Báo cáo chuyên đề ỨNG DỤNG NỀN TẢNG WORDPRESS ĐỂ XÂY DỰNG CỔNG THÔNG TIN BỘ CÔNG THƯƠNG, tổng quan về Portal, tìm hiểu nền tảng Wordpress và xây dựng cổng thông tin điện tử bộ công thương đầy đủ báo cáo và cách xây dựng cổng thông tin điiện tử
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC HÌNH ẢNH iv
DANH MỤC BẢNG v
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PORTAL 3
1.1 Khái niệm về Portal 3
1.2 Sự khác biệt giữa Website và Portal 3
1.3 Phân loại Portal 5
1.4 Các đặc trưng cơ bản của Portal 8
1.4.1 Chức năng tìm kiếm 9
1.4.2 Các ứng dụng trực tuyến 9
1.4.3 Cá nhân hóa dịch vụ 9
1.4.4 Cộng đồng ảo 10
1.4.5 Một điểm tích hợp thông tin duy nhất 10
1.4.6 Kênh thông tin 10
1.5 Các dịch vụ cơ bản của Portal 11
1.5.1 Dịch vụ trình bày nội dung 11
1.5.2 Dịch vụ thông tin 11
1.5.3 Dịch vụ cơ sở hạ tầng 11
1.5.4 Dịch vụ chứng thực 11
1.5.5 Dịch vụ quản trị 12
1.5.6 Dịch vụ truy cập và tích hợp 12
1.5.7 Dịch vụ nội dung 12
1.5.8 Dịch vụ hợp tác 13
1.5.9 Dịch vụ phát triển 13
1.5.10 Dịch vụ công 13
1.5.11 Dịch vụ hành chính công 18
1.6 Công nghệ xây dựng Portal 21
Trang 2CHƯƠNG 2 TÌM HIỂU NỀN TẢNG WORDPRESS 23
2.1 Khái niệm CMS 23
2.2 Nền tảng WordPress 23
2.3 Lịch sử về WordPress 24
2.3.1 Sự phát triển của WordPress 24
2.3.2 Mức độ phổ biến của WordPress 25
2.4 Phân loại WordPress 26
2.4.1 WordPress.com 26
2.4.2 WordPress.org 27
2.4.3 Sự khác nhau giữa WordPress.com và WordPress.org 28
2.5 Ưu điểm và nhược điểm của nền tảng WordPress 30
2.5.1 Ưu điểm 31
2.5.2 Nhược điểm 32
2.6 Cấu trúc của WordPress 33
2.6.1 Cấu trúc trang quản trị của WordPress 33
2.6.2 Cấu trúc của một Themes trong WordPress 35
2.7 WordPress Plugin 36
2.7.1 Khái niệm về WordPress Plugin 36
2.7.2 Các loại Plugin phổ biến 37
CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG NỀN TẢNG WORDPRESS ĐỂ XÂY DỰNG CỔNG THÔNG TIN BỘ CÔNG THƯƠNG 42
3.1 Tổng quan về Bộ Công Thương 42
3.1.1 Lịch sử hình thành 42
3.1.2 Vị trí và chức năng 43
3.1.3 Lãnh đạo bộ công thương 43
3.1.4 Cơ cấu tổ chức 44
3.2 Các bước xây dựng cổng thông tin Bộ Công Thương 44
3.2.1 Khảo sát cổng thông tin Bộ Công Thương 44
3.2.2 Phân tích và thiết kế hệ thống 47
Trang 33.2.3 Giới thiệu cổng thông tin Bộ công thương 52
KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 4DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Giao diện Portal Yahoo 5
Hình 1.2 Website cổng doanh nghiệp nội bộ của công ty HISC 6
Hình 1.3 Giao diện Cổng Web thương mại của VDC 8
Hình 1.4 Website công ty Mobifone với nhiều dịch vụ cung cấp cho khách hàng 8
Hình 2.1 Mức độ phổ biến của WordPress 26
Hình 2.2 WordPress.com 26
Hình 2.3 WordPress.org 28
Hình 2.4 Cấu trúc trang quản trị của WordPress 33
Hình 2.5 Cấu trúc themes 35
Hình 2.6 Plugin hỗ trợ SEO 37
Hình 2.7 Plugin hỗ trợ Social Signal 38
Hình 2.8 Plugin hỗ trợ Slide ảnh, nội dung 40
Hình 2.9 Giao diện tùy chỉnh trang Web với plugin Visual Composer 41
Hình 3.1 Dịch vụ công trực tuyến của Bộ công thương 45
Hình 3.2 Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 45
Hình 3.3 Đơn vị cung cấp dịch vụ công mức độ 3 46
Hình 3.4 Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 46
Hình 3.5 Đơn vị cung cấp dịch vụ công mức độ 4 46
Hình 3.6 Các nhóm tin được tạo 47
Hình 3.7 Các chủ đề con được tạo 48
Hình 3.8 Các văn bản mới ban hành 49
Hình 3.9 Quản lý văn bản hiện hành 49
Hình 3.10 Phiếu đăng kí dịch vụ công 50
Hình 3.11 Giao diện trang chủ 53
Hình 3.12 Vị trí các module trên trang chủ 54
Hình 3.13 Giao diện mục tin hoạt động 56
Hình 3.14 Các văn bản mới ban hành 57
Trang 5Hình 3.15 Giao diện quản trị tin hoạt động 57 Hình 3.16 Giao diện quản lý các văn bản mới ban hành 58
Trang 6DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 So sánh giữa Portal và Website 3 Bảng 2.1 So sánh chi phí giữa WordPress.org và WordPress.com 29 Bảng 2.2 So sánh sự giới hạn giữa WordPress.org và WordPress.com 30
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, ngành công nghệthông tin đã có một bước phát triển thần kỳ Hiện nay, tin học đã và đang đượcứng dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế trong mỗi quốc gia.Một nền kinh tế mạnh, một quốc gia mạnh đồng nghĩa với việc ở quốc gia đócông nghệ thông tin đã được ứng dụng và khai thác một cách hiệu quả Việc ứngdụng rộng rãi của tin học đã đem lại nững thành tự vô cùng to lớn trong nhiềungành, nhiều lĩnh vực khác nhau Một trong các ứng dụng to lớn của ngành côngnghệ thông tin đó là giúp cho việc trao đổi thông tin diễn ra dễ dàng hơn Xã hộicàng phát triển thì nhu cầu trao đổi thông tin càng lớn Và cổng thông tin điện tử
ra đời để đáp ứng nhu cầu đó
Ở nước ta, Chính phủ, các bộ, ban, ngành và một số địa phương đã sửdụng cổng thông tin điện tử như một công cụ đắc lực Cổng thông tin điện tử đãtrở thành kênh giao tiếp, cung cấp, trao đổi thông tin giữa cơ quan chức năng vàcác tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân Đối với người dân, Cổng thông tin điện tửcho phép người dùng tìm kiếm thông tin mình quan tâm và thực hiện các dịch vụtheo yêu cầu của người dùng một cách nhanh chóng, chính xác
Hiện nay, có nhiều Portal đã được phát triển sẵn như: WordPress,DotnetNuke, Joomla, Liferay, Websphere, Oracle, PHPNuke,… với nhiều đặcđiểm, tính năng khác nhau Căn cứ vào nhu cầu thực tế, quy mô quản lý màngười dùng sẽ lựa chọn nền tảng xây dựng Portal cho phù hợp Ngày nay, cácnền tảng mã nguồn mở ngày càng được ứng dụng rộng rãi Do là hệ mã nguồn
mở nên nó có một cộng đồng người dùng phát triển, cũng do tính năng mở nàynên người dùng có thể xem, sửa đổi hoặc cập nhật thêm các tính năng và chia sẻtheo một số quy định trong giấy phép phần mềm mã nguồn mở mà không cầnchi trả bất kỳ chi phí nào Lợi ích của mã nguồn mở cũng chính là nhược điểmcủa nó Vì có thể xem, sửa, thay đổi nên có hệ thống sử dụng mã nguồn mở dễ
bị tấn công bởi các hacker
WordPress là một phần mềm nguồn mở (Open Source Software) đượcviết bằng ngôn ngữ lập trình website PHP (Hypertext Preprocessor) và sử dụng
hệ quản trị cơ sở dữ liệu MySQL WordPress là một mã nguồn mở bằng ngônngữ PHP để hỗ trợ tạo blog cá nhân, và nó được rất nhiều người sử dụng ủng hộ
về tính dễ sử dụng, nhiều tính năng hữu ích: hỗ trợ nhiều ngôn ngữ, nhiều plugin
và có nhiều gói giao diện có sẵn
1
Trang 8Với những ưu điểm như trên, nhóm chúng em lựa chọn nền tảng mãnguồn mở WordPress để xây dựng lại cổng thông tin điện tử của Bộ CôngThương.
Việc tìm hiểu và sử dụng mã nguồn mở WordPress xây dựng cổng thôngtin điện tử là cơ hội để tìm hiểu và phát triển khả năng ứng dụng mã nguồn mởnày vào việc xây dựng các ứng dụng web, đồng thời là cơ hội thực tập làmchuyên đề, bồi dưỡng năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu, tìm hiểu cho mỗithành viên trong nhóm
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
- Thiết kế, xây dựng giao diện, nội dung bám sát Cổng thực tế đang hoạtđộng, Các thông tin, ứng dụng đảm bảo giống với Cổng thực tế ở mức 2
- Nội dung thông tin cần đảm bảo tính thực tế, tránh những thông tinkhông đúng sự thật Có các thông tin về thủ tục hành chính của Bộ - Dịch vụCông trực tuyến mức độ 2
- Quản lý những thông tin chung của Bộ Công Thương
- Liên kết được đến các trang của Sở Công Thương các tỉnh
Tài liệu báo cáo này cung cấp cho người đọc những nội dung cơ bản trong
quá trình tìm hiểu và thực hiện đề tài: “Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương” Tài liệu gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về cổng thông tin điện tử
Chương này giới thiệu về lịch sử, khái niệm, các đặc điểm cũng như cácđặc trưng của Portal Ngoài ra, giới thiệu về các kỹ thuật của hệ thống Portal,các dịch vụ cơ bản của Portal và so sánh Portal với website thường
Chương 2 Tìm hiểu nền tảng WordPress
Chương này tìm hiểu về nền tảng WordPress: Khái niệm, các đặc điểmnổi bật cũng như những hạn chế của nền tảng WordPress, phân loại Bên cạnh
đó còn tìm hiểu về cấu trúc, các Plugin trong WordPress
Chương 3 Ứng dụng nền tảng WordPress xây dựng cổng thông tin điện tử của Bộ Công Thương.
Trong chương cuối gồm bốn phần: giới thiệu về cổng của Bộ CôngThương, khảo sát, phân tích thiết kế hệ thống và ứng dụng nền tảng WordPress
để xây dựng lại cổng của bộ này
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PORTAL
1.1 Khái niệm về Portal
Theo một định nghĩa tương đối phổ biến thì Portal là một điểm truy cậpvới giao diện web cho phép người dùng khai thác hiệu quả một khối lượng lớntài nguyên thông tin và dịch vụ Đó không đơn giản chỉ là một trang HTMLchứa liên kết đến các tài nguyên mà là một nền tảng công nghệ cho phép tíchhợp toàn bộ thông tin và các ứng dụng chạy trên web, đồng thời cung cấp khảnăng tuỳ biến cho từng đối tượng sử dụng, cho phép khai thác thông tin hiệu quảnhất, nhanh nhất và thân thiện nhất
Mục tiêu cơ bản của mọi Portal là cung cấp thông tin chính xác cho ngườidùng (có thẩm quyền) vào thời điểm thích hợp Portal phải lấy được dữ liệu từcác hệ thống tích hợp, truyền tải dữ liệu này vào các giao diện đã được cá nhânhoá và cho phép người dùng tương tác với dữ liệu từ bất kỳ nơi đâu, vào bất kỳthời điểm nào Portal thông thường phải cung cấp các dịch vụ về tin, tìm kiếm,thư mục (phân loại tin), mail, diễn đàn, hội thoại, hội thảo, lịch làm việc , vàđáp ứng được các yêu cầu: tùy biến hóa; tạo khả năng tương tác tối đa giữangười dùng và các nguồn thông tin, giữa người dùng với các ứng dụng tácnghiệp và giữa các ứng dụng với nhau; tích hợp nhiều công nghệ ứng dụng; đảmbảo tính mở về công nghệ; quản trị nội dung; bảo mật; hỗ trợ các cộng đồng ảo
1.2 Sự khác biệt giữa Website và Portal
Portal là bước phát triển kế tiếp của công nghệ web Sự khác biệt chínhgiữa Portal và Website là: Website được xây dựng như một đơn vị thông tin độclập, còn Portal được thiết kế để trở thành trung tâm tích hợp thông tin, ứng dụng
và dịch vụ mạng Với Portal, người dùng có thể tìm được mọi dịch vụ cần thiết
để khai thác và xử lý thông tin chỉ cần đăng nhập một lần theo cơ chế một cửa.Điểm khác biệt này cũng quy định nên sự khác biệt về ứng dụng giữa Portal vàWebsite Trên thế giới, xu hướng ứng dụng Portal đang ngày càng trở nên phổbiến trong các lĩnh vực như chính phủ điện tử (E-government), thương mại điện
tử, đào tạo trực tuyến
Bảng 1.2.1.1.1 So sánh giữa Portal và Website
Hỗ trợ khả năng đăng nhập một lần tới
tất cả các tài nguyên được liên kết với
Portal Nghĩa là, người dùng chỉ cần
Một Website thông thường không cóđược khả năng đăng nhập một lần
Trang 10một lần đăng nhập là có thể vào và sử
dụng tất cả các ứng dụng đã được tích
hợp trong Portal đó mà người dùng
này có quyền
Portal hỗ trợ khả năng cá nhân hóa
theo người sử dụng Đây là một trong
những khả năng quan trọng của Portal,
giúp nó phân biệt với một Website
thông thường Portal cá nhân hóa nội
dung hiển thị, thông thường đây là sự
lựa chọn một cách tự động dựa trên
các quy tắc tác nghiệp, chẳng hạn như
vai trò của người dùng trong một tổ
chức
Thông thường không hỗ trợ, nếu có chỉ
ở mức độ rất nhỏ, không phải là đặcđiểm nổi bật
Khả năng tùy biến: Đây là một khả
năng tiêu biểu của một Portal
Một vài Website có nhưng chỉ dừng lại
ở mức độ dựng sẵn, người dùng chỉ cóthể lựa chọn một vài giao diện đã có,
mà không tự mình thay đổi từng mụcmột cách tùy ý
Liên kết truy cập tới hàng tram kiểu dữ
liệu, kho dữ liệu, kể cả dữ liệu tổng
hợp hay đã phân loại
Portal có khả năng liên kết tới tài
nguyên dữ liệu rộng lớn, gồm nhiều
kiển dữ liệu từ dữ liệu thông thường
đến siêu dữ liệu
Chỉ sử dụng các liên kết để tới các sitekhác nhưng nội dung chủ yếu vẫn chỉtập trung trong trang đó
Portal hỗ trợ rất tốt khả năng liên kết
và hợp tác người dùng Portal không
Trang 11Về mặt thực tế có thể chia portal ra thành các dạng sau:
* Cổng Web công cộng hay siêu cổng Web
Có 2 loại cổng Web công cộng (Public hay Mega (Internet) portals)chính:
- Các cổng Web công cộng nói chung hoặc siêu cổng Web Cổng nàynhắm đến toàn bộ những người có khả năng sử dụng Internet ví dụ như Yahoo,Google, Overture, Altavista, AOL, MSN, Excite, Đặc trưng cơ bản của cổngnày là cung cấp mọi dịch vụ thông thường mà người dùng Internet có nhu cầunhư: tìm kiếm, tin tức, diễn đàn, dịch vụ thư mục, các ứng dụng trực tuyến như:thư điện tử, chat, lịch cá nhân,
- Cổng Web công nghiệp hay cổng Web theo chiều dọc: là cổng tập trungvào một lượng người dùng có quan tâm đặc biệt đến một lĩnh vực nhất định nào
đó như hàng tiêu dùng, máy tính, bảo hiểm, ngân hàng, Đặc trưng của cổngngành dọc là cung cấp các thông tin và dịch vụ cụ thể theo các yêu cầu của mộtngành hoặc một lĩnh vực nào đó
Những công ty sử dụng các portal này đang trở thành những công ty “newmedia” và tập trung vào việc xây dựng các dịch vụ cung cấp cho người dùng
Hình 1.3.1.1.1.1 Giao diện Portal Yahoo
* Cổng Web doanh nghiệp
Portal EIP (Corporate/Enterprise (Intranet) portals – EIP) là các portalđược thiết kế dành cho các doanh nghiệp mong muốn xây dựng được mối quan
hệ chặt chẽ với cả nhân viên, khách hàng và đối tác của doanh nghiệp Quan hệ
ở đây không chỉ gói gọn trong quan hệ hai chiều giữa hai bên mà còn bao gồm
Trang 12cả tiến trình xử lý và các hoạt động quản lý của doanh nghiệp EIP cũng hợpnhất các quá trình, các tiến trình công việc, sự cộng tác, quản lý nội dung, sưutập và lưu giữ dữ liệu, các ứng dụng của công ty và các giải pháp doanh nghiệpthông minh (Business intelligence) EIP cho phép nhân viên có thể truy cập vàonhiều portal khác nhau như cổng Web thương mại điện tử (E-business Portal),cổng Web cá nhân (personal portal) và cổng Web công cộng (public portal) Sựkết hợp giữa các portal độc lập hoặc nhóm thành một giải pháp portal dính kết(cohensive portal solution) được gọi là Federated Portal EIP cũng cho phép truycập đến các nội dung được cung cấp từ bên ngoài bởi những người không phải
là nhân viên của công ty Ví dụ như các thông tin phản hồi…
Hình 1.3.1.1.1.1 Website cổng doanh nghiệp nội bộ của công ty HISC
* Cổng Web thương mại
Cổng Web thương mại mở rộng quan hệ của doanh nghiệp tới khách hàngcũng như các đối tác và nhà cung cấp Cổng thương mại điện tử thiết lập các chợ
ảo cung cấp các dịch vụ thương mại liên quan đến cộng đồng người mua, ngườibán và cả người tạo thị trường trên mạng Nó cho phép liên kết trực tuyến ngườimua với người bán bằng việc cung cấp các tin kinh doanh đặc biệt và các sảnphẩm liên quan cũng như các thông tin về dịch vụ Ở đây người mua có thể tìmthấy thông tin về vị trí, nguồn hàng, cách thanh toán sản phẩm và dịch vụ trựctuyến họ cần một cách nhanh chóng; trong khi nhà cung cấp có thể tạo ra cáchướng kinh doanh bằng việc trưng bày các sản phẩm và dịch vụ của họ theonhiều thị trường khác nhau
Cổng Web thương mại (E-business (Extranet) portals) có 3 loại:
- Cổng Web doanh nghiệp mở rộng (Extended enterprise portals) Mộttrong những ví dụ của loại cổng Web này là B2C mà mở rộng công ty hơn nữa
Trang 13tới khách hàng cho những mục đích như đặt hàng, thanh toán, dịch vụ kháchhàng hay tự phục vụ Bên cạnh đó còn có B2B với mục đích mở rộng công ty tớinhững khách hàng và đối tác của mình.
- Cổng Web chợ điện tử (E-marketplace portal): CommerceOne.net là một
ví dụ của loại cổng Web này CommerceOne.net cung cấp những dịch vụ có liênquan đến thương mại cho cộng đồng những người bán, người mua và nhữngngười tạo nên thị trường Một ví dụ khác là VerticalNet VerticalNet kết nốingười bán và người mua trực tuyến bằng cách cung cấp cho họ những tin tứccông nghiệp đặc biệt, các sản phẩm và thông tin dịch vụ liên quan Người mua
có thể tìm thấy những thông tin họ cần để xác định nhanh chóng nguồn, các sảnphẩm mua bán và các dịch vụ trực tuyến Người bán có thể tìm kiếm khách hàngcủa mình thông qua việc quảng cáo các sản phẩm và dịch vụ của mình trênnhiều kênh thị trường Một ví dụ thứ ba là Oracle Exchange Oracle Exchange làmột nơi cho phép trao đổi mua bán các hàng hoá và dịch vụ kinh doanh Cuốicùng, GlobalNetExchange là một mạng B2B rộng lớn của các thương gia lớn,những thương nhân bán lẻ và bán buôn để mua, bán, trao đổi thương mại, hoặcbán đấu giá hàng hoá và các dịch vụ
- Cổng cung cấp các dịch vụ ứng dụng (ASP portal) ASP portal là cácB2B portal cho phép khách hàng thuê sản phẩm và dịch vụ Ví dụ nhưServicePort của Portera, Salesforce.com, MySap.com của SAP vàoraclesmallbusiness.com của Oracle ServicePort vừa là portal thông tin web,vừa là portal ứng dụng cho ngành công nghiệp dịch vụ Saleforce.com quản lýcác quá trình bán hàng và báo cáo cho một đội bán hàng phân tán MySAP.com
và oraclesmallbusiness.com là các ví dụ của các hệ thống kinh doanh hoàn chỉnh
sử dụng portal trên web
Hình 1.3.1.1.1.1 Giao diện Cổng Web thương mại của VDC
Trang 14* Cổng Web cá nhân
Đây vẫn là một xu hướng mới ở Việt Nam và trên thế giới Cổng Web diđộng (mobility portals): các portal này được gắn vào điện thoại di động, PDAkhông dây, máy nhắn tin … Loại cổng Web này đang ngày càng trở nên phổbiến và rất quan trọng cho khách hàng cũng như nhân viên để có thể lấy đượccác thông tin về dịch vụ, sản phẩm, giá cả; tình trạng đặt hàng, thưởng phạt, vậnchuyển; những thông tin lập kế hoạch và cài đặt
Cổng Web đồ dùng: những portal này được gắn vào Tivi (WebTV), ôtô(Onstart)…
Hình 1.3.1.1.1.1 Website công ty Mobifone với nhiều dịch vụ cung cấp cho khách hàng 1.4 Các đặc trưng cơ bản của Portal
1.4.1 Chức năng tìm kiếm
Chức năng tìm kiếm là dịch vụ đầu tiên cần phải có của tất cả các Portal.Sau khi người dùng mô tả loại thông tin mà mình cần thông qua các từ khóahoặc tổ hợp các từ khóa, dịch vụ này sẽ tự động thực hiện tìm kiếm thông tintrên các Portal hoặc các Website có trên Internet và trả lại kết quả tìm kiếm chongười dùng ngay trên Portal Thời gian thực hiện của dịch vụ tìm kiếm là rấtnhanh, do vậy rất hấp dẫn đối với người dùng
Đối với những người dùng không muốn tìm kiếm thông tin thông qua các
từ khóa mà lại có nhu cầu xem xét thông tin theo một chủ đề, lĩnh vực nào đó thì
có thể sử dụng dịch vụ phân loại thông tin theo thư mục Tại đây các thông tinđược phân loại và sắp xếp theo các chủ đề Các chủ đề được xây dựng theo cấu
Trang 15trúc cây thư mục, tức là mỗi chủ đề có thể chứa nhiều chủ đề con và có thể tiếptục phân tách xuống các mức thấp hơn nữa.
có ý nghĩa vì người dùng có thể nhận/gửi thư tại bất kỳ điểm nào của Internet
- Lịch cá nhân: Một số portal còn cung cấp thêm dịch vụ “ lịch cá nhân –calendar” miễn phí cho người dùng Dịch vụ này có ý nghĩa vì người dùng cóthể sử dùng lịch cá nhân của mình tại mọi nơi trên Internet
- Hội thoại trực tuyến – chat: Dịch vụ này cho phép nhóm người dùng hộithoại trực tuyến với nhau qua môi trường Internet, không phụ thuộc vào khoảngcách địa lý giữa họ
- Các dịch vụ khác: Một trong những dịch vụ rất hấp dẫn người dùng làgửi bưu thiếp điện tử Thay vì gửi bưu thiếp qua đường bưu điện thông thường,ngày nay người dùng ưa thích sử dụng dịch vụ này để gửi bưu thiếp chúc mừngngười thân của mình thông qua mạng Internet
1.4.3 Cá nhân hóa dịch vụ
Cá nhân hóa các dịch vụ là đặc trưng quan trọng của Portal Trên cơ sởcác thông tin của từng khách hàng cụ thể, nhà cung cấp có thể tạo ra các dịch vụmang tính định hướng cá nhân, phù hợp với yêu cầu, sở thích của từng kháchhàng riêng biệt của mình Thông qua đó các nhà cung cấp có khả năng tăngcường được mối quan hệ với khách hàng, duy trì được sự tín nhiệm của kháchhàng đối với nhà cung cấp
Cá nhân hóa các dịch vụ được tiến hành thông qua dữ liệu thông tin cánhân về khách hàng (customer profiles) Dữ liệu này chứa các thông tin mangtính cá nhân như nghề nghiệp, thói quen, sở thích của khách hàng, Từ thôngtin cá nhân này, các nhà cung cấp sẽ giới hạn cung cấp các thông tin và các dịch
vụ mà khách hàng thực sự quan tâm và muốn có, có nghĩa là tránh được việccung cấp các thông tin và dịch vụ không cần thiết có thể gây khó chịu cho kháchhàng, và thậm chí dẫn đến quyết định ngừng sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp
1.4.4 Cộng đồng ảo
Cộng đồng ảo là một “địa điểm ảo” trên Internet mà các cá nhân, doanhnghiệp có thể “tập hợp” để giúp đỡ, hợp tác với nhau trong các hoạt động
Trang 16thương mại Nói một cách khác “cộng đồng ảo” mang lại cơ hội hợp tác cho các
cá nhân, tổ chức doanh nghiệp mà ranh giới địa lý không còn có ý nghĩa Sauđây là một số ví dụ về “cộng đồng ảo”:
- Hội thoại trực tuyến – online chat Như đã trình bày ở trên, thông quadịch vụ này người dùng có khả năng trao đổi thông tin và kinh nghiệm của mìnhvới các người dùng khác
- Hỗ trợ trực tuyến – online support
1.4.5 Một điểm tích hợp thông tin duy nhất
Đặc trưng này cho phép công ty cung cấp cho người dùng một điểm truynhập duy nhất để thu nhập và xử lý thông tin từ các nguồn khác nhau, hoặc sửdụng các ứng dụng để khai thác kho tài nguyên thông tin của công ty nằm trongmạng Intranet của công ty Thực tế cho thấy, thông tin hàng ngày phải xử lýđược chuyển đến người dùng dưới rất nhiều nguồn khác nhau, ví dụ email,news, tài liệu, báo cáo, các bài báo, các tệp âm thanh và video, Khó khăn sẽ rấtlớn nếu các thông tin này được xử lý một cách riêng rẽ, điểm tích hợp thông tinduy nhất cho phép sử dụng các công cụ tích hợp để xử lý các nguồn thông tinnày, do vậy năng suất lao động xử lý thông tin của người dùng sẽ được nângcao
1.4.6 Kênh thông tin
Trong Portal, dữ liệu thường được tổ chức thành các kênh thông tin vàcung cấp cho người dùng Một Portal có thể chứa nhiều Portal con, trong đó mộtPortal con hoặc một kênh thông tin có thể là liên kết tới các ứng dụng, cácwebsite hoặc các portal khác Việc quản lý thông tin theo kênh giúp cho việcphân lớp và quản trị người dùng tốt hơn so với cơ chế ở Website truyền thống
1.5 Các dịch vụ cơ bản của Portal
1.5.1 Dịch vụ trình bày nội dung
Lớp dịch vụ này của cơ cấu portal giải quyết vấn đề trình bày nội dungcủa portal (portlets) tới người dùng cuối và có nhiệm vụ như một giao diện web.Màn hình cửa sổ chính có thể chia thành các khung, mỗi khung ứng với một 1ứng dụng riêng, hoặc khi mở một ứng dụng mới thì sẽ có một cửa sổ trình duyệtmới được mở ra Phần giao diện này thường được viết bằng HTML, nhưng cũng
có thể viết bằng WML để sử dụng cho các thiết bị không dây, hoặc các địnhdạng khác trong tương lai Trong nhiều portal, mỗi porlet sẽ có một đoạn HTMLcủa nó và sau đó sẽ được tập hợp lại thành một mã HTML hoàn chỉnh choportal Trong một vài portal khác, mỗi portlet là một dịch vụ web (web service),
Trang 17nên có thể trả lại kết quả bằng định dạng XML và XSLT để sau đó portal có thểchuyển nó thành định dạng trình bày cuối cùng.
1.5.3 Dịch vụ cơ sở hạ tầng
Một cơ cấu portal tốt bao gồm nhiều lớp dịch vụ cơ sở hạ tầng, hỗ trợ mộtnền (platform) thống nhất và tích hợp toàn diện Nó bao gồm các dịch vụ liênquan đến load balancing (cân bằng tải), caching, bảo mật, nâng cao hiệu suất…
để hỗ trợ một cách tốt nhất cho server Các giải pháp bảo mật ở đây có thể là sửdụng giải pháp bức tường lửa (firewall), giải pháp tạo mạng riêng ảo (VirtualPrivate Network), hoặc dịch vụ xác thực LDAP, chế độ truy nhập một cửa(single-sign-on), hay các dịch vụ thẩm định quyền truy cập của portal
1.5.4 Dịch vụ chứng thực
Lớp dịch vụ chứng thực (identify) này giải quyết các vấn đề bảo mật củaportal và lớp ứng dụng Nó bao gồm các dịch vụ kiểm tra quyền (authentication)như quản lý tài khoản username/password, dịch vụ đồng hóa LDAP, chế độ truynhập một cửa,… Nó cũng bao gồm các dịch vụ thẩm quyền mà có thể sắp xếpchức năng (role), quyền cho người dùng dựa vào các đặc điểm bảo mật cá nhân
và phạm vi nội dung trong portal Trong khi cơ sở hạ tầng hỗ trợ quản lý việckiểm tra quyền, thì người dùng có thể thiết lập sự bảo mật cho các portlet riêngbiệt hoặc các thư mục nội dung thông qua các dịch vụ quản trị (Administration/Management services) hoặc các dịch vụ nội dung (content services) Trong mộtcấu trúc portal được tích hợp tốt, phần front-end được cung cấp bởi các lớp này(Authentication and content) sẽ kết nối với một tập hợp các dịch vụ bảo mật cơbản và độc lập
1.5.5 Dịch vụ quản trị
Các dịch vụ admistration/management (quản trị/quản lý) rất cần thiết chomỗi portal để có thể dễ quản trị và hỗ trợ hơn, cho phép những người dùng cóquyền (power user) được định cấu hình của cơ cấu portal cho mỗi cộng đồngngười dùng Thêm vào đó, các tổ chức công nghệ thông tin có thể định cấu hình,
Trang 18quản lý và hỗ trợ cho môi trường làm việc Các dịch vụ quản trị của các portalthường được đưa ra trong một giao diện web, nhưng trong một số các trườnghợp khác thì có một chương trình client/server riêng biệt để có thể kiểm traquyền một cách dễ dàng hơn Các dịch vụ này có thể bao gồm quản lý việc phânloại, quản lý người dùng, quản lý định dạng cấu hình, quản lý chức năng, đăng
ký các module và các dịch vụ thông tin
1.5.6 Dịch vụ truy cập và tích hợp
Một giải pháp portal tổng thể sẽ cung cấp một cấu trúc để nhập dữ liệuvào cơ sở dữ liệu mặt sau và các ứng dụng Các lớp dịch vụ Access vàIntegration (truy cập và tích hợp) cung cấp chức năng này cho portal, thậm chí làcác portlet riêng biệt Lớp này có thể kết hợp với một giải pháp EAI đang có đểtruy cập vào bộ thích ứng mặt sau bất kỳ hoặc API Một lớp dịch vụ truy cập vàtích hợp chuẩn sẽ cho phép mở rộng các bộ thích ứng (adapter) của một hệthống khi cần thiết
1.5.7 Dịch vụ nội dung
Các dịch vụ nội dung là một phần rất quan trọng của một giải pháp portaltổng thể Dịch vụ này quản lý những tài sản số chưa được cấu trúc (unstructureddigital assets) trong một portal Nó thường bao gồm một máy chỉ mục văn bản(full text indexing engine), một tập hợp các crawler có khả năng đánh dấu và chỉmục nội dung đang có, kho dữ liệu thô, và hệ thống quản lý nội dung để đệ trình(submit) và chấp nhận (approval) nội dung vào portal Lớp dịch vụ này cũng baogồm 1 bộ phận quản lý việc phân loại (taxonomy)
1.5.8 Dịch vụ hợp tác
Các dịch vụ hợp tác cho phép người dùng của một portal làm việc cùngnhau một cách hiệu quả hơn bằng cách thiết lập một không gian làm việc chung,một kho dữ liệu chung, và các diễn đàn thảo luận chung Dịch vụ hợp tác cũngcho phép việc định nghĩa và thực thi các tiến trình công việc bên trong và bênngoài một công ty cho các nguồn nội dung khác nhau cũng như các hệ thốngmặt sau
1.5.9 Dịch vụ phát triển
Dịch vụ phát triển là một môi trường cho phép phát triển các portal tuỳchỉnh, các module portal tuỳ chỉnh, hoặc các portlet Thông thường, các portlethoạt động giống như các tầng của hệ thống dịch vụ Web Các dịch vụ phát triểncho phép tạo ra các module này bằng cách hỗ trợ http, rendering, sự tuỳ biến, vàcác dịch vụ liên quan đến XML Các dịch vụ này cũng bao gồm các công cụ hỗtrợ và các methodology (phương pháp luận)
Trang 191.5.10 Dịch vụ công
1.5.10.1 Khái niệm
Dịch vụ công (từ tiếng Anh là “public service”) có quan hệ chặt chẽ vớiphạp trù hàng hóa công cộng Theo ý nghĩa kinh tế học, hàng hóa công cộng cómột số đặc tính cơ bản như: 1 Là loại hàng hóa mà khi đã được tạo ra thì khó cóthể loại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó; 2.Việc tiêu dùng của người này khônglàm giảm lượng tiêu dùng của người khác; 3 Và không thể vứt bỏ được, tức làngay khi không được tiêu dùng thì hàng hóa công cộng vẫn tồn tại Nói mộtcách giản đơn, thì những hàng hóa nào thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi làhàng hóa công cộng thuần túy, và những hàng hóa nào không thỏa mãn cả bađặc tính trên được gọi là hàng hóa công cộng không thuần túy
Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính chorằng dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thichức năng quản lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóacông cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội Cách hiểu này nhấnmạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấphàng hóa công cộng cho rằng đặc trưng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt độngđáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động
ấy có thể do nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm
Khái niệm và phạm vi dịch vụ công sẽ biến đổi tùy thuộc vào bối cảnhcủa mỗi quốc gia Chẳng hạn, ở Canada, có tới 34 loại hoạt động được coi làdịch vụ công, từ quốc phòng, an ninh, pháp chế, đến các chính sách kinh tế - xãhội (tạo việc làm, quy hoạch, bảo vệ môi trường, và các hoạt động y tế, giáodục, văn hóa, bảo hiểm xã hội,…) Trong đó, Pháp và Italia đều quan niệm dịch
vụ công là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân do các cơquan nhà nước đảm nhiệm hoặc do các tổ chức cá nhân thực hiện theo nhữngtiêu chuẩn, quy định của nhà nước Ở Pháp, khái niệm dịch vụ công được hiểurộng, bao gồm các hoạt động phục vụ nhu cầu về tinh thần và sức khỏe củangười dân (như giáo dục, văn hóa, y tế, thể thao… thường được gọi là hoạt động
sự nghiệp), các hoạt động phục vụ đời sống dân cư mang tính công nghiệp (điện,nước, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường… thường được coi là hoạt độngcông ích), hay các dịch vụ hành chính công bao gồm các hoạt động của cơ quanhành chính về cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch… mà cả hoạt động thuyế vụ, trật tự, anninh, quốc phòng…; còn ở Italia dịch vụ công được giới hạn chủ yếu ở hoạtđộng sự nghiệp (y tế, giáo dục) và hoạt động kinh tế công ích (điện, nước sạch,
vệ sinh môi trường) và các hoạt động cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch do cơ quanhành chính thực hiện
Trang 20Ở Việt Nam, tập trung nhiều hơn vào chức nămg phục vụ xã hội của nhànước, mà không bao gồm các chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp,
tư pháp, ngoại giao,… qua đó nhấn mạnh vai trò chủ thể của nhà nước trongviệc cung cấp các dịch vụ cho cộng đồng Điều quan trọng là chúng ta phải sớmtách hoạt động dịch vụ công (lâu nay gọi là hoạt động sự nghiệp) ra khỏi hoạtđộng hành chính công quyền như chủ trương của Chính phủ đã đề ra nhằm xóa
bỏ cơ chế bao cấp, giảm tải cho bộ máy nhà nước, khai thác mọi nguồn lực tiềmtàng trong xã hội, và nâng cao chất lượng của dịch vụ công phục vụ người dân.Điều 22 của Luật Tổ chức chính phủ (2001) quy định: “Bộ, cơ quan ngang Bộ là
cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước các dịch vụ côngthuộc ngành, lĩnh vực,…” Điều này không có nghĩa là nhà nước độc quyềncung cấp các dịch vụ công mà trái lại nhà nước hoàn toàn có thể xã hội hóa một
số dịch vụ, qua đó trao một phần việc cung ứng một phần của một số dịch vụ,như ý tế, giáo dục, cấp thoát nước,… cho khu vực phi nhà nước thực hiện
Có thể thấy rằng khái niệm và phạm vi các dịch vụ công cho dù được tiếpcận ở nhiều góc độ khác nhau, chúng đều có tính chất chung là nhằm phục vụcho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của xã hội Ngay cả khi nhà nước chuyểngiao một phần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân thì nhà nướcvẫn có vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụnày và khắc phục các bất cập của thị trường
Từ những tính chất trên đây, “dịch vụ công” được hiểu theo nghĩa rộng vànghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, dịch vụ công là những hàng hoá, dịch vụ mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng Theo đó, dịch vụ công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Chính phủ, bao gồm từ các hoạt động bah hành chính sách, pháp luật, toà án… cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công công.
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ công được hiểu là những hàng hoá, dịch vụ phục
vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng.
1.5.10.2 Đặc trưng cơ bản của dịch vụ công
- Thứ nhất, đó là những hoạt động phục vụ cho lợi ích chung thiết yếu,các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân
- Thứ hai, do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp cung ứnghoặc uỷ nhiệm việc cung ứng) Ngay cả khi Nhà nước chuyển giao dịch vụ nàycho tư nhân cung ứng thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm
Trang 21bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này, khắc phục các điểm khuyềnkhuyết của thị trường.
- Thứ ba, là các hoạt động có tính chất phục vụ trực tiếp, đáp ứng nhu cầu,quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân
- Thứ tư, mục tiêu nhằm bảo đảm tính công bằng và tính hiệu quả trongcung ứng dịch vụ
1.5.10.3 Các loại dịch vụ công
Dịch vụ công có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, xét theo tiêuchí chủ thể cung ứng, dịch vụ công được chia thành 3 loại, như sau:
Dịch vụ công do cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp: Đó là những dịch
vụ công cộng cơ bản do các cơ quan của nhà nước cung cấp Thí dụ, an ninh,giáo dục, phổ thông, chăm sóc y tế công cộng, bảo trợ xã hội…
Dịch vụ công do các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cung cấp,gồm những dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không tựctiếp thực hiện mà ủy nhiệm cho tổ chức phi chính phủ và tư nhân thực hiện,dưới sự đôn đốc, giám sát của nhà nước Thí dụ các công trình công cộng dochính phủ gọi thầu có thể do các công ty tư nhân đấu thầu xây dựng
- Dịch vụ công do tổ chức nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tưnhân phối hợp thực hiện Loại hình cung ứng dịch vụ này ngày càng trở nên phổbiến ở nhiều nước Như ở Trung Quốc, việc thiết lập hệ thống bảo vệ trật tự phốihợp thực hiện
Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chiadịch vụ công thành các loại sau:
- Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năngquản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân, Do vậy, cho đến nay,đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền haycác cơ quan do nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụhay dịch vụ công Đây là một phần trong chức năng quản lý nhà nước, Để thựchiện chức năng này, nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếpnhư cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,…(Ở một số nước, dịch vụ hành chính công được coi là một loại hoạt động riêng,không nằm trong phạm vi dịch vụ công Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cũng
có quan điểm như vậy) Người dân được hưởng những dịch vụ này không theoquan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc đóng lệ ohis
Trang 22hoặc ohis cho cơ quan hành chính nhà nước Phần lệ phí này mang tính chất hỗtrợ cho ngân sách nhà nước
- Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xãhội thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sứckhỏe, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội,… Xu hướng chung hiện naytrên thế giới là nhà nước chỉ thực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội khôngthể làm được hoặc không muốn làm nên nhà nước đã chuyển giao một phần việccung ứng loại dịch vụ công này cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội
- Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cơbản, thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: Vệ sinh môi trường, xử lý rácthải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị, phòng chống thiên tai… chủ yếu
do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện Có một số hoạt đọng ở địa bàn cơ sở
do khu vực tư nhân đứng ra đảm nhiệm như vệ sinh môi trường, thu gom vậnchuyển rác thải ở một số đô thị nhỏ, cung ứng nước sạch ở một số vùng nôngthôn…
1.5.10.4 Các đặc điểm của dịch vụ công
Các lại hình dịch vụ công có những đặc điểm chung cơ bản sau đây:
- Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính phục vụ lợi ích cộngđồng đáp ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị xãhội và bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi.Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ công với tưcách là đối tượng phục vụ của nhà nước Từ đó, có thể thấy tính kinh tế, lợinhuận không phải là điều kiện tiên quyết chi phối hoạt động dịch vụ công
- Dịch vụ công cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường mà làhàng hóa đặc biệt do nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm do tổ chức cá nhân thựchiện, đáp ứng nhu cầu toàn xã hội bất kể sản phầm được tạo ra có hình thái hiệnvật hay phi hiện vật
- Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ.Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay đúnghơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước, Cũng cónhững dịch vụ công mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinhphí; song nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ nàykhông nhằm mục tiêu lợi nhuận
- Từ góc độ kinh tế học, dịch vụ công là các hoạt động cung ứng cho xãhội một loại hàng hóa công cộng Loại hàng hóa này mang lại lợi ích không chỉcho những người mua nó, mà cho cả những người không phải trả tiền cho hàng
Trang 23hóa này Ví dụ giáo dục đào tạo không chỉ đáp ứng nhu cầu cảu người đi học màcòn góp phần nâng cao mặt bằng dân trí và văn hóa của xã hội Đó là nguyênnhân khiến cho chính phủ có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong việc sảnxuất hoặc đảm bảo cung ứng các loại hàng hóa công cộng.
Với sự đa dạng của các loại hình dịch vụ công, của các hình thức cungứng dịch vụ công, và những đặc điểm của dịch vụ công, có thể thấy rằng cungứng loại dịch vụ này là một cách có hiệu quả không phải là một vấn đề đơn giản.Nhà nước phải xác định rõ loại dịch vụ nào nhà nước cần giữ vai trò cung ứngchủ đạo, loại dịch vụ nào nhà nước về vấn đề này như thế nào Kinh nghiệm củanhiều nuơcs những năm qua cho thấy rằng trong cung ứng dịch vụ công, nhànước chỉ trực tiếp tực hiện những loại dịch vụ công mà khu vực phi nhà nowcskhông thể làm đuxcj và không muốn làm Nếu nhà nước không chuyển giao việccung ứng dịch vụ công ở các lĩnh vực tích hợp cho khu vực phi nhà nước và cảicách việc cung ứng dịch v ụ công của các cơ quan nhà nước, thì hiệu quả cungứng dịch vụ công về tổng thể sẽ bị giảm sút, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sốngcủa người dân và sự phát triển chung của toàn xã hội Điều cốt lõi là nhà nướcphải cân nhắc, tính toán và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa lợi ích củanhà nước, của xã hội với lợi ích của tổ chức và cá nhân tham gia cung ứng dịch
vụ công
1.5.10.5 Dịch vụ công trực tuyến
Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ kháccủa cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trườngmạng Có các loại dịch vụ công như sau:
+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ bảo đảm cung cấp đầy
đủ các thông tin về thủ tục hành chính và các văn bản có liên quan quy định vềthủ tục hành chính đó
+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức độ
1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện
hồ sơ theo yêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đườngbưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ
+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức độ
2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơquan, tổ chức cung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ vàcung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán lệ phí(nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấpdịch vụ
Trang 24+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ
3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trựctuyến Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc quađường bưu điện đến người sử dụng
1.5.11 Dịch vụ hành chính công
1.5.11.1 Khái niệm
Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý.
Đây là loại hình dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằmđáp ứng yêu cầu của người dân Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung ứng duynhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan nhà nướcthành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công Đây làmột phần trong chức năng quản lý nhà nước Để thực hiện chức năng này nhànước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấychứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch…(ở một số nước, dịch vụhành chính công được coi là một loại hoạt động riêng, không nằm trong phạm vidịch vụ công Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cũng có quan điểm như vậy).Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, nganggiá trên thị trường, mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quanhành chính nhà nước Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhànước
Hành chính công có liên quan đến mức độ thỏa mãn các nhu cầu côngcộng của xã hội, liên quan đến tiến bộ kinh tế, xã hội của một quốc gia Theocác nhà nghiên cứu Trung Quốc, tác dụng của hành chính công chủ yếu là tácdụng dẫn đường, tác dụng quản chế, tác dụng phục vụ và tác dụng giúp đỡ Nói
về tác dụng quản chế, tức là nhà nước phát huy năng lực quản lý công cộngmang tính quyền uy, cưỡng chế để xử lý, điều hòa các quan hệ xã hội và lợi ích
xã hội, đảm bảo cho xã hội vận hành tốt; còn về tác dụng giúp đỡ, đó chính là sựgiúp đỡ của nhà nước đối với các địa phương nghèo, những người có hoàn cảnhkhó khăn, như giúp đỡ người nghèo, cứu tế xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xãhội, y tế…Việc cung ứng dịch vụ hành chính công còn tác dụng trực tiếp đến sựphát triển kinh tế - xã hội của đất nước Khi cung cấp các dịch vụ này, nhà nước
sử dụng quyền lực công để tạo ra dịch vụ như cấp các loại giấy phép, đăng ký,chứng nhận, thị thực…Tuy xét về mặt hình thức, sản phẩm của các dịch vụ này
Trang 25chỉ là các loại văn bản giấy tờ, nhưng chúng lại có tác dụng chi phối quan trọngđến các hoạt động kinh tế- xã hội của đất nước Chẳng hạn, giấy đăng ký kinhdoanh của doanh nghiệp thể hiện việc nhà nước công nhận doanh nghiệp đó rađời và đi vào hoạt động, điều này dẫn đến những tác dụng và kết quả đáng kể vềmặt kinh tế- xã hội Ngoài ra, thông qua việc cung ứng dịch vụ công, nhà nước
sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo quyền dân chủ và các quyền hợp phápkhác của công dân
1.5.11.2 Dịch vụ hành chính công gắn với chức năng phục vụ và quản lý của nhà nước
Dịch vụ hành chính công gắn với chức năng phục vụ và quản lý của nhà
nước, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện để phục vụ các quyền và
nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân Trong những năm qua, Nhà nước
ta đã chú trọng đổi mới và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chínhcông, coi đó là một khâu quan trọng trong việc thực hiện chương trình cả cáchnền hành chính cả về thể chế, thủ tục, tổ chức bộ máy và cán bộ Nhà nước đãbắt đầu áp dụng các phương tiện kỹ thuật điện tử, tin học để nâng cao chất lượngdịch vụ hành chính công, như việc cung cấp thông tin về thể chế, tổ chức, đấuthầu các dự án chi tiêu công, đăng ký cấp phép kinh doanh, cấp phép đầu tư, hỏiđáp pháp luật hay đăng ký xe máy…Nhìn chung việc cung ứng dịch vụ hànhchính công có một số tiến bộ, nhưng không đều Người dân và doanh nghiệpđược tạo thuận lợi và dễ dàng hơn trong một số việc cần giải quyết với cơ quannhà nước, như đăng ký kinh doanh, làm thủ tục hộ tịch, tìm hiểu luậtpháp….song còn gặp nhiều rắc rối, phiền hà trong nhiều lĩnh vực khác, như cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất, cho thuê dất, cấp phép xây dựng nhà,công chứng, hộ khẩu….Người dân và doanh nghiệp vẫn tiếp tục là “nạn nhân”của tình trạng phiền nhiễu, bất hợp lý, chậm trễ, thiếu hiệu quả trong tổ chức vàhoạt động của bộ máy hành chính các cấp
1.5.11.3 Chủ trương xã hội hóa trong cung ứng dịch vụ hành chính công
“Cung ứng dịch vụ công”: từ cung ứng hiểu đầy đủ có nghĩa là cả sảnxuất và phân phối dịch vụ công (hoặc cung ứng và hưởng thụ dịch vụ công)
Tại Đại hội Đảng tòan quốc lần thứ VIII (1996), Đảng ta khẳng định:
“Thực hiện phương châm xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dụcthể thao, y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục và các mặt xã hội khác,hướng vào nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần và thể lực của nhândân
Trang 26Chủ trương này tiếp tục được khẳng định tại Văn kiện Đại hội lần thứ IXcủa Đảng, tại một số Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng, tại Chương trìnhtổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ vàđược cụ thể hóa tại nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước Đáng chú ý là:
+ Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng
và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa tạo cơ sở pháp lý
cơ bản cho họat động xã hội hóa trong lĩnh vực này
+ Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chínhsách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáodục, văn hóa và thể thao theo quy định cụ thể về chính sách khuyến khích xã hộihóa…
Nghị định 73 dành cả Chương III để quy định về quản lý tài chính của các
cơ sở ngòai công lập cung ứng dịch vụ công
1.5.11.4 Thành tựu trong cung ứng dịch vụ hành chính công đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN)
Trong những năm qua, Việt Nam đã đẩy mạnh đổi mới tư duy trong quản
lý và tổ chức hoạt động KH&CN, gắn hoạt động KH&CN với sản xuất, kinhdoanh, lấy hiệu quả làm mục tiêu và tiêu chí đánh giá hoạt động của các tổ chứcKH&CN và các nhà khoa học Đề án Đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, đượcThủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành năm 2004, đã khẳng định rõ:
“Đến năm 2010, tiếp tục đổi mới, tạo bước chuyển biến cơ bản trong quản lýKH&CN phù hợp với cơ chế thị trường định hướng XHCN, với yêu cầu chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế và đặc thù của hoạt động KH&CN, phục vụ đắclực cho sự nghiệp phát triển bền vững với tốc độ nhanh của đất nước” Trong đề
án này, một trong những quan điểm cần được quán triệt trong quá trình đổi mới
cơ chế quản lý KH&CN chính là việc đẩy mạnh xã hội hóa, tạo môi trường bìnhđẳng cho các tổ chức, các nhân họat động KH&CN Văn kiện Đại hội lần thứ Xcủa Đảng cũng tái khẳng định sự cần thiết xã hội hóa hoạt động KH&CN Dựatrên nền tảng chính sách đó, các cấp, các ngành trong thời gian qua đã tích cựcthực hiện đổi mới công tác quản lý KH&CN với những kết quả nhất định…
Đảng và Nhà nước ta có chủ trương xã hội hóa cung ứng dịch vụ công.Quá trình xã hội hóa trong một số lĩnh vực dịch vụ công được thực hiện trong 10năm qua đã mang lại những kết quả tích cực, tuy nhiên cũng bộc lộ không ít hạnchế Hiện nay, Chính phủ và các cấp, các ngành đang tích cực đẩy mạnh thựchiện xã hội hóa trong một số lĩnh vực dịch vụ công quan trọng như giáo dục vàđào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, từ đó mở rộng ra các lĩnh vực khác tạo
Trang 27nên một đợt cải cách sâu rộng về cung ứng và quản lý dịch vụ công hỗ trợ đắclực cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nói chung
1.6 Công nghệ xây dựng Portal
Mặc dù Internet ra đời từ rất sớm, khoảng những năm 60 của thế kỷ 20nhưng phải đến khi Tim Bener-Lee phát minh ra WWW thì Internet mới thực sựphát triển Từ ý tưởng ban đầu muốn xây dựng một dịch vụ cho phép ngườidùng Internet có thể trao đổi và truy nhập vào các kho dữ liệu nằm ở các máytính khác nhau trong mạng với một chuẩn kỹ thuật là TCP/IP Dịch vụ WWW
đã phát triển qua các giai đoạn từ Web tĩnh, đến Web động và hiện nay là môhình cổng giao tiếp – Portal
* Công nghệ Web tĩnh
Công nghệ chủ yếu dùng là sử dụng ngôn ngữ HTML để xây dựng cáctrang Web tĩnh Với việc sử dụng HTML, một Website có thể cung cấp tớingười dùng những dữ liệu dưới dạng văn bản, dạng hình ảnh và dạng đa phươngtiện (video, audio, )
Để có thể xây dựng được các trang dữ liệu thể hiện bởi HTML, người ta
- Để nâng cao khả năng trình bày của các trang Web tĩnh và thực hiện một
số thao tác tương tác đơn giản, người ta có thể sử dụng các công nghệ như:javascript, CSS, DHTML, Tuy nhiên về cơ bản nội dung của các Website tĩnhbao giờ cũng được xây dựng từ trước, sau đó cung cấp cho người dùng hay nóicách khác người dùng không thể thay đổi nội dung của một trang Web tĩnh theocách tương tác Ví dụ: người dùng muốn tìm kiếm thông tin về một công ty bằngcách nhập tên của công ty đó thì nội dung của trang Web sẽ trả lời các thông tin
có liên quan đến công ty đó
- Cùng với sự phát triển của CNTT, các Website tĩnh cũng đã phát triếnsang một giai đoạn mới là Website động để đáp ứng được nhu cầu của ngườidùng
* Công nghệ Web động
Trang 28Như ví dụ ở phần trên đã cho chúng ta thấy khả năng đáp ứng củaWebsite động đối với nhu cầu của người dùng khi khai thác Internet Một điểmkhác nhau cơ bản giữa Website tĩnh và Website động là: nội dung thông tin củatrang Web chỉ thực sự được xây dựng khi cần trả lời một yêu cầu của ngườidùng Nội dung của các trang Web động được xây dựng từ ba nguồn sau:
- Các trang mẫu (HTML template) định nghĩa cách trình bày nội dung
- Nội dung của trang được lấy ra từ kho dữ liệu của Website thôngthường, kho dữ liệu này được tổ chức dưới dạng CSDL
- Nội dung yêu cầu của người dùng nhập vào khi có yêu cầu
Thực chất giai đoạn hình thành Website động so với Website tĩnh không
rõ ràng vì từ lúc bắt đầu phát triển dịch vụ WWW người ta đã lồng ghép trongcác Website tĩnh những phần nội dung được thể hiện bằng các trang Web động
Ví dụ như mục tìm kiếm trên Website, hay mục hội thoại, trao đổi trong diễnđàn, Nhưng sự hình thành xu hướng “động hóa” Website thì thấy rất rõ Nếutrong giai đoạn trước những năm 1990, các Website có rất ít phần thông tin độngthì từ đó trở lại đây số lượng các Website được xây dựng theo phương thức động
đã tăng nhanh chóng Nguyên nhân của sự bùng phát này là do công nghệ sửdụng xây dựng Website ngày càng phát triển, nội dung của dữ liệu trongWebsite cũng ngày càng tăng, đồng thời nhu cầu của người dùng về cách trìnhbày, tính tương tác cũng ngày càng đa dạng về chất lượng cũng như về số lượng
Để giải quyết tốt các yêu cầu đó, việc sử dụng Website động là một phương ántối ưu Hiện nay có rất nhiều ngôn ngữ lập trình như Java, PHP, Perl, ASP, vàcông nghệ như XML, Visual NET, J2EE được áp dụng trong việc xây dựngcác Website động
CHƯƠNG 2 TÌM HIỂU NỀN TẢNG WORDPRESS
2.1 Khái niệm CMS
CMS là chữ viết tắt của Content Management System, hay còn gọi là hệthống quản trị nội dung nhằm mục đích giúp dễ dàng quản lý, chỉnh sửa nộidung Nội dung ở đây có thể là tin tức điện tử, báo chí hay các media hình ảnh,video, Hệ thống CMS giúp tiết kiệm thời gian quản lý, chi phí vận hành vàbảo trì nên hiện nay có rất nhiều công ty sử dụng Không chỉ là công ty mà hiệnnay các blog cá nhân cũng ra đời với số lượng không hề nhỏ, và họ chọn giảipháp sử dụng CMS nhằm dễ dàng xây dựng website và quản lý nội dung, bêncạnh đó còn tiết kiệm được chi phí xây dựng website
Trang 29WordPress là một mã nguồn mở bằng ngôn ngữ PHP để hỗ trợ tạo blog cánhân, và nó được rất nhiều người sử dụng ủng hộ về tính dễ sử dụng, nhiều tínhnăng hữu ích Qua thời gian, số lượng người sử dụng tăng lên, các cộng tác viên
là những lập trình viên cũng tham gia đông đảo để phát triển mã nguồnWordPress có thêm những tính năng tuyệt vời Và cho đến thời điểm viết bàinày là 2015, WordPress đã được xem như là một hệ quản trị nội dung (CMS –Content Management System) vượt trội để hỗ trợ người dùng tạo ra nhiều thểloại website khác nhau như blog, website tin tức/tạp chí, giới thiệu doanhnghiệp, bán hàng – thương mại điện tử, thậm chí với các loại website có độ phứctạp cao như đặt phòng khách sạn, thuê xe, đăng dự án bất động sản,…v…vâng…Hầu như mọi hình thức website với quy mô nhỏ và vừa đều có thể triểnkhai trên nền tảng WordPress Nhưng như thế không có nghĩa là WordPress chỉthích hợp với các dự án nhỏ, mà hiện nay có tới khoảng 25% website trong danhsách 100 website lớn nhất thế giới sử dụng mã nguồn WordPress Ví dụ nhưtrang tạp chí TechCrunch, Mashable, CNN, BBC America, Variety, SonyMusic, MTV News, Bata, Quartz,…
Hiện nay mã nguồn WordPress đã có những thành tựu rất vượt bậc và làmột mã nguồn CMS mở rất phổ biến
- Trên thế giới, có khoảng 25 bài viết được đăng lên các website sử dụngWordPress mỗi giây
- Số lượng website làm bằng WordPress chiếm 23% tổng số lượngwebsite trên thế giới
- Trong số các website sử dụng mã nguồn CMS, WordPress chiếm 60%
- Phiên bản WordPress 4.0 đạt hơn 16 triệu lượt tải chỉ sau hai tháng
- WordPress đã được dịch sang 52 ngôn ngữ khác nhau Tuy nhiên lạichưa có phiên bản tiếng Việt chính thức, nhưng bạn có thể Việt hóa dễ dàngbằng cách tìm bài trên blog với từ khóa “Việt hóa WordPress“
- Có hơn 80 chương trình họp mặt về WordPress tổ chức vào năm 2014
Trang 30- Mã nguồn WordPress hiện đang có khoảng 785 lập trình viên cùng hợptác phát triển.
- Chỉ tính các giao diện (hay còn gọi là theme) miễn phí trên thư việnWordPress.org thì đã có hơn 2.700 themes khác nhau
2.3 Lịch sử về WordPress
2.3.1 Sự phát triển của WordPress
WordPress ban đầu được biết đến với cái tên b2/cafelog được phát hànhphiên bản đầu tiên vào ngày 27/05/2003 Ngay sau khi phát hành WordPress đã
có khoảng hơn 2000 blog sử dụng Vài năm sau đó WordPress đã có nhữngbước tiến vượt bậc thể hiện ở kho Plugins và Theme khổng lồ với rất nhiều tùybiến
- Năm 2004, WordPress 1.2 ra mắt chính thức hỗ trợ thêm các Pluginscho phép cài đặt thêm nhiều chức năng mở rộng từ người dùng
- Năm 2005, WordPress 2 ra mắt và hỗ trợ việc cài đặt theme
- Năm 2007, WordPress vượt qua con số 1 triệu người dùng và dành giảithưởng Packt Open Source CMS
- Năm 2009, WordPress dẫn đầu về CMS tốt nhất
- Năm 2010, WordPress 3 ra mắt và vượt mức 11 triệu người dùng
- Năm 2011 có tổng cộng trên 70 triệu Website sử dụng WordPress trênthế giới
- Năm 2013, các thống kê cho thấy có đến 20% trong số 10 triệu websitehàng đầu thế giới sử dụng WordPress
- Ngày 05-09-2014 WordPress 4.0 chính thức ra mắt với tên gọi Benny.Trong phiên bản 4.0 này WordPress đã hỗ trợ lựa chọn ngôn ngữ khi cài đặt tuynhiên tiếng Việt lại không có trong danh sách lựa chọn ngôn ngữ Cải tiến thêm
về khu vực quản lý thư viện hình ảnh, video cho phép hiển thị và duyệt ảnh,video theo dạng lưới trực quan hơn Cải tiến về trình soạn thảo bài viết giúp tậptrung hơn vào nội dung bài viết và rất nhiều nâng cấp khác nữa
2.3.2 Mức độ phổ biến của WordPress
WordPress là mã nguồn mở miễn phí được sử dụng (để xây dựngblog/website) nhiều nhất hiện nay Nền tảng này xuất hiện trên hơn 25% tổng sốblog/website đang hoạt động Với nhiều ưu điểm vượt trội, hoàn toàn miễn phí
và được hỗ trợ bởi một cộng đồng các nhà phát triển đông đảo, WordPress đã vàđang tạo nên những “kỳ tích” đáng ngưỡng mộ
Trang 31- WordPress 4.4 đã có hơn 40 triệu lượt tải về.
- 23.9% số site nằm trong top 1 triệu của thế giới sử dụng mã nguồnWordPress
- 21.3% số site nằm trong top 100.000 của thế giới sử dụng mã nguồnWordPress
- 26% số site nằm trong top 10.000 của thế giới sử dụng mã nguồnWordPress
- Kho themes miễn phí của WordPress hiện đang sở hữu hơn 3000 themesvới hơn 118 triệu lượt tải về
- Kho plugins miễn phí có đến hơn 44.000 plugins với 1.22 triệu lượt tải
về Theo mình, chỗ này phải là 1.22 tỉ mới đúng (?)
- WordPress hỗ trợ 160 ngôn ngữ và đã được dịch ra 40 ngôn ngữ khácnhau
- 205 ticket yêu cầu bổ sung tính năng đã được đáp ứng trong năm 2015,tăng 80% so với năm 2014
- Có khoảng 976 nhóm hội thảo về WordPress trên toàn thế giới, với hơn300.000 thành viên
- Đã có 549 WordCamps được tổ chức tại 65 thành phố thuộc 48 quốc giatrên 6 lục địa
- Trong năm 2015, đã có 89 WordCamps được tổ chức, thu hút hơn21.000 người tham gia
- Những thương hiệu lớn như eBay, Sony, New York Times… cũng đang
sử dụng WordPress để xây dựng website của họ
Trang 32Hình 2.3.2.1.1.1 Mức độ phổ biến của WordPress 2.4 Phân loại WordPress
2.4.1 WordPress.com
WordPress.com là một dịch vụ blog miễn phí sử dụng nền tảng blogWordPress để cung cấp không gian lưu trữ blog cho người dùng Đây cũng làmột sản phẩm của Automattic nhưng chuyên phục vụ cho các đối tượng ngườidùng chỉ muốn có một website WordPress nhanh chóng mà không cần cài đặt,không cần thuê host và chi phí để sử dụng tên miền riêng là $25/năm Ngườidùng có thể sử dụng đa số những tính năng ưu việt và thân thiện của WordPress
để sử dụng trong việc tạo một blog cho riêng mình
Hình 2.4.1.1.1.1 WordPress.com
Những ưu điểm khi sử dụng phiên bản miễn phí tại WordPress.com:
- Người sử dụng không cần phải đầu tư cho không gian lưu trữ web(hosting), không cần chi phí cho đội ngũ kỹ thuật để blog hoạt động ổn định