Từ đó, xét về văn hóa, người Việt Nam đã không chỉ tiếp xúc với văn hóaPháp qua những thương nhân hay nhà truyền giáo, mà bắt đầu phải chungsống với văn hóa ấy trong các tình huống khác
Trang 1Thu hoạch cá nhân về công trình giao lưu văn hóa Pháp – Việt của Phan Ngọc
I, Tiểu sử PGS Phan Ngọc:
PGS Phan Ngọc
PGS Phan Ngọc Sinh năm 1925, trong một gia đình giàu truyền thốngNho học - cha ông là cụ Phan Võ, một nhà Hán học nổi tiếng từng làmThượng thư dưới triều Nguyễn, thời kỳ đầu Phan Ngọc học chữ Hán chỉ đểkhỏi phật ý người thân, còn hoạn lộ của ông sẽ là thênh thang nếu ông đi theocon đường đã được gia đình hoạch định sẵn, đó là vào trường Luật Thếnhưng, cậu tú Phan Ngọc - người học giỏi nổi tiếng nhất nhì ở đất Nghệ Anhồi trước năm 1945, lại nuôi một chí hướng khác, ông vào trường Y và sau đónhập ngũ làm lính ở sư đoàn 304, rồi về làm việc từ Bộ Văn hoá đến Đại họcTổng hợp (nay là Trường Đại học KHXH - NV Hà Nội), sau đó là Viện ĐôngNam Á (Viện Khoa học Xã hội - Nhân văn Quốc gia) cho tới khi nghỉ hưu Vềcác công trình khoa học, xin sẽ đề cập sau, song về ngoại ngữ thì có thể nóirằng sau Trương Vĩnh Ký, thì PGS Phan Ngọc là một người hiếm hoi ở Việt
Trang 2Nam có một vốn liếng ngoại ngữ không dễ mấy ai có được Từ khả năng tựhọc đáng kinh ngạc, dưới bút danh Phan Ngọc hoặc Nhữ Thanh, ông đãdịch Mỹ học Hegel từ nguyên bản tiếng Đức; Spartacus từ nguyên bản tiếngÝ; Chiến tranh và hoà bình từ nguyên bản tiếng Nga; Sử ký (Tư MãThiên), Chuyện làng Nho, Hàn Phi Tử từ nguyên bản chữ Hán; DavidCopperfield và Trần trụi giữa bầy sói từ nguyên bản tiếng Anh Cách đây vàinăm, ông đã xuất bản một cuốn Từ điển Anh-Việtvới hơn 100.000 mục từ vàđang soạn tiếp Từ điển Việt - Anh với số mục từ tương đương Dường như cócái gì đó như là năng khiếu, bẩm sinh trong việc học tiếng nước ngoài củaPhan Ngọc, điều này được ông giải thích một cách giản dị: “Tôi đã tìm ra cáimẹo của cách học” Tuy nhiên, điều đáng nói là không giống như nhiều ngườitrong chúng ta đang học ngoại ngữ như đi tìm một sinh kế, PGS Phan Ngọc
đã vượt qua giới hạn dùng ngôn ngữ như công cụ môi giới văn hoá mà ôngdùng ngôn ngữ để trực tiếp khảo sát văn hoá các dân tộc, các khoa học xã hộimũi nhọn đang phát triển trên thế giới theo cả chiều rộng cùng chiều sâu.Theo tôi, chức danh Phó Giáo sư ngành Ngôn ngữ học chưa phản ánh đầy đủnăng lực thực tế của Phan Ngọc Đọc các công trình, nghe các bài giảng vàqua tiếp xúc, có thể nhận thấy ông còn là nhà triết học, nhà Hán học, nhà mỹhọc, nhà dân tộc học, nhà nghiên cứu văn học Những lĩnh vực ông nghiêncứu không dừng lại ở các hiểu biết thông thường mà luôn nhất quán theophương châm “cách vật, trí tri” (biết đến tận cùng sự vật, biết đến tận cùng sựbiết) Theo tôi, một số trí thức lớn cùng thời với ông và được lưu danh têntuổi ở Việt Nam đều có xu hướng như vậy, sự uyên bác của họ như mangdáng dấp của những nhà “bách khoa” Phải chăng sau khi tiếp xúc với vănhoá - văn minh phương Tây, họ không còn bằng lòng với “bể học” phươngĐông, mà họ muốn tìm hiểu kỹ lưỡng về cái thế giới tri thức rộng lớn và khác
lạ mới mở ra trước mắt cộng đồng? Và phải chăng đối với họ, vấn đề khôngchỉ là phương pháp khoa học, là phương thức tư duy kiểu mới mà còn là sự
Trang 3khám phá nền tảng vật chất - tinh thần đã khai sinh ra các sản phẩm đó, vì thế
mà phẩm chất khoa học và đòi hỏi về tính “bách khoa” trở nên cần thiết, đểrồi sau khi nắm vững hệ thống tri thức ấy, họ mới chuyên tâm đi sâu vào lĩnhvực nghiên cứu chuyên biệt của mình? Thời gian trôi đi, thế hệ trí thức nhưPhan Ngọc vơi mỏng dần, có lẽ chỉ còn lại mình ông, người mà cốt cách “ôngđồ” và tri thức hiện đại đã phối kết với nhau như là hiện thân của sự nghiệpkhoa học ông đã và đang theo đuổi để chứng minh người Việt Nam với bảnsắc văn hoá của mình hoàn toàn có đủ khả năng hội nhập, đuổi kịp và đứngvững trong nền văn minh công nghiệp, văn minh tin học
II, Công trình nghiên cứu về giao lưu văn hóa Việt – Pháp
Trong các công trình nghiên cứu của ông, PGS Phan Ngọc đã có mộtcông trình rất lớn và thành công, đó là công trình nghiên cứu về giao lưu Vănhóa Việt – Pháp
Cuối thế kỷ XIX, người Pháp đã xâm chiếm xong toàn bộ Việt Nam vàlập tức xây dựng chế độ thuộc địa dưới các hình thức khác nhau ở ba miền
Từ đó, xét về văn hóa, người Việt Nam đã không chỉ tiếp xúc với văn hóaPháp qua những thương nhân hay nhà truyền giáo, mà bắt đầu phải chungsống với văn hóa ấy trong các tình huống khác nhau, có thể là cưỡng bức, tựphát hoặc tự giác Từ đó, một quá trình tiếp biến văn hóa đã diễn ra và làmthay đổi cơ bản rất nhiều quan niệm, thói quen, tập quán, đặc biệt là phươngthức tư duy,… để rồi, văn hóa Việt Nam đã bước sang một thời kỳ mới mànhiều dấu ấn còn nguyên vẹn tới hôm nay Công trình nghiên cứu của PGSPhan Ngọc về tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp góp phần lý giải một số cănnguyên của sự thay đổi mà dường như tới hôm nay, nhiều người trong chúng
ta vẫn chưa thấu đáo…
Việt Nam và các nước trên thế giới đã bước vào một giai đoạn mớitrong lịch sử, giai đoạn tìm hiểu nhau để cùng phát triển Và có những vấn đềtrước kia ảnh hưởng rất lớn, giờ đã và đang thuộc về quá khứ, thí dụ vấn đề
Trang 4chế độ thực dân Lại có những vấn đề mới đặt ra, nhưng sẽ thu hút toàn thểnhân loại, thí dụ vấn đề giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau để cùngchung sống hòa bình, cùng phát triển trong hòa bình.
Đây thực sự là vấn đề mới, và hết sức khó Để góp phần vào công việcnày, góp phần vào việc lý giải mơ ước của mọi tư tưởng triết học tiến bộ, cầnphải xây dựng một quan niệm mới về văn hóa, về bản sắc văn hóa của mỗi tộcngười, khảo sát khách quan xem trong quá trình tiếp xúc với các văn hóakhác, nền văn hóa này đã có những thay đổi gì và có cái gì không thay đổi vềmặt quan hệ làm thành cách nhìn của nó về văn hóa Tôi nói quan hệ, khôngnói hiện tượng, bởi vì xét về hiện tượng, hiện tượng nào mà chẳng thay đổi,nhiều khi thay đổi một cách cực đoan Dĩ nhiên công việc này là hết sức khó
và dễ sai lầm Nhưng khó mấy cũng phải làm Và dù có sai sót, thì Sai sót củamột người sẽ giúp cho những người khác dần dần đi đến cái đúng Để đi conđường này, cách thuận tiện nhất là xét xem một văn hóa đã ứng xử như thếnào, sau khi đã hình thành, để tiếp xúc với các nền văn hóa khác nó Vấn đềtiếp xúc văn hóa trở thành đối tượng số một Người viết chọn giai đoạn tiếpxúc văn hóa với Pháp, vì giai đoạn này một phần chính mình đã chứng kiến,
và thậm chí đã tham gia…
Độ khúc xạ của Nho giáo và sự du nhập của Thiên chúa giáo:
Trong mọi cuộc tiếp xúc của Việt Nam với văn hóa nước ngoài, đã diễn
ra nhiều hiện tượng phức tạp, mâu thuẫn nhau, mà nếu ta không nắm lấy haiyêu cầu cơ bản của văn hóa Việt Nam, thì mọi sự đánh giá đều dễ chủ quan.Văn hóa Việt Nam như một cây đại thụ Nó bắt nguồn từ môi trường ĐôngNam Á, nên nó mang những nét của văn hóa Đông Nam Á Chỉ cần nêu vàinét hiện nay vẫn còn, đặc biệt là ở miền Bắc: địa vị quan trọng trong gia đìnhcủa phụ nữ bên cạnh nam giới; cách tổ chức thành làng có chính quyền, thờcúng, nghi lễ, phong tục, tế tự riêng; việc thờ cúng tổ tiên chung cho cả nước;trong sinh hoạt nghề trồng lúa nước; trong ăn uống lấy cá, cơm, rau làm thức
Trang 5ăn chính, đặc biệt các thứ mắm; trong tình cảm, rất quý trọng quan hệ giađình, họ hàng, làng xóm Nó có một hệ tư tưởng bàng bạc trong tục ngữ, dân
ca, văn học dân gian rất gần các nước ở Đông Nam Á, cái gọi là minh triếtdân gian, rất khác Khổng giáo Trung Quốc, nhưng chưa có ai hệ thống hóa
nó Cách đây trên hai ngàn năm, có sự tiếp xúc văn hóa với Trung Quốc, vàsau đó có sự tiếp hợp (greffage) với Nho giáo Sự tiếp hợp này là do bản sắcvăn hóa quy định Bản sắc văn hóa Việt Nam đòi hỏi trước hết là độc lập vàthống nhất đất nước Bất kỳ cái gì không gây thiệt hại cho độc lập, thống nhấtđất nước, có kết quả thực tế cao hơn cách làm cũ, đều được tiếp thu rất nhanhchóng, và thay thế cái cũ không cần một sắc lệnh nào hết
Chỉ nhìn xã hội Việt Nam, văn hóa, tư tưởng trong giai đoạn 1930
-1940, cũng đủ thấy sự Âu hóa đi nhanh như thế nào Người nhìn bên ngoài,tưởng đâu là bắt chước Hoàn toàn không phải Đó là do bản sắc văn hóa yêucầu Khi cần đổi mới để đối phó với tình thế mới thì không ai quyết tâm đổimới bằng Việt Nam; và khi chủ trương đổi mới từ trên đưa xuống thì toàn dântheo ngay, không có xáo động to lớn trong xã hội Đó là điều làm cho ViếtNam khác mọi nước Sự đổi mới có thể là cực đoan, quyết liệt, nhưng cáchdiễn ra lại êm ả Với một điều kiện: mọi sự đổi mới đều phải góp phần củng
cố độc lập, thống nhất, và khi đất nước bị nô lệ thì nó phải góp phần giành lạiđộc lập thống nhất Lịch sử văn hóa Việt Nam chứng kiến ba lần đổi mới, vàđều là vì yêu cầu độc lập dân tộc Lần thứ nhất là theo hẳn Nho giáo, nhậpvào khối văn hóa Hán Lần thứ hai là theo văn hóa Pháp Lần thứ ba là theochủ nghĩa xã hội Cả ba lần đều tạo nên một sự tháo gỡ cấu trúc cũ, cấu trúchóa lại theo kiểu mới Và cả trong ba lần này, động cơ thúc đẩy vẫn là bản sắcvăn hóa Người Việt Nam đổi mới để cứu nước, không phải để làm nô lệ Do
đó, kết quả không phải là Hán hóa văn hóa Việt Nam mà là Việt Nam hóa vănhóa Hán, không phải là Pháp hóa văn hóa Việt Nam mà là Việt Nam hóa văn
Trang 6hóa Pháp Cũng vậy, chúng ta đang đứng trước các cố gắng Việt Nam hóa chủnghĩa xã hội.
Đối với những người chỉ xét những biểu hiện bên ngoài, thì xã hội, vănhóa Việt Nam đã từng bị xem là bản sao của Trung Quốc, của Pháp, của mộtnước xã hội chủ nghĩa Nhưng nếu nhìn từ bên trong, thì thực tế lại rất khác.Một thí dụ về sự Việt Nam hóa Nho giáo
Nho giáo Trung Quốc không nói đến Tổ quốc Kết quả là Nho giáoTrung Quốc chỉ tạo nên được một bộ máy quan lại phục vụ hoàng đế Khi bộmáy này thối nát, đất nước bị chia rẽ, thì ngoại tộc tràn vào, nhiều khi chiếm
cả Trung Quốc Chữ trung Trung Quốc chỉ có nghĩa là hi sinh với người đối
xử tốt với mình, nuôi mình chu đáo Thời Chiến quốc, các thuyết khách sớm
Sở, tối Tần chẳng có khái niệm gì về Tổ quốc Người ta ca ngợi Điển Vi trungvới Tào Tháo, Quan Vũ trung với Lưu Bị, Chu Du trung với Tôn Quyền, màchẳng quan tâm đến chỗ ba ông này chia cắt đất nước Chính vì vậy ngườiTrung Quốc có quan niệm “Thiên hạ hợp rồi lại phân, phân rồi lại hợp, đó là
lẽ trời” Cho nên cái nước đông người nhất, và văn hóa cao nhất thế giới trướcthế kỷ XVI luôn luôn bị chia cắt, bị những ngoại tộc mà về số người, kinh tế,văn hóa kém gấp hàng chục lần xâm chiếm, thậm chí là cai trị Nhà Thanh caitrị Trung Quốc từ năm 1644 đến năm 1911, kéo dài 267 năm là một thí dụ.Còn các nhà Nho? Họ trung với ngoại tộc, đàn áp các cuộc nổi dậy, hy sinhcho triều đình ngoại tộc và tự hào về điều ấy
Khi Việt Nam tiếp nhận Nho giáo thì Tổ quốc Việt Nam đã hình thànhxong từ lâu Tổ quốc ấy có lịch sử hình thành qua các cuộc đấu tranh để giànhlấy đồng bằng từ tay biển cả, qua bao cuộc đấu tranh chống lại xâm lượcphương Bắc; qua thơ Lý Thường Kiệt, chữ “Sát Thát” trên cánh tay con dânđất Việt, đặc biệt là qua Bình Ngô đại cáo khẳng định Việt Nam là độc lập vềvăn hóa, lãnh thổ, chủ quyền, phong tục, truyền thống giữ nước và cứu nước.Kết quả của sự tiếp hợp (grafting) với Nho giáo, là sự Việt hóa Nho giáo theo
Trang 7bản sắc văn hóa sẵn có Các khái niệm Nho giáo như hiếu, nhân, nghĩa, dũng,trí… đều bị phân đôi, thành tiểu và đại Cái gì chỉ liên quan trực tiếp giữangười với người, như chính Nho giáo quan niệm đều gọi là tiểu, cái gì thôngqua môi giới tổ quốc và nhân dân thì đều gọi là đại Nguyễn Trãi nói đến đạihiếu, đại nghĩa, chí nhân, chí dũng… là chỉ bổn phận đối với nước, với dân.Tức là mọi tư tưởng từ ngoài đến, dù từ Trung Quốc, Pháp, Tây Âu hay Liên
Xô, khi thể hiện thành hành động ở Việt Nam đều trải qua một độ khúc xạ màthành Việt Nam Chỉ sau khi được Việt Nam hóa, có một nội dung mới, vàphù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc, yếu tố văn hóa này mới trở thành độnglực động viên toàn dân thực hiện nhiệm vụ mới Tiếp biến văn hóa ở ViệtNam, do đó, là có phương hướng, có mục đích Và cần phải xét sự tiếp biếnqua yêu cầu của bản sắc văn hóa thì mới tránh khỏi những lệch lạc
Thử xét sự tiếp xúc với Gia-tô giáo theo yêu cầu của bản sắc văn hóa
Về mặt chính trị của vấn đề, đã có công trình rất đầy đủ của anh Cao HuyThuần Đạo thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam (Christianismeetcolonialisme au Vietnam 1857 - 1914, Hương quê, Los Angeles, Mỹ, 1988).Tôi sẽ không bàn đến câu chuyện quá khứ về mối liên hệ giữa công giáo vớithực dân Pháp Tôi chỉ xét mặt văn hóa, và kết quả của sự tiếp xúc
Đặt chân lên Việt Nam, Công giáo có một số ưu thế rõ rệt
Thứ nhất, về giáo lý, Thiên chúa giáo có hệ thống giáo lý rất chặt chẽ,nhất quán, có sức thuyết phục, dựa trên một thần học đồ sộ, chứa đựng mộttinh thần nhân đạo: mọi người đều là con của Chúa, chính Chúa Giê-su đã hysinh để cứu vớt nhân loại Nó giáo dục tình thương và sự hy sinh Tôn giáo ấy,qua sự thuyết minh của Augustin (354-430), đặc biệt là của Thomas d’Aquin(1225-1274) đã tiếp thu được một phần truyền thống văn hóa Hy Lạp - La Mã
và văn hóa châu Âu, nên mang một diện mạo châu Âu Từ thế kỷ IV đến thế
kỷ XIII, thực tế Thiên chúa giáo là sợi dây tinh thần nối liền các nước châu
Âu Tiếng Latinh, ngôn ngữ nhà thờ, là ngôn ngữ văn học của cả châu Âu
Trang 8Đến thế kỷ XVIII, một người biết tiếng này có thể dạy tại mọi trường đại học
ở châu Âu Và Giáo hoàng là ông vua của mọi ông vua, nhân danh Chúa caitrị châu Âu bằng một hệ thống nhà thờ, một hệ thống giáo sĩ giàu có dựa trêncủa cải nông nô, nông dân, thị dân Nhân danh Chúa sự cai trị ấy là tàn khốc.Trong giai đoạn chiến tranh tôn giáo ở châu Âu, bảy triệu người đã bị tòa ánGiáo hội xử tử bằng mọi cực hình vì chỉ một lời xúc phạm Giáo hoàng vàKinh Thánh Tới thời Phục hưng, các nước dần dần tách khỏi quyền lực củaGiáo hoàng, cuộc cải cách tôn giáo phá vỡ uy thế độc tôn này ở Đức, Hà Lan
và những chi nhánh công giáo hình thành ít nhiều mâu thuẫn với nhà thờ La
Mã, như ở Anh, Pháp Nhất là khi phong trào khoa học phát triển, các họcthuyết xưa kia bị xem là dị giáo, nay được xác lập, uy tín công giáo bị giảmsút Thất bại ở phương Tây, các giáo sĩ muốn tìm cách thiết lập nó ở phươngĐông Say sưa nhất trong nhóm này là chi nhánh Dòng tên mà khẩu hiệu là
“Vâng theo (Giáo hoàng) như một thây ma” (Obeire quasi cadaver) Họ lànhững người kiên trì nhất, chịu khó nhất, được đào tạo kỹ lưỡng nhất A deRhodes là một thí dụ Nhưng sự say sưa của họ làm chính nhiều nước châu
Âu lo sợ Do đó, hội Thừa sai tiếp tục việc này, và Dòng tên bị cấm, vì nướcPháp phải lo trước hết đến quyền lợi nước Pháp
Thứ hai, đạo Thiên chúa là một lực lượng thế giới, rất am hiểu chính trịthế giới Các giáo sĩ của họ là những con thoi có vô số mánh khóe để tranhthủ cảm tình, cầu xin viện trợ Chính họ muốn mượn tay các nước thực dân để
nô dịch các nước châu Á, thiết lập cái gọi là vương quốc của Chúa Vươngquốc ấy thế nào thì châu Âu đã biết, đã khiếp vía, và nước Việt Nam, ngaytrong hoàn cảnh kháng chiến, cũng đã nếm một chút cái hương vị này dướitriều đình họ Ngô Các giáo sĩ lắm thủ đoạn Cách thứ nhất dễ thành công làbiến ông vua thành người Thiên chúa giáo Đó là mưu của Pigneau deBéhaine Nhưng hoàng tử Cảnh phải mất ngôi Va chạm thứ nhất Cách thứhai là gây nội chiến Ta có vụ Lê Văn Khôi ở Nam Kỳ, vụ Tạ Văn Phụng ở
Trang 9Bắc Kỳ, vụ Hồng Bảo ở Trung Kỳ Cách thứ ba là làm quân sư cho thực dân.
Để chuẩn bị cơ sở, họ tìm cách tập hợp giáo dân ở những vùng riêng, bảo vệchặt chẽ, dựng lên một nhà thờ, đồng thời là những pháo đài theo nghĩa đen
Họ biến vùng này thành một “quốc gia” trong nước Việt Nam, trong đó ônggiáo sĩ chỉ huy tất cả Tóm lại, một chữ: một quốc gia Trung cổ châu Âu ngaytrong nước Việt Nam, mà bản sắc văn hóa là ý thức thống nhất và độc lập
Không phải vì chống học thuyết Thiên chúa giáo mà xảy ra những vụtàn sát Người Việt không có thái độ kỳ thị tôn giáo; Phật giáo, Đạo giáokhông hề bị xử lý thô bạo Nói đến chuyện giết đạo, cũng phải nói đến việcngười công giáo trả đũa Trương Vĩnh Ký, một người công giáo trung thànhvới Pháp, nhờ am hiểu văn hóa dân tộc nên có đủ thẳng thắn để thừa nhận:
“… sự thực là người Công giáo chẳng kém gì các người chống đối họ trong
99 trường hợp trong số 100 trường hợp đàn áp” Sự thực là một cuộc huynh
đệ tương tàn vô nghĩa đã diễn ra có lợi cho thực dân, có hại cho dân tộc.Chính Đô đốc Page cũng phải thừa nhận: “Cái chết lượn khắp nơi mọi đồnbốt: đã hơn một ngàn người đã nằm trến đất nước này… Mười tám đại đội lúcđầu tạo nên lực lượng của Rigault nay chỉ còn có sáu…” (Cao Huy Thuần,sđd) Ông chấp nhận lẽ phải của người đại diện Tự Đức đã nói với ông ta:
“Nhưng người Pháp đến đây để đòi cho đạo Thiên chúa La Mã được raogiảng khắp nước, mỗi thành phố, mỗi làng đều dựng lên một nhà thờ Gia-tô.Nếu quả thật đó là ý muốn của Hoàng đế nước Pháp, thì không thể hòa giải gìđược cả, mọi cuộc thảo luận sẽ vô ích, toàn quốc sẵn sàng chịu một cuộcchiến tranh diệt chủng, hơn là một điều trực tiếp như thế Trái lại, nếu ngườiPháp không đòi hỏi điều đó thì chắc chắn sẽ có hòa bình” (Cao Huy Thuần,sđd.) Page và chính phủ Pháp đều muốn thương lượng, nhưng các cố đạonước ngoài đã phá vỡ mọi thương lượng đẩy tới cuộc chiến tranh xâm lược
Đạo Thiên chúa đã phạm những lỗi lầm nghiêm trọng, mặc dầu đã cónhững đóng góp vào văn hóa Việt Nam Dù thực dân Pháp có cai trị Việt
Trang 10Nam, và dù thực dân đứng hẳn về phía họ, bênh vực, che chở họ, chứ khôngphải đàn áp như các cố đạo đã đổ tội cho vua quan ngày xưa, dù cho Thiênchúa giáo có một đội ngũ giáo sĩ rất trung thành, có học vấn, dù có những tổchức từ thiện làm việc hết mình xứng đáng với mọi lời ca ngợi, dù cho cáctrường công giáo có mặt khắp nơi và dạy học rất tốt - tôi học trung học ở mộttrường công giáo và thường đứng đầu môn giáo lý - dù nó có một số nhâncách mà người Việt Nam rất tôn trọng, suốt thời Pháp thuộc số trí thức, nhàNho theo công giáo chẳng có bao nhiêu? Tại sao?
Sai lầm quan trọng của Thiên chúa giáo khi đến Việt Nam là thái độkhinh thường của Thiên chúa giáo đối với văn hóa phương Đông và văn hóaViệt Nam Phương Đông tuy có thua kém về kỹ thuật, đặc biệt về kỹ thuậtquân sự, nhưng bản chất của văn hóa không phải là súng ống, máy móc,những nhà thờ - pháo đài, những lễ lạt rầm rộ Nó là ở nhân cách Nhân cáchViệt Nam là ở ý thức về bổn phận đối với mọi người, lòng trung thành vôhạn đối với quyền lợi đất nước, lối sống cần, kiệm, liêm, chính, không kể địa
vị, tài sản Dù anh mạnh bao nhiêu, giầu đến mấy, quyền lực đến mấy, màkhông có nhân cách thì người Việt Nam không phục, không yêu, dù cho nhấtthời họ phải nghe theo Hình ảnh của thực dân Pháp chẳng cách nào làmnhân dân Việt Nam cho là đẹp Còn các cố đạo dù tuyên truyền đến đâu vềtình yêu cũng chẳng đem đến một điều gì quen thuộc Họ bứng người ViệtNam khỏi môi trường tinh thần, gán cho anh ta những quan niệm xa lạ, làmanh ta khó chịu Họ dạy vứt bỏ Tổ quốc để hi sinh cho vương quốc củaChúa Nhưng xét cho cùng, làm gì có vương quốc của Chúa trời Họ kéongười Việt khỏi sự thờ cúng tổ tiên, bởi Chúa tạo ra người Chuyện xét chocùng thì còn phải bàn Nhưng trước mắt tôi, xét ngay trực tiếp, tôi là do cha
mẹ sinh ra Cha mẹ nuôi sống tôi, dạy dỗ tôi là chuyện có thực Họ sùng báinhững vị thánh ở đâu đâu, nhưng những còn người hi sinh cho đất nước, dântộc thì không được nhắc đến
Trang 11Dù là tôn giáo nào thì cũng dựa trên một tiền đề không thể chứng minhđược Thiên chúa giáo, Phật giáo đều thế Nhưng so với Phật giáo thì Thiênchúa giáo tự cho mình là độc quyền về chân lý Thái độ độc quyền ấy là tráingược với sự thực Nếu xét về mặt triết học, thì Thiên chúa giáo kém xa Phậtgiáo Nếu xét về mặt tu dưỡng con người thì Thiên chúa giáo kém xa Nhogiáo Đó là lý do dẫn tới sự khúc xạ của Thiên chúa giáo ở Việt Nam Đa sốcon chiên đều thờ tổ tiên, làm giỗ cha, tôn trọng các vị anh hùng dân tộc Họvẫn thấy những người lương là đồng bào, là ruột thịt Họ vẫn tôn trọng nhâncách theo quan niệm chung Khi đã đi sâu vào văn hóa dân tộc, thì xuất hiệnnhững nhà công giáo yêu nước mà Nguyễn Trường Tộ là một ví dụ Rồi đếnnhững người công giáo theo hai cụ Phan, theo Đảng Cộng sản Các cố đạophương Tây hi vọng người công giáo sẽ nhất tề theo Pháp, nhưng thực tế lại
có nhiều người công giáo đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng đất nước Bảnsắc văn hóa dân tộc đã thắng, bắt buộc ngay các giáo sĩ công giáo Việt Namcũng phải đứng về phía dân tộc Thái độ khinh thị văn hóa phương Đông đãgiảm đi, và chính Vatican cuối cùng đã chấp nhận việc kính Chúa đi đôi vớiyêu nước, với hy vọng chấm dứt sự chia rẽ vô lý giữa tôn giáo với Tổ quốc
Sự tiếp xúc của Việt Nam với đạo Gia-tô nêu lên một kiểu khúc xạ độc đáo.Một hệ tư tưởng từ bên ngoài, một vật thể xa lạ gắn vào cơ thể ViệtNam Vật thể ấy ở châu Âu, dù bị phê phán gay gắt, vẫn đã có một thời huyhoàng, và những vấn đề nó nêu lên cho đến giờ vẫn chiếm địa vị chủ đạo ởcác nhà văn, học giả châu Âu, như: thượng đế, linh hồn, sự giải thoát, nhâncách Khi nhập vào cơ thể Việt Nam, tất cả những vấn đề nó nêu lên đều bịgạt ra Dù người ta có dùng võ lực cấy lên cái cơ thể này bằng súng đạn, sựtiếp xúc chẳng dẫn tới một điều mà các cha cố mong đợi Thế Lữ, gốc cônggiáo là người mở đường cho Thơ mới, nhưng thơ và văn của ông chẳng hềdựa trên các nguyên lý công giáo Nguyên Hồng, gốc công giáo là nhà vănhiện thực tâm lý cự phách và tiểu thuyết của ông là tiểu thuyết của dân nghèo
Trang 12thành thị Việt Nam Nhà thơ lớn duy nhất có ảnh hưởng công giáo là HànMặc Tử Nhưng đó là mãi về sau, sau khi nhà thơ vì mắc bệnh mà sống trongViện điều dưỡng của các bà phước công giáo Sức lôi cuốn của các bài thơkhông ở nhiệt tình công giáo mà ở cách Beaudelaire hóa cảm giác phươngĐông Còn trước đó, thơ anh vẫn là thơ của một trí thức ở thành phố ViệtNam gắn bó với nông thôn Có một chút gì công giáo trong thơ Huy Cận,nhưng đây là công giáo Đông phương hóa, không phải công giáo châu Âu.Tức là chính sự khúc xạ tạo nên vẻ đẹp Về hội họa, họa sĩ Lê Văn Đệ mộtthời được tán thưởng Nhưng đây là bà mẹ Việt Nam, con người Việt Nam,tình cảm Việt Nam khoác hình thức công giáo Thuyết nhân vị của Ngô ĐìnhNhu là xuất phát từ nhân cách luận (personalisme) của Emmanuel Mounier.Trịnh Văn Thảo nhận xét: “Nó vay mượn của nhân cách luận cái ngôn từ trítuệ, chủ nghĩa cải lương trí tuệ, nhưng lại tránh không theo nhân cách luận vềlĩnh vực chính trị Sau đó, do ảnh hưởng của sự thất bại về chính trị của chế
độ, nhất là do chiến tranh tái diễn, nó chuyển về một bảo nguyên luận(intégrisme) kiểu Franco!” Dù cho tên gọi “nhân vị” là một sai lầm về dịchthuật, cách chọn không tồi Đối với người Việt Nam, cái thu hút quốc dânkhông phải là kinh tế, quyền lực mà là nhân cách con người Nhưng nhâncách Việt Nam đã được thể hiện trọn vẹn bởi người cộng sản Người ViệtNam tin theo, vì biết chỉ có họ mới đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập vàthống nhất, vì họ có các tấm gương hy sinh mẫu mực và họ cần, kiệm, liêm,chính Đằng này “nhân vị” chủ trương chính cái lý thuyết của các cố đạo Tâysặc mùi Trung cổ Kết quả là, không chỉ nhân dân chống lại, mà cả tay châncủa chính quyền Tiền của từ nước ngoài đổ vào chỉ càng làm cho cơ sự hỏngthêm mà thôi
Tuy nhiên, cũng phải khẳng định rằng, ở Việt Nam, người theo cônggiáo là người tiên phong trong việc hiểu phương Tây, và là người đầu tiên cókhả năng sử dụng phương pháp phân tích của phương Tây để khảo sát văn
Trang 13hóa, xã hội Việt Nam Nếu như mọi người khác muốn tìm hiểu phương Tâychỉ có con đường của nhà trường và chính phủ thực dân, còn không, phải đicon đương bất hợp pháp, thì người công giáo còn có con đường của giáo hội.Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của là những thí dụ…
Phê phán Nho giáo:
Khi thực dân Pháp đã làm chủ cả nước, khi những cuộc kháng chiến lầnlượt thất bại (phong trào Cần vương chấm dứt với sự hy sinh của Phan ĐìnhPhùng năm 1895), các nhà Nho tự trọng không tin vào thắng lợi của cuộckháng chiến, chỉ còn một cách là về hưu, quay về làng sống cuộc đời thôn dã
Ở họ, diễn ra một sự tiếp xúc văn hóa khá tiêu biểu: họ cảm thấy nhục, họthấy một xã hội nhố nhăng, một không khí nghẹt thở Văn minh vật chấtphương Tây, với các thói quen trái ngược, làm họ khó chịu Để an ủi, họ tìmchỗ dựa ở làng xóm, ở thiên nhiên Nhưng chính làng xóm cũng bắt đầu bịbần cùng hóa, để nhường chỗ cho những thành thị là nơi sống, và ăn chơi củamột số người làm việc cho Pháp Đó là xu hướng mà cụ Tam nguyên Yên Đổ
là tiêu biểu nhất, bên cạnh những ẩn sĩ khác
Sự phê phán Nho giáo ở bản thân học thuyết không bắt đầu ở Việt Nam
mà ở Trung Quốc Sở dĩ như vậy là vì Nho giáo ở Việt Nam, tuy phổ biến rấtrộng rãi, nhưng không sâu sắc Tới lúc này, Việt Nam chỉ tiếp nhận một chinhánh độc nhất của Nho giáo là Tống Nho, và học vấn chỉ có mục đích đàotạo ra những người mà tương lai sẽ ra làm quan, nếu thi đỗ từ cử nhân trở lên.Còn nếu thi đỗ tú tài, hay không thi đỗ, thì quay về làng xã, dạy học, làmthuốc, tham gia sinh hoạt làng xóm Các sách đều là kinh truyện do các nhàTống Nho giải thích, văn thơ cổ và cuốn Thông giám cương mục của Chu Hi
Đã thế, Việt Nam lại chỉ học loại sách rút gọn, lược bớt rất nhiều Người làmcông việc này là Bùi Huy Bích làm Tham tụng (Tể tướng) đời Lê, nên nhândân quen gọi nó là loại sách Hàn Tham Kết quả, nó giúp được người Việttrong việc viết văn làm thơ, nhưng không đào tạo được những học giả thực
Trang 14sự Các học giả Việt Nam ngày xưa trở thành học giả chủ yếu là do tự học chứkhông do lò khoa cử.
Xét về số lượng, thì ở triều Nguyễn từ năm 1804 đến năm 1918 qua 38khoa Đình thí (thi Đình) và Hội thí (thi Hội) chọn được 558 tiến sĩ, tức làtrung bình mỗi năm chọn được khoảng 5 tiến sĩ Về số người thi Hương đỗ cửnhân, trong thời gian ấy có 6226 người Số người thi đỗ và làm quan như vậyrất ít, trái lại số người đi thi rất đông, và số người học chữ Hán lại càng lớn
Uy tín của những người đỗ đạt cao rất lớn Mà như đã thấy, muốn lãnh đạonhân dân đánh giặc, thường phải là một tiến sĩ hay một cử nhân trong nước,trong danh sách 58 người trí thức Việt Nam thế hệ 1862 mà ông Trịnh VănThảo đã lập, tuy còn thiếu sót, vẫn có thể thấy: Hoàng Diệu (phó bảng),Hoàng Văn Hòe, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Thượng Phiên,Phan Đình Phùng (đình nguyên), Đỗ Quang, Tống Duy Tân, Phạm Phú Thứ,Nguyễn Đôn Tiết, Hoàng Tăng Bí (phó bảng), Trần Quý Cáp, Đặng NguyênCẩn (phó bảng), Nguyễn Thượng Hiền (hoàng giáp), Ngô Đức Kế, HuỳnhThúc Kháng (hoàng giáp), Phan Châu Trinh (phó bảng), Nguyễn Quang Bích(hoàng giáp) Tóm lại có 18 vị tiến sĩ tham gia phong trào cứu nước Họ lànhững người mà thực dân rất muốn lôi cuốn, nhưng không làm sao lôi cuốnnổi Qua đó, không thể nói Nho giáo Việt Nam chỉ có phản động, cũng khôngthể nói họ thua kém bất kỳ tầng lớp nào về tinh thần yêu nước
Nhưng muốn đổi mới Nho giáo bằng cách tiếp thu hệ tư tưởng phươngTây thì họ vẫn không có khả năng tự mình làm được Họ bị học vấn TốngNho hạn chế và những lý luận liên quan tới lý, tính, tâm, khí Học vấn này lạiquá thực dụng, chỉ lo đến văn chương, thơ, phú, kinh, nghĩa Họ thừa dũngkhí để hy sinh, nhưng thiếu phương pháp luận Một khi cảm thấy hệ tư tưởng
mà họ sùng bái không cứu được nước, mà lại để cho nước mất, các nhà Nhotất yếu đi tìm sự giải thích ở một nước khác cùng hoàn cảnh Nước ấy chỉ cóthể là Trung Hoa
Trang 15Sau chiến tranh Nha phiến năm 1840, Trung Hoa đã nhận thức nguy cơxâm lược của phương Tây Các trí thức Trung Hoa, do tiếp xúc nhiều vớiphương Tây qua sách vở, đặc biệt qua các bản dịch của Nhật mà người TrungQuốc có thể đọc dễ dàng, bắt đầu nhận thấy ưu thế của phương Tây trước hết
là ở tư tưởng, không chỉ ở vũ khí Tăng Quốc Phiên, Trương Chi Động tiếpthu khẩu hiệu “Trung học vi thể, Tây học vi dụng” tức là “tinh thần TrungHoa, kỹ thuật phương Tây” Nhưng để tiếp thu được kỹ thuật phương Tây, thìtinh thần Trung Hoa tự nó phải thay đổi mới có thể tiếp thu được Nói theogiọng thao tác luận, muốn kết hợp thì phải quy đồng mẫu số hai phân số hếtsức khác nhau về mẫu số
Nhưng một nước xưa nay tự cao tự đại đến mức gọi mình là “thiên hạ”(dưới trời), Trung Quốc (nước ở giữa), Trung Hoa (nước văn hóa rực rỡ ởgiữa thế giới), dĩ nhiên không thể dễ dàng vứt bỏ Nho giáo, nên nó đã sử dụngmột biện pháp độc đáo Đó là chứng minh rằng mọi ưu điểm của hệ tư tưởngphương Tây đều đã có sẵn trong đạo Khổng Chỉ cần theo cụ Khổng là có tất
cả Điều này tự nó không có gì lạ: Trước ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội,Thiên chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo đều tự chứng minh mình là những họcthuyết xã hội chủ nghĩa Nghiêm Phục - dịch giả nổi tiếng nhất chứng minhTuân Tử đi trước Spencer, Lão Tử đi trước Darwin Lương Khải Siêu lạichứng minh các quan niệm “dân bản”, “dân ý”, “dân quyền” của Mạnh Tử đã
đi trước các quan niệm “chủ quyền nhân dân”, “ý chí nhân dân”; và khái niệm
“vô vi” của Lão Tử đi trước quan niệm chính phủ không can thiệp vào kinh tếcủa phương Tây Xét về mặt thao tác luận, các nhà cải cách Trung Hoa đã tìmcách quy đồng mẫu số để tạo nên sự phối hợp Đó là cách làm hợp lý nhất.Tiếc là đã có sai lầm về phương pháp luận Phương Tây đã thắng về tư tưởng.Phương Đông muốn sống, phải Âu hóa hệ tư tưởng của mình Để tạo nên sựkết hợp phải lấy phương Tây làm chuẩn Phải đập vỡ hệ tư tưởng Khổng giáo,đốt nó thành than, thì con phượng hoàng mới sống lại được
Trang 16Người cầm đầu trào lưu này là Khang Hữu Vi (1858 - 1927), nhưngngười ảnh hưởng lớn nhất ở Việt Nam lại là Lương Khải Siêu (1873 - 1929),nên ở Việt Nam người ta hay nói đến Khang - Lương Vì thế hệ sinh sau năm
1910 vẫn còn nhiều quan điểm không chính xác về Khổng giáo, nên cần phảinói kỹ hơn một chút
Chúng ta mới biết đời Thanh nổi tiếng nhất về mặt khảo chứng Nhữngtác phẩm khảo chứng đồ sộ nhất của lịch sử văn học Trung Hoa là xuất bảntrong giai đoạn này, chỉ cần kể bộ Khang Hi tự điển mà nhà nào cũng có Xuhướng khảo chứng là kế thừa xu hướng đời Hán, mà phủ nhận Tống Nho.Khang Hữu Vi, trước hết dựa vào Hán nho viết Tân học ngụy kinh khảo đểchứng minh các văn bản Nho giáo mà Tống Nho lấy làm cơ sở đều là xuyêntạc, chẳng phải của Khổng Tử Câu chuyện như sau: Sau khi nhà Tần đốtsách, vua Huệ đế nhờ các nhà Nho học thuộc lòng chép lại và, do đó, có mộtvăn bản Đó là văn bản vẫn lưu hành thời Tiền Hán Sang thời Đông Hán,người ta phát hiện ở vách tường đền thờ Khổng Tử một văn bản khác viếtbằng thứ chữ cổ gọi là chữ “nòng nọc”, vì hình dáng nó giống con nòng nọc.Lưu Hâm chuyển văn tự nòng nọc thành chữ mới Tống Nho gọi văn bản này
là “cổ văn” ý nói nó cổ xưa hơn, còn văn bản đời Hán là “kim văn”, và gạt bỏkim văn chỉ chấp nhận cổ văn Khang chứng minh ngược lại cho văn bản kimvăn mới là thực, còn văn bản cổ văn là xuyên tạc Chuyện chứng minh aiđúng ai sai nằm ngoài phạm vi của ta Chỉ biết rằng muốn làm thế, Khangphải rất uyên bác Khang dựa vào đấy viết Đại đồng thư để chứng minh mọinguyên lý tạo thành cơ sở cho sự phồn vinh phương Tây như tự do, dân chủ,tiến bộ,… đều đã có ở Khổng Tử, Tuân Tử, Mạnh Tử nhưng đều bị Tống Nholoại trừ tạo nên dẫn tới ngưng trệ Lương Khải Siêu, là học trò Khang, khôngphải là nhà tư tưởng, nhưng lại là nhà tuyên truyền, giới thiệu vô địch Đặcbiệt ông có một lối văn cực kỳ lôi cuốn, đầy hình ảnh, rất xúc động; ở ViệtNam, lối văn này có ở Phan Bội Châu Hai tác phẩm quen thuộc nhất của
Trang 17Lương là Ẩm băng thất và Trung Quốc hồn có thể tìm thấy ở mọi nhà đại gia
xứ Nghệ
Vào đầu thế kỷ XX, các sách của phái cải cách nhập vào Việt Nam rấtđều đặn Người ta gọi nó là Tân thư, tức sách mới, đối lập với loại sách TốngNho quen thuộc, gọi là sách cũ Lần đầu tiên các nhà Nho vốn chỉ biết có vănchương cử tử, biết thế nào là chủ nghĩa đế quốc, duy lý luận của Descartes,thuyết giao kèo xã hội của Rousseau, thuyết tam quyền phân lập củaMontesquieu, thuyết tiến hóa của Huxley, thuyết cạnh tranh sinh tồn củaDarwin Có một sự tiếp thu phương Tây cực kỳ sôi nổi và hăng hái Các nhàNho yêu nước đã nhận ra con đường cứu nước mới Tâm trạng giữ lấy đạonhà, hay “độc thiện kỳ thân”, đã nhường chỗ cho tâm trạng phấn khởi, pháxiềng xích, lao vào thực tế để Âu hóa, dĩ nhiên là theo con đường bản sắc vănhóa quy định, con đường của nhân cách Việt Nam
Lần đầu tiên, các nhà Nho Việt Nam hiểu được phương Tây Và có mộtđiều ngược đời, là không phải thực dân Pháp, dù đã cai trị Việt Nam, giớithiệu văn hóa phương Tây cho Việt Nam Có lẽ vì sự có mặt của thực dân lúcđầu, ngoài sức mạnh võ khí, chưa có gì hấp dẫn Về vật chất, đó là sâm banh,bánh mì Về phong tục, là khiêu vũ, lúc ấy gọi là “nhảy đầm” Về người,quanh chính quyền thực dân là những tay sai mà chính người Pháp cũng thừanhận là cặn bã, hèn hạ Các tân thư Trung Quốc đã làm họ tỉnh ngộ Họ thấyphải đổi mới xã hội và đất nước để cứu nước Họ hiểu được giá trị của các tưtưởng mới Người Việt Nam không đánh giá một học thuyết ở tự thân nó.Người Đức, người Pháp làm được, điều này làm vinh dự cho văn hóa của họ.Người Việt Nam đánh giá một tư tưởng ngoài vào theo một tiêu chuẩn duynhất: giúp được gì để giữ nước, cứu nước Khi thấy làm được điều này, dườngnhư người Việt lại có thái độ cực đoan: theo hẳn cái mới? Điều này giải thíchlịch sử tiếp xúc văn hóa của Việt Nam với những biến đổi đột ngột: theo vănhóa Hán, theo văn hóa Pháp, theo chủ nghĩa xã hội Nhưng theo theo kiểu
Trang 18ghép cây (greffage), chứ không phải theo kiểu lật đổ hoàn toàn kiến trúc cũ,
để lắp một kiến trúc mới, bởi văn hóa không phải chỉ là một thượng tầng kiếntrúc
Thêm nữa, sở dĩ các tân thư lôi cuốn người Việt vì chúng được viếtbằng một ngôn ngữ quen thuộc với họ: một ngôn ngữ Hán rất dễ hiểu, còn dễhiểu hơn ngôn ngữ của các bài phú, cổ văn Tâm trạng người Việt là tâm trạngdân mất nước, đau xót trước một triều đình hủ bại Đặc biệt, cách giới thiệu làthông qua lăng kính Nho giáo, Phật giáo nên đọc là hiểu ngay, thấm ngay.Nhưng nếu ta xét đoán theo quan điểm thực chứng và hiện đại, khi hiểu tưtưởng phương Tây không kém gì phương Tây, thì khá nông cạn và hời hợt.Mặc dầu thế, điều người Việt Nam cần, tức là con đường cứu nước, đã hiện
ra Do đó có ba hiện tượng:
Thứ nhất, là sự đổi mới tư tưởng khá triệt để Tuy khoa cử đến năm
1915 bị bỏ ở Bắc Bộ, và năm 1918 mới bị bỏ ở Trung Bộ, tuy sách đi thi vẫn
là sách Tống Nho, nhưng các nhà Nho đều mê tân thư, đều là Thanh Nho.Phần lớn lúc này có người thi để làm quan, nhưng có người thi là để giành lấymột uy tín tinh thần có lợi cho cuộc vận động (Phan Bội Châu, Phan ChâuTrinh,…) Có thể nói, cho đến năm 1925 xu hướng giới thiệu công khai hay bímật sách báo, tư tưởng phương Tây là dựa trên sách báo Trung Quốc Chính
vì vậy tên đất, tên người phương Tây đều được đọc theo âm Hán Việt, nhiềukhi khá kì quặc: Voltaire thành Phúc-lộc-đặc-nhĩ, Montesquieu thành Mạnh-đức-tư-cưu,… Ngay đến năm 1964, Marx còn được gọi là Mã-khắc-tư,… Còntên đất về cơ bản là tên Hán - Việt, mãi đến giờ rút gọn lại lấy âm tiếtđầu: Anh, Nga, Phổ, Pháp, Ý,… Ngược lại, dù địa vị người Pháp thay đổisong tên gọi vẫn là tên cũ: Ông toàn quyền vốn là từ chỉ Đại sứ đặc mệnh toànquyền (plénipotentiaire), ông công sứ vốn là để chỉ lãnh sự (consul)… Cuộcvận động cải cách ở Trung Quốc thất bại vào năm 1898, phái cải cách ngườithì chết (trong đó có vua Quang Tự), người thì chạy trốn (Khang - Lương)
Trang 19Các nhà cải cách oanh liệt một thời (Khang - Lương) sau này mất cả chí khíchạy theo bọn quân phiệt Dù thế, tư tưởng cải cách vẫn được duy trì Cáchnhìn Nho giáo kiểu Khang Hữu Vi trở thành cách nhìn chủ đạo của Tôn DậtTiên ở Trung Quốc, của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh ThúcKháng và các nhà Nho yêu nước ở Việt Nam Lý thuyết “dân vi quý” hiện vẫnđược một số người cho là lý thuyết dân chủ,…
Ở đây có hai điều khác nhau: Thứ nhất, nếu xét một cách thực chứngthì các tư tưởng tự do, dân chủ, tiến bộ, pháp luật,… không những không có
mà thậm chí không tài nào có thể có trong óc Khổng Tử với tính cách conngười của một thời đại cụ thể, cách đây trên 2500 năm Tư tưởng một conngười trước sau vẫn là sản phẩm một xã hội cụ thể Vài thí dụ: trước thế kỷthứ IV không một nhà tư tưởng nào ở châu Âu lại công kích chế độ nô lệ.Trước thế kỷ XVII mọi nhà tư tưởng đều than phiền về tình trạng xã hội ngàycàng suy đồi, hạnh phúc là ở quá khứ, vậy làm gì có chỗ đứng cho tiến bộ?Trước thế kỷ XX, trừ New Zealand, chẳng có ai yêu cầu phụ nữ bình đẳng vớinam giới về chính trị Những điều hôm nay cho là hiển nhiên, thì mới hômqua thôi, ngay cả các đầu óc sáng suốt nhất của loài người cũng không thấy…Nhưng mặt khác, tôn chỉ của đạo Khổng là đạt đến sự hài hòa trong xã hộitrên cơ sở tu dưỡng bản thân, và để đạt đến điều này, người ta phải hiểu chữ
“thời”, tức là không bám vào cái gì cứng nhắc Chính Khổng Tử thực hiệnđiều này cho nên các câu trả lời của ông về hiếu, nhân, lễ, trí,… thay đổi tùytheo người, tùy theo trường hợp Do đó, nếu dân chủ, tiến bộ, tự do, phápluật tự chúng góp phần làm xã hội hài hòa thì theo Nho giáo phải tự tudưỡng mình để tiếp nhận chúng và đưa chúng vào xã hội
Thứ hai, là phong trào Đông Du Từ cuối thế kỷ XIX Nhật Bản đã làmột tấm gương ở chỗ nhờ biết tiếp thu khoa học, kỹ thuật phương Tây, và đãđổi mới được đất nước, giữ vững được độc lập Đặc biệt là với Nhật, chiếnthắng Nga năm 1905 được người Việt Nam chào đón như là chiến thắng
Trang 20chung của người da vàng đánh bại người da trắng Người Việt Nam xemngười Nhật là cùng văn hóa, cùng chủng tộc, cùng cảnh ngộ, và tìm giải phápcứu nước theo con đường Nhật Bản Đó là phong trào sang Đông, bằng conđường sang Trung Quốc để sang Nhật Bản, tìm biện pháp duy tân đất nước,đổi mới kinh tế, chính trị, đặc biệt học tập kinh nghiệm quân sự Các tác phẩmcủa Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch lúc này trở thành ngọn đuốc soiđường Trên hai trăm người ưu tú ra đi Phan Bội Châu (1867 - 1940) giảinguyên trường Nghệ năm 1900, là người lãnh đạo, cùng với Nguyễn ThượngHiền (hoàng giáp), Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thành và những thanh niên yêunước sẽ tham gia những cuộc khởi nghĩa (Lương Ngọc Quyến, Trần HữuLực ).
Thứ ba, là những cuộc vận động cải cách sôi nổi trong nước Lần đầutiên, ta thấy nhà Nho bắt tay làm thương nghiệp Hồ Tá Bang thành lập công
ty nước mắm Phan Thiết (Liên Thành) Và Phan Châu Trinh bỏ công việc ở
bộ Lễ để đi buôn Những trường học tư nhân mở ra khắp nơi dạy chữ Quốcngữ (chỉ riêng tỉnh Quảng Nam có 40 trường), đồng thời là nơi giáo dục tinhthần yêu nước, đổi mới đất nước Nổi tiếng nhất là trường Đông Kinh nghĩathục theo gương trường Khánh Ứng nghĩa thục của Nhật Bản Trường hoạtđộng sáu tháng, tập hợp những nhà Nho yêu nước như Dương Bá Trạc, LươngVăn Can, do Nguyễn Quyền làm hiệu trưởng Những trường tương tự được
tổ chức khắp các tỉnh Người cầm đầu phong trào cải cách trong nước, khaidân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh là Phan Châu Trinh Một phong trào đổimới sôi nổi lôi cuốn toàn quốc, về một số điểm mang tính chất tư sản dân tộc.Linh hồn của phong trào là Phan Châu Trinh Lúc này thực dân Pháp phạmđiều sai lầm sẽ dẫn tới sự sụp đổ của đế quốc Pháp Nó không hiểu rằng, cáinước mà nó chiếm quá dễ dàng thực tình có một lịch sử vinh quang, mộttruyền thống yêu nước vô song, một nhân dân thông minh chẳng mảy maythua kém người Pháp Để nuôi bọn Tây đoan, bọn chủ đồn điền, chủ mỏ, nó
Trang 21chỉ biết đàn áp Không chỉ những người chủ trương vũ trang khởi nghĩa, mà
cả những người đòi cải cách trong phạm vi hợp pháp cũng bị đàn áp, và đàn
áp khốc liệt hơn: Trần Quý Cáp bị chém Nhà tù Côn Đảo chật ních nhữngcon người hay chữ nhất của đất nước như: Huỳnh Thúc Kháng (hoàng giáp),Ngô Đức Kế (tiến sĩ), Đặng Nguyên Cẩn (phó bảng) Thầy tôi, Phan Võ,thường nhắc lại lời than của cụ Đình nguyên Đặng Văn Thụy: “Bọn hay chữ
đi Côn Đảo cả rồi, ở đây chẳng còn ai biết chữ nghĩa gì nữa!”
Mọi con đường đều bị bế tắc Con đường dựa vào Nhật chấm dứt saukhi Nhật cấu kết với Pháp trục xuất những người yêu nước Con đường tự lựcđổi mới đất nước theo gương châu Âu bị đàn áp Dần dần, người Việt Namnhận ra con đường duy nhất, vô cùng khó khăn nhưng cứu được nước Nếucác đế quốc cấu kết với nhau, thì con đường cứu nước chỉ có thể là con đườngtheo Quốc tế III chống toàn bộ đế quốc chủ nghĩa
Chủ nghĩa xã hội đã đến với văn hóa Việt Nam, phù hợp với bản sắcvăn hóa dân tộc Bản sắc ấy dám đổi mới, dù cho đổi mới là cực đoan, là đoạntuyệt với những điều trước đây được xem là thiêng liêng Nhưng đổi mới là
để cứu nước, không phải để làm đầy tớ người ta Vài thí dụ Không phải thựcdân, mà chính các nhà Nho yêu cầu bỏ chế độ khoa cử, đoạn tuyệt với chữHán Không phải thực dân, mà chính các nhà Nho truyền bá chữ Quốc ngữ,một văn tự Tây phương Khác tất cả các nước đã có một truyền thống văn tựrực rỡ, Việt Nam dám đổi mã văn tự, theo hẳn châu Âu Vào khoảng năm
1920, chữ Hán và chữ Nôm đều ở trong quá trình tàn lụi Ngày trước, ngườiViệt để búi tó Từ năm 1907 có phong trào cắt búi tó để đoạn tuyệt với quákhứ Đến năm 1920 búi tó biến mất, cũng vào khoảng ấy chế độ quân chủ, dù
là lập hiến, cũng bị công kích, người Việt chỉ có thể chấp nhận chế độ dânchủ
Trang 22Ba xu hướng phê phán Nho giáo :
Thực tế một quá trình Âu hóa đã diễn ra Ai chống lại? Không phải cácnhà Nho mà thực dân Pháp Nhiều người hăng hái nhất bênh vực chữ Quốcngữ bị đày đi Côn Đảo Ai cắt búi tó vào năm 1908 đều bị tình nghi Cáctrường học theo xu hướng cải cách bị đóng cửa, các hiệu buôn để mở mangkinh tế đất nước bị cấm
Dưới đây, tôi trình bày ba quan điểm khác nhau do ảnh hưởng của tiếpxúc văn hóa với phương Tây, với Nho giáo nói riêng, và truyền thống văn hóanói chung Nó là tiêu biểu cho ba giai đoạn
Sự phê phán thứ nhất theo xu hướng tư sản:
Từ 1930, sau khi phong trào Việt Nam Quốc dân Đảng bị tan rã do sựđàn áp của thực dân, thực tế ngọn cờ giải phóng dân tộc đã chuyển sang xuhướng mới do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo Xu hướng Việt NamQuốc dân Đảng vốn mang tính chất trí thức tiểu tư sản thành thị, sau khi mấtchỗ dựa về chính trị đã tìm một lối thoát trong văn học nghệ thuật Tờbáo Phong hóa (1932) rồi Ngày nay (từ năm 1935) trong một thời gian dài đã
có ảnh hưởng sâu rộng
Người đứng đầu là Nguyễn Trường Tam (1906 - 1963), bút danh NhấtLinh, đỗ cử nhân khoa học ở Pháp Dẫu sao, ông cũng thuộc lớp lớn tuổi sovới thế hệ sinh sau năm 1910, cho nên có hai Nhất Linh trái ngược nhau: mộtNhất Linh của Nho phong còn chịu nhiều ảnh hưởng Nho giáo và chưa có dấuhiệu báo trước con người của Phong hóa, Ngày nay; và một Nhất Linh cầmđầu Tự lực văn đoàn, tập hợp những người em trai của ông là Nguyễn TườngLong (1907 - 1948) tức Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Lân (1909 - 1943) tứcThạch Lam và một số người bạn bè như Trần Khánh Dư (1896 - 1947) tứcKhái Hưng, Nguyễn Thứ Lễ (1907 - 1989) tức Thế Lữ, Hồ Trọng Hiếu (1900
- 1976) tức Tú Mỡ, Tô Ngọc Vân (1906 - 1954), sau này thêm Ngô Diệu(1916 - 1985) tức Xuân Diệu, Cù Huy Cận (1919 - 2005) tức Huy Cận Tuy