5 Tăng cường hợp tác với các quốc gia đã thực hiện tốt CSR 21
KẾT LUẬN 22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
TABLE OFCONTENT TABLE OF CONTENT 2
INTRODUCTION 4
RESEARCH OF CONTENT 5
1 Rationale for social responsibility 5
1.1 The process of formation and development of Unilever Vietnam 5
2 Identify the foundation of Unilever Vietnam 6
2.1 In terms of value 6
2.2 Standards 6
2.3 Regarding provisions 6
2.4Regarding sanctions 7
3 Determine the cause of the difficulties in multicultural work groups at Unilever Vietnam 7
3.1 Differences in cultural communication 7
3.2 Not familiar language 8
3.3 Different views of the rank and powers 8
Trang 44 Planning for good governance Multicultural issues of Unilever Vietnam 8
4.1 Planning for adaptation 9
4.2 Planning interfere in the organizational structure 9
4.3 The plan administrator intervention 9
4.4 Transfers 10
5 The anecdotes of leadership Unilever Vietnam company to learn about how to manage multicultural staff 10
5.1 The common mistakes when administering what multiculturalism is, sir? 10
5.2 How to identify inconsistencies in the team is due to cultural differences or personality? 10
5.3 These activities can help to mount the multi-cultural member? 10
5.4 Employees Vietnam or habitually murmuring about salary, according to Sir, how to modify it? 11
5.5 Can you give a beginner a collective leadership multicultural some advice? 11
6 Actual operation and the results of the implementation of business ethics and social responsibility of the Unilever Vietnam company 11
6.1 Community health care 13
6.2 With the field of environmental protection 15
6.3 With the field of education and vocational training 17
7 Propose solutions to improve business ethics and social responsibility of the Unilever Vietnam company 20
7.1 To further enhance common awareness of CSR for stakeholders 20
7.2 Early completion of standards, codes of conduct at national and sectoral level on CSR 21
7.3 Step by step application of CSR reporting 21
7.4 Gradually taking CSR is a selection criterion for investors in Vietnam 22
7.5 Strengthening cooperation with countries that have done good CSR 22
CONCLUSION 23
LIST OF REFERENCES 24
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Đạo đức kinh doanh được hiểu là những chuẩn mực, nguyên tắc được xã hộicũng như giới kinh doanh thừa nhận, là những quy định về hành vi, quan hệ nghềnghiệp giữa các nhà quản trị với nhau, hay giữa các nhà quản trị với xã hội trong quátrình tiến hành các hoạt động kinh doanh, giúp cho các nhà quản trị xử sự một cáchtrung thực và có trách nhiệm với cộng đồng và với nhau
Trong thời đại ngày nay, do sự phát triển ngày càng cao của nhận thức conngười về những hậu quả khó lường của các tiến bộ kỹ thuật cũng như kinh tế, nhất làsau những thảm họa về môi trường do nền công nghiệp gây ra trong vài thập niên gầnđây, các nhà doanh nghiệp ngày càng bị áp lực khi buộc phải giải trình và thuyết minh
về các phương pháp sản xuất mà mình sử dụng, cũng như về cứu cánh của các hoạtđộng mình Người tiêu dùng ngày nay đòi hỏi các nhà doanh nghiệp phải có “ý thứctrách nhiệm công dân” nhiều hơn Chính vì thế, gần đây người ta không chỉ nói tới
“đạo đức kinh doanh”, mà còn đề cập thêm khái niệm “đạo đức quản trị”(management ethics) hiểu theo nghĩa là một nền đạo đức nằm ngay trong bản thân tổchức của doanh nghiệp, trong việc quản lý các mối quan hệ nội bộ cũng như quan hệvới cộng đồng và môi trường sinh thái ở bên ngoài
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tất yếu đi liền với kinh doanh,bởi nó mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích đáng kể: khẳng định thương hiệudoanh nghiệp trong lòng khách hàng và tăng lợi nhuận doanh nghiệp Trách nhiệm xãhội của doanh nghiệp đóng vai trò người kiến tạo lòng trung thành nơi khách hàngbằng những giá trị đạo đức rất "phong cách", và nó sẽ đánh bóng tên tuổi của doanhnghiệp, khẳng định thương hiệu và gây được thiện cảm trong lòng dân chúng, họ sẽbán hàng nhiều hơn gấp nhiều lần
Trang 7
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Giới thiệu về công ty Unilever Việt Nam
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Unilever Việt Nam
Unilever là một tập đoàn toàn cầu của anh và Hà lan nổi Một số biện phápnâng cao khả năng cạnh tranh của công ty TNHH Nishoku Technology Việt Namtiếng thế giới trên lĩnh vực sản xuất và các sản phẩm tiêu dùng nhanh bao gồm các sảnphẩm chăm sóc vệ sinh cá nhân và gia đình, thức ăn, trà và đồ uống từ trà
Các nhãn hiệu tiêu biểu của Unilever được tiêu dùng và chấp nhận rộng rãi trêntoàn cầu như Lipton, Knorr, Cornetto, Omo, Lux, Vim, Lifebouy, Dove, Close-
Up, Sunsilk, Clear, Pond’s, Hazeline, Vaseline, … với doanh thu trên hàng triệu
đô cho mỗi nhãn hiệu đã và đang chứng tỏ Unilever là một trong những công ty thànhcông nhất thế giới trong lĩnh vực kinh doanh chăm sóc sức khỏe của người tiêu dùng(Personel Care) Cùng với Proctol &Gambel ( P&G), Unilever hiện đang thống trịkhắp thế giới vềcác sản phẩm này
Là một công ty đa quốc gia việc mở rộng kinh doanh và đặt nhiều chi nhánhtrên thế giới để chiếm lĩnh thị trường toàn cầu là một trong những mục tiêu củaUnilever Unilever Việt Nam được thành lập năm 1995 cũng là một bước đi trongchiến lược tổng thể của Unilever Unilever Việt Nam thực chất là tập hợp của ba công
ty riêng biệt : Liên doanh Lever Việt Nam có trụ sở tại Hà Nội, Elida P/S tại Thànhphố Hồ chí Minh và Công ty Best Food cũng đặt tại thành phố Hồ Chí MinhUnilever Việt Nam hiện nay có 5 nhà máy tại Hà Nội, Củ chi,Thủ Đức và khu côngnghiệpBiên Hoà
Công ty hiện tại có hệ thống phân phối bán hàng trên toàn quốc thông quahơn 350 nhà phân phối lớn và hơn 150.000 cửa hàng bán lẻ Hiện nay công ty đạtmức tăng trưởng khoảng 35% đến 40% và tuyển dụng hơn 2000 nhân viên Ngoài
ra công ty còn hợp tác với nhiều nhà máy xí nghiệp nội địa trong các hoạt động sảnxuất gia công, cung ứng nguyên vật liệu sản xuất và bao bì thành phẩm
Các hoạt động hợp tác kinh doanh này đã giúp Unilever Việt Nam tiết kiệm chiphí nhập khẩu hạ giá thành sản phẩm, để tăng cường sức cạnh tranhcủa các sản phẩmcủa công ty tại thị trường Việt Nam, đồng thời công ty cũng giúp đỡ các đối tácViệt Nam phát triển sản xuất, đảm bảo thu nhập cho các nhân viên và tạo thêm khoảng
Trang 85500 việc làm Ngay sau khi đi vào hoạt động năm 1995, các sản phẩm nổi tiếng củaUnilever như Omo, Sunsilk, Clear, Dove, Pond’s, Closep, Cornetto, Paddle Pop,Lipton, Knorr cùng các nhãn hàng truyền thống của Việt Nam là Viso, và P/S đãđược giới thiệu rộng rãi và với ưu thế về chất lượng hoàn hảo và giá cả hợp lý phùhợp với túi tiền của người tiêu dùng Việt Nam cho nên các nhãn hàng này đã nhanhchóng trở thành những hàng hoá được tiêu dùng nhiều nhất tại thị trường ViệtNam và cùng với nó công ty Unilever đã nhanh chóng có lãi và thu được lợi nhuậnkhông nhỏ trên thị trường Việt Nam.
Tính trung bình mỗi năm doanh số và lợi nhuận của Unilever Việt Nam tăngkhoảng 30-35%/ năm kể từ khi các dự án của công ty đi vào hoạt động ổn định và cólãi Nếu năm 95 doanh số của công ty là 20 triệu USD, năm 1996 doanh số của công
ty là 40 triệu USD thì đến năm 1998 doanh số của công ty đã là 85 triệu USD và tínhđến hết năm 2002 thì doanh số của công ty là khoảng 240 triệu USD
Với tốc độ tăng trưởng chóng mặt như vậy Unilever Việt Nam đã vàđang chứng tỏ rằng mình là công ty nước ngoài thành đạt nhất ở Việt Nam hiện nay.Unilever Việt Nam không chỉ được biết với những sản phẩm quen thuộc với ngườitiêu dùng Việt Nam như OMO, P/S, Sunsil… mà họ còn được biết như là doanhnghiệp hoạt động hướng về cộng đồng
2 Xác định cơ sở nền tảng của công ty Unilever Việt Nam
2.1 Về giá trị
Giá trị của Unilever được các nhà lãnh đạo đưa ra khi thành lập công ty là “Toadd vitality to life” – tạm dịch là “Tiếp thêm sinh khí cho cuộc sống” Công ty vẫnđang hoạt động và phát triển dựa trên sứ mệnh đó của mình Các sản phẩm kinh doanhcủa công ty đạ góp phần làm rút ngắn thời gian từ các hoạt động từ chăm sóc cá nhân,nội trợ, … cho khoảng 2 tỷ người tiêu dùng trên khắp thế giới; giúp cải thiện dinhdưỡng, cho phép mọi người thưởng thức những món ăn ngon và chăm sóc gia đìnhcũng như bản thân một cách đơn giản, dễ dàng, thuận tiện và tuyệt vời hơn
Trang 9Đối với các công trường dự án thì thứ bảy vẫn làm việc bình thường Chủ nhậtnếu làm việc tăng ca thì phải đăng ký trước, nhưng vẫn đảm bảo không tăng ca qua 4giờ trong một ngày và 200 giờ trong một năm.
2.3 Về quy định
Ban đầu (trước năm 1990), Unilever được tổ chức theo cấu trúc phân quyền,tức là mỗi công ty con ở mỗi thị trường đảm nhiệm luôn việc sản xuất, tiếp thị, kinhdoanh và phân phối sản phẩm tại thị trường đó, tự chịu trách nhiệm về thành tích hoạtđộng kinh doanh Cấu trúc này cho phép thực hiện quá trình địa phương hóa
Đến giữa thập niên 1990 Unilever bắt đầu thay đổi vì cấu trúc phân quyền ngàycàng không phù hợp với môi trường cạnh tranh đang thay đổi nhanh chóng Năm
1996, Công ty áp dụng cấu trúc khu vực địa lý, trong đó mỗi khu vực bao gồm cácnhóm sản phẩm riêng biệt Mỗi khu vực và nhóm sản phẩm phối hợp hoạt động củacác công ty con ở các quốc gia trong vùng để giảm chi phí kinh doanh và đẩy nhanhtốc độ phát triển, tung ra sản phẩm mới
Đến năm 2000, Unilever vẫn thấy mình tăng trưởng chậm hơn các đối thủ cạnhtranh, vì vậy công ty thực hiện tái cấu trúc, chuyển sang cấu trúc nhóm sản phẩm toàncầu (chỉ dựa trên 2 nhóm sản phẩm toàn cầu là hàng thực phẩm, nhóm hàng chăm sóc
cá nhân & gia đình)
2.4 Về chế tài
Công ty đã kết hợp chính sách quản lý tiêu chẩn cùng với các chính sách quản
lý khác như Luật lao động, thỏa ước lao động tập thể tại công ty và các văn bản phápluật khác do các cơ quan chức năng có thẩm quyền của Nhà nước ban hành Kết hợpchặt chẽ với các chính sách pháp luật có liên quan để vận dụng và quản lý tốt nội dungtiêu chuẩn này cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh thực tế tại công ty
Công ty có Ban kiểm soát nội bộ nên luôn luôn tăng cường công tác kiểm tragiám sát, đánh giá theo tháng, quý các tiêu chuẩn mà đang áp dụng để phát hiện và xử
lý khắc phục kịp thời những nội dung chưa phù hợp Tiến hành công tác thi đua khenthưởng trong việc thực hiện các nội dung trong tiêu chuẩn này
3 Xác định nguyên nhân gây ra những khó khăn trong nhóm làm việc đa văn hóa tại công ty Unilever Việt Nam
3.1 Khác biệt trong văn hóa giao tiếp
Trang 10Trong văn hoá phương Tây, giao tiếp được miêu tả là việc nói chuyện trực tiếp,thẳng thắn Mọi chuy ện phải được minh bạch, rõ ràng và người nói không cần để ýquá nhiều đến bối cảnh cuộc nói chuyện, người nghe cũng không cần mất công “phiêndịch” bằng cách đoán ý của đối phương Khác biệt trong giao tiếp trực t iếp và khôngtrực tiếp giữa các nền văn hoá có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong mốiquan hệ giữa các thành viên, khi dự án gặp khó khăn Những khó khăn trong giao tiếpluôn khiến chia sẻ thông tin bị hạn chế từ đó tạo ra mâu thuẫn giữa các cá nhân và cảntrở hiệu quả làm việc trong nhóm
3.2 Không thông thuộc ngôn ngữ
Mặc dù ngôn ngữ kinh doanh quốc tế chủ yếu là tiếng Anh, nhưng đôi khi vẫnxảy ra hiểu lầm do những người sử dụng nhấn mạnh sai trọng âm, không nói trôi chảyhoặc dịch sai ý Thành viên không nói thông thạo ngoại ngữ có thể là người giỏi nhấttrong lĩnh vực chuyên môn, chỉ là những khó khăn trong giao tiếp khiến mọi ngườikhông nhận ra mà thôi Nếu đồng nghiệp coi thường hoặc không kiên nhẫn, mâu thuẫnchắc chắn sẽ xảy ra Những nhân viên không thông thạo ngoại ngữ có thể cảm thấy ít
có động lực đóng góp vào thành công chung, hoặc lo lắng về những đánh giá hiệu quảcông việc của mình và viễn cảnh công việc trong tương lai
3.3 Quan điểm khác nhau về cấp bậc và quyền hạn
Khi tổ chức ra các nhóm, ta thường áp dụng cấu trúc phẳng – mọi thành viên cóquyền tự do ngôn luận và phát biểu ý kiến Nhưng trong một nhóm đa văn hoá, nhữngngười có nền văn hoá khác nhau sẽ có quan điểm khác nhau về chức vụ và quyền hạn
Vì vậy, họ thường không cảm thấy thoải mái với cấu trúc này Đối với những thànhviên đến từ nền văn hoá coi trọng cấp bậc, họ sẽ luôn ưu tiên ý kiến của Sếp, tự hạthấp quyền hạn và trách nhiệm của mình, thậm chí chấp nhận bị nhục mạ - điều vốnđược coi là không thể chấp nhận được với những người có nền văn hoá theo chủ nghĩaquân bình
4 Lập kế hoạch để quản trị tốt vấn đề Đa văn hóa của công ty Unilever Việt Nam
Hầu hết những nhà quản lý có khả năng quản trị tốt các nhóm nhân viên đa vănhoá thường áp dụng 1 trong 4 chiến lược sau: Thích nghi (Có kiến thức về những khácbiệt văn hoá của những người làm việc làm việc chung nhóm với mình); Can thiệpvào cấu trúc tổ chức (Thay đổi cấu trúc tổ chức của nhóm nhân viên); Can thiệp bằng
Trang 11quản trị (ngay từ đầu đã đặt ra các quy tắc hoặc chuyển vấn đề mâu thuẫn đến ngườiquản lý cấp cao hơn); Và thuyên chuyển (có thể chuyển một thành viên trong nhómsang làm việc khác khi thấy đó là lựa chọn cần) Không có cách gì giúp chúng ta biếtcần áp dụng cách nào để giải quyết triệt để vấn đề tồn tại ở những nhóm đa văn hoá,
và xác định đúng thách thức cần giải quyết chỉ là bước khởi đầu Quan trọng hơn,chúng ta nên xác định hoàn cảnh xảy ra mâu thuẫn, các điều kiện tình huống có t hểdẫn đến hiểu lầm
Các vấn đề mà công ty Unilever Việt Nam gặp phải cũng vậy, để quản trị tốtnhóm nhân viên đa văn hóa, công ty Unilever Việt Nam cần thực hiện theo kế hoạchnhư sau:
4.1 Lập kế hoạch thích nghi
Công ty Unilever Việt Nam cần tìm ra cách làm việc cùng nhau hoặc nhận diệncác thách thức cần đối mặt, họ thích nghi được với những hoạt động hoặc thái độ khácnhau mà không cần phải thay đổi nhân sự trong nhóm Chiến lược thích nghi chỉ hiệuquả khi các thành viên trong nhóm có kiến thức và hiểu biết về những điểm khác biệtvăn hoá, đồng thời tự cảm thấy mình có trách nhiệm tìm cách “sống chung” với nó
Đây thường là phương pháp giải quyết vấn đề hiệu quả nhất vì nó giúp nhàquản lý đỡ tốn thời gian quản trị và do các thành viên đã tự tìm cách giải quyết vấn đềcủa bản thân, nên họ sẽ học được nhiều kinh nghiệm, biết cách hiểu những khác biệtmang tính khách quan và sẵn sàng chấp nhận các giải pháp mang tính “khác biệt” củađồng nghiệp
4.2 Lập kế hoạch can thiệp vào cấu trúc tổ chức
Phương pháp này bao gồm việc Công ty Unilever Việt Nam sẽ thận trọng tái tổchức lại nhóm hoặc tái phân công lại nhiệm vụ giúp giảm bớt va chạm giữa các cánhân với nhau Phương pháp này tỏ ra hiệu quả khi nhóm được chia thành nhiều độinhỏ hoặc khi các thành viên cảm thấy tự hào, bảo thủ, khó chịu với những thủ tục rậpkhuôn Một cách can thiệp vào cấu trúc tổ chức khác là Công ty Unilever Việt Namchia nhóm thành những tổ nhỏ hơn theo từng nền văn hoá hoặc quan điểm hoặc giớitính Tuy nhiên kỹ thuật phân tổ cũng có rủi ro
Dù các kỹ thuật có thể giúp những người vốn không hợp tác được với nhautránh phải mâu thuẫn thường xuyên, nhưng dù sớm hay muộn các tổ cũng phải đượctập hợp lại khi đó những thành viên thường mâu thuẫn với nhau cũng phải cùng làm
Trang 12việc trong cùng một nhóm Do vậy, để thực hiện kỹ thuật phân tổ thành công, ngườiquản lý nhóm phải là người biết cách lắp các miêng “bánh” sao cho hợp lý để nhómđạt được mục tiêu đề ra
4.3 Kế hoạch can thiệp bằng quản trị
Can thiệp bằng quản trị bằng cách đặt ra những tiêu chuẩn, quy định ngay từđầu thành lập nhóm cũng là một cách giúp nhóm làm việc hiệu quả Ví dụ, một nhómphát triển sản phẩm Công ty Unilever Việt Nam gồm những thành viên đa quốc tịchquyết định sử dụng ngôn ngữ chung là tiếng Anh Tuy nhiên, một số thành viên trongnhóm, mặc dù nói rất đúng ngữ pháp nhưng trọng âm lại bị sai Vì vậy, ngay từ khibắt đầu thành lập nhóm, người quản lý của Công ty Unilever Việt Nam cần nói trướcvới các thành viên rằng ông đánh giá mọi người dựa trên kiến thức, kỹ năng trongcông việc thực tế Nhờ đó nhóm đã hoạt động hiệu quả, bất chấp vấn đề ngôn ngữ
4.4 Thuyên chuyển
Đối với những nhóm được thành lập chỉ phục vụ cho dự án , Công ty UnileverViệt Nam có thể áp dụng phương pháp này Trong quá trình thực hiện dự án, nếu cóthành viên nào cảm thấy không hài lòng, anh ta có quyền rút lui Nhưng đối với cácnhóm thực hiện công việc thường trực như nhóm sản xuất sản phẩm hay dịch vụkhách hàng thì việc rút thành viên ra khỏi nhóm là biện pháp cuối cùng khi nhữngphương pháp giải quyết vấn đề khác thất bại
5 Những giai thoại của lãnh đạo Công ty Unilever Việt Nam cần học hỏi về cách quản trị nhân viên đa văn hóa
5.1 Những sai lầm thường thấy khi quản trị đa văn hóa là gì thưa ông?
Sai lầm lớn nhất là suy diễn về một đất nước, con người và văn hóa dựa trênthiên kiến cá nhân mà không ý thức được rằng mình đang suy diễn Tệ hơn, nghĩ rằngvăn hóa quốc gia hoặc của doanh nghiệp mình là thượng đẳng và duy nhất để địnhhướng các hành động và giá trị ở nước sở tại Sự tự kiêu và thiếu hiểu biết văn hóa địaphương có thể tạo ra những sai lầm nghiêm trọng khi bạn đến một quốc gia mới haygiới thiệu những thương hiệu mới
5.2 Làm sao để xác định các mâu thuẫn trong đội ngũ là do khác biệt văn hóa hay tính cách?
Thường thì mâu thuẫn nội bộ là do kết quả công việc kém Còn có những lý dokhác như thiếu truyền thông, thiếu tôn trọng, thiếu trách nhiệm, thiếu cam kết hay lãnh
Trang 13đạo yếu… Khi đó sự thiếu nhạy cảm về văn hóa và chỉ số EQ (trí tuệ cảm xúc) thấp sẽcộng hưởng và càng làm cho tình huống xấu đi
5.3 Những hoạt động nào có thể giúp gắn kết các thành viên đa văn hóa?
Nên tổ chức và tham gia vào các sự kiện văn hóa, xã hội phù hợp với văn hóađịa phương Ngoài ra, cần tổ chức các hoạt động xây dựng đội nhóm, tập trung chủyếu vào ban lãnh đạo hay thêm các cấp quản lý thấp hơn tùy quy mô công ty Trongnhững bối cảnh thân mật, khác với môi trường làm việc hàng ngày, các thành viên sẽkết dễ dàng kết nối, tìm hiểu và chấp nhận sự khác biệt văn hóa để từ đó hiểu và tintưởng nhau hơn; gia tăng chất lượng truyền thông và cam kết làm việc về sau
5.4 Nhân viên Việt Nam hay có thói quen xì xầm về mức lương, theo ông, làm sao để sửa đổi việc này?
Cá nhân tôi không ủng hộ việc tiết lộ mức lương thưởng cụ thể của bất cứ ainhưng thực ra việc xầm xì về lương có ở mọi nơi Để hạn chế, theo tôi, các công tynên công khai chính sách lương thưởng Ở những doanh nghiệp có cơ cấu chặt chẽ,thang lương thưởng không nên là cái gì đó bí mật và cũng không nên là yếu tố gâyngạc nhiên cho mọi người
5.5 Xin ông cho một người mới bắt đầu lãnh đạo một tập thể đa văn hóa một lời khuyên?
Tìm hiểu văn hóa của các cá nhân qua lịch sử đất nước đó cũng như những quyước chung, các giá trị và phong tục tập quán của nền văn hóa đó; quan trọng hơn làthấu hiểu các thông điệp ẩn sau những cử chỉ, hành vi, ứng xử của con người nơi đó!Rồi bạn sẽ thấy mình dần dần “thấm”, hiểu và chấp nhận những khác biệt văn hóacũng như biết mình cần làm gì để cân bằng những khác biệt đó với các giá trị văn hóadoanh nghiệp – vốn không thể thỏa hiệp
6 Hoạt động thực tế và kết quả của việc thực hiện đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của công ty Unilever Việt Nam
Đạo đức kinh doanh của nhà quản trị xuất phát từ phẩm chất con người của anh
ta Vì đạo đức kinh doanh không nằm trong pháp luật nên nó được thể hiện chủ yếuthông qua nhân cách, tính tự giác của mỗi nhà quản trị; nó là cơ sở, là tiền đề để nhàquản trị thực hiện trách nhiệm xã hội của mình Hay nói cách khác đạo đức kinhdoanh được thể hiện gián tiếp thông qua trách nhiệm xã hội Unilever Việt Nam đãxây dựng cho mình một đội ngũ nhân viên không những mạnh về chuyên môn, giàu
Trang 14kinh nghiệm mà còn có ý thức đạo đức kinh doanh rất tốt Trong công ty UnileverViệt Nam, từ nhà quản trị cấp cao nhất cho đến những người nhân viên sản xuất, tất cả
họ luôn ý thức rằng làm sao để sản xuất ra những sản phẩm không những đem lại lợinhuận cho công ty mà điều quan trọng hơn là những sản phẩm đó có lợi cho sức khỏe,cho cuộc sống hàng ngày của người tiêu dùng, được người tiêu dùng ưa thích và lựachọn Trong thời kỳ cạnh tranh gay gắt như hiện nay trong khi rất nhiều công ty chỉ lochú trọng sản xuất, kinh doanh và tìm cách quảng bá sản phẩm của mình thông quaquảng cáo để người tiêu dùng được biết đến thì Unilever Việt Nam ý thức được tráchnhiệm đối với cộng đồng nơi mà họ đang hoạt động thông qua nhiều chương trình hỗtrợ cộng đồng Họ ý thức được rằng muốn tồn tại phát triển bền vững phải có sự ủng
hộ, thương yêu từ công chúng và những hành động hướng về cộng đồng là công cụhữu hiệu để đạt được điều đó
Trách nhiệm với cộng đồng được công ty Unilever Việt Nam chia sẽ và thựchiện duy trì liên tục từ 1995 tới nay, quy mô càng ngày mở rộng thông qua nhiềuchương trình mới hơn hướng về cộng đồng và việc ra đời quỹ Unilever Việt Namđược hứa hẹn như là một chương trình kết nối các hoạt động xã hội với cộng đồng vàđiều đó cho thấy để doanh nghiệp thành công và tạo được yêu mến từ người tiêu dùngthì việc tạo ra những sản phẩm dịch vụ tốt thôi chưa đủ mà cốt lỏi là phải coi cộngđồng là nền tảng của doanh nghiệp và muốn tồn tại và phát triển thì những công việc,những hành động thiết thực hướng về cộng đồng và đây là một bí quyết giúp doanhnghiệp thành công trong công việc kinh doanh của mình
Các hoạt động của công ty Unilever thể hiện đạo đức kinh doanh và tráchnhiệm xã hội và kết quả đạt được từ các hoạt động đó
Có thể nói, công ty Unilever Việt Nam ngay từ khi có mặt đã có một chiến lượctiếp thị chu đáo và đầy tính sáng tạo nhằm đánh bóng tên tuổi và thu hút sức tiêu thụcủa khách hàng đối với sản phẩm của công ty
Từ cuối năm 2010, lần đầu tiên Chủ tịch Tập đoàn Unilever toàn cầu, ông PaulPolman, đã công bố Kế hoạch Phát triển Bền vững từ năm 2012 đến năm 2020 tại ViệtNam Kế hoạch Phát triển Bền vững của Tập đoàn Unilever sẽ hướng đến ba mục tiêuchính trên toàn cầu Theo đó, tính đến năm 2020 sẽ phát triển Tập đoàn lớn mạnh gấpđôi, đồng thời giảm ½ tác động đối với môi trường; Sử dụng 100% nguyên liệu nôngsản thô từ nguồn nguyên liệu bền vững; Giúp hơn 1 tỷ người trên thế giới tăng cường
Trang 15vệ sinh, sức khỏe và cải thiện cuộc sống Đây cũng chính là kim chỉ nam để Unileverhoàn thành những cam kết trong Chiến lược mới cũng như để các nhãn hàng củaUnilever phát triển bền vững.
Ngay từ những ngày đầu hoạt động tại Việt Nam, Unilever đã cam kết giúpngười dân Việt Nam cải thiện cuộc sống thông qua kết quả tăng trưởng kinh doanhvững chắc, đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, cũng như việc liêntục đầu tư vào những chương trình phát triển xã hội, cộng đồng, và những nỗ lực trongcông tác bảo vệ môi trường Unilever Việt Nam đã thực hiện những cam kết đó thôngqua chương trình hợp tác với chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các đơn vị đối tác
và khách hàng của mình, cũng như thông qua những đóng góp to lớn của các nhânviên Unilever tại Việt Nam Tính đến nay, với sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng,Unilever VN đã đóng góp hơn 200 tỷ đồng cho hàng loạt các dự án hỗ trợ cộng đồngtrải dài trên phạm vi toàn quốc, trong đó có nhiều dự án tiêu biểu như:
6.1 Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
Unilever Việt Nam đã tài trợ 1,5 tỷ đồng cho chương trình "Vì ánh mắt trẻ thơ"giai đoạn 2002-2005, nhằm giúp trẻ em các gia đình nghèo được chữa bệnh, mổ mắtmiễn phí; Chương trình dài hạn "P/S bảo vệ nụ cười Việt Nam" giúp cho 1,5 triệungười khám chữa răng miễn phí
Chương trình “P/S bảo vệ nụ cười Việt Nam” (ProtectionVietnamese Smile),được chính thức bắt đầu từ năm 1998, sau một năm khi P/S chính thức gia nhậpUnilever Hiểu được tầm quan trọng của việc giáo dục và chăm sóc sức khỏe răngmiệng của trẻ em và cộng đồng Chương trình “P/S Bảo vệ nụ cười Việt Nam “donhãn hiệu P/S, công ty Unilever khởi xướng và thực hiện, đã và đang được đánh giá làchương trình hoạt động hiệu quả và mang ý nghĩa xã hội cao Qua hơn 10 năm hoạtđộng, chương trình đã đóng góp hơn 100 tỷ đồng cho cộng đồng thông qua các hoạtđộng tuyên truyền, giáo dục ý thức chăm sóc răng miệng, khám chữa răng miễn phícho trẻ em Chương trình cũng đã cung cấp hơn một triệu giáo cụ giảng dạy Nha HọcĐường cho hơn 2.5 triệu trẻ em tiểu học và hơn 270.000 học sinh mẫu giáo cả nước.Đoàn xe Nha lưu động gồm 14 xe của Protection Vietnamese smile đã tổ chức khámchữa răng cho hơn 5 triệu trẻ em và phụ nữ tại 64 tỉnh thành trên cả nước
Chương trình P/S Bảo vệ nụ cười Việt Nam đã triển khai chương trình: "Nămtriệu nụ cười Việt Nam" trong giai đoạn 2012-2016, bước đầu đã khám và tư vấn sức
Trang 16khỏe răng miệng miễn phí cho hơn 1,500,000 người dân và các em học sinh ở các tỉnhthành lớn trên cả nước trong năm 2012 Đồng hành và hưởng ứng "Ngày Sức KhỏeRăng Miệng Thế Giới" chính là một trong những hoạt động thiết thực đóng góp chocộng đồng mà chương trình "Năm Triệu Nụ Cười Việt Nam" hướng tới Lần đầu tiên
"Ngày sức khỏe răng miệng thế giới" được tổ chức vào ngày 20/3/2013 với sự phốihợp của Hội Răng Hàm MặtViệt Nam và Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam
P/S còn là nhà tài trợ kim cương của chương trình “Phẫu thuật nụ cười” bắtđầu từ năm 2003 Đây là một tổ chức từ thiện đem đến nhiều cuộc phẫu thuật miễn phícho những đứa trẻ sứt môi với sứ mệnh “Thay đổi cuộc sống từ một nụ cười hômnay”
Ngoài ra P/S còn tài trợ cho một số chương trình truyền hình, gameshow, canhạc từ thiện Unilever Việt Nam tài trợ 26 tỷ đồng xây nhà vệ sinh tại các trường tiểuhọc Chương trình này được thực hiện với sự phối hợp của Bộ Giáo dục & Đào tạo,nhằm giáo dục hành vi , nhận thức và cải thiện điều kiện vệ sinh cho các trường tiểuhọc trên toàn quốc trong thời gian 5 năm với tổng trị giá 26 tỷ đồng
Ngoài ra, nội dung cam kết còn bao gồm sự hợp tác giữa công ty Unilever ViệtNam-nhãn hàng Vim và Tổ chức Nhà Vệ Sinh Thế Giới ( Organization) về triển khaithí điểm mô hình Học viện Vệ sinh Vim tại Việt Nam Đây là một phần trọng điểmtrong khuôn khổ của Kế hoạch phát triển bền vững mà công ty Unilever Việt Nam vừacông bố với mục tiêu “ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân ViệtNam” thông qua việc giáo dục hành vi, nhận thức và cải thiện điều kiện vệ sinh và sứckhỏe Kế hoạch này cũng nhằm góp phần hoàn thành mục tiêu của Unilever trên toàncầu là giúp 1 tỷ người trên thế giới cải thiện vệ sinh sức khỏe đến năm 2020
Cũng trong dịp này, công ty Unilever Việt Nam chính thức công bố khởi độngxây dựng cụm nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y Tế cho trường tiểu học PhướcThạnh, huyện Củ Chi Quỹ Unilever Việt Nam hỗ trợ hơn 115 tỷ đồng tăng cường vệsinh, sức khoẻ cộng đồng Từ dự án do Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) thựchiện, trong năm qua, hơn 37 nghìn người dân và 30 nghìn học sinh thuộc 20 xã thuộc
10 tỉnh trong cả nước đã tích cực tham gia các chương trình truyền thông nâng cao sứckhỏe cộng đồng, cải thiện hành vi vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường
Trang 17Đây là kết quả từ dự án “Nâng cao sức khỏe cộng đồng thông qua việc cải thiệnhành vi vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường” của Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ
Y tế) và Quỹ Unilever Việt Nam- được triển khai thực hiện trong năm 2012 – 2016
Công bố Quỹ 1 triệu bánh xà phòng Lifebuoy Cục Y Tế Dự Phòng & MôiTrường (YTDP&MT) phối hợp với Quỹ Unilever và nhãn hàng Lifebuoy (thuộc Công
ty Liên doanh Unilever Việt Nam) tổ chức hội thảo chia sẻ kinh nghiệm “Vệ sinh cánhân bảo vệ sức khỏe cộng đồng – Vì một Việt Nam khỏe mạnh” Lifebuoy đã phốihợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam triển khai chương trình “Hãy rửa với xàphòng cho đôi tay sạch khuẩn” kéo dài từ năm 2009 đến năm 2012, với mục tiêu biếnrửa tay với xà phòng thành một thói quen của cả cộng đồng Ngoài ra, Lifebuoy cũngphối hợp với Thành đoàn TP.HCM trong chiến dịch Mùa hè xanh 2009, trong đó,ngoài các hoạt động giúp nâng cao đời sống người dân, nội dung “Vì vệ sinh và sứckhỏe cộng đồng” cũng được chú trọng thực hiện nhằm mang đến cho họ những kiếnthức thiết thực về việc giữ gìn vệ sinh cá nhân, rửa tay với xà phòng để thay đổi hành
vi của họ, giúp phòng chống các dịch bệnh lây lan nguy hiểm
Quỹ Unilever Việt Nam hỗ trợ triển khai chương trình Giáo dục vệ sinh cánhân cho trẻ mầm non tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc (HGĐT)- Quỹ Unilever Việt Namcho biết đã bắt đầu giải ngân số tiền 2 tỷ đồng để thực hiện chương trình Giáo dục vệsinh cá nhân cho trẻ em tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc trong năm 2008 là Hà Giang,Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lào Cai và Cao Bằng.Đây là năm triển khai thứ hai trongkhuôn khổ chương trình hợp tác liên ngành 5 năm giữa Vụ Giáo dục Mầm non (BộGiáo dục - Đào tạo) với Quỹ Unilever Việt Nam để triển khai chương tình “Tăngcường công tác truyền thông, giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mầm non” với tổng sốtiền Quỹ Unilever cam kết tài trợ là 10 tỷ đồng.Mục tiêu của dự án là nhằm góp phầnnâng cao nhận thức cũng như cải thiện điều kiện vệ sinh cho trẻ em dưới 6 tuổi, đặcbiệt là các cháu ở các vùng sâu, vùng xa và khó khăn trên cả nước
6.2 Với lĩnh vực bảo vệ môi trường
Unilever Việt Nam đã xác định rằng bảo vệ môi trường là ưu tiên hàng đầu củaCông ty Trong thời gian vừa qua, Unilever Việt Nam đã thực hiện thành công với cáchoạt động tiêu biểu như:
Thành công điển hình về giảm thiểu tác động tới môi trường tại Việt Nam làComfort Một Lần Xả giúp giảm đáng kể lượng nước tiêu thụ trong quá trình xả sạch
Trang 18quần áo - chỉ với một xô nước thay vì ba như trước Từ năm 2007 đến 2012,Unilever giúp các hộ gia đình Việt Nam tiết kiệm được gần nửa tỉ m3 nước sạch vớicải tiến “Comfort một lần xả” Tương tự, tất cả nhà máy tại Việt nam của Unileverđều sử dụng nhiên liệu thân thiện với môi trường thay cho dầu Diesel, giúp giảm thiểuhàng nghìn m3 CO2 thải ra môi trường.
OMO phát động chương trình - Vui làm Hiệp sĩ xanh, bé ngại gì vết bẩn.Chương trình “Vui làm Hiệp sĩ xanh, bé ngại gì vết bẩn” là một phần trong thỏa thuậnhợp tác chiến lược dài hạn “Phát triển trường học Xanh - Sạch - Khỏe” do Công tyTNHH Quốc tế Unilever Việt Nam và Bộ Giáo dục và Đào tạo cam kết thực hiện từnăm 2012 - 2016 Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 11 năm 2012 - nhãn hàngOMO (Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam) phối hợp cùng Bộ Giáo dục vàĐào tạo chính thức phát động phong trào bảo vệ môi trường “Vui làm Hiệp sĩ xanh, béngại gì vết bẩn” tại trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, Q.4 Chương trình sẽ diễn ra từngày 15/11/2012 đến ngày 15/12/2012 tại 70 trường tiểu học trên địa bàn TP.Hồ ChíMinh với mục tiêu cung cấp những kiến thức bổ ích về môi trường, giúp các em họcsinh nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm đối với môi trường sống xung quanhmình
Unilever cho rằng bảo vệ môi trường để kinh doanh bền vững Trong suốt 15năm qua, Unilever luôn nỗ lực phấn đấu để không chỉ thành công trong kinh doanh
mà còn là một doanh nghiệp có trách nhiệm đối với xã hội, cộng đồng và môi trường.Công ty đã triển khai có hiệu quả việc tiết kiệm năng lượng, nước, giấy và đặc biệt làcác sáng kiến bảo vệ môi trường Đó là chương trình quản lý chất thải trong sản xuất,cải tiến sản phẩm để giảm thiểu tác động đến môi trường, giảm tiêu hao nguyên liệuđầu vào, giảm thiểu ô nhiễm
Công ty triển khai chiến dịch phân loại và tăng rác tái chế, giảm rác phải hủy,
áp dụng các kỹ năng phân tích để giảm thải rác từ khâu nguyên liệu sản xuất Rácđược phân loại theo tiêu chí: rác nguy hại và không nguy hại Rác không nguy hại sẽđược tiếp tục sàng lọc để tìm ra rác có thể tái chế Rác nguy hại và không thể tái chếđược chuyển cho nhà thầu chuyên nghiệp để xử lý
Công ty cũng đã xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung ngay tại nhà máy.Nước thải sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn B được chuyển cho trạm xử lý nước thải củakhu công nghiệp để tiếp tục xử lý đạt tiêu chuẩn A Bên cạnh đó, những sáng kiến
Trang 19nhằm bảo vệ môi trường gắn liền với tiết kiệm chi phí và phát triển bền vững cũngđược công ty đặc biệt chú trọng Ví dụ, sáng kiến sử dụng công nghệ mới để sản xuấtnhằm giảm khối lượng dầu đốt, điện năng như công nghệ sản xuất OMO Matic đậmđặc, nước giặt OMO, dự án chuyển hóa năng lượng mặt trời thành nhiệt để đun nướcnóng cho phân xưởng Dầu Gội với công suất 3.650 m3/năm, phân xưởng Kem ĐánhRăng với công suất 1.000 m3/năm và góp phần giảm lượng khí CO2 đến 420 tấn/năm.
6.3 Với lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề
Unilever VN đã tài trợ trên 7, 5 tỷ đồng cho dự án "Nâng cao năng lực giáoviên dạy nghề toàn quốc giai đoạn 2001-2005"
Ngoài ra, Unilever VN còn hỗ trợ gần 2 tỷ đồng cho dự án Xây dựng Trungtâm dạy nghề cho người tàn tật và trẻ mồ côi tại thành phố Hồ Chí Minh; OMO áotrắng ngời sáng tương lai quyên góp áo trắng và tặng học bổng khuyến học cho cáchọc sinh, sinh viên nghèo; dành hơn 5 tỷ đồng Xây mới trường khiếm thị NguyễnĐình Chiểu (Đà Nẵng)
Unilever đã sửa chữa nâng cấp toàn bộ cơ sở hạ tầng của Làng Hi vọng - máinhà yên ấm của 200 trẻ em mồ côi, khuyết tật Năm 2002 đánh dấu sự ra đời của mộtchương trình PR thành công của Omo, là chương trình “Omo áo trắng ngời sángtương lai” Chương trình này vẫn được duy trì đến tận bây giờ vì nó vẫn tiếp tục đemlại hiệu quả marketing lớn Tất cả mọi hoạt động của Omo đều hướng đến mục tiêuđịnh vị là khai thác sự trải nghiệm và phát triển của trẻ em Đây là lúc họ bước vàothời kỳ củng cố thương hiệu và xây dựng tình cảm của khách hàng đối với thươnghiệu Hàng loạt chương trình ra đời đều hướng đến mục tiêu nhất quán này: tổ chứccác chương trình hướng về cộng đồng như “ngày hội những chiếc túi tài năng”,
“OMO áo trắng ngời sáng tương lai, ngày hội “Triệu tấm lòng vàng”, “Tết làm điềuphúc sung túc cả năm”, khuyến mãi “Vạn tim vàng cho triệu tấm lòng vàng”, chươngtrình sơn trường học tại 6 tỉnh vùng sâu vùng xa, hỗ trợ 3000 sinh viên về quê ăn tết.Các chương trình đã thực sự mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội và Omo nhanhchóng nhận được tình cảm tốt đẹp trong mắt với khách hàng
Có thể thấy PR thường mở đầu bằng việc tạo “xu hướng dư luận” Điển hình làchương trình “Học hỏi điều hay, ngại gì vết bẩn” Các chương trình này có được thànhcông tốt đẹp như vậy không thể không kể đến vai trò quan trọng của hoạt động PRMỗi chương trình ra đời là một lần thu hút sự quan tâm của mọi người Với ý tưởng là
Trang 20mọi người ngày nay do sợ bẩn nên sẽ không để cho con cái họ cho những trò năngđộng để học hỏi và phát triển, Omo gửi đi thông điệp: “Học hỏi điều hay, ngại gì vếtbẩn”, khơi dậy ý thức trong các ông bố bà mẹ về việc để cho con cái mình tự donghịch dơ để học hỏi Họ tìm cách làm cho người dân quan tâm đến vấn đề này vàcùng đem ra bàn luận trên báo (thực chất vấn đề được đưa ra ở mục ý kiến đọc giả lại
là những bài viết của dân PR dưới những tên người gởi khác nhau) Khi dư luận nónglên với đề tài : “Sẽ cho con cái làm gì trong mùa hè này- vui chơi hay học” thì Omotung ra event “Ngày hội những chiếc túi tài năng” tại công viên Lê Văn Tám Thế làchương trình đã thành công tốt đẹp do họ đã biết cách tạo xu hướng bình luận củangười dân để truyền đi thông điệp “bạn không còn sợ con cái nghịch dơ vì đã có Omotẩy bay mọi vết bẩn rồi” Tiếp đó là những chương trình phỏng vấn trực tuyến với cácchuyên gia, các bài viết về để tài nuôi dưỡng lòng nhân ái, cảm thông chia sẻ ở trẻnhỏ Mục tiêu của việc tạo dư luận này là để hỗ trợ cho chương trình “OMO áo trắng-ngời sáng tương lai” đang được phát động rầm rộ cùng thời điểm Sau mỗi sự kiệnđược Omo tổ chức đều được giới truyền thông nô nức rủ nhau đưa tin chứng tỏ quan
hệ truyền thông của Unilever vô cùng hiệu quả Omo nhanh chóng được xếp hạng làthương hiệu nổi tiếng nhất trong ngành hóa mỹ phẩm
Trong những năm qua, Unilever Việt Nam (UVN) liên tục tăng trưởng và trởthành một doanh nghiệp nước ngoài thành công và đứng đầu tại Việt Nam Từ năm
1995 đến năm 2004, UVN đã phát triển rất mạnh: tốc độ tăng trưởng doanh thu trungbình hàng năm trên 60%; tổng doanh thu đạt 22.000 tỷ đồng Tổng sản lượng bánhàng trong 10 năm đạt 1,3 triệu tấn trong đó xuất khẩu đạt hơn 92.000 tấn Các sảnphẩm của Công ty luôn được đa dạng hóa và dẫn đầu thị trường, liên tục được ngườitiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao từ năm 1997 đến nay Đặc biệtUVN nằm trong nhóm 5 công ty đa quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất hàngtiêu dùng có mức thu nhập bình quân trên đầu người cao nhất trên thị trường Bêncạnh đó, Công ty còn hoàn thành tốt việc nộp ngân sách nhà nước, từ năm 1995 đến
2004, Công ty đã nộp cho Nhà nước Việt Nam hơn 2.000 tỷ đồng, trong đó nộp ngânsách năm 2004 gấp 40 lần so với năm 1995
UVN đã phát triển rất tốt các mối liên kết hợp tác chặt chẽ với các doanhnghiệp địa phương (như hỗ trợ họ cả về tài chính và công nghệ) Đây là những đónggóp không nhỏ vào sự phát triển lớn mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt
Trang 21Nam Không chỉ dừng ở các chỉ tiêu tăng trưởng và phát triển kinh doanh, Unilever đãthể hiện trách nhiệm của một công ty đa quốc gia khi xác định xu hướng đầu tư lâu dài
ở Việt Nam Công ty đã cam kết và coi việc bảo vệ môi trường và an toàn lao động làmột trong những ưu tiên hàng đầu Cam kết này đã thể hiện rất rõ trong toàn bộ quátrình sản xuất:
- Tất cả các nhà máy của Unilever đều tiến hành hoạt động sản xuất theonguyền tắc không có nước thải công nghiệp ra môi trường
- Đầu tư và sẵn sàng tiếp tục đầu tư cho thiết bị và phương tiện, thiết lập những
hệ thống quản lý cần thiết để duy trì các tiêu chuẩn an toàn về về sinh môi trường theoquy định của Nhà nước Việt Nam và của UVN đối với những hoạt động sản xuất củaCông ty
- Liên tục phát triển và liên tục cải tiến các hệ thống quản lý tiêu chuẩn quốc tế
đã được áp dụng trong tất cả các cơ sở sản xuất của Unilever như: hệ thống quản lýchất lượng quốc tế ISO 9001 - 2000, hệ thống quản lý môi trường ISO 14001, hệthống quản lý sức khỏe và an toàn nghề nghiệp OHSAS 18001 và đặc biệt là chươngtrình TPM - bảo trì năng suất toàn diện
Công ty đã chú trọng đầu tư vào tất cả các nhà máy của mình để đảm bảo đápứng các tiêu chuẩn về an toàn và bảo vệ môi trường Công ty đã đạt được các chứngchỉ về hệ thống quản lý môi trường ISO 14001, hệ thống quản lý sức khỏe và an toànnghề nghiệp OHSAS 18001 cho mọi nhà máy của mình Đặc biệt chương trình "Bảotrì năng suất toàn diện" đã được triển khai ở tất cả các nhà máy để giảm tối đa việc sửdụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên như nước, năng lượng và nguyên liệu trong khivẫn đảm bảo tăng năng suất lao động Công ty cũng đã nhận được chứng chỉ ISO9001-2000 cho hệ thống quản lý chất lượng quốc tế và các dây chuyền sản xuất
Phương châm làm việc của Công ty là liên tục phát triển và liên tục cải tiến các
hệ thống quản lý tiêu chuẩn quốc tế đã được áp dụng trong tất cả các cơ sở sản xuất.Với phương châm làm việc này đã đem lại những lợi ích cho phát triển kinh doanhcủa Công ty Các nhà máy của UVN tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã đượcnhận chứng chỉ các hệ thống quản lý ISO và đặc biệt là hai cơ sở sản xuất của LeverViệt Nam tại Hà Nội và Thủ Đức đã trở thành những nhà máy đầu tiên của Việt Namlần lượt được Viện Bảo trì Nhà máy Nhật Bản JLPM cấp giải thưởng TPM Excellenceaward vào tháng 12 năm 2003 và tháng 11 năm 2004
Trang 22Chính nhờ những nỗ lực như vậy, Unilever Việt Nam đã nhiều năm liên tụcđược trao tặng các giải thưởng về môi trường như: Giải thưởng Doanh nghiệp Xanh
2006 và Giải Đặc biệt Doanh Nghiệp Xanh dành cho đơn vị có “Hệ Thống Xử lýNước thải tiên tiến nhất“do Báo Sài Gòn Giải Phóng và Bộ Tài nguyên môi trườngchứng nhận; Giải Nhất cuộc thi Môi Trường và Phát Triển năm 2007 do Đài TiếngNói Việt Nam phối hợp với Bộ Tài nguyên môi trường tổ chức,; Giải thưởng “CúpVàng vì sự nghiệp bảo vệ môi trường” năm 2009 do Bộ Trưởng Bộ Tài nguyên vàMôi trường trao tặng; Giải nhất cuộc thi Tòa nhà hiệu quả năng lượng năm 2009 lầnIII của Bộ Công Thương Và tháng hai vừa rồi, tòa nhà Văn phòng của Unilever ViệtNam tại Phú Mỹ Hưng, thành phố Hồ Chí Minh, đã được tổ chức WWF Việt Namchứng nhận “Văn phòng Xanh”- về việc thực hiện thành công Hệ thống quản lý môitrường tại nơi làm việc
Năm 2000, UVN đã vinh dự được Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà Xã hộiChủ nghĩa Việt Nam trao tặng Bằng khen về những thành tích xuất sắc trong sản xuất,kinh doanh, hoạt động xã hội và hỗ trợ cộng đồng và năm 2001 được Chủ tịch nướctặng Huân chương Lao động hạng Ba về những đóng góp nổi bật cho sự phát triểnkinh tế, xã hội của đất nước, đồng thời công nhận là một điển hình về đầu tư nướcngoài tại Việt Nam UVN còn được nhận rất nhiều bằng khen của các cơ quan và tổchức xã hội vì sự đóng góp tích cực và hiệu quả trong việc nâng cao những tiêu chuẩn
về chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo cho người dân địaphương Năm 2005 UVN đã vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì doChủ tịch nước Việt Nam trao tặng Tại lễ kỷ niệm 15 năm thành lập, Unilever đã vinh
dự được nhận Huân chương Lao Động hạng Nhất của Chủ tịch nước về những đónggóp nổi bật cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và các hoạt động xãhội, nhân đạo, giáo dục và sức khỏe cộng đồng
Năm 2012, công ty Unilever Việt Nam là một trong bốn doanh nghiệp đạt giảinhì trong lễ trao giải thưởng Trách nhiệm xã hội Doanh nghiệp năm 2012
7 Đề xuất giải pháp để nâng cao đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của công ty Unilever Việt Nam
7.1 Tiếp tục phổ biến tăng cường nhận thức về CSR cho các bên có liên quan
CSR không phải chủ đề mới ở Việt Nam Nhiều doanh nghiệp, nhất là cácdoanh nghiệp xuất khẩu sang các thị trường EU, Nhật Bản, Bắc Mỹ thường xuyên
Trang 23phải đối mặt với những yêu cầu báo cáo liên quan đến CSR Nhiều hội thảo, hội nghị,diễn đàn, khóa học về CSR đã được tổ chức Không ít nghiên cứu do các cá nhân, cơquan và tổ chức trong nước, quốc tế đã được thực hiện và công bố chính thức Từ năm
2008, UNDP đã có dự án khuyến khích thực hiện CSR theo thông lệ kinh doanh tạicác doanh nghiệp ở Việt Nam Một số tổ chức và định chế quốc tế khác cũng cónhững dự án tương tự Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI có giảithưởng CSR (2012)
Tuy vậy, dường như CSR vẫn chưa thực sự được quan tâm thỏa đáng ở ViệtNam, cả về quan điểm, nội dung và cách thức thực hiện Phần lớn doanh nghiệp chưa
có nhận thức đầy đủ về CSR cũng như vai trò của nó đối với việc nâng cao năng lựccạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp mình, thậm chí một số còn coiCSR là gánh nặng chi phí Đặc biệt, người dân, các cộng đồng dân cư, người lao động,người tiêu dùng càng khó khăn hơn trong tiếp cận về vấn đề này, trong khi đây lànhững bên lợi ích liên quan có khả năng thúc đẩy CSR
Vì vậy, trước hết phải tiếp tục tuyên truyền, phổ biến và nâng cao nhận thức vềCSR một cách mạnh mẽ hơn, phạm vi và đối tượng rộng hơn, không nên bó hẹp tronggiới doanh nhân, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức mà phải đi tới các cộng đồng dân
cư và địa phương, kể cả đưa vào các chương trình giáo dục phổ thông Các doanhnghiệp và các bên liên quan cần nhận thức một cách tích cực về CSR, nhất là trong bốicảnh hội nhập ngày càng rộng và sâu hơn
7.2 Sớm hình thành các tiêu chuẩn, quy tắc ứng xử ở tầm ngành và quốc gia về CSR
Kinh nghiệm của các quốc gia phát triển cho thấy, CSR phụ thuộc nhiều vàobản thân ý chí và lợi ích của doanh nghiệp Tuy vậy, rõ ràng CSR đã trở nên phổ biếnhơn, thực chất hơn và khuyến doanh nghiệp thực hiện mạnh mẽ hơn sau khi có nhữngtiêu chuẩn và chuẩn mực chung về CSR chính thức được áp dụng
Việt Nam chưa xây dựng được bộ quy tắc ứng xử CSR nào Một số ít doanhnghiệp, nếu muốn thực hiện, cũng rất khó khăn trong việc triển khai áp dụng một cách
có hệ thống Vì vậy cần xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá CSR của Việt Nam dựa trênkinh nghiệm quốc tế, có tính toán điều kiện thực tế trong nước Cùng với đó là hệthống đánh giá CSR độc lập, có trách nhiệm
7.3 Từng bước áp dụng chế độ báo cáo về CSR
Trang 24Báo cáo thường niên hoặc định kỳ về CSR không chỉ là công cụ quảng bá,
"đánh dấu chất lượng" cho doanh nghiệp mà còn là phương tiện thông tin để chủ sởhữu, nhà nước, cộng đồng và các bên có liên quan xem xét, tương tác thông tin vớihoạt động của doanh nghiệp
Việc áp dụng chế độ báo cáo CSR ở Việt Nam là một quá trình hoàn thiện thểchế từng bước cả từ phía Nhà nước lẫn doanh nghiệp và các tổ chức khác và có lẽchưa có điều kiện để áp dụng trong thời gian ngắn hạn đối với phần lớn doanh nghiệpViệt Nam Tuy vậy, từ kinh nghiệm của các nước phát triển nên áp dụng chế độ báocáo này đối với các doanh nghiệp quy mô lớn, các doanh nghiệp có nhiều ảnh hưởnglớn đến xã hội, môi trường nước ta hiện nay, trước hết là các tập đoàn, tổng công tyđặc biệt quan trọng và công ty niêm yết
7.4 Từng bước lấy CSR là một tiêu chí để lựa chọn nhà đầu tư vào Việt Nam
Qua kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy các doanh nghiệp thực hiện tốt CSRcũng là các doanh nghiệp có năng lực về vốn, công nghệ, có đạo đức kinh doanh và ýthức đóng góp cho cộng đồng địa phương nơi doanh nghiệp kinh doanh Việc thựchiện chiến lược kinh doanh hài hòa, dài hạn, bền vững của các doanh nghiệp có vốnnước ngoài thực hiện tốt CSR có thể đem lại cơ hội học hỏi cho doanh nghiệp trongnước, buộc các doanh nghiệp trong nước cũng phải dần nâng cao nhận thức và tráchnhiệm xã hội để có thể tham gia vào mạng sản xuất của các công ty nước ngoài
7.5 Tăng cường hợp tác với các quốc gia đã thực hiện tốt CSR
Các Bộ ngành cần tăng cường hợp tác với Nhật Bản cũng như các quốc giakhác đã thực hiện tốt CSR để nghiên cứu xây dựng khung CSR chung cho Việt Namđồng thời giúp tăng cường nhận thức cho doanh nghiệp về CSR
Một đặc điểm quan trọng về CSR ở Nhật Bản là có tính tự nguyện cao và ítchịu sự dẫn dắt chính sách của Nhà nước cũng như hệ thống pháp luật Doanh nghiệp,khu vực tư nhân, các tổ chức dân sự, trình độ nhận thức của người dân cũng như cácnhà quản lý doanh nghiệp chiếm vị trí trung tâm trong thực hiện CSR ở quốc gia này.Điều đó không có nghĩa rằng Nhà nước đứng bên ngoài, ngược lại, Chính phủ là mộtbên liên quan có vai trò, quyền và trách nhiệm như các bên có lợi ích liên quan kháccủa doanh nghiệp, trước hết ở việc hỗ trợ thông tin và trao đổi kinh nghiệm trong,ngoài nước, cung cấp dịch vụ tiện ích cho thực hiện CSR và các hành vi khuyến khích