Một số nghiên cứu trên hàng trăm người học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai ở Canada lại cho thấy tỉ lệ người học muốn đạt được giọng giống người bản ngữ có thể lên đến 67% Timmis, 2002, t
Trang 1Đặc quyền Vinglish hay RP
phiên bản Việt?
<Không có gì mới, chỉ là cho vào một note để sau này tìm lại và chia
sẻ dễ dàng hơn>
Disclaimer: Tôi không phải giáo viên TESOL hay nhà ngôn ngữ học nên sẽ chẳng có bằng cấp nào để chứng minh kiến thức của mình Nhưng nếu bạn tin một người đã dành gần 20 năm để học ngoại ngữ, sáng nào cũng tập khạc nhổ, phun phì phì như trẻ 1 tuổi phun nước bọt, và kêu quạc quạc như con vịt ngạt mũi, thì bạn có thể đọc vô tư Đây cũng không phải một bài viết hàn lâm, và tôi sẽ cố tránh việc phải dùng những từ khủng khiếp như “tính tường minh” vào bài viết Tuy nhiên, tôi sẽ đưa vào khá nhiều chứng cứ và trích dẫn khoa học,
để cho thấy những gì tôi viết có cơ sở Bài viết sẽ rất dài và động đến những vấn đề có thể đòi hỏi nhiều suy nghĩ hơn đọc báo lá cải một chút Âu cũng là cái liễn, nếu ai đó muốn nghiêm túc luyện tập để đạt giọng gần với tiếng Anh bản ngữ
-Do quá trình học ngoại ngữ rất lung tung và không có giáo viên về phát âm, giọng tiếng Anh của tôi là một thứ hỗn hợp giữa Anh – Việt – Pháp Bất kể đa số người Anh và Mỹ vẫn có cảm giác tôi có giọng Anh-Anh, tôi vẫn luôn nhận giọng tiếng Anh của mình là giọng
Vinglish hỗn tạp (mixed) Thực ra đó là một đặc quyền của người Việt Tuy nhiên, vẫn luôn tồn tại câu hỏi “Vietnamese accent, British accent, or American accent - chọn cái nào?”
Tôi không chắc có công trình nghiên cứu khoa học nào trả lời được 2 câu hỏi này Tuy nhiên, trong chừng mực nghiên cứu cùng kinh
Trang 2nghiệm học tập và làm việc của mình, tôi nhận thấy có một số vấn
đề mà người bắt đầu học ở tuổi trưởng thành cần nhận thức trước khi luyện tập để tiệm cận giọng bản ngữ
1 British accent? American accent?
Trước hết, cần hiểu “giọng” (accent) là “một bộ tập quán phát âm của một cộng đồng sử dụng ngôn ngữ” (Indiana University, 2008) Nếu phân chia cộng đồng nói tiếng Anh trên Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len theo vị trí địa lý, chúng ta có rất nhiều cộng đồng
có giọng khác nhau (Ví dụ: giọng Posh, Cockney, và Estuary ở
London) Chính vì vậy, về mặt khoa học, không tồn tại cái gọi là
“British accent” Tương tự, không tồn tại cái gọi là “American
accent”
Tuy nhiên, giọng “chuẩn” (standard) ở Vương quốc Anh thường được người ta gọi là Received Pronunciation (RP) hay BBC Pronunciation Đây là giọng mà các thành viên Hoàng gia Anh và hầu hết phát thanh viên BBC sử dụng Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, người ta coi giọng General American (GA) là giọng chuẩn (Indiana University, 2008)
2 Giọng không ảnh hưởng nhiều đến tính rõ ràng và dễ hiểu
Nếu coi sự dễ hiểu là tiêu chí hướng tới khi học nói, “giọng” không phải là yếu tố quan trọng đến mức bắt buộc phải học Nhiều nghiên cứu cho thấy “giọng” không nhất thiết, hoặc ít khi làm giảm sự dễ hiểu của lời nói
Điểm khác biệt thường thấy nhất (và có lẽ cũng dễ nhận ra nhất) giữa các “giọng” là sự khác biệt ở âm tiết đơn lẻ (Indiana University, 2008) Theo Celce-Murcia và các tác giả khác (1996), “rhythm”,
“stress”, và “intonation” (nhịp điệu, trọng âm, và cao độ) mới là
những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới độ dễ hiểu của lời nói, chứ
không phải âm tiết đơn lẻ Lời nói của những người tham gia các lớp
Trang 3học về trọng âm và nhịp điệu cũng được đánh giá là dễ hiểu hơn so với người chỉ được học về âm thanh đơn lẻ (Derwing & Rossiter,
2003) Ở góc nhìn tổng quát hơn, một giọng không phải bản ngữ (foreign accent) cũng không hẳn làm giảm tính dễ hiểu hay rõ ràng của lời nói (Munro & Derwing, 2011)
Ngay cả khi có lỗi phát âm, nếu như chuỗi âm thanh được tạo ra vẫn thể hiện đủ thông tin và không tạo ra hiểu lầm thì cuộc nói chuyện vẫn diễn ra bình thường và không bị gián đoạn Thực tế, đa số mọi người cảm thấy việc ngắt lời và sửa lỗi của người đối diện là bất lịch
sự Tất nhiên họ sẽ có phản ứng thích hợp khi lỗi sai khiến họ không hiểu những gì đang được nói (Spada & Lightbown, 2013)
Ngoài ra, giọng giống bản ngữ đôi khi còn làm giảm tính dễ hiểu Ví dụ: các hiện tượng đồng hóa của giọng bản ngữ như nuốt âm
(elision), đồng hóa âm (assimilation), và dạng yếu của âm (weak form) ảnh hưởng tiêu cực đến tính rõ ràng và dễ hiểu của lời nói Nếu bạn nói tiếng Anh với đặc sản London - giọng Cockney nuốt âm /t/
và /h/, khi nói “a lot of batter” (/ơ lô tợp bá tờ/ :v) người ta sẽ nghe thấy bạn nói thế này: /ơ lo ợ bá ờ/
Sau đó sẽ là 5 giây im lặng từ cả hai phía
Tóm lại, có nhiều bằng chứng khoa học chứng minh rằng tính chính xác của âm đơn lẻ và “giọng” có ảnh hưởng rất ít đến sự rõ ràng và
dễ hiểu của lời nói Nếu như tính rõ ràng và dễ hiểu là mục tiêu quan trọng nhất của việc học và hướng dẫn phát âm, thì không cần thiết phải tập trung vào việc làm giảm giọng không bản ngữ (Munro & Derwing, 1995)
3 Giọng không đem lại nhiều lợi ích xã hội như ta tưởng
Một ngày đẹp trời, bạn dạo chơi ở thành phố Oxford Bạn bắt chuyện với một bác hói và được khen: “Giọng mày British thế!” Bạn phổng
Trang 4mũi Không những không bị coi như một đứa Châu Á hành xử kém văn minh suốt ngày nói to lại còn vứt rác lắm, bạn còn được khen rằng mình có được khả năng mà nhiều người phải ở Anh cả 5-10 năm mới có
Xong bạn đơ người khi bác hói hỏi: “Ờ thế mày đến từ Nhật hay
Trung Quốc hay Indo?”
- Bản sắc (Identity)
Nhìn chung các nghiên cứu về thể hiện bản sắc cá nhân qua giọng tiếng Anh cho kết quả không nhất quán Golombek và Jordan (2005) cho rằng việc thay đổi giọng tiếng Anh không thể nào đi đôi với việc giữ gìn bản sắc cá nhân Điều này có nghĩa: người học tiếng Anh càng phát âm giống người bản ngữ thì càng mất đi bản sắc
Một số nghiên cứu trên hàng trăm người học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai ở Canada lại cho thấy tỉ lệ người học muốn đạt được giọng giống người bản ngữ có thể lên đến 67% (Timmis, 2002), thậm chí 95% (Derwing & Rossiter, 2003) Ở các trường hợp này, người học cho rằng ngôn ngữ thứ nhất của họ đã đủ để thể hiện bản sắc cá nhân Họ đơn giản muốn mình có thể nói ngôn ngữ thứ hai như tiếng
mẹ đẻ Ở một nghiên cứu khác ủng hộ quan điểm trên, tác giả còn lật ngược vấn đề khi biện luận rằng “người bản ngữ” (native speaker) không phải là bản sắc gắn chặt với bản chất của một người Nói cách khác, không phải cứ sinh ra và lớn lên ở Anh sẽ là native speaker Cử chỉ và lời nói của một người mới quyết định anh ta có bản sắc native speaker hay không (Piller, 2002)
Khi xem xét các nghiên cứu trên, Derwing và Munro (2009) tiếp cận vấn đề bản sắc dựa trên quyền lựa chọn Sự thật là: người học tiếng Anh ở tuổi trưởng thành không thể kiểm soát hết các yếu tố ảnh hưởng tới phát âm Ví dụ: họ không thể thay đổi tuổi tác, sự gần gũi
Trang 5giữa ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai, hoặc nguồn mẫu phát
âm chuẩn Vì vậy, giúp đỡ những người học thay đổi giọng tiếng Anh của họ chính là trao cho họ nhiều quyền thể hiện bản sắc hơn, chứ không phải là giảm đi bản sắc vốn có (Derwing & Munro, 2009;
Jenkins, 2004)
- Phân biệt đối xử (Discrimination)
Không thể phủ nhận rằng một số người nói tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai gặp phải sự phân biệt đối xử từ người bản ngữ Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, vẫn tồn tại suy nghĩ “giọng” gắn liền với chủng tộc (Lippi-Green, 1997) Nghiên cứu này cũng mở ra giả thuyết giới
truyền thông duy trì “stereotype” thông qua “giọng” (Stereotype là lối suy nghĩ cho rằng mỗi kiểu người luôn đi cùng những đặc điểm không đổi, thường là tiêu cực Ví dụ: cho rằng phụ nữ lúc nào cũng phải để tóc dài) Một nghiên cứu khác ở Canada cho thấy tồn tại ít nhất 3 hình thức phân biệt đối xử (Munro, 2003) Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng nguồn gốc của sự phân biệt đối xử không phải là “giọng”,
mà là sự cố chấp của những người bản ngữ, đặc biệt ở những người chỉ biết một ngôn ngữ (Derwing & Munro, 2009) Người ta chỉ thông qua giọng để xác định người đang nói có phải thuộc nhóm người họ
kỳ thị hay không
- Trách nhiệm của người nghe (Listener responsibility)
Luyện “giọng” để đảm bảo người đối diện hiểu điều mình nói hiển nhiên là việc tốt Nhưng điều này không có nghĩa rằng người nghe (là người bản ngữ) được quyền phó mặc hoàn toàn trách nhiệm cho người nói Derwing và Munro (2009) cho rằng tất cả những người tham gia vào cuộc nói chuyện đều có trách nhiệm trong việc đảm bảo hội thoại thành công Hơn nữa, khi một người bản ngữ dần quen một giọng không phải bản ngữ, anh ta cũng sẽ gặp ít khó khăn hơn trong nghe hiểu các giọng tiếng Anh không bản ngữ (Gass & Varonis,
Trang 61984) Thú vị hơn cả, một nghiên cứu chứng minh rằng nếu người nghe được tiếp xúc và giải thích về “giọng” tiếng Anh của người Việt Nam, người nghe sẽ dễ hiểu và tự tin hơn khi giao tiếp với người Việt Nam bằng tiếng Anh (Derwing, et al., 2002)
Khi xem xét tiếng Anh như một “ngôn ngữ quốc tế” (English as an international language - EIL) hay “ngôn ngữ chung” (English as a lingua franca - ELF), chúng ta cần chấp nhận rằng không phải chỉ tồn tại một hệ thống phát âm tiếng Anh chính xác Bên cạnh những cách phát âm khác nhau đến từ người Anh, Mỹ, Úc, và Canada, có rất rất nhiều biến thể/thể loại phát âm khác bắt nguồn từ những người dùng tiếng Anh như “ngôn ngữ chung” Một số nhà ngôn ngữ học nhấn mạnh cần chấp nhận thực tế này để có chiến lược phù hợp hơn cho người học (Setter & Jenkins, 2005; Seidlhofer, 2011) Cụ thể, người học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai không hẳn phải đạt được giọng bản ngữ, và những người bản ngữ cần tiếp xúc và được hướng dẫn để hiểu những giọng không phải bản ngữ
Tiểu kết:
- Việc luyện giọng bản ngữ có thể giúp người nói thể hiện được bản sắc cá nhân một cách tự nhiên hơn, nhất là khi họ muốn chứng minh mình có một chất giọng của tầng lớp trí thức, danh giá (ít nhất là ở Anh)
- Tuy giọng bản ngữ cũng có thể giúp người nói phần nào tránh được
sự kì thị, nhưng vẫn không giải quyết được nguyên nhân thực sự của phân biệt đối xử
- Cuối cùng, giọng bản ngữ không hẳn cần thiết trong thời đại tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ chung
Như vậy, có thể cho rằng lợi ích lớn nhất của việc học giọng bản ngữ vẫn là thỏa mãn sở thích hoặc đam mê cá nhân (mình thích thì mình
Trang 7luyện thôi), tiếp đến là lợi ích thể hiện bản sắc cá nhân Giọng bản ngữ không đem lại lợi ích đáng kể về kĩ thuật hoặc công việc, ngoại trừ các công việc có tính đặc thù đòi hỏi giọng giống người bản ngữ
4 Một số khó khăn trong việc luyện giọng bản ngữ
- Chọn phương pháp: Accent reduction hay accent addition?
Có hai xu hướng cải thiện phát âm để tiệm cận giọng bản ngữ:
accent reduction và accent addition Accent reduction dựa trên quan điểm cho rằng giọng “ngoại” (không bản ngữ) giống như một thứ xấu
xí cần giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn Xu hướng accent reduction tiếp cận việc luyện tập phát âm bằng cách thay các yếu tố phát âm
“ngoại lai” bằng yếu tố bản ngữ (Jenkins, 2004) Một trong những chuyên gia về phát âm ủng hộ xu hướng này là Griffen (1980, 1991):
“Mục tiêu của việc dạy phát âm là người học (hoặc bệnh nhân) học cách nói ngôn ngữ tự nhiên nhất có thể, hoàn toàn không có dấu hiệu nào cho thấy người nói không phải là người bản ngữ bình thường.” Biểu hiện của xu hướng này là sự ra đời của các phần mềm accent reduction như English Language Speech Assistant (ELSA)
Khác với phương pháp trên, accent addition tập trung thêm các đặc điểm phát âm của một ngôn ngữ thứ hai vào vốn phát âm của người học nhưng tuân theo nhu cầu lý tính và sở thích cảm tính của người học Mô hình này dựa trên quan điểm “Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế” (EIL) Jenkins (2000) đã đề xuất một quy trình học phát âm gồm 5 bước với accent addition như sau:
1 Bổ sung các mục cốt lõi của EIL một cách có hiệu quả và cầu thị
2 Bổ sung một dải các giọng không bản ngữ khác nhau vào vốn hiểu biết của người học, để người học chấp nhận những giọng này như một điều tất nhiên
Trang 83 Bổ sung kĩ năng tự điều chỉnh để thích ứng với các giọng không bản ngữ
4 Bổ sung các mục không phải cốt lõi nhưng vẫn thuộc lý thuyết EIL
5 Bổ sung một dải các giọng bản ngữ vào vốn hiểu biết và chấp nhận của người học
Nhìn sơ qua, có thể người ta sẽ cho rằng accent addition không phải một phương pháp để đạt được giọng bản ngữ Người đề xuất cách tiếp cận này – Jennifer Jenkins (2002) cũng không cho rằng nó nhất thiết phải hướng đến giọng bản ngữ Tuy nhiên, accent addition hoàn toàn không chống lại việc người học tiếp thu các phát âm bản ngữ, miễn là phát âm đó không làm giảm tính dễ hiểu trong môi trường quốc tế Người học hoàn toàn có thể áp dụng phương pháp này để tự luyện được một giọng tiệm cận với giọng bản ngữ ở dạng biến thể Thực tế, chỉ có 3% công dân Vương quốc Anh nói tiếng Anh với giọng
RP và 97% còn lại sử dụng biến thể của RP (đã pha trộn thêm yếu tố phát âm địa phương) hoặc giọng địa phương (Crystal, 1995) Và nếu
“tính bản ngữ” được quy định bởi những gì một người làm, chứ không phải xuất thân của anh ta (Piller, 2002), liệu có thể coi giọng của một người Việt Nam, đã luyện tập và hấp thu nhiều đặc điểm của RP bằng phương pháp accent addition, như một biến thể của RP?
So với accent addition, accent reduction có nhược điểm tốn nhiều chi phí thời gian và đôi khi hướng người học đến những thứ không cần thiết, tuy rất “bản ngữ” (xem ví dụ ở Phần 1 về giọng Cockney) Tuy nhiên, người học theo accent reduction vẫn thường xuyên được
khuyến khích bắt chước các hiện tượng phát âm này chỉ vì chúng là hiện tượng có thực trong giọng bản ngữ (Jenkins, 2002) Một bảng so sánh giữa mục tiêu của accent reduction và accent addition của Jenkins (2002) cũng chỉ ra điều này này
Trang 9Trong khi đó, accent addition thay đổi phát âm lẫn nhận thức về
“giọng” một cách có chọn lọc, tuân theo các nhu cầu lý tính trong giao tiếp (ví dụ như tăng tính dễ hiểu của lời nói) và nhu cầu cảm tính nhưng không xung đột với các nhu cầu lý tính (ví dụ: xung đột xảy ra khi người ta muốn học giọng Cockney cho giống người London, nhưng giọng đó lại dễ gây khó hiểu vì nuốt âm /t/ và /h/) Lúc này lại phát sinh vấn đề: các chương trình dạy phát âm theo hướng accent
addition không chuẩn bị sẵn danh sách các âm vừa đặc trưng cho giọng bản ngữ, vừa không xung đột nhu cầu lý tính Trách nhiệm rất lớn được đặt lên vai người hướng dẫn, đòi hỏi người đó biết cách kết hợp vốn phát âm của cả accent reduction và accent addition một cách khoa học Hiện tại Việt Nam chưa có người hướng dẫn như vậy (hoặc ít nhất tôi cũng chưa được biết)
- Nhiều lỗi phát âm tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng Việt
Việc học một giọng bản ngữ bắt đầu bằng việc mất nhiều thời gian
để sửa lỗi phát âm Một nghiên cứu về đặc tính âm vị của Tiếng Việt (Hwa-Froelich, Hodson, & Edwards, 2003) đã chỉ ra các lỗi phổ biến của người Việt khi nói tiếng Anh và mối liên hệ giữa tiếng Việt với các lỗi này
1 Không phát âm hoặc phát âm sai âm cuối:
Nhầm âm cuối /b/ thành /p/
Nhầm âm cuối /d/ thành /t/
Nhầm âm cuối /f/ thành /p/
Nhầm âm cuối /v/ thành /p/
Âm cuối /s/ thường bị bỏ qua.
Âm cuối /z/ thường bị bỏ qua.
Trang 10 Âm cuối /ʃ/ thường bị bỏ qua.
Âm cuối /tʃ/ thường bị bỏ qua.
Âm cuối /l/ có thể bị nhầm thành /u/ hoặc /n/ Ví dụ “bell” bị phát âm thành /beu/ (như trong “hùm beo”)
Âm cuối /t/ có thể bị người miền Nam nhầm thành /k/.
Người Việt gặp khó khăn với các cụm phụ âm VD: sprint /sprɪnt/ có 3 phụ âm liên tiếp nhau /spr/ khá khó đọc Khi gặp các cụm phụ âm, hoặc họ sẽ bỏ bớt âm (thành /prɪnt/, hoặc kéo dài và rung âm đến mức giống như cho thêm âm)
Không bật ra đủ hơi cho các âm không rung /t/, /k/, /p/, và /tʃ/ khi bắt đầu một từ Khi đó, người bản ngữ nghĩ họ phát âm /d/ thay vì /t/ VD:
“tie” bị phát âm giống “dye” hơn
Người Việt, tùy theo nơi ở và phương ngữ, gặp khó khăn trong việc phát âm các âm sau:
/θ/, bị phát âm thành /t/ hoặc /s/
/ð/, bị phát âm thành /z/ hoặc /d/
/p/, bị phát âm thành /b/
/g/, bị phát âm thành /k/
/dʒ/, bị phát âm thành /z/
/ʒ/, bị phát âm thành /z/ hoặc /dʒ/
/s/, bị phát âm thành /ʃ/
/tr/, bị phát âm thành /dʒ/, /t/, hoặc /tʃ/ (thường gặp với người miền Bắc)
/v/, bị phát âm thành /j/ (thường gặp với người miền Nam)