Lĩnh vực áp dụng: Công tác giảng dạy môn Vật lí trong trường trung học cơ sở.. * Một số nhược điểm của học sinh trong quá trình học tập bộ môn Vật lí trung học cơ sở... Nội dung gi
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số………
1 Tên sáng kiến: Một số giải pháp cần thiết để dạy- học có hiệu quả
một tiết học Vật lí sát với từng đối tượng học sinh ở trường THCS
2 Lĩnh vực áp dụng: Công tác giảng dạy môn Vật lí trong trường trung
học cơ sở
3 Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1 Tình trạng giải pháp đã biết
Căn cứ vào chương trình đổi mới giáo dục phổ thông, tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học đó là (Dạy bám sát đối tượng, chú trọng học sinh yếu kém, học sinh trung bình) và phương pháp học tập của học sinh trong quá trình học tập;
Căn cứ vào những định hướng đổi mới về phương pháp dạy học, thiết bị dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh của bộ môn Vật lí THCS;
Căn cứ vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của bộ môn Vật lí THCS;
Căn cứ vào nội dung công văn số 217/GD - ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo phát động cuộc vận động hai không “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” đặc biệt là nội dung nói không với học sinh ngồi nhầm lớp;
Việc đổi mới phương pháp dạy học đã làm phân hoá triệt để đối tượng học sinh, học sinh yếu kém ít được chú ý Tổ chức lớp học thiên về hoạt động nhóm, có số học sinh yếu kém lười hoạt động nên càng không tiến bộ còn học sinh học giỏi thì ham thích tích cực hơn tạo ra hai thái cực ngược nhau trong một lớp học, gây ra sự căng thẳng về tâm lý đối với người học, khiến cho một bộ phận học sinh cảm thấy mệt mỏi, khi học thực và kiểm tra đúng thực chất và cũng tạo khó khăn cho giáo viên lựa chọn phương pháp dạy học
* Một số nhược điểm của học sinh trong quá trình học tập bộ môn Vật lí trung học cơ sở
Trang 2Là một trường thuộc xã vùng nông thôn nên điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị vẫn còn hạn hẹp, phòng học và phòng chức năng chưa đủ tiêu chuẩn, điều kiện cơ sở vật chất về trang thiết bị phục vụ cho học tập còn thiếu do hư hỏng nhiều chưa dáp ứng được yêu cầu học tập của các em;
Học sinh của trường khả năng tư duy nhận thức còn hạn chế, kỹ năng chưa được tốt lắm, một bộ phận học sinh bị hỏng kiến thức từ cấp học dưới nên không ham học còn thờ ơ với việc học tập;
Đối với phụ huynh học sinh thì chưa quan tâm đến việc học tập của con
em, chưa đầu tư cho các em học tập còn giao khoán cho nhà trường nên một bộ phận học sinh đã không chú ý tới việc học tập;
Qua quá trình giảng dạy trong những năm học trước giáo viên mạnh dạn
đổi mới phương pháp dạy học mà không chú ý đến đối tượng học sinh nên khi thực hiện cuộc vận động hai không thì nảy sinh ra một vấn đề đó là tỉ lệ học sinh yếu, không có ý thức học tập xuất hiện ngày càng nhiều chất lượng chưa cao tỷ lệ học sinh yếu kém ng rất nhiều, dẫn đến tình trạng học sinh yếu có xu thế bỏ học ngày càng nhiều
3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến
3.2.1 Mục đích của giải pháp
Thực hiện chung nhiệm vụ của toàn ngành là đổi mới nội dung, hình thức, đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập Song song với nhiệm vụ đó thì chúng ta cũng thực hiện nghiêm túc cuộc vận động hai không trên bốn phương diện trong đó không để học sinh ngồi nhầm lớp là một khâu rất quan trọng, đồng thời nó cũng quyết định đến chất lượng giảng dạy của giáo viên Trong quá trình thực hiện nghiêm túc cuộc vận động thì nảy sinh ra một vấn đề đó là tỉ lệ học sinh yếu, không có ý thức học tập xuất hiện ngày càng nhiều và kiến thức của các học sinh này cũng cần báo động cho các cấp làm công tác quản lí giáo dục và các nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy Như vậy làm thế nào để giảm dần tình trạng này và ngồi nhầm lớp mà vẫn đảm bảo chất lượng giáo dục ngày càng đi vào thực chất và chất lượng ngày một tốt hơn;
Trang 3Vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học theo hương tích cực hoá hoạt động của nhiều đối tượng học sinh trong một lớp học (HS là chủ thể của việc lĩnh hội kiến thức, còn giáo viên là người chủ đạo trong việc tổ chức, hướng dẫn cho việc lĩnh hội kiến thức của học sinh , đặc biệt là những học sinh yếu kém) thì vai trò của người giáo viên càng trở nên quan trọng trong việc chủ động tổ chức, điều khiển một giờ học với nhiều đối tượng học sinh
Việc lên lớp thực hiện với một tiết dạy nói chung và một tiết dạy Vật lí với nhiều đối tượng học sinh nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Công tác soạn bài, kiến thức của giáo viên, phương pháp dạy học, đối tượng học sinh, phương tiện dạy học… Do đó, để tổ chức một tiết dạy có hiệu quả cho nhiều đối tượng học sinh nhưng vẫn đáp ứng đủ yêu cầu về nội dung, kiến thức, thời gian mà tất cảc các đối tượng học sinh cũng đều nắm được thì giáo viên với vai trò là người chủ đạo hướng dẫn cần thực hiện có hiệu quả một số khâu cho một tiết dạy học gồm nhiều đối tượng học sinh
Vậy một số khâu cần thiết để thực hiện tốt một tiết dạy cho nhiều đối tượng học sinh có chất lượng là gì? Đây là một câu hỏi đặt ra cho mỗi giáo viên trong việc thực hiện cuộc vận động hai không nói chung và mỗi một giáo viên giảng dạy bộ môn Vật lí nói riêng
Với những lí do trên, nên bản thân tôi xin mạnh dạn đưa ra một số vấn đề về : “Một số giải pháp cần thiết để dạy- học có hiệu quả một tiết học Vật lí sát với từng đối tượng học sinh ở trường THCS”
3.2.2 Những điểm khác biệt, tính mới trong giải pháp
Tình trạng thực tế trước khi thực hiện đề tài: Một số học sinh tỏ ra yêu thích môn Vật lý, tuy vậy phần lớn học sinh ngần ngại và cho rằng đây là môn học khó hơn so với các môn tự nhiên còn lại Nguyên nhân chủ yếu là do các
em chưa có một phương pháp thực sự để học, để nắm vững nội dung kiến thức và giải các bài tập trong chương trình Vật lí trung học cơ sở đòi hỏi các em phải tư duy Đặc biệt trong chương trình Vật lý, có rất nhiều bài tập về phần Cơ
- Nhiệt - Điện - Quang đòi hỏi các em phải phân tích được đề bài Việc tóm tắt, phân tích bài toán để tìm hướng đi đúng cho bài giải đòi hỏi ở học sinh rất
Trang 4nhiều, rất cao và phải có nhiều kinh nghiệm Do đó từ nhiều năm, tôi đã hướng và phát triển dần cho học sinh những kĩ năng cần thiết này, giúp các em có một kỹ năng nhất định trong việc tiếp thu kiến về bộ môn Vật lí
3.2.3 Mô tả chi tiết bản chất của giải pháp
Ngay từ đầu mỗi năm học, tôi đã được giao nhiệm vụ giảng dạy bộ môn Vật lí Tôi đã thăm dò, trao đổi với học sinh và được biết: Một số học sinh tỏ ra yêu thích môn Vật lí, tuy vậy phần lớn học sinh ngần ngại và cho rằng đây là môn học khó Nguyên nhân chủ yếu là do các em chưa có một phương pháp thực sự để học, để giải các bài tập đòi hỏi tư duy Do đó đầu mỗi năm tôi đã hướng và phát triển dần cho học sinh những kĩ năng cần thiết này theo từng đối tượng học sinh, giúp các em có kĩ năng nhất định trong việc thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận cần thiết và tìm ra phương pháp giải các bài tập vật lí
* Tìm hiểu đối tượng học sinh
Việc tìm hiểu đối tượng học sinh là công việc đầu tiên khi người thầy muốn lấy các em làm đối tượng thực hiện một công việc nghiên cứu nào đó Do đó tôi đã làm sẵn một số phiếu có ghi sẵn một số câu hỏi mang tính chất thăm dò như sau:
- Em có thích học môn Vật lí không?
- Học môn Vật lý em có thấy nó khó quá với em không?
- Em có thuộc và nhớ được nhiều công thức, định nghĩa Vật lí không?
- Khi làm bài tập em thấy khó khăn ở điểm nào?
- Em đã vận dụng thành thạo công thức Vật lí chưa?
- Em có muốn đi sâu nghiên cứu tìm phương pháp giải các bài tập Vật lí không?
* Biện pháp thực hiện
a Thiết kế bài dạy chu đáo, phù hợp với nhiều đối tượng học sinh
Công việc thiết kế chu đáo trước một bài dạy và phù hợp với nhiều đối tượng là khâu quan trọng không thể thiếu của một tiết dạy học mà bất kì một giáo viên nào cũng phải biết “Thiết kế trước bài dạy giúp giáo viên chuẩn bị
Trang 5chu đáo hơn về kiến thức, kĩ năng, phương pháp, tiến trình và tâm thế để đi vào một tiết dạy”
Vậy làm thế nào để thiết kế một bài dạy hay và phù hợp hay nói cách khác để thiết kế tốt một bài dạy nhưng phải đảm bảo cho nhiều đối tượng học sinh thì cần phải làm được những gì?
Cho nên để thiết kế một bài dạy phù hợp cho nhiều đối tượng học sinh thì tối thiểu nhất phải làm được những việc sau:
- Xác định được mục tiêu trọng tâm của bài học về kiến thức, kĩ năng, thái độ tình cảm Tìm ra được những kiến thức cơ bản dành cho học sinh yếu kém và kiến thức nâng cao cho học sinh khá giỏi;
- Khi đã nắm được trọng tâm được kiến thức và phân chia kiến thức cho từng đối tượng học sinh thì cần tham khảo thêm tài liệu để mở rộng và đi sâu hơn vào bản chất của đơn vị kiến thức, giúp giáo viên nắm một cách tổng thể, để giải thích cho học sinh khhi cần thiết;
- Nắm được ý đồ của sách giáo khoa để xây dựng và thiết kế một tiến trình đi trong giờ dạy hợp lý, đồng thời cũng có thể ý đồ đó thành ý đồ chủ quan của mình cho phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường, lớp, đối tượng và trình độ học sinh, điều kiện dạy học…
- Chuẩn bị chu đáo phương tiện dạy học;
- Nêu được các tình huống có vấn đề để kích thích tính tích cực của học sinh;
- Đưa ra những câu hỏi và thời gian thích hợp để quan tâm đến đối tượng học sinh yếu kém Tạo nhiều cơ hội cho học sinh yếu kém hoạt động để các em nắm được phương pháp học tập;
- Đề ra được các phương án giải quyết để đi đến kiến thức cơ bản của bài học với sự hỗ trợ của nhiều đối tượng học sinh mà không chỉ nhờ vào một bộ phận học sinh khá giỏi;
- Cuối cùng làm hoàn chỉnh một tiến trình của một tiết dạy học với đầy đủ các hoạt động và thời gian ấn định phù hợp;
Trang 6Nếu thực hiện tốt những việc này xem như giáo viên đã chuẩn bị tốt tâm thế để bước vào tiết dạy và đã thành công bước đầu
b Tiếp xúc và chuẩn bị trước thiết bị dạy học
Đây là một khâu không trực tiếp làm ngay trong một tiết học, nhưng nó là khâu cũng không kém phần quan trong Việc tiếp xúc, chuẩn bị trước thiết bị dạy học giúp giáo viên chủ động biết được thiết bị nào đã có, tình trạng sử dụng như thế nào, cần điều chỉnh gì, thiết bị nào còn thiếu cần bổ sung như thế nào và phương án bổ sung, khắc phục ra sao? Khi tiếp xúc với thiết bị dạy học giáo viên có điều kiện phân công dụng cụ cho từng nhóm học sinh, từng đối tượng học sinh do đó sẽ giảm bớt rất nhiều thời gian trong tiết dạy, dành thời gian hướng dẫn cho học sinh yếu kém thực hiện;
Nhưng quan trọng trong khâu này là khi tiếp xúc và chuẩn bị trước thiết bị thì giáo viên có điều kiện thao tác thành thạo các kỹ năng cần thiết trong khi làm thí nghiệm Điều này thực sự rất có ích cho giáo viên, bởi giáo viên có làm thành thạo các thao tác mới có thể hướng dẫn học sinh một cách rành mạch, rõ ràng không còn lúng túng và giảm bớt nhiều động tác thừa và thời gian lãng phí;
Do đó khi tiếp xúc và chuẩn bị trước thiết bị, giáo viên cần làm được những việc sau:
- Kiểm tra thiết bị (đủ hay thiếu) tình trạng sử dụng để đưa ra phương án bổ sung;
- Phân chia được thiết bị sử dụng theo nhóm cho từng đối tượng học sinh;
- Đưa ra những công việc cho từng đối tượng học sinh thực hiện (như: học sinh yếu kém quan sát, ghi chép và làm các thao tác đơn giản, còn học sinh khá giỏi thao tác các thao tác khó…)
- Giáo viên phải làm trước thí nghiệm và thực hiện các thao tác một cách
thành thạo
c Điều hành tổ chức hoạt động của học sinh trên lớp
Việc thiết kế tốt một bài dạy và phù hợp với từng đối tượng học sinh xem như đã thành công một nữa nhưng đó chỉ là xem như bước khởi đầu cho một tiết
Trang 7dạy còn khâu quyết định thành công chính là ở khâu tổ chức điều khiển các đối tượng học sinh trên lớp;
Nhưng để điều hành tốt tất cả các đối tượng học sinh trong một giờ học thì giáo viên cần phải thực hiện như thế nào?
Việc đầu tiên và quan trọng nhất là giáo viên phải xâm nhập giáo án một cách thuần thục, nắm được các nội dung cơ bản trọng tâm của bài học và những nội dung chú ý đối với học sinh yếu kém
Tạo tình huống có vấn đề ngay từ đầu để kích thích hứng thú học tập của học sinh trong suốt tiết học;
Nắm chắc ý đồ sách giáo khoa và hướng dẫn sách giáo viên, mục tiêu bài học, trình tự thiết kế giáo viên chủ động đưa ra phương án cho các đối tượng học sinh hoạt động;
Ví dụ:
* Đối với việc thu thập thông tin, tuỳ đối tượng học sinh, thời gian giáo viên có thể cho các cho các phương án:
- Đối với học sinh khá giỏi -> Học sinh lĩnh hội kiến thức;
- Đối với học sinh Yếu, kém: –> Giáo viên gợi ý –> Học sinh lĩnh hội kiến thức;
Đối với yêu cầu thực hiện kỹ năng, kiến thức thì cũng tuỳ theo thời gian và yêu cầu của nội dung bài học hoặc từng phần hay yêu cầu của từng loại thí nghiệm giáo viên có thể tổ chức học sinh thực hiện theo nhóm hay cá nhân như:
Bài 3: Đo thể tích chất lỏng (Vật lí 6 )
Hình 3.2: Yêu cầu học sinh hoạt động theo cá nhân (nhưng chú ý tới học sinh yếu kém) nếu học sinh không đo và đọc được kết quả thì giáo viên hướng dẫn học sinh đo và cách đọc sau đó cho học sinh trả lời kết quả;
Hình 3.3: Yêu cầu học sinh hoạt động theo nhóm (nhưng chú ý là cho học sinh khá giỏi hướng dẫn và kèm các học sinh yếu kém) sau đó gọi học sinh yếu kém đọc kết quả, rồi cho học sinh khá giỏi nhận xét, giáo viên chốt kiến thức Còn tuỳ theo đối tượng học sinh trong lớp giáo viên có thể đề ra phương án khác nhau cho linh hoạt;
Trang 8Đôi với học sinh yếu kém: Thì giáo viên cho học sinh đọc sách giáo khoa -> Giáo viên hướng dẫn cụ thể -> tổ chức cho học sinh thảo luận và thực hiện và rút ra kết quả Đối với học sinh khá giỏi: Giáo viên cho học sinh đọc sách giáo khoa -> Đề ra phương án thực hiện -> Thực hiện -> Trả lời câu hỏi có tính chất khó hơn -> Giáo viên chốt kiến thức Sau đó giáo viên gọi học sinh yếu kém nhắc lại một lần để các em ghi nhớ;
Hoặc tuỳ từng loại thí nghiệm hay trả lời câu hỏi hoặc bài tập giáo viên có thể tổ chức cho học sinh làm ngay ở lớp hoặc cho về nhà tự làm nhưng đối với học sinh yếu kém thì giáo viên đưa ra yêu cầu nhẹ hơn;
* Đối với cách đặt câu hỏi yêu cầu học sinh thực hiện hay trả lời câu hỏi thì giáo viên cũng cần chú ý đến các đối tượng học sinh để đưa ra câu hỏi phù hợp để học sinh dễ hiểu và trả lời đạt kết quả cao như:
- Đối với học sinh khá giỏi: Giáo viên đưa ra câu hỏi có tính chất nêu vấn đề hay xuyên suốt để các em suy nghĩ trả lời;
- Đối với học sinh trung bình Giáo viên đưa ra câu hỏi có hướng giải quyết và có tính chất dẫn dắt học sinh;
- Đối với học sinh yếu kém thì giáo viên phải đưa ra được các câu hỏi gợi ý có tính chất tường minh, cụ thể hoặc các yêu cầu rõ ràng và nhẹ nhàng hơn; Như vậy tuỳ theo yêu cầu kiến thức, kĩ năng, từng loại câu hỏi hay tuỳ vào từng loại đối tượng học sinh giáo viên chủ động đề ra phương án tổ chức điều hành cho linh hoạt và phù hợp;
- Trong việc điều hành tổ chức các hoạt động của học sinh trên lớp giáo viên cũng cần quan tâm và chú ý đến việc tổ chức và sắp xếp vị trí chổ ngồi cho học sinh hoạt động theo nhóm có hiệu quả như: Để học sinh khá giỏi kèm cặp giúp đỡ được các học sinh yếu kém, tránh tình trạng mất nhiều thời gian và lộn xộn tạo được tác phong và phương pháp học tập hợp tác, từ đó giáo viên cũng có được phương pháp tổ chức quản lí hoạt động nhóm một cách phù hợp;
Tóm lại: Khâu điều hành tổ chức hoạt động của học sinh trên lớp là khâu
rất quan trọng nó quyết định thành công hay thất bại của giờ học và cũng quyết định đến chất lượng của học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh yếu kém Vì
Trang 9vậy giáo viên cần bám sát thiết kế, thiết bị, tình hình và đối tượng học sinh trong lớp để chủ động và linh hoạt trong điều hành
d Đánh giá và theo dõi kết quả học tập theo từng đối tượng học sinh
Việc đánh giá và theo dõi kết quả học tập theo từng đối tượng học sinh phải diễn ra thường xuyên liên tục và quan trọng nhất là đối tượng học sinh yếu kém Như kiểm tra miệng, kiểm tra 15phút, kiểm tra định kỳ Tuy nhiên việc thực hiện đánh giá kết quả học tập của học sinh sau mỗi bài dạy cũng có tầm quan trọng rất đáng kể: Nó vừa củng cố, khắc sâu kiến thức vừa tiếp thu được kiến thức mới, đồng thời khuyến khích động viên học sinh, kích thích hứng thú cho các em về nhà và làm bài tập cũng như tạo được sự hào hứng cho các em chờ đợi cho tiết học tiếp theo, và giúp đỡ học sinh yếu kém có được tinh thần học tập tốt hơn và ngày càng yêu thích môn học, lấp dần các kiến thức đã hỏng của các em Do đó tôi nhận thấy việc đánh giá kết quả học tập của học sinh sau mỗi tiết học và thường xuyên rất quan trọng và cần thiế
Vậy đánh giá kết quả học tập của học sinh như thế nào là tích cực và phát huy được tác dụng của nó đối với học sinh yếu kém, theo tôi giáo viên cần phải thực hiện theo các yêu cầu sau:
- Giáo viên có thể đánh giá thực hiện bằng các hình thức như:
+ Kiếm tra miệng:
Đối với học sinh yếu kém thì giáo viên yêu cầu rõ ràng hơn, chi tiết hơn, gợi mỡ hơn Nếu học sinh trả lời được thì giáo viên cho điểm cao hơn để động viên, còn học sinh trả lời không được thì giáo viên hướng dẫn, nhắc nhỡ và quan tâm đến học sinh nhiều hơn trong các câu hỏi của bài học mới;
+ Ghi phiếu học tập hoặc phân nhóm tổ chức trò chơi về kiến thức:
Đối với học sinh yếu kém thì giáo viên đánh giá với mức độ và yêu cầu thấp hơn, và chỉ rõ những thiếu sót của các em một cách rõ ràng hơn, chi tiết hơn tránh tình trạng nhận xét chung chung để học sinh không nhận ra được thiếu sót của mình để khắc phục
3.3 Khả năng áp dụng của giải pháp
* Ưu điểm
Trang 10- Sau thời gian nhiều năm áp dụng các giải pháp đã nêu tôi thấy kết quả học tập của học sinh khả quan hơn Đa số các học sinh yếu đã biết trả lời được một số câu hỏi định tính;
- Tất cả các học sinh đã chủ động thu thập,xử lí thông tin và tự rút ra kết luận khi tìm hiểu một đơn vị kiến thức mới Các em đều cảm thấy thích thú hơn khi học bộ môn Vật lí;
- Học sinh nắm chắc cách phân tích và vận dụng đúng công thức khi giải một bài tập Vật lí;
* Hạn chế
Việc trình bày của một số ít học sinh còn chưa chặt chẽ, lôgic
Qua kết quả trên đây, các em sẽ có một số kỹ năng cơ bản để giải loại bài tập về mạch điện Giải pháp này có thể áp dụng vào thực tế giảng dạy ở các đơn vị trường trung học cơ sơ trên địa bàn huyện Mỏ Cày Nam
3.4 Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp
Qua quá trình học hỏi, tìm tòi dưới sự hổ trợ của đồng nghiệp, bản thân tôi đã mạnh dạn áp dụng các biện pháp trên vào trong từng tiết dạy thì chất lượng học tập bộ môn vật lí khối 6, 9 được phân công giảng dạy đạt kết quả khá cao tỉ lệ học sinh yếu kém bộ môn Vật lí giảm qua so với kết quả khảo sát đầu năm và chất lượng cuối năm thể hiện ở kết quả sau đây:
+ Đối với chất lượng đại trà ( tổng số học sinh của ba khối 6, 9 là 203)
TT Phân loại trình
độ
Vật lí khối 6,9, (203 học sinh) Khảo sát đầu năm
(203 học sinh)
Kết quả cuối năm (203 học sinh)
3 Trung bình 90 hs = 44,3%