NHỮNG GIẤC Mơ VỀ MỘT THỜI CHƯA XA Tôi đã lại trở về từ chính nơi mình ra đi cùng với những giấc mơ về văn chương, ẩn mình trong vùng lặng của thế giới thông tin, kỹ thuật số, thay đổi nh
Trang 1HŨÀNG ŨUẢNG UYÊN
Trang 2HOÀIIG Q IIÍIIG UVẼn
llì 10iỉ lỉl Illll BIÊfl
Trang 3\ D \ j r c )
IIHẬĨ KÝ ĨROItG ĩù SỐ PHện & LỊCH sử
Trang 4NHỮNG GIẤC Mơ
VỀ MỘT THỜI CHƯA XA
Tôi đã lại trở về từ chính nơi mình ra đi cùng với những
giấc mơ về văn chương, ẩn mình trong vùng lặng của thế giới
thông tin, kỹ thuật số, thay đổi nhanh đến từng giây, ở cái
vùng lặng ấy, ít giao lưu, ít báo chí, không Internet, tôi muốn
tĩnh tại, trong cuộc sống bình lặng bớt lang thng phiêu bạt,
vẫn tự nhủ mình như thế Ây vậy mà, vào một ngày kia, cái
thông tin về bản gốc Ngục trung n h ật k ý “lưu lạ c ” ở một nơi
nào đó trên m ảnh đất Cao Bằng cách mạng, gây trong tôi nỗi
ám ảnh lớn Đó là thông tin từ bài báo của anh Hoàng Cao
Thắng, Bí thư Huyện ủy huyện Trà Lĩnh, “kể lạ i” nội dung
bài báo của nhà báo Hồng Khanh in trên báo N hân dân : Bản
thảo gốc N gục trung n h ật k ỷ Bác Hồ viết từ năm 1943 bị “thất
7
Trang 5lạ c ” ở Cao Bằng, đến năm 1955 mới “tìm thấy”, trở về với
B ác Hồ Đó là một “sự kiện ”, xét ra cũng rất bình thường trong đời sống đầy biến động, nhưng x ét theo góc độ lịch sử,
đó là sự kiện đáng để tâm, vì làm rõ được “ngọn ngành” sẽ
có nhiều điều thú vị Lịch sử cách m ạng giai đoạn tiền khởi nghĩa ở Cao Bằng sẽ được bổ sung thêm những chi tiết xác thực, có giá trị và cao hơn hết là giá trị của sự chân thực như
nó vốn tồn tại Anh Hoàng Cao Thắng cũng như nhà báo Hồng Khanh, “muôh” tỉnh Cao Bằng, V iện Văn học, Sở Văn hóa-Thông tin (cũ), Bảo tàng Hồ Chí M inh đi tìm người đã
có công giữ gìn nguyên bản gốc trung n h ậ t kỷ.
Nguồn thông tin bất ngờ đó lại một lần nữa khuấy động tâm trí tôi ở vào thời kỳ muốn có sự tình lặng nhất trong thời cuộc và kéo tôi đi theo một hành trình “tìm kiếm ” có thể rất
vô vọng, mơ hồ pha chút “điều tra”, “khám phá” của nhũng người làm công việc hình sự
Không ai phân công một người viết báo, viết vãn tự do như tôi đi làm cái việc ấy, bởi còn bao nhiêu cơ quan, bao nhiêu người có ừọng trách cao để làm cái việc bảo rằng quan trọng thì quan họng, bảo rằng không quan trọng thì không quan trọng Bởi th ế mà nhiều người khi biết tôi “tự đi làm ” đã tỏ ra nghi ngại Nhưng có sao! Việc mình, m ình biết cứ gì phải cho mọi người hiểu, mọi người thông cảm , mới làm!
Nơi đầu tiên tôi đến là Ban quản lý Di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng để “khai thác thông tin” và “gạ gẫm” cùng “đi tìm ” Là chỗ bạn bè thân quen nên những người trong ban quản lý chẳng ngần ngại gì khi cung cấp thông tin, nhưng những thông tin mà tôi nhận được nói chung là mù mờ Còn
Những điều chưa biết về n i l I f TROIS là
8
Trang 6ROỈHG QUẩtlGcái việc “cùng đi” thì chẳng mấy ai mặn mà! “Khó! Khó lắm! Cực khó!” T h ế thì thôi, còn mong ngóng gì nữa!.
Tôi bèn đổi “chiến thuật” Thay vì đi tìm từ gốc (ở Cao Bằng), tôi lại đi từ ngọn trở xuống: Tìm kiếm ở Hà Nội vào thời điểm giữa năm 1955 - năm mà Vãn phòng Chính phủ nhận được “công văn” từ Cao Bằng gửi xuống (theo như lời thuật lại của ông Tạ Quang Chiến trong bài báo của ông Hồng Khanh) Giữa tháng 6-2003, tôi xuống Hà Nội, đầu tiên tôi đến
báo N hân dân tìm ông Hồng Khanh Ông Hồng Khanh đã nghỉ hưu, nhưng rất may, ông thường trực của báo N hân dân chỉ
cho tôi chỗ ở và cung cấp số điện thoại của ông Hồng Khanh Tôi đến khu tập thể Văn Chương, gặp ông Hồng Khanh trên một gác nhỏ Ông người thấp, hiền từ, nhanh nhẹn, say công việc (viết báo) Ông rất phấn khởi vì bỗng dưng lại gặp một người có cùng “chí hướng”, tuy nhiên ông cũng không cung cấp thêm được thông tin nào, ngoài những điều đã viết trong bài báo Ông cho tôi địa chỉ của ông Tạ Quang Chiến Tôi bèn đến gặp ông Chiến ở 149B - Nguyễn Thái Học Ông Chiến là người quắc thước, khỏe mạnh, còn rất minh mẫn Ông cũng chỉ nói lại những câu đã được ông Hồng Khanh in trên báo Ông Chiến khuyên tôi nên về tìm ở Cao Bằng, xem có gia đình nào còn giữ được thư khen của Bác Hồ (nếu có) về việc lưu giừ bản thảo gốc Ngục trung nhật ký, mà ông cho đó là vật gia bảo! Lơi khuyên này cũng có lý, nhưng cũng mông lung lắm
Vì rằng thời gian đã lâu và vùng biên giới h ả i qua sự biến
1979, tài liệu, giấy tơ cá nhân và cơ quan đã mất gần hết
Tôi đến Viện Văn học ở 20 Lý Thái Tổ để “hỏi tình hình”, tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên những ngươi bạn cũ, ít nhiều “liên quan” tới việc nghiên cứu
9
Trang 7Ngục trung n h ật ký Các anh cung cấp cho tôi một hướng tìm
từ các thông tin đã đăng ừên sách báo từ năm 1946 đến nay
để từ đó lần ra đầu mối! Quả là một công việc tỷ mẩn và quá
mất thì giờ đối với những người hầu như chỉ có “tư duy sáng
tác” mà không có “tư duy nghiên cứu” như tôi Tiến sĩ Nguyễn
giáo sư Phong Lê, “nói” về hành trình nguyên tác Ngục trung
n h ật ký Tôi đọc ngay mà chẳng có thêm thông tin gì mới.
Chán nản vì công việc không tiến h iển trong cái nắng
quái đản của đất ừời Hà Nội, tôi mang theo nỗi thất vọng trở
về Cao Bằng Trên đường về, tôi ghé chơi người bạn văn cùng
quê, hiện là cán bộ giảng dạy ở Trường Đại học Sư phạm T hái
Nguyên - Tiến sĩ Ngô Gia Võ Lại có dịp đọc thơ, đàm đạo văn
chương Trong lúc cao hứng, tôi kể về việc đi tìm nguyên tác
Ngục trung n h ật k ý đang ỏ đoạn ngõ cụt, Ngô Gia Võ hai tay vỗ
mạnh vào nhau, nhìn tôi phán bảo: “Anh chỉ được cái việc đi
sau người ta Mọi việc xong hết rồi Bài in trên báo đã mấy
năm mà chả chịu đọc Cái việc của anh là viết văn, còn việc
này là dành cho cánh nghiên cứu Mà người ta đã làm hết rồi”
Tôi nghi ngờ vì lúc ấy “vãn cảnh” đã nặng mùi bia Thấy tôi
bần thần, Ngô Gia Võ an ủi: “Em sẽ tìm gửi anh một bản, để
anh khỏi phải suy nghĩ mệt óc”
Nửa tháng sau, không ngờ Ngô Gia Võ cho người mang đến
tận tay tôi ỏ Cao Bằng bài báo mà Võ nói là “in từ mấy năm
trước” Ấy là bài: Nhũng điều ta chưa biết về Nhật k ý trong tù
của ông Trần Đắc Thọ in trên Tạp chí Hán Nôm số 1 (46) - 2001
Đọc kỹ thì thấy bài của ông Thọ chỉ là phần cuối nối tiếp bài của
ông Hồng Khanh Ông Thọ kể, từ khi bản thảo gốc từ Cao Bàng
gửi về, được đưa vào phòng lưu trữ Trung ương Đảng, mãi tới đầu
Những diều chưa biết v ề l l ị l I! ĨIOIG m
10
Trang 8năm 1959, ông Phạm Văn Bình - Trưởng Ban Giáo vụ Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc tình cờ phát hiện, đem về dịch, rồi trình đồng chí Trường Chinh, đồng chí Tố Hữu, thành lập ban dịch thuật tại Viện Văn học Tháng 5-1960 bản dịch ra chữ Quốc ngữ
vạn bản Ngục trung nhật k ý “ra mắt công chúng” bắt đầu từ đó.
Như vậy là với việc chưa tìm ra người lưu giữ bản gốc
Ngục trung n h ật k ý từ nãm 1943, thì nay lại nảy thêm một việc
mới là sự “phát hiện lại” với một nhân vật có tên là Phạm Văn Bình, câu chuyện đã có sự nối kết lại quãng thời gian 17 năm
(từ 1943 đến 1960) Ngục trung n hật k ý “lưu lạc” Nhiệm vụ tìm
kiếm càng thêm nặng nề, đồng thời với việc tìm kiếm người lưu giữ bản gốc là việc tìm hiểu độ chính xác bài báo của ông Trần Đắc Thọ Lại có thêm những giấc mơ về thời những năm đầu khi hòa bình mới lập lại, miền Bắc bắt đầu tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa, một thời mà mọi điều đều mới
Ngày này qua ngày k h ác, những giấc mơ về N gục
trung n h ậ t k ý trở đi, trở lại trong tôi, những giấc mơ bao
giờ cũng hướng vào ngõ cụt, tuy th ế vẫn tạo cho tôi cảm hứng ngược dòng lịch sử, tìm về những vùng đất cũ, lần
lạ i những sự v iệ c , những sự tích đã đi qua hơn nửa th ế
kỷ Có những sự v iệc xảy ra, khi m ình chưa h iển h iệ n trê n cõi đời này Khi đột n h iên “b ậ p ” vào một vấn đề
m ông lung như th ế , tôi tự ngẫm lạ i, h óa ra m ình chưa
h iể u gì về cá i thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc M ột giai đoạn d ài B á c Hồ gắn bó với con người, m ảnh đâ't Cao
B ằng- một giai đoạn quan trọng trong sự nghiệp cá ch
m ạng của B ác Hồ, có th ể xem là giai đoạn đầu “thực sự khởi n g h iệp ” củ a B ác Hồ Để bổ sung cho những th iếu
Trang 9Những diều chưa biết về n i l IT n o n lù
hụt đó, tô i tìm tà i liệu lịch sử đã được in thàn h s á c h và
cả những tà i liệ u chưa in th àn h sá ch Vừa để “bổ tú c ”, vừa soi xem có chút ảnh sáng nào chợt lóe lên trong chốn mông lung, tăm tôi ấy T ài liệu , sá ch vở thì không thiếu, nhưng ch ọ n lọ c tà i liệu như th ế n ào m ới là đ iều quan trọng Tôi đã đọc lại nhiều cuốn lịch sử Đảng bộ địa phương (tỉnh Cao Bằng, huyện Hà Quảng ) và những cuốn h ồi ký cách mạng m à những đồng chí cán bộ đã có thời kỳ cùng làm việc với B ác, đã được gặp B ác kể lại T ài liệu ghi rõ:
B ác Hồ trở về nước sau khi thoát khỏi nhà tù Tưởng Giới
T h ạch vào ngày 20-9-1944 Như th ế là B ác đã ở lạ i Trung Quốc đúng một năm Sau khi ra tù (10-9-1943), B ác không
về Pác Bó như lần đầu mà đến ở vùng Nà Sác, một x ã khi
đó được gọi là xã hoàn toàn (toàn xã là V iệt Minh) - Nà S á c nằm liền kề với Pác Bó, thời kỳ ấy địch tiến hành khủng bố trắng, nhân dân “tan tá c”, dân vùng Pác Bó dạt sang Lũng
Ỷ , Lũng Cát - cả gia đình ông Dương Văn Đình (người anh
em kết nghĩa với B ác Hồ) cũng sơ tán về đấy Tôi đã đôi lần đến Nà S á c, hướng về Lũng Ỷ , Lũng Cát, nhưng những lần ấy giống như là những lần đi xem đất, không kết quả gì
Từ một chi tiết nhỏ như sợi tóc
Trong những bài hồi ký cách mạng đọc được, tôi đặc biệt chú ý tới bài: “Bác lại về Lam Sơn” của ông Hoàng Đức Triều
(In trong cuốn B á c H ồ về nước - Hội Văn nghệ Cao Bằng xuất
bản) Hồi ký kể lại khoảng thời gian ngắn Bác Hồ “dừng lại” ở Lam Sơn trên đường Nam tiến (từ Pác Bó tới Tân Trào) Bác Hồ
12
Trang 10loins Mils ut Eb
- Nhà thơ Hồ Chí Minh, trong những giờ phút nghỉ ngơi hiếm hoi, trong khí thế cách mạng dâng cao đã đàm đạo thơ với các đồng chí của mình (trong đó có ông Hoàng Đức Triều) Các bài thơ, chủ đề thơ được nhắc tới, bàn luận tới là các bài thơ vịnh
Cao Bằng, bài thơ về Nùng Chí Cao, bài Thanh m inh của Đỗ Mục (trong tập Ngục trung n h ật k ý cũng có bài Thanh m inh tương tự) và đặc biệt là bài c ả m tưởng đ ọ c Thiên gia chép bong quyển sổ tay giấy mềm Bài hồi ký (nhất là đoạn bàn về thơ) đã hé lộ nhiều điều nếu ta thực sự nghiền ngẫm, mổ xẻ, phân tích: Thứ nhất, ông Hoàng Đức Triều là người được Bác
Hồ tin cẩn trao đổi những “tâm sự thơ” Thứ hai, “Quyển sổ tay
giấy m ềm ” đứng là quyển Ngục trung n hật k ý vì Bác Hồ chỉ có độc nhất một quyển sổ chép thơ Thứ ba, đến tận lúc này Ngục
trung n hật k ỷ vẫn là vật “bất ly thân” của Bác, cùng Bác đến
Lam Sơn (Ở đây tôi trình bày rạch ròi được như vậy là sau thơi gian dài tìm hiểu, suy ngẫm Chứ lúc đầu cũng chỉ lơ mơ nhận
ra thôi) Cảm giác của tôi khi “phát hiện” ra vẩn đề này là sung sướng như sắp chạm tới vấn đề bấy lâu nay mình dày công tìm kiếm một kết quả ngoài sức tưởng tượng, đạt được một cách quá
dễ dàng, nhưng sự thận trọng của một “vấn đề lớn” không thể tin tưởng một cách “ngây thơ” (nếu không muốn nói là hồ đồ!)
Do vậy sự hồ nghi vẫn luôn thương trực trong tôi Rất muốn tín
m à lại không dám tin Lập luận như thế nào đây để kết luận một vấn đề lớn, chỉ dựa vào một chi tiết nhỏ như sợi tóc (tôi muốn so sánh với công việc phá án của bên hình sự) Tôi đã đem những suy nghĩ này trao đổi với bạn bè Đa số cũng hồ nghi như vậy “Có thật thế không? c ẩ n thận đấy!”
Rõ ràng là phải cẩn thận rồi vì đây là một vấn đề lớn chứ không phải chuyện đùa, vấn đề liên quan đến sự thật lịch
13
Trang 11sử, liên quan tới một tác phẩm thơ vĩ đại của Bác Hồ, một vấn
đề có thể làm thay đổi mọi suy nghĩ đã có từ trước và xa hơn
là để thấy một phần chân dung của B ác Hồ, một con người giản dị, chân thực như chính B ác Hồ!
Dẫu chita có một kết luận được công nhận, nhưng bài hồi
ký của ông Hoàng Đức Triều đã có định hướng cho sự tìm kiếm Bây giơ phạm vi tìm kiếm đã chuyển tới vùng đất Lam Sơn, “khu trú” toong một vùng đất hẹp v ấ n đề là từ một vấn đề nhỏ
như sợi tóc làm sao chứiig minh được ràng Bác Hồ đã gửi Nhật
k ỷ trong tù cho ông Hoàng Đức Triều ở trên lán Pác Tẻng, sau đó
đến năm 1955 (mười năm sau) Bác Hồ mới được nhận lại Tôi đã đến Lam Sơn “khảo sát” nhiều lần, gặp nhà thơ Hoàng Triều Ân (là con trai thứ ba của ông Hoàng Đức Triều) Rồi tìm gặp cả ông Hoàng Tuấn Nam (anh trai của ông Hoàng Triều Ân) Các ông đã cung cấp thêm một số chi tiết Ông Hoàng Triều Ân khẳng định thời gian Bác đến Lam Sơn đàm đạo thơ vớỉ ông Hoàng Đứt Triều, đọc, bình giảng một số bài thơ toong quyển sổ tay giấy mềm, rồi
“để quên” nơi Bác ở (lán sơ tán Pác Tẻng) Ồng Hoàng Triều Ân
đã dẫn tôi lên hang Ngườm Bốc, ra mỏ nước đầu nguồn, lên hang Pác Tẻng, gặp một số nhân chứng Sau nhữtig lần “khảo sát” đó, những chứng cứ, những luận chứng để “chứng minh” càng rõ dần
ra, nhưng tôi vẫn chưa thật sự thỏa mãn Quả thật, ở dơi nhiều khi chỉ một lần, một việc làm không mấy đẹp đẽ, có sự khuất tất đã đánh rơi mất niềm tin nơi mọi người mà rồi sau này dù chuyện có thật mười mươi người ta đã chẳng buồn tin Trong việc này “cái
sự ’ ấy nó cứ lởn vởn, ám ảnh tôi một thơi gian lâu, không tài nào dứt ra được Nhưng sự thực vẫn là sự thực, tôi tin vào những điều mình phát hiện, cũng như tin một cách có cơ sở khoa học để chứng minh tính đúng đắn cửa một vấh đề Sự “chậm trễ" đó đã kéo dài
Những điều chưa biết về l l ị l I f IIOIS l i
14
Trang 12lotie mn IITỈI
tới tháng 3 - 2004 tôi mới viết xong phần I và n bài Nhật k ý trong
1945 tới khi được trả về cho Bác Hồ năm 1955) Tôi xuống Hà Nội
“nộp bài” cho báo Lao động, đồng theft tìm tư liệu để bổ sung hoàn
chỉnh phần m (giai đoạn từ năm 1955 đến 1960) Tôi đề nghị tòa soạn, khi nào tôi viết xong phần ni báo sẽ đăng một thể cho bền
mạch, nhưng báo L ao động đã liu ái đăng sớm phần I, phần n còn
phần m mãi gần một tháng sau mới in (điều dễ hiểu là đầu đề phải
sửa thành: Trở lại s ố p h ận “Nhật k ý trong 0- Tuy “cách quãng”
như thế, nhưng những ai “kiên nhẫn” theo dồi thì vẫn thấy sự bền mạch của bài viết (cũng chính vì vậy mà tôi đưa in trong sách này bản thảo chứ không phải bài in trên báo đã được biên tập - sự biên tập không làm khác đi bao nhiêu “tinh thần” cửa bài viết)
ở đây, tôi muốn nói một điều lằng, bài của tôi có lẽ thích hợp
hơn cho những báo chuyên về văn nghệ (như Tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn chẳng hạn) Tôi không chắc Văn nghệ đã in bài của tôi, còn tô Lao động là tờ mà tôi đã có sự gắn bó trong vài năm trở lại đây ờ mục “Phóng sự ’ - thể loại có uy tín trong làng báo Và với sự “quảng đại” của báo Lao động sẽ cho phép nhiều nguÊft “biết”
việc này hơn Tuy nhiên, đăng ở Lao động, nhiều đoạn “văn” “nói thêm” “tán ngang” đều sẽ bị “phăng” đi cả (do tính chất của tờ báo chứ chẳng có ý gì) Và quả thực khi báo in đã “phăng” của tôi
đi khá nhiều Vậy đấy, làm sao cầu toàn được trong mọi vấn đề!
Trước ngày xuống Hà Nội, tôi đã “cầu viện” tới một số cơ quan ở Cao Bằng, mong nhận được sự giúp đỡ, ít nhất là cấp cho tôi một vài giấy giới thiệu để tôi vào những nơi có thể tìm được tài liệu, nhưng tất cả chẳng giúp được gì!
Xuống Hà Nội tôi đến Hội Nhà vãn Việt Nam, “trình bày
15
Trang 13hoàn cảnh” Văn phòng hội cấp ngay cho tôi đủ “cơ số ” giấy giới thiệu cần thiết để tôi đi “thực tế sáng tá c” (nên coi việc
đi tìm là những chuyến đi thực tế cho có cảm xúc vãn chương) Đầu tiên tôi đến Vụ tổ chức cán bộ Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh để “tìm ” ông Phạm Vàn Bình Rất may Vụ trưởng
Vụ tổ chức cán bộ là bạn của Chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh Cao Bằng, gặp “bạn của bạn” nên đã nhiệt tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi làm việc Trong hồ sơ lưu tại Vụ tổ chức của ông Phạm Văn Bình, không có một chữ nào, một dòng nào liên quan hay hé mở đến việc ông Bình dịch trung n h ậ t kỷ
Tìm hỏi các “nhân chứng” cũng không thêm được thông tin gì, ngay cả nhà con cái của ông ở đâu, cũng không ai biết rõ Kết quả sau mấy ngày “nghiên cứu” tư liệu ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chỉ là một đoạn “trích ngang lý lịc h ”
mà tôi đã in trong phần III bài viết kể ở trên “Xong” công việc ở Học viện, tôi lạ i đến nhà ông Trần Đắc Thọ với mục đích chính là “hối thú c” ông tìm lại cái băng ghi âm mà ông
đã thực hiện với các ông Phạm Văn Bình, Hồ V iết Thắng, ồng Vũ Kỳ, nhà thơ T ố Hữu Cũng như lần trước, ông m ệt mỏi bảo: “Không b iết lẫn đi đầu rồ i!” “Vật chứng” có giá trị nhất xem chừng không bao giờ tìm thấy (hay là không có?) Trong bài viết của ông Trần Đắc Thọ có chi tiết nói là, khi
dịch xong N gục trung n h ậ t k ý ông Bình đem đến V iện V ăn
học nộp một bản Tôi dựa vào chi tiết này mà đến V iện Văn học tìm xem, có tài liệu nào liên quan đến “chi tiết đắt g iá ” này không Rất may, hôm tôi đến Viện Văn học gặp được giáo sư Huệ Chi, tiến sĩ Đặng Thị Hảo Họ đã cho tôi xem
thoải mái hai cặp tài liệu liên quan đến việc dịch N gục trung
n h ậ t kỷ Tôi đã tìm thấy quyển vở chép tay bản dịch N gục trung n h ậ t k ý của Văn Trực và Văn Phụng Đó chính là bằng
Những điều chưa biết về l l ỉ ĩ IT IIOIE ĩù
1B
Trang 14noềne QUÀRG ŨYÊII
chứng khẳng định chuyện ông Phạm Văn Bình (bút danh Vãn Trực) dịch Ngục trung nhật ký là có thật Tôi phỏng vấn ông Huệ Chi thêm “dăm câu, ba điều” Ông Huệ Chi khẳng định ông Phạm Văn Bình là người tham gia dịch trung n h ật
ký Với những chứng cứ và tài liệu thu thập được, tôi đã hoàn
thành phần III bài viết rất nhanh, đem nộp cho báo L ao đ ộn g
rồi “vui v ẻ” về núi với cảm giác là mình đã làm được một việc gì đấy có ích, tuy rất nhỏ (Phần III, được in vào ngày 01- 4-2004, sau phần I và phần n gần một tháng)
v ề Cao Bằng, tôi đưa bản thảo cho báo Cao Bằng Báo Cao
Bằng in nguyên văn ữong 3 số báo hên tiếp Báo in rồi, cũng chẳng
có ai “phản hồi”, ngoài nhữtig thắc mắc “vụn vặt”: Tại sao ở trang bìa bản thảo ghi năm sáng tác là 1932-1933 mà báo lại viết là 1942- 1943? Tập thơ có 113 bài hay 133 bài? Những điều thắc mắc ấy tôi
đã trả lcổ bạn đọc trên báo
Cứ ngỡ, mọi việc tôi nêu trên báo cũng sẽ “chìm đi” trong cuộc sống đang chuyển động “ầm ào”, ai còn có thì giờ, công sức để nghiên cứu, tìm tòi, ha cứu tài liệu để rồi “tranh luận” Lâu dần, tôi nghĩ những điều tôi đã trình bày tuy chưa thật sự
“tâm phục, khẩu phục”, thì cũng khó có thể bác bỏ và mình đã làm được việc là “đặt vấn đề”, còn việc “giải quyết vấn đề” một cách trọn vẹn là công việc còn phải tiếp tục dài dài, công việc của nhiều người, nhiều ngành Tôi tạm dừng công việc để chuyển sang một phần khác cũng thuộc về k ý trong tu, lần
này không phải đi tìm “hành trình lưu lạc” nữa mà là phân tích
17
Trang 15Những điều chưa biết về HHẬĨIỸ ĨR0H6 Tù
thơ N hật k ý trong tù trên bản dịch, đặt những bài thơ - nhật ký
toong dòng chảy lịch sử của cuộc cách mạng ở vào giai đoạn Bác Hồ bị bọn Tưởng giam cầm, đầy ải toong các nhà tù - nghĩa
là nghiên cứu văn bản thơ với tư cách đó là những toang nhật
ký (về đề tài này đã có luận án tiến sĩ của chị Vũ Thị Kim Xuyến- một luận án được đánh giá tốt mà tôi chưa được đọc), vẫn là nghiên cứu thơ trên văn bản nhưng là từ một hướng tiếp cận mới: Thơ - Lịch sử - Con ngươi toong mối tương đồng
Cuối tháng 4-2004 tôi bất c hợt nhận được một cú điện thoại của Đài truyền hình Việt Nam đề nghị tôi giúp đỡ thực
hiện một chương trình truyền hình về N h ậ t k ý trong tù từ những bài báo của tôi đã in trên báo L ao động Tôi sốt sắng
nhận lời Đoàn làm phim lên Cao Bằng có mời tôi ra nhà nghỉ
để trao đổi, đạo diễn chương trình đưa tôi một đề cương sơ lược để tôi góp ý Tôi thành thực bảo rằng: Làm chương trình này không thể vội vã như thế được Chỉ quay ở Cao Bằng một ngày với bao nhiêu cảnh quay như thế làm sao “kỹ” được Tôi cùng đạo diễn nhẩm tính, nếu làm cật lực thì may ra hai ngày mới “tàm tạm ” Thống nhất với nhau như thế, tôi dẹp việc riêng của mình để nhập cuộc cùng đoàn làm phim Trở về nhà đã khuya, vừa ngả lưng, thì chuông điện thoại chợt réo, đạo diễn thông báo: “sếp” đài vẫn quyết làm theo nội dung của nhà đài, quay một ngày ở Cao Bằng, phải về ngay Tôi bảo, đó là tùy quyết định của đài, nhưng làm theo kiểu quá
“mì ăn liền ” thì tôi không tham gia và tôi không cho phép sử dụng những điều tôi đã công bố trên báo T h ế là tranh luận qua điện thoại: T h ế nào là bản quyền? Cứ dằng dai mãi Tôi quá mệt mỏi chấm dứt cuộc “điện đàm ” bằng câu: “Tôi sẽ kiện đài
vi phạm bản quyền” Hôm sau, đạo diễn vẫn thực hiện phần
10
Trang 16HOÌDG QUÀHG UVẼ8
việc của mình, bất chấp những phản ứng của tôi Một ngày,
xong việc, đoàn về Hà Nội Tôi tìm số điện thoại của “sếp” đài
để “có ý kiến” “Sếp ” hỏi tôi: “Đoàn đã về chưa?” Tôi ữả lơi
“Đi rồi” “S ếp ” bảo: “Quyền phát sóng hay không là ở tôi, anh
yên tâm” Tôi làm sao “yên tâm ” với cung cách làm ăn như thế,
nhân chuyến về Lào Cai dự hội thảo vãn học dân tộc, miền núi,
tôi ghé Hà Nội, để gặp lãnh đạo đài Một sếp khác - sếp trực
tiếp của những người làm chương bình bảo: “Nếu đoạn nào sử
dụng tư liệu của anh, chứng tôi sẽ “bắn“ tên anh lên màn hình!”
Tôi bảo: “Tôi không cần có tên trên màn hình mà cần sự nghiêm
túc!” Trao đổi qua lại có vẻ căng Tôi đi Lào Cai họp rồi trở về
nhà, đến gần ngày 19-5-2004, thấy tivi phát chương trình
một số tư liệu của tôi- không đến nỗi “trầm trọng” nên tôi thôi
Nói “tạt ngang” như thế để nối vào mạch chuyện, bởi cũng
thời gian được xem chương trình về Nhật k ý trong tôi được
đọc 2 bài báo của ông Phong Lê đăng trên báo Lao động (ngày 18
và 19-5-2004) Tỏ ý không tin những chứng lý của tôi đưa ra trong
các bài viết vì rằng những chứng lý ấy chỉ dựa vào một bài hồi ký
của ông Hoàng Đức Triều và bài báo của ông Trần Đắc Thọ cùng
một số điều tra thực tế “lặt vặt” khác - Những giả thuyết được
“chứng minh” một cách dễ dàng và đơn giản như thế, chắc là
chưa đủ “trọng lương” về học thuật Và mối lo lơ mơ của tôi về
cái sự “đọc lướt”, “xem qua”, cùng với cách làm truyền hình chưa
thật sự dụng công dễ gây ra một tác dụng ngược, tức là làm tăng
mối nghi ngơ về những kết luận mà tôi đưa ra - đã được trình bày
rất kỹ trong bài của ông Phong Lê với những “câu hỏi lớn”
“Tôi không tin”- Không chỉ có ông Phong Lê mà có rất
nhiều độc giả được đọc bài báo của tôi cũng không tin, bởi vì họ
19
Trang 17không được “tiếp cận” “gặp gỡ” và đọc một cách kỹ lưỡng những
tài liệu mà tôi đã dẫn trong bài và cái quan trọng hơn là đối vởi
lem nhem, vô tâm, vô ý như thế được! Có một điều ta cần thống
nhất ở đây là giá trị của N hật k ỷ trong phải chờ đến năm 1960
mới bắt đầu được “thẩm định” và qua thời gian, giá trị của tác
phẩm càng ngày càng được đánh giá đúng tầm của nó, được khẳng
định là một tác phẩm thơ lớn (Nói là một tác phẩm thơ vĩ đại
trong một hệ quy chiếu nào đó cũng không phải là nói quá) Để
h ả lời ông Phong Lê, tôi đã viết bài trả led hên báo L ao động (Nói
thêm về hành trình nguyên tác Ngục trung nhật k ỳ - s ố ngày 22
và 24 tháng 6-2004) ở bài viết ngày 22-6-2004, tôi muốn nói một
điều rằng, nhiều khi trong công tác điều tra một vụ án người ta chỉ
dựa vào những tang chứng, vật chứng rất nhỏ còn sót lại ở hiện
trường như một sợi tóc, một chiếc khuy áo mà với những lập
luận và xét nghiệm khoa học ngưcd ta dựng lại chính xác vụ án
đã xảy ra Nhưng việc đi tìm hành trình không phải là công
việc phá án! Tuy thế ở đâu cũng có một chút tương đồng, ấy là với
chứng lý còn “sót lại” của lịch sử (ghi trong hồi ký) với một cách
làm việc thận trọng, cẩn thận và khoa học có thể đưa ra được
những kết luận đúng Chính vì vậy lập luận của tôi xoay quanh
hồi ký của ông Hoàng Đức Triều không thể được xem là thiếu
chứng cứ (cùng vcd nhiều chứng cứ khác) Có thể những lập luận
của tôi cần được thẩm định, xem xét thêm trên cơ sở khoa học
Còn điều “không tin ” thứ hai của ông Phong Lê là về
ông Phạm Vãn Bình Không thể có chuyện như ông Trần Đắc
Thọ kể trong bài báo của mình trên tạp chí H án N ôm Tôi đã
“chứng m inh” tính x á c thực của bài báo dựa vào “tang
chứng” quyển vở chép tay dịch N gục trung n h ậ t k ỷ của V ăn
Những điều chưa biết v ề l I Ậ t IT ĨROBG ĩũ
20
Trang 18Trực - Văn Phụng lưu ở V iện Văn học Công bằng mà nói, chỉ với điều đó không thôi thì kết luận của tôi chưa đủ để khẳng định Đọc bài báo của ông Phong Lê, tôi lại mất nhiều
đêm đọc thêm tà i liệu, sông lại với những giấc mơ về N gục
trung n h ạ t k ỷ của mình Tôi quyết định đi tìm thêm những
chứng lý có sức thuyết phục ngoài bài của ông Trần Đắc Thọ
và quyển vở của ông V ăn Trực - Văn Phụng! Nhưng tìm ở đâu, nếu có thì người Hà Nội đã tìm ra cả rồi, không phải đợi một anh ở rừng ngơ ngác giữa đất ười Hà Nội tìm ra
HOÍHG QUÀ II 6 UTỈI
Phân vân là vậy, tôi vẫn lên k ế hoạch tiếp tục “xuống núi” Đang chuẩn bị đi thì chợt xem chương ưình tivi đã nói ở ưên, thấy có một cảnh quay ông Trần Đắc Thọ đưa băng ghi
âm lắp vào máy, tiếng ưao đổi giữa ông và ông Phạm Văn Bình phát ra Tôi thật sự bất ngờ vì băng ghi âm đã mất mà truyền hình “đóng lạ i” như thế là quá giỏi Tôi vội alô cho ông Trần Đắc Thọ, ông Trần Đắc Thọ vui vẻ bảo: “Thấy rồi, thấy rồi” Tôi nhắc cụ Thọ: “Cụ giữ băng cho cẩn thận nhé” Cụ Thọ bảo: “Đài ưuyền hình lấy đi rồi!” Tôi chợt lo, bèn cung cấp số điện thoại “người lấy đi” bảo cụ Thọ “đòi” cho được băng ghi âm ấy về Tôi nghĩ ưong băng ghi âm ẩn chứa nhiều điều có thể khai thác làm chứng cứ, nhỡ mất thì thật là rủi! Tôi thấp thỏm chờ đợi, cứ như là có vật quý sắp tuột khỏi tay
Giữa tháng 6-2004, tôi xuống Hà Nội giữa kỳ Euro đang sôi động hong cái nắng “hầm hập” của Hà Nội Việc đầu tiên
là tôi đến “thăm ” cụ Trần Đắc Thọ (năm nay cụ đã 88 tuổi)
Trang 19Những điều chưa biết v ề l l ị ỉ I Ỹ U O I G ĩ ỉ
Cụ vui mừng gặp lại “người quen cũ” Cụ bảo con cháu đem cái đài quay băng cũ ra “hình diễn” cho tôi nghe, nhưng bâng
cũ, đài cũ thành ra tậm tịt đoạn được, đoạn mất, tồi nản quá Loay hoay hồi lâu, không đạt kết quả, tôi xin phép cụ đưa bâng
ra cửa hiệu Bờ Hồ xử lý, tiện thể, sao thêm một băng Tôi ra Hàng Bài, mất một tiếng mới xử lỷ xong và sao thêm được một băng, tiện thể mua luôn một máy nghe băng loại nhỏ để “chủ động” nghe Trở về nhà họ tôi bò ra chép toàn bộ nội dung băng ghi âm ra giấy (hong phần Phụ lục có 2 bản chép nội dung cuộc hao đổi) Nhờ hời chất lượng âm thanh của băng vẫn còn “nghe được” Tôi “nghiên cứu” đi “nghiên cứu” lại nội dung băng ghi âm qua lời kể của cụ Phạm Văn Bình Ở một đoạn cụ Bình kể: “Trước khi in k ý trong tù thành sách tôi
và cụ Nam Trân đã gửi một số bài in hên báo N hân dân và báo Văn nghệ" Tôi truy tìm và thấy hên báo có in những bài
thơ như cụ Bình kể Ở một đoạn khác cụ Bình còn “tiết lộ” cụ
Nam Trân đã xác nhận cụ Bình đã tham gia ban dịch Ngục
trung n h ật k ý của Viện Văn học (Điều này tôi cũng tìm thấy
hên tạp chí N ghiên cứu văn học) Những tư liệu đó đã góp thêm
chứng lý để khẳng định chắc chắn rằng, câu chuyện mà cụ
Trần Đắc Thọ kể lại h ên tạp chí Hán N ôm hoàn toàn có thật.
Như vậy, tư liệu để viết bài h ả lời ông Phong Lê (phần
về cụ Phạm Văn Bình) đã đầy đủ nhưng hời Hà Nội quá nóng bức làm tôi không thể động bút được Tôi định bụng, bao giờ hời Hà Nội mưa, nhiệt độ giảm đôi chút mới bắt đầu vào cuộc Đang hong lúc “hông hời, hông đất, hông m ây” thì đột nhiên
Đỗ Doãn Hoàng, phóng viên báo An ninh T h ế g iớ i gọi điện
mời đến chơi Đang lúc rỗi, tôi đến ngay phòng làm việc của Hoàng ở tầng 4 ngôi nhà 100 phố Y ết Kiêu Phòng có máy
22
Trang 20I0ÌR6 QIIỈR6 minlạnh, thật dễ chịu Hoàng hỏi: “Đại ca xuống Hà Nội có công chuyện gì?” Tôi kể nguồn cơn cho Hoàng nghe và than vãn rằng: Rất muốn viết, nhưng nóng quá, không thể cầm nổi bút Hoàng khẳng khái: “Anh đến đây mà viết” Sáng hôm sau tôi đến phòng Hoàng, cắm mặt vào trang giấy trắng, lia bút, chỉ một buổi sáng là “cà y ” xong bài trả lời ông Phong Lê,
buổi chiều cho đánh m áy rồi đem sang báo L ao đ ộn g xếp số.
Khi báo in ra, tôi mua vài sô" tặng bạn bè Người đầu tiên tôi đem báo đ ến tặng là ông Phạm Thăng, con trai
cụ Phạm V ăn Bình ở khu tập th ể T hàn h Công Ông Phạm
T hăng năm nay 63 tuổi, là kỹ sư địa châ"t đã nghỉ hưu, nay đi ‘Tàm th ê m ” cho một công ty nước ngoài với mức lương tính theo đơn vị nghìn đô Ông vẫn khỏe, thường đi chơi te n ít “với T â y ” Lần đầu gặp, ông T hăng h ỏ i tôi:
“V iết văn thơ như ông, tháng thu nhập bao n h iêu ?” “Cô" lắm cũng ch ỉ trên tr iệ u !” Ông T hăng cười: “Khổ quá nhỉ!" Lần này đến, ông Thăng cởi mở hơn, ông cảm ơn tôi và đưa tôi xem b ản thảo thơ 67 bài của ông sắp in với lời giới th iệ u củ a nhà thơ Phan Thị T hanh N hàn Ông Thăng cười: “Gen của cụ tôi đ ây” Quả đúng thê", cụ Phạm
V àn Bình là người chuyên về chính trị nhưng có tâm hồn thơ, cụ đã có m ột sô" bài thơ được in, đã dịch thơ chữ Hán
của các danh tướng đời Trần, và sau này là dịch Ngục trung
n h ậ t k ý cùng với V ăn Phụng (mà cụ khiêm tốn ghi là: lược
dịch) có nhiều bài dịch đạt đến độ chuẩn của thơ ca (điều này tôi sẽ có dịp trở lạ i ở một phần khác) Tôi đem tờ báo
L a o đ ộ n g có in ảnh ch ân dung cụ Phạm Văn Bình và bài
viết của tôi đặt lên bàn thờ cụ rồi khấn Tôi cứ nghĩ, ở
cõi xa xăm kia, ch ắc cụ sẽ nở nụ cười mãn nguyện khi có người làm sáng tỏ đ iều khi còn ở cõi dương cụ không ít
23
Trang 21Những điều chưa biết v ề l l ỉ l I ! Ĩ I 08G ỈV
b ận tâm , khúc m ắc Nếu được vậy thì tôi đã làm được
m ột v iệc nhỏ cho cụ, cho lịch sử, “tìm r a ” người đầu tiên dịch toàn bộ 133 bài thơ chữ Hán củ a B á c Hồ trong
trung n h ậ t k ỷ ra chữ Quốc ngữ rồi chuyển cho V iện Văn
học Đó là cụ Phạm V ăn Bình (bút danh Văn Trực)
Cuộc gặp mặt “nho nhỏ”
Trong phần kết bài báo trả lời ông Phong Lê, tôi ngỏ ý muốn có một cơ quan nào đó tổ chức một cuộc gặp mặt “nho nhỏ” để tôi trình bày cho rõ một số điều tôi đã “tìm kiếm ” được Và thật là may mắn trong một buổi làm việc với Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh một tuần sau đó, V iện thông báo là khoảng đầu tháng 9-2004, Viện sẽ tổ chức một cuộc tọa đàm
về hành hình nguyên tác Ngục trung n h ậ t kỷ Tôi mừng và hy
vọng Quả là một giấc mơ
Đúng như giáo sư Phong Lê nói “cuộc tìm kiếm vẫn cứ nên tiếp tục” Công việc của tôi chỉ là chắp nối các sự kiện gần như là có sẵn, để chứng minh một cách khoa học một vấn
đề mà tầm cỡ lớn hay nhỏ là tùy thuộc ở cách nhìn nhận và quan niệm của từng người, từng ngành Nếu như có thể ghi công cho những người tìm kiếm thì rất nhiều người đáng được ghi công như nhà báo Hồng Khanh, ông T ạ Quang Chiến, ông Trần Đắc Thọ, ông Huệ Chi, v.v và những người cần được tôn vinh là các ông Hoàng Đức Triều, ông Phạm Văn Bình
Ấy là tôi mơ như vậy Và vấn đề dường như mới bắt đầu
L àn g Dịch Vọng, 6-7-2004
24
Trang 22M É LĂM IIĂM LƯU LẠC
25
Trang 24Phần một:
8-1942 đến 10-9-1943, trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, trải
17 năm , đến năm 1960 mới được dịch ra chữ quốc ngữ và
xuất bản Cuốn N hật k ý trong một tập nhật ký ghi bằng
thơ lập tức được đón nhận như là một tác phẩm thơ xuất
sắ c, trở thành một di sản văn hoá của dân tộc ta, đất nước
ta M ột tài sản quí như vậy tại sao lại bị "chìm đi” những
17 năm ? Trong thời gian dài đó N hật k ý trong lưu lạc ở
đâu? Những câu hỏi đó nhiều người đã đặt ra rồi "quên đi"
20
Trang 25mà chưa ai có được câu trả lời, có th ể vì tìm câu trả lời là một công việc còn khó hơn “đáy bể mò kim ” Cũng có thể câu hỏi đó quá vụn vặt, chỉ gây một chút tò mò không cần thiết!? Có lẽ vì th ế mà nguồn thông tin từ bài báo của nhà báo Hồng Khanh đăng trên báo d â n ngày 17-5-2003
không gây được một chú ý đáng kể nào Xin trích nguyên văn một đoạn: "Đồng ch í Tạ Quang C hiến k ể: "M ột hôm vào khoảng giữa năm 1955, khi hoà bình đã lậ p lạ i trên
m iền B ắc được gần m ột năm , tại văn phòng giúp v iệc cho
B á c tôi đang ngồi n h ận sô' công văn cá c nơi gửi đến thì
thây trong s ố đó có m ột phong bì dầy cộm hơn c á c phong
bì, công văn k h ác, n go ài phong bì dầy cồm cộm n ày không ghi tên ai gửi m à ch ỉ b iế t từ Cao Bằng gửi đ ến ghi là: Gửi văn phòng Chủ tịch phủ đ ể trình lê n B á c Hồ Khi bóc phong bì ra, thây m ột cuốn sổ nhỏ v iết tay chữ H án không có chỗ nào gạch xoá, tôi đưa lên trình B á c c ầ m quyển sổ nhỏ này xem qua m ột lượt, niềm vui củ a B á c
Hồ h iện rõ trên n ét m ặt Bỗng B á c nắm ch ặ t tay tôi và nói "B ác cảm ơn chú" Lặng giầy lát B ác nói tiế p rất cả m động đại ý: Qua kháng ch iế n chín năm , B ác tưởng nó thâ't
lạ c đâu rồi, B ác chỉ nhớ m ang m áng khi ở Cao Bằng công
v iệc cá ch m ạng cuốn hút khẩn trương, B á c gửi lạ i, g iắt
nó trên m ái tranh củ a m ột nhà đồng bào Rồi B á c lạ i n ó i văn phòng nên có thư cảm ơn và thưởng cho người giữ
và chuyển đến đây "tà i liệu " này "T à i liệu " m à B á c n ó i
chính là bản thảo gốc N h ậ t k ý tron g
Nguồn thông tin ngắn này gây trong tôi niềm xúc động và cảm hứng mới Tôi ngược trở về những sự kiện lịch sử diễn ra trên mảnh đất Cao Bằng dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ những năm
Những điều chưa biết về m ị l I f m o i s ỉú
30
Trang 26um um uvEn
1944-1945 và thầm cảm phục người dân nào đó của Cao Bằng đã
gìn giữ nguyên vẹn quyển Nhật ký trong tu suốt trong thời kỳ cách
mạng cực kỳ khó khăn, gian khổ và gửi đến Bác Hồ khi đất nước mới tạm bình yên Con người có văn hoá, có trách nhiệm với lịch sử, đất nước đó là ai, đã được gặp Bác Hồ ở đâu, vào khoảng thòi gian nào? Nếu tìm ra con người đó ta có thể "phục chế" lại một khoảnh khắc đẹp trong dòng chảy lịch sử "Vất vả, đau thương trong sáng vô ngần" của dân tộc ta, ở đấy sáng lên phẩm chất cách mạng của những người dân Cao Bằng, kính yêu Bác Hồ,
trung thành với cách mạng Đó chính là cái c ả m hửng sỉ/thôithúc và dắt dẫn tôi đi tìm con người thực đó Một công việc khó
khàn hơn rất nhiều việc tôi đi Tim m ộ Thâm Tâm và giải mã những ẩn s ố c ầ m Giang vài năm trước đây.
Tháng 6 năm 2003, tôi xuống Hà Nội gặp nhà báo Hồng Khanh (ở khu tập thể Văn Chương) và ông Tạ Quang Chiến (số nhà 149B - Nguyễn T hái Học) Các ông rất ủng
hộ và khuyến khích việc đi tìm của tôi "Cần lắm, nhưng cũng khó lắm" Tôi đề nghị ông Tạ Quang Chiến giúp tìm ở
bộ phận lưu trữ công văn của Văn phòng Chính phủ, xem
trong sổ ghi chép công văn đi và đến có ghi ngày nhận N hật
k ý trong tù và thư cảm ơn cũng như phần thưởng gửi cho
người lưu giữ N h ậ t k ý trong tù không Ông Chiến bảo: "Tôi
không biết là có thư cảm ơn hay không, còn trong sổ công văn đi và đến ch ắc không ghi Uyên nên về tìm ở Cao Bằng, tôi ch ắc là nếu có thư cảm ơn, thì gia đình của người ấy sẽ còn giữ như một vật gia bảo của gia đình"
Tôi trở về Cao Bằng, nhờ lục tìm trong sổ sách công văn ở bộ phận lưu trữ tài liệu của Uỷ ban nhân dân và Tỉnh uỷ tỉnh Cao Bằng nhưng chẳng tìm ra manh môi nào
31
Trang 27Không có hy vọng tìm kiếm trong sổ sá ch , giấy tờ, m ột ngày kia tôi lê n P ác Bó (Hà Quảng) lần theo dấu ch â n của
B á c Hồ khi người trở lạ i Cao Bằng (ngày 20-9-1944) Sử sách ghi lạ i, lúc bấy giờ cuộc khủng b ố trắng củ a đ ế quốc Pháp đã lê n đến cực điểm , nên toàn bộ d ân làng P ác Bó lán h n ạn sang ở Khum Đ ắc, một c á i lũng sâu b ên kia b iê n giới, đốì d iện với Lũng Cát thuộc xã Nà S á c , bởi vậy B á c
Hồ không ở làng P ác Bó, cũng không th ể ở trong hang p ác
Bó hoặc lán Khuổi Nặm như những ngày đầu B á c về nước năm 1941 m à B á c đ ến ở vùng Nà S á c Hôm đ ến Nà S á c , rất may tôi còn gặp được ông sầ m C hấn Hưng, Chủ n h iệm
V iệt M inh xã Nà S á c năm 1944-1945 Ông Chấn Hưng năm nay đã 94 tuổi, người rất yếu nhưng còn m inh m ẫn, ông khẳng định: B á c Hồ về có qua n hà tôi ở Lũng Loỏng, nhưng B á c ngủ trên hang, h ê n lán b ên Khum Đ ắc, Lũng
Ỷ , không ở nhà dân Hồi ký của đồng chí Vũ Anh cũng
x á c nhận đ iều này: Lúc bấy giờ, B ác đang ở Nà S á c , m ột
xã thuộc huyện Hà Quảng, Cao Bằng, giáp giới với Trung Quốc B á c ở trong một cá i lán nhỏ chung quanh núi đá
bao bọc (Hồi ký: N hữ ng n g à y s ố n g g ầ n B á c ) Trong thời
gian này tình th ế cá ch m ạng đã râ't khẩn trương, có n h iều
sự k iện xảy ra có ý nghĩa quyết định tới vận m ệnh củ a dân tộc và đất nước: Cuối tháng 9 năm 1944, B á c Hồ ra chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa mà liê n T ỉnh uỷ C ao-B ắc- Lạng đã có k ế hoạch phát động để ư án h những khó kh ăn
và tổn that khi v iệc chuẩn bị ở các nơi chưa đầy đủ Tháng
12 năm 1944 B á c triệu tập cá c đồng ch í Võ Nguyên G iáp,
Vũ Anh, Lê Quảng Ba đến bàn về việc thành lập lực lượng
vũ trang T háng 2 năm 1945 B ác từ Nà S á c đi Côn M inh
Những điều chưa biết về m i l It TRORfi ỉù
32
Trang 28lOỈIi ũ U fi B 6(Trung Quốc) , đến cuối tháng 4 m ới trở lạ i Nà S á c , rồi đi luôn về T â n Trào (Tuyên Quang), lãn h đạo thắng lợi cuộc Cách m ạng Tháng Tám của dân tộc ta Như vậy từ tháng
9 năm 1944 đến tháng 4 năm 1945, B ác Hồ chỉ ở Nà S á c một thời gian ngắn, không ở nhà dân, n ên v iệc đàm đạo thơ với m ột người dân b iết chữ Hán, yêu thơ là hoàn toàn
không có! H oặc giả, B ác Hồ nghĩ rằng N h ậ t k ý trong là
một tà i sản quí cần gửi lạ i? Cũng không thể! Vì N h ậ t k ý
trong tù chỉ là m ột quyển sổ ghi ch ép cá nhân, rất nhỏ
gọn, không nặng n ề gì khi mang theo không có lý do gì để gửi lại Và nếu là tài sản quí tấ t là vật bất ly thân của
B ác, chứ không thể "giắt trên m ái ữanh" một cách dễ dàng như vậy T ồ i gặng hỏi ông Chấn Hưng: B ác Hồ có‘ gửi lại
quyển s ổ nhỏ nào viết bằng chữ Nho không?" "Không -
ông Chấn Hưng khẳng định - ch ỉ có m ấy quyển của ông Hoàng (tức đồng chí Cao Hồng Lãnh), đ ể trong hòm, dưới hang, cán bộ bảo tàng về lây đi"
Cuộc tìm kiếm cứ luẩn quẩn, mờ mịt Tôi lang thang khắp vùng Ma Lịp, Lũng Cát, nhìn sang Khum Đắc, Lũng Ý phần bên kia biên giới, vừng núi nghèo khổ xưa chẳng còn lại dấu vết gì của thời cách mạng năm 1944 -1 9 4 5 và cả những người của thời ấy, những nhân chứng có thể hé mở một điều gì đó
về cuốn N hật ký trong từ thì nay đã mất cả (chỉ còn lại ông
Chấn Hưng) Tôi trở về mà không thu được kết quả gì, có lẽ phương pháp và hướng tìm kiếm của tôi là chưa đúng! Tôi định thần và suy ngẫm cho một hướng đi mới, một đợt tìm kiếm mới, nhưng tìm ở đâu, cách gì thì tồi vẫn chưa nghĩ ra
33
Trang 29Phần hai C á ch m ạng,
trăng và thơ
\ ^J/T ong khoảng lặng giữa những đợt tìm k iếm , tô i
đọc c á c tà i liệ u liê n quan đ ến lịch sử c á c h m ạng Cao
B ằn g (chủ y ế u là h ồi ký củ a những người đã được gặp
B á c Hồ và c á c đồng chí cùng làm v iệ c với B á c những
n ăm 1944 - 1945), tôi th ích thú n h ậ n ra rằng có n h iề u
34
Trang 30ioins QUỈR6 UfÊH
ch u yện , n h iều v ấ n đ ề, n h iề u sự k iệ n hay và sinh động ghi trong h ồ i ký có th ể gợi mở và làm cứ liệ u cho c á c nhà văn, c á c n hà b iê n k ịch đ iện ản h v iế t n ên những bộ tiểu th u y ết lịch sử, những bộ phim d ài tập hoàn h tráng bởi tầm vóc lịch sử th ờ i kỳ đó lớn hơn chúng ta tưởng
rấ t n h iề u (nhưng đ ấ y là m ột vâ'n đề h o àn to à n k h á c, không thuộc p h ạm vi b à i này) Trong sô' những b ài v iết,
tôi đ ặc b iệ t bị cu ốn hút bởi b à i B á c l ạ i v ề L am Sơn củ a ông H oàng Đức T riề u (trong tập N hữ n g k ỷ n iệ m v ề B á c ,
Nhà xuâ't b ản V iệ t B ắ c , in n ăm 1973) Hồi ký k ể lạ i m ột
cá ch sinh động v ề khoảng thời gian 12 ngày (từ 29-4 đ ến 9-5- 1 9 4 5 ) B á c Hồ dừng c h â n là m v iệ c tạ i Lam Sơn (thuộc hu yện H oà A n, tỉn h Cao B ằng) trê n đường, từ
P á c Bó về T â n T rà o Trong thời gian đó, B á c đã ăn nghỉ
ở lá n sơ tá n tr ê n hang P á c T ẻ n g củ a gia đình ông
H oàng Đức T r iề u (lú c đó là chủ n h iệm V iệ t M inh xã Lam Sơn) Họp b à n với B an L iê n T ỉn h uỷ Cao - B ắ c - Lạng và đ oàn c á n bộ Trung ương về những công v iệ c
ch u ẩ n bị cho tổ n g k h ở i n gh ĩa T rong không khí c á c h
m ạng kh ẩn trương, giữa bộn bề côn g v iệ c , B á c Hồ vẫn
d àn h thời gian ch o thơ Từ n iề m vui về những th àn h công và tương la i s á n lạ n củ a c á c h m ạng đang đ ến gần, giữa m ột khung c ả n h nú i non kỳ vĩ vùng núi Lam Sơn (tên cũ là tổng P h ú c T ăng) là vùng đ ất th iên g ở vào th ế
th an h long ch ầ u n gu y ệt, B á c Hồ đã có những giây phút thăn g hoa cùng thơ G ần nơi B á c Hồ ở có m ột dòng suối trong ch ảy ra từ m ột động lớ n , B á c và c á c đồng ch í củ a
m ình thường ra tắ m đ êm ở đầu nguồn Trong án h trăng
35
Trang 31đ êm rọ i sán g m ặ t n ư ớc, c ả n h s ắ c th iê n n h iê n k h o án g
thơ tri kỷ, tri âm S a u đêm tră n g ấy có ch ú t th ờ i gian
rả n h rỗ i n à o B á c lạ i đàm đ ạ o thơ vớ i ông H oàn g Đức
T riề u về những b à i thơ đề tà i Cao B ằn g, v ề v iệ c dùng
đ iể n tích trong thơ, ch ọ n ch ữ n g h ĩa và t iế t k iệ m lờ i
trong thơ (c á c b à i V ịn h C a o B ằ n g , thơ đề ở đ ề n thờ
Nùng Chí Cao, b à i thơ T h an h m in h củ a Đỗ M ục trong
tậ p T h iê n g ia t h i )là m ột đ o ạ n trích tron g h ồ i k ý :
"Đ ồng ch í ông K é (B á c Hồ) giở b à i “K h á n g ia
h ữ u c ả m ” (Đ ọc c u ố n T h iê n g ia th i c ó c ả m x ú c) c h é p
trong qu yển sổ tay g iây m ềm , đưa tô i đọc:
"Cổthi th iên á i th iên n h iên m ỹ, Sơn thuỷ y ên h o a tuyết nguyệt phon g,
H iện tại thi trung ưng hữu th iết,
Thi gia d ã y ế u h ộ i xung p h o n g ”.
T ô i ngẫm nghĩ: Đồng chí ông Ké giỏi làm thơ, m à lạ i
có n h iều ý tứ m ới m ẻ B ài thơ n êu rõ n hận x é t, thơ ngày
xưa nghiêng về c á i đẹp của th iê n n h iên như ca ngợi nú i,
sông nước, khói m ây, hoa, sương, tuyết, trăng, gió B à i
thơ còn đề ra yêu cầ u mới "Ngày nay trong thơ c ầ n p h ải
có ch ất thép , nhà thơ cũng p hải b iế t xung phong, xông lê n
Những điều chưa biết v ề l l Ị l It m i l n
3(1
Trang 32lotlfi mn BTẼI
ch iế n đấu" Càng nghĩ tôi càng thây nhiều tứ thơ mới Tôi
lậ t c á c trang khác, đọc loáng thoáng vài bài nữa và đưa trả lạ i đồng ch í, đồng chí ông Ké đón lấy và nói thêm :
- Làm thơ phải biết chọn cái đẹp đưa vào thơ nhưng nhất thiết ừong thơ phải có chất chiến đấu
T ô i đọc đi, đọc lạ i b à i hồi ký của ông Hoàng Đức Triều, sau n h iều đêm trằn trọc tôi tự rút ra nhận x é t cho riêng m ình: Những chi tiế t trong hồi ký là hoàn toàn chân thật, không th ể "bịa" ra những chuyện đêm trăng xướng hoạ, đốì thơ, đàm đạo thơ một cách chi tiết, cụ thể như
thế Rõ ràng quyển sổ tay giấy mềm đích thị là cucín N h ật
k ý tron g tù mà B ác Hồ luôn đem theo bên mình và chỉ khi
gặp án h trăng trong "C ảnh đ ẹ p đ ê m n a y k h ó hữ n g h ờ " , Người m ới đem N h ậ t k ý trong tù ra đàm đạo với người ư i
kỷ thơ trong những giờ phút nghỉ ngơi hiếm hoi giữa bộn
bề công v iệ c cá ch m ạng, xong rồi tiện tay Người đem quyển sổ giắt lên m ái tranh (vì lán sơ tán nhỏ mà thấp!) sau đó công v iệc cách m ạng khẩn trương cuốn hút Người
đi, không còn thời gian đ ể nhớ những v iệc "vui vui" ấy nữa! (bạn đọc có th ể tìm đọc bài hồi ký này để rõ hơn)
Nói Bác Hồ đem quyển N hật k ý trong giắt lên mái tranh ở lán Pác Tẻng, nghe có vẻ võ đoán! Không, qua tìm hiểu các nhân chứng và đọc các tài liệu thì thấy một điều khẳng định chắc chắn rằng, trong thời gian ở Lam Sơn từ ngày mùng 3 đến mùng 9 tháng 5 - 1945 Bác Hồ chỉ ở và làm việc tại hang Pác Tẻng mà không ở bất cứ nhà dân nào khác, nên chuyện giắt quyển sổ lên mái tranh chỉ có lán Pác Tẻng Cũng còn một khả năng nữa có thể xẩy ra là Bác rời Lam
37
Trang 33Sơn, có mang theo N h ật k ý trong tù rồi gửi lạ i ở m ột nơi nào
đó dọc đường? Cũng không thể, vì m ọi công v iệc chuẩn bị
tổng khởi nghĩa đã được Bác Hồ và đoàn cán bộ Trung ương
bàn bạc, sắp đặt xong xuôi trong những ngày ở Lam Sơn rồi,
giờ chỉ v iệc gói buộc tư trang, tài liệu ch ắc ch ắn , cẩn thận,
đi nhanh về đại bản doanh mới để lãnh dạo tổng khởi nghĩa
"Sáng 9 tháng 5 năm 1945, Hồ Chí M inh rời Lam Sơn gần
tối đến và nghỉ đêm ở bản Khuổi Lẩy (xã T h ịn h Vượng -
Châu Nguyên Bình)" [Hồ Chí M inh B iê n tiểu sủ) Hành
quân bộ vượt đèo, lội suối từ Lam Sơn đến Khuổi Lẩy (bản
người Dao T iền), gần 40 km, chỉ kịp ngủ lấy sức để đi tiếp
thì lấy đâu ra cơ hội và lý do để đọc thơ và gửi lạ i quyển sổ
nữa Sớm hôm sau, đoàn rời Khuổi Lẩy đi vào địa phận
tỉnh B ắc Kạn thì không tính đến nữa
Để củng cô' thêm nhận định của m ình, m ột ngày cuối
đông năm 2003, tôi về Lam Sơn, tìm đến nhà ông Hoàng
Đức Triều Ông Hoàng Đức T riều đã m ất năm 1985, trên
nền nhà cũ, người con trai thứ ba của ông là nhà thơ, nhà
nghiên cứu văn h ọc dân gian Hoàng T riều  n đã xây n ên
một ngôi nhà h ai tầng thoáng đãng Nhà thơ Hoàng T riều
Ân đưa tôi lên hang Pác Tẻng, nơi dựng lán sơ tán của gia
đình ông Hoàng Đức T riều khi xưa, nay đã dược dựng bia
công nhận đ iểm di tích lịch sử, tôi cũng qua đầu nguồn
suối Lam Sơn, nơi B á c Hồ cùng các đồng ch í củ a mình tắm
đêm , xướng hoạ thơ, gặp một sô' n hân chứng để làm rõ
thêm vài điều T ô i hỏi nhà thơ Hoàng T riề u Ân về N h ậ t
Ngô S ĩ L iên về, tôi đến công tác ở 372 (văn phòng T ỉn h
uỷ Cao Bằng) ở P ác Gậy, một hôm bô' tôi đưa cho tôi m ột
Những điều chưa biết về n i l l í 110116IV
30
Trang 34R O Ì B G UVÊH
quyển sổ nhỏ, chữ Hán bảo là của B ác Hồ, làm th ế nào
mà gửi cho Bác được! Tôi liền đem quyển sổ đó giao cho ông Dương Công Hoạt, khi đó là Bí thư Tỉnh uỷ Cao Bằng (ông Đào Duy Tùng là Phó bí thư) nhờ ông gửi cho Bác Hồ Giao được quyển sổ cho ông Dương Công Hoạt, bố tôi râ't
y ên tâm vì ông Dương Công Hoạt là bạn cùng lứa với bô" tôi, cũng giỏi chữ Hán và yêu thơ Tôi lại hỏi: Sau đó có khi nào ông hỏi ông Dương Công Hoạt về việc gửi quyển
sổ cho B ác Hồ không?" "Không, m ãi vừa rồi đọc báo mới
b iế t năm 1955, quyển sổ đó mới đến tay B ác theo đường công văn mà ngoài bì thư ghi là: Gửi Văn phòng Chính phủ để trình lên Bác Hồ Phải là cán bộ ở cấp nào mới ghi như thế, chứ người dân ai dám ghi như thế! Chắc chắn
là do ông Dương Công Hoạt gửi rồi"
Ông Dương Công Hoạt là Bí thư Tỉnh uỷ Cao Bằng những năm 1950, sau đó ông về làm Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc rồi nghỉ hưu, lúc ở Hà Nội, lúc ở Cao Bằng Ông sáng tác nhiều bài thơ, tôi đã có đôi lần gặp ông nhưng chưa lần nào hỏi ông
về N hật k ý trong tù vì tôi đâu có biết chuyện như nhà báo
Hồng Khanh kể sau này! Đến khi cần hỏi thì ông vừa mất Tuy không còn cơ hội để kiểm chứng, nhưng qua phân tích những điều ghi trong các tài liệu và lời kể của các nhân chứng cũng
đủ để khẳng định rằng: Ông Hoàng Đức Triều (1900-1985) ở Lam Sơn, Hoà An, Cao Bằng là người đã có công gìn giữ bản
Dòng họ Hoàng ở Lam Sơn là dòng họ có truyền thống khoa bảng, có n hiều người thành đạt, có nhiều nhà thơ có tiến g như Hoàng ích Thặng, Hoàng Đức Mỹ, Hoàng Đức Hậu Ông Hoàng Đức Triều (tức An Định) tham gia cách
3 9
Trang 35m ạng từ năm 1928, năm 1932 được k ế t nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, từ nhỏ được ông n ộ i và b ố dạy chữ Hán,
hay thơ (ông có bài Vịnh C ao B àn g, n h iều người thuộc), là
hội viên Hội V ăn nghệ V iệt B ắ c (từ năm 1961) Những bài
thơ của ông được tập hợp trong tập thơ G ian g Sơn Ông có
3 người con trai là Hoàng Quyết, Hoàng T u ấn Nam, Hoàng
T riều Ân đều là cán bộ lão thành c á c h m ạng và là những nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học có tiếng
*
Cuộc tìm kiếm đã có kết quả bước đầu Thật may m ắn
làm sao N h ậ t k ý trong tù lạ i "dừng chân" ở vùng đất Lam
Sơn đ ể khí thiêng sông núi và tấm lòng trung thàn h với
cá c m ạng của người dân nơi đây cùng giữ gìn cho dân tộc
ta, đất nước ta m ột tài sản vô giá
Thưa giùm V iệt B á c k h ô n nguôi n h ớ Người.
Đứng trên nền đất nơi có mái lán tranh khi xưa trên hang Pác Tẻng lộng gió, tôi chợt nhớ câu thơ của nhà thơ T ố Hữu, lòng trào dâng bao niềm xúc động và tự hào
Những điều chưa biết về l l ị l l í 11016 l i
4 Ũ
Trang 36Phẫn ba: c_yau ngày
“châu về Hợp Phố”
Đường đến Viện Văn học
c v là, vào mùa hè năm 1955, sau 10 năm lưu lạc
"châu lại về Hợp Phố” Nhưng dường như số phận muốn thử
thêm sức bền nên m ãi 5 năm sau, N hật k ý trong tù mới chính
4 1
Trang 37thức ra mắt! Trong thời gian 5 năm ấy, N hật trong tu nằm
ở đâu? Bằng con đường nào để đến Viện Vãn học và công tác tổ chức dịch, in ở V iện như thế nào? Không một tài liệu nào nói rõ về khoảng thời gian ấy! Tìm những câu trả lời trên
có lẽ không khó như việc di tìm người lưu giữ Nhật ký trong
tù trong những năm gian khổ của dân tộc và đất nước ta vì rằng vào năm 1955 v iệc lưu giữ tài liệu là công v iệc của nhiều người, nhiều cơ quan, đã dần vào qui củ, n ên có nhiều đầu mối có thể lần ra Nhưng thực tế lại không được như vậy, bởi những người trực tiếp tham gia công việc này đều
đã mất mà không lưu lại những "chứng cứ' để sau này có thể lần theo, các "tài liệu" lưu giữ ở các cơ quan thì vừa ít, vừa không cụ thể, có nhầm lẫn và "vênh" nhau Vì th ế công việc kiếm tìm thật không đơn giản Tháng 6 năm 2003, tôi
đọc bài báo “Những điều ta chưa biết về N gục trung n h ậ t k ý cũng như quá trình dịch thơ Ngục trung n h ậ t k ý của Chủ tịch
Hồ Chí M inh” của tác giả Trần Đắc Thọ in trên tạp chí Hán Nôm số 1 (46) -2001 (từ bản phô tô của tiến sĩ Ngô Gia Võ) tôi đặc biệt chú ý tới đoạn: "Có một điều chúng ta không ngờ:
B ác đã cho đưa N gục trung n h ậ t k ý vào phòng lưu h ữ của
Văn phòng Trung ương Đảng Phải đến đầu năm 1959 quyển Ngục trung nhật ký mới được đồng chí Phạm Văn Bình tình
c ờ phát hiện ra Đồng chí Phạm Vãn Bình nguyên là Trưởng
ban Giáo vụ của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, được phân công giảng về cách mạng Việt Nam thời kỳ 1939- 1945 nên
đã đến phòng lưu trữ của Trung ương Đảng đọc thêm tài liệu Trong một góc buồng tối, đồng chí thấy một đống sách chữ
Hán, sau một lúc lục lọi, đồng chí đã moi ra được quyển Ngục
trung n h ật k ý to hơn bàn tay một chút của B ác Hồ Đồng chí
Những diều chưa biết v ề l l ỉ l l í 11118 ĩù
42
Trang 38H0ÀH6 pile UVẼn
Hùng (người giữ kho sách) đồng ý cho đồng chí Bình mượn
về dịch với điều kiện dịch xong, sẽ nộp cho phòng lưu hữ một bản dịch
Đồng chí Phạm Văn Bình mang về giao cho đồng chí Văn Phụng là phiên dịch chữ Hán của trường phiên âm, dịch nghĩa Dịch xong đến đâu đưa lại cho đồng chí Bình đến đấy
để đồng chí dịch ra thơ quốc âm Khi dịch xong 133 bài thơ trong N gục trung n h ật kỷ, đồng chí Bình mang báo cáo với
đồng chí Trường Chinh thường có giờ giảng ở trường Đồng chí Trường Chinh khuyên nên đưa cho đồng chí Tố Hữu Một sáng chủ nhật, đồng chí Phạm Văn Bình đến nhà đồng chí Tố Hữu, song không gặp, đồng chí Bình viết thư và để toàn bộ tập tài liệu lại Vào 5 giờ chiều hôm ấy, đồng chí Tố Hữu đã cho xe xuống đón đồng chí Bình Đồng chí Bình đến nơi đã thấy hai đồng chí Đặng Thai Mai và Hoài Thanh đến trước Đồng chí
Tố Hữu giao nhiệm vụ cho Viện Văn học v ề cơ quan hai đồng chí đã giao cho đồng chí Nam Trân cùng làm việc với đồng chí Phạm Văn Bình để kịp sang năm 1960 có thể phát hành sách vào dịp Bác Hồ 70 tuổi Hai đồng chí Phạm Văn Bình và Nam Trân sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã nộp bản thảo cho Viện Văn học
Đoạn trích trên đây là có th ể tin cậy được vì bài báo
đã in ra hơn 2 năm m à không có ý kiến "phản bác" nào trên tạp chí H án Nôm và những tờ báo khác Và cho đến tận lúc này vẫn chưa có "câu chuyện" nào kể về công việc dịch
N h ật k ý trong tù ở V iện Văn học, ngoài "câu chuyện "của
ông Phạm Văn Bình Tôi xác định cho mình công việc phải làm là đi tìm những cứ liệu và nhân chứng để thẩm định
độ chính xác của "câu chuyện " đó Các nhân chứng và
4 3
Trang 39Những điều chưa biết v ề l l ị l If ĨIOIS Tù
những "nhân vật chính" như ông Phạm V ăn Bình, ông Văn Phụng, n h à thơ T ố Hữu, giáo sư Đặng T h ai M ai, ông Hoài
T hanh, nhà thơ N am Trân thì đã m ất cả T ìm gặp được ông T rần Đ ắc Thọ (ở số 48, Hàng Than) thì ông cũng không cung cấp thêm thông tin mới nào ngoài những điều đã viết trong b ài báo
“Câu chuyện" của ông Phạm Vãn Bình cứ ám ảnh tôi suốt một thời gian dài kể từ tháng 6-2003 Đến đầu tháng 3 -
2004 , tôi cùng đạo diễn điện ảnh Nguyễn Nhàn đến Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Văn học tiếp tục công việc tìm kiếm Sau gần mười ngày tra cứu tài liệu, trao đổi, tranh luận với nhiều người cùng quan tâm đến đề tài này, con đường
đi của bản thảo gốc N hật k ý trong tù từ phòng lưu trữ Trung
ương Đảng đến V iện Văn học đã sáng dần ra, nhưng bằng chứng xác thực thì hình như vẫn thiếu! Bằng chứng xác thực, quan trọng nhất là gì? Đó là văn bản chép tay bản dịch toàn
bộ 133 bài thơ Nhật ký trong tù của hai dịch giả Văn Trực - Văn Phụng (nếu có!)
Sáng ngày 8-3-2004, tại Ban Văn học c ổ cận đại Việt Nam thuộc Viện Văn học, chúng tôi được giáo sư Huệ Chi và tiến sĩ Đặng Thị Hảo cho tiếp cận với 2 cặp tài liệu liên quan
đến quá trình dịch N hật k ý trong tu (mỗi cặp dày chừng một
gang tay) Không khó khăn gì, chúng tôi nhanh chóng tìm ra
bản chép tay dịch đầy đủ 133 bài thơ N hật k ỷ trong th của
Văn Trực - Vãn Phụng (đề là lược dịch) Và 2 quyển sách đóng bằng giấy pơ luya đánh máy Viện sao lại từ cuốn của Văn Trực
- Văn Phụng, góc trái trên cùng của tờ bìa ghi chữ a Đặng Thai Mai (văn bản được lưu giữ từ năm 1960) Bằng chứng này đã
44
Trang 40BQII6 t o i l s DTẼH
chứng tỏ việc ông Phạm Văn Bình "phát hiện" và dịch thô
là có thực
Từ những tài liệu và chứng cứ thu thập được (mà tôi
không dẫn ra ở đây do khuôn khổ hạn hẹp) vấn đề trong 5 nãm
(1955 - 1960) bản thảo gốc N hật k ý trong tù nằm ở đâu đã sáng
tỏ: sau khi nhận lại Nhật ký trong tù từ Cao Bằng gửi về (khoảng
tháng 7, tháng 8 - 1955) "quyển sổ nhỏ" được đưa vào phòng
lưu hữ Văn phòng Trung ương Đảng Ngày 14 tháng 9 năm
1955, nhân dịp ch ủ tịch Hồ Chí Minh đến duyệt triển lãm về
cải cách ruộng đất tại Bích Câu, Hà Nội, Bác đã hứa thưởng
quà cho cán bộ, nhân viên làm việc tại khu triển lãm Đồng
chí Hà Vãn Kỉnh, Trưởng phòng Tuyên truyền và sưu tầm tài
liệu của triển lãm được cử lên Văn phòng Chính phủ nhận
quà (chứ không phải Bác Hồ đem đến trao cho triển lãm như
một số tài liệu đã ghi!) "Quà" đó là cuốn sổ tay N hật k ý trong
tù và thẻ dự hội nghị Liễu Châu của Bác Hai hiện vật này được
trưng bày tại triển lãm từ cuối tháng 9 cho đến ngày 20 tháng
11 nãm 1955 Đến ngày 28 tháng 11 năm 1955, tổng kết triển
lãm "những tài liệu, hiện vật thuộc về Đảng và Bác Hồ, chứng
tôi đã bàn giao lại tất cả cho phòng lưu trữ của văn phòng Trung
ương Đảng hồi đó ở Lysee'Albestsarraut" (Hồi ký của đồng chí
Hà Văn Kỉnh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh) N hật ký trong tù
"nằm" ở đấy cho đến đầu năm 1959 mới được ông Phạm Vãn
Binh phát hiện, dịch và chuyển cho Viện Văn học Suốt những
tháng cuối năm 1959 và những tháng đầu năm 1960 Viện Văn
học tập trung dịch thuật và in ấn để kịp phát hành bản dịch
hoàn chỉnh vào đúng dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Bác
Hồ kính yêu
4 5