1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá thực trạng môi trường và đề xuất giải pháp thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang

113 184 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG HỌC VIÊN: Lộc

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

HỌC VIÊN: Lộc Trần Vượng

Đề tài:

“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ SUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN THIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI XÃ THÔNG NGUYÊN, HUYỆN HOÀNG SU PHÌ, TỈNH HÀ

GIANG

Thái Nguyên, 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

1 Đặt vấn đề

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Với khoảng 67% dân số cả nước, nông thôn Việt Nam đang trên con đường đổi mới và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của đất nước Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai đã đem lại những thay đổi đáng kể về đời sống, hạ tầng kỹ thuật cũng như cảnh quan môi trường nhiều vùng nông thôn Tuy nhiên, cùng với sự phát triển KT-XH mạnh mẽ là những nguy cơ không nhỏ về ô nhiễm môi trường.[3]

Môi trường nông thôn đang chịu những sức ép ngay từ chính các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của nông thôn, đồng thời còn chịu tác động từ hoạt động của các KCN, CCN và khu vực đô thị lân cận Đó chính là nguy cơ ô nhiễm môi trường từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản, chế biến nông sản thực phẩm, phát triển làng nghề và sản xuất công nghiệp Ở một số vùng nông thôn, môi trường nước hoặc môi trường không khí đã bị ô nhiễm cục bộ, đặc biệt việc quản lý CTR nông thôn chưa thực sự được coi trọng, đã và đang là vấn đề bức xúc.[3]

Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia (bao gồm 19 tiêu chí) về nông thôn mới Trong đó tiêu chí số 17 là tiêu chí môi trường Mục tiêu chung của tiêu chí này là nâng cao chất lượng môi trường sống ở khu vực nông thôn Lâu nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng hầu như chỉ phản ánh về ô nhiễm môi trường ở các khu đô thị, khu công nghiệp…Song tình trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn lại đang ở mức báo động Ðây chính là nguyên nhân dẫn đến người dân các vùng nông thôn thường xuyên phải đối mặt với dịch bệnh

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Hoàng Su Phì là một huyện biên giới phía Tây của tỉnh Hà Giang, phía bắc giáp Trung Quốc, phía Nam giáp huyện Bắc Quang và huyện Quang

Bình, phía Tây giáp huyện Xín Mần, phía Đông giáp huyện Vị Xuyên Với

đặc điểm là một huyện nghèo vùng cao trong cả nước cùng với sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm vừa qua kinh tế đã có nhiều sự phát triển vượt bậc nâng cao đời sống nhân dân kéo theo đó là vấn

đề ô nhiễm môi trường đã bắt đầu xuất hiện đặc biệt là khu trung tâm thị trấn của huyện và trung tâm các xã, công tác bảo vệ môi trường các khu vực rừng đầu nguồn và khu vực biên giới có nhiều phức tạp Toàn huyện có 25 xã, thị trấn đang thực hiện xây dựng nông thôn mới trong đó xã Thông Nguyên được chọn là một trong những xã thí điểm ưu tiên thực hiện các tiêu chí của nông thôn mới của huyện Hoàng Su Phì Tính đến 31/12/2014 xã đã đạt được 12/19

tiêu chí còn lại 7 tiêu chí chưa hoàn thành trong đó có tiêu chí môi trường

Xuất phát từ thực tiễn trên, Để hiểu rõ hơn về thực trạng môi trường nông thôn tại xã, qua đó đưa ra giải pháp hoàn thành tiêu chí môi trường cùng với việc thực hiện xây dựng nông thôn mới tại địa phương, tôi tiến hành thực

hiện đề tài:“Đánh giá thực trạng môi trường và đề xuất giải pháp thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

- Tác động của môi trường đến đời sống, kinh tế và xã hội của người dân tại xã Thông Nguyên

- Đưa ra giải pháp cụ thể, phù hợp với địa phương để thực hiện đạt các chỉ tiêu về tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới xã Thông Nguyên

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Các khái niệm liên quan

Môi trường

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

- Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác

động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Luật bảo vệ môi trường 2014).[13]

Ô nhiễm môi trường

- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường

không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật [13]

- Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của

thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.[13]

Hoạt động bảo vệ môi trường

- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn

chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài

nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.[13]

khi so sánh có ý kiến dùng chỉ tiêu mật độ dân số và số lượng dân cư

Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau: “Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật

độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn”.[2]

Phát triển nông thôn

Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra khái niệm: Phát triển nông thôn là một chiến lược vạch ra nhằm cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của một bộ phận dân cư tụt hậu, đặc biệt là ở các vùng nông thôn Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong

sốnhững người đang tiến kế sinh nhai ở các vùng nông thôn [7]

Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững về môi trường Với điều kiện của Việt Nam, được tổng kết từ các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ: “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” [7]

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị

và an ninh quốc phòng, mục tiêu chung của chương trình là: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Ðảng được tăng cường

Theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, xây dựng nông thôn mới nhằm thực hiện 19 tiêu chí bao gồm: 1: Quy hoạch, 2: Giao thông, 3: Thủy lợi, 4: Điện, 5: Trường học, 6: Cơ

sở vật chất văn hóa, 7: Chợ, 8: Bưu điện, 9: Nhà ở dân cư, 10: Thu nhập, 11:

Tỷ lệ hộ nghèo, 12: Cơ cấu lao động, 13: Hình thức tổ chức sản xuất, 14: Giáo dục, 15: Y tế, 16: Văn hóa, 17: Môi trường, 18: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, 19: An ninh, trật tự xã hội 19 tiêu chí này được chia thành 05 nhóm: Nhóm 1: Quy hoạch, nhóm 2: Hạ tầng kinh tế xã hội, nhóm

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

3: Kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm 4: Văn hóa - xã hội - môi trường, nhóm 5: Hệ thống chính trị.[16]

Tiêu chí Môi trường (tiêu chí số 17)

Nội dung: Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng

Tiêu chí môi trường là tiêu chí số 17 thuộc nhóm 4 trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới được chia thành 5 chỉ tiêu cụ thể như sau:

Bảng 1.1: Tiêu chí môi trường theo bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn

mới

TT Tên tiêu chí Nội dung tiêu chí Chỉ tiêu

chung

TDMN phía Bắc

17 Môi trường

17.1 Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia

17.2 Các cơ sở SX-KD đạt tiêu

17.3 Không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp Đạt Đạt

17.4 Nghĩa trang được xây dựng theo

17.5 Chất thải, nước thải được thu

(Nguồn: Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới kem theo quyết định

số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ)[16]

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

- Mô hình DPSIR

* Khái niệm về mô hình DPSIR: Do tổ chức Môi trường châu Âu (EEA) xây dựng vào năm 1999, được viết tắt của 5 từ tiếng Anh:

- Driving Forces (D), có nghĩa là lực Lực điều khiển (Dự án EIR dịch

là động lực), lực điều khiển có tình khái quát nào đang tác động lên môi trường của địa bàn đang được xem xét, ví dụ: Sự gia tăng dân số, công nghiệp hoá, đô thị thị hoá

- Pressure (P), có nghĩa là áp lực Áp lực lên nhân tố môi trường Ví dụ:

Xả thải khí, nước đã bị ô nhiễm, chất thải rắn, chất thải độc hại vào môi trường

- State (S), có nghĩa là tình trạng Tình trạng môi trường tại một thời điểm hoặc thời gian nhất định Ví dụ : tình trạng không khí, nước, đất, tài nguyên khoáng sản, đa dạng sinh học

- Impact (I), có nghĩa là tác động Tác động tiêu cực hoặc tích cực của tình trạng đó đối với con người cũng như điều kiện sinh sống, hoạt động sản xuất của con người

- Response (R), có nghĩa là đáp ứng Con người có những hoạt động gì

để đáp ứng nhằm khắc phục các tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích cực nêu trên

Mô hình DPSIR nói lên rằng để hiểu tình trạng, môi trường tại một địa bàn, có thể là trên toàn cầu, tại một quốc gia, một tỉnh hay một địa phương ta phải biết

* Theo Thông tư Số 08/2010/TT-BTNMT ngày 18 tháng 03 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường được định nghĩa như sau: Mô hình DPSIR

là mô hình mô tả mối quan hệ tương hỗ giữa Động lực - D (phát triển kinh tế -

xã hội, nguyên nhân sâu xa của các biến đổi môi trường) - Áp lực – P (các nguồn thải trực tiếp gây ô nhiễm và suy thoái môi trường) - Hiện trạng - S (hiện trạng chất lượng môi trường) - Tác động - I (tác động của ô nhiễm môi

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

trường đối với sức khoẻ cộng đồng, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái) - Đáp ứng - R (các giải pháp bảo vệ môi trường) [5]

1.1.2 Cơ sở pháp lý

- Căn cứ Luật Bảo vê ̣ môi trường Viê ̣t Nam năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014 và có hiệu lực từ 01/1/2015;

- Căn cứ Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ

về việc quy định chi tiết một số điều của luật bảo vệ môi trường;

- Căn cứ Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;

- Căn cứ Thông tư Số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28 tháng 5 năm 2015

của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định đề án bảo vệ môi trường chi tiết

đề án bảo vệ môi trường đơn giản;

- Thông tư số 55/2014/TT-BNNPTNT ngày 31/12/2014 hướng dẫn triển khai một số hoạt động bảo vệ môi trường trong Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;

- Nghị định 38/2015/ NĐ - CP ngày 24/4/2015 về quản lí chất thải và phế liệu

- Căn cứ Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng về quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;

- Căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới;

- Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia;

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

- Căn cứ Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;

- Căn cứ quyết định số 366/QĐ-TTg, ngày 31/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012-2015;

- Quyết định số: 693 /QĐ-UBND ngày 16/4/2013 của Chủ tịch Ủy ban

Nhân dân tỉnh Hà Giang về việc ban hành bộ tiêu chí xã đạt chuẩn Nông thôn mới của tỉnh Hà Giang

- Nghị quyết số 08-NQ/ĐU, ngày 4/4/2014 của Ban chấp hành Đang ủy

Thông Nguyên về xây dựng nông thôn mới năm 2014

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Môi trường Việt Nam

Theo đánh giá mới đây của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong bảng xếp hạng chỉ số hiệu quả hoạt động môi trường, Việt Nam đứng ở vị trí 85/163 các nước được xếp hạng Các nước khác trong khu vực như Philippines đạt 66 điểm, Thái Lan 62 điểm, Lào 60 điểm, Trung Quốc 49 điểm, Indonesia 45 điểm, Còn theo kết quả nghiên cứu khác vừa qua tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe

Mới đây, hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và Columbia của Mỹ thực hiện báo cáo thường niên khảo sát ở 132 quốc gia Kết quả nghiên cứu cho thấy: Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123/132 quốc gia khảo sát; về ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe đứng vị trí 77; về chất lượng nước Việt Nam được xếp hạng 80 Tính theo chỉ số chung EPI, Việt Nam xếp thứ 79 Đó là những đánh giá chung, còn nếu xem xét cụ thể trên từng khía cạnh thì sẽ càng thấy rõ hơn bức tranh chung của môi trường Việt Nam hiện nay

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Rừng tiếp tục bị thu hẹp

Trước năm 1945, nước ta có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích

tự nhiên của cả nước, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm 29%), đến nay chỉ còn khoảng 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%) Độ che phủ của rừng nước ta đã giảm sút đến mức báo động Chất lượng rừng ở các vùng còn rừng bị hạ xuống mức quá thấp Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên sinh Số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy đến hết năm 2012 có hơn 20.000 ha rừng tự nhiên bị phá

để sử dụng vào nhiều mục đích, nhiều nhất là để làm thủy điện, nhưng chỉ mới trồng bù được hơn 700 ha

Đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Thế giới thừa nhận Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học vào nhóm cao nhất thế giới Với các điều tra đã công bố, Việt Nam

có 21.000 loài động vật, 16.000 loài thực vật, bao gồm nhiều loài đặc hữu, quý hiếm Tổ chức vi sinh vật học châu Á thừa nhận Việt Nam có không ít loài vi sinh vật mới đối với thế giới

Thế nhưng, trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim bị tuyệt chủng và 120 loài thú bị diệt vong Và, mặc dù có vẻ nghịch lý nhưng có một thực tế là các trang trại gây nuôi động vật hoang dã như nuôi những loài rắn, rùa, cá sấu, khỉ và các loài quý hiếm khác vì mục đích thương mại ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á lại không hề làm giảm bớt tình trạng săn bắt động vật hoang dã trong tự nhiên, mà thậm chí còn làm cho vấn

đề trở nên tồi tệ hơn bởi những trang trại này đã liên quan tới các hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã

Hơn 100 loài sinh vật ngoại lai đang hiện diện tại nước ta cũng là mối nguy lớn cho môi trường sinh thái, như: ốc bươu vàng, cây mai dương, bọ cánh cứng hại dừa, đặc biệt là việc nhập khẩu 40 tấn rùa tai đỏ - một loài đã được quốc tế cảnh báo là một trong những loài xâm hại nguy hiểm

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Ô nhiễm sông ngòi

Với những dòng sông ở các thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố

Hồ Chí Minh, tình trạng bị ô nhiễm nặng nề là điều dễ dàng nhận thấy qua thực tế, cũng như qua sự phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, sông ở nhiều vùng nông thôn cũng đang phải đối mặt với tình trạng

ô nhiễm nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông nghiệp

và rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ xuống

Các dòng sông đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề nhất là: sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai và hệ thống sông Tiền và sông Hậu ở Tây Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long Những con sông này đã trở nên độc hại, làm hủy hoại nguồn thủy sản và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống, sức khoẻ của cộng đồng

Bãi rác công nghệ và chất thải

Hiện các doanh nghiệp ở Việt Nam là chủ sở hữu của hơn một nghìn con tàu biển trọng tải lớn, cũ nát Hầu hết các cảng biển trên thế giới đều không cho phép loại tàu này vào, vì nó quá cũ gây ô nhiễm môi trường lại không bảo đảm an toàn hàng hải Thế nhưng, hơn một nghìn con tàu cũ nát đó vẫn đang được neo vật vờ ở các tuyến sông, cửa biển để chờ được “hóa kiếp” thành phế liệu mà việc phá dỡ loại tàu biển cũ này sẽ thải ra rác thải nguy hại làm ô nhiễm môi trường sống

Nhiều dự án luyện, cán thép lớn đã, đang và sẽ xuất hiện, hứa hẹn đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thép lớn, song đồng thời cũng có nguy cơ biến Việt Nam thành nơi tập trung “rác” công nghệ và chất thải Bài học

“xương máu” này đã từng xảy ra với ngành sản xuất xi măng, song vẫn có khả năng lặp lại nếu những dây chuyền luyện gang, thép bị loại bỏ ở Trung Quốc được đưa về lắp đặt ở Việt Nam

Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng gia tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao Trong đó, lo ngại nhất là chất thải từ chăn nuôi Hiện cả nước có 16.700 trang trại chăn nuôi, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng (45%) và Đông Nam Bộ (13%), với tổng đàn gia súc 37,8 triệu con và trên 214 triệu con gia cầm Theo tính toán của Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), lượng phân thải của bò khoảng 10 - 15 kg/con/ngày, trâu là

15 - 20 kg/con/ngày, lợn là 2,5 - 3,5 kg/con/ngày và gia cầm là 90 gr/con/ngày Như vậy, tính ra tổng khối lượng chất thải trong chăn nuôi của nước ta hiện khoảng hơn 73 triệu tấn/năm

Nuôi trồng thủy sản cũng đang gặp phải vấn đề tương tự Việc đẩy mạnh các biện pháp thâm canh, tăng năng suất tại các vùng nuôi tôm tập trung, trong đó chủ yếu là tôm sú đã làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước Cùng với đó, tình trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt một cách tràn lan, không có kiểm soát đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước Hiện nay, lượng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng, quá hạn sử dụng còn tồn đọng cần tiêu hủy là hơn 700 kg (dạng rắn) và hơn 3.400 lít (dạng lỏng)

Ô nhiễm ở các làng nghề

Một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép Riêng Hà Nội, khảo sát tại 40 xã cho kết quả khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng từ các hoạt động sản xuất

Ở các làng tái chế kim loại, khí độc không qua xử lý đã thải trực tiếp vào không khí như ở làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên), nồng độ chì vượt quá 2.600 lần tiêu chuẩn cho phép Nghề thuộc da, làm miến dong ở

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Hà Tây cũng thường xuyên thải ra các chất như bột, da, mỡ làm cho nước nhanh bị hôi thối, ô nhiễm nhiều dòng sông chảy qua làng nghề

Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động gần đây cho biết, trong các làng nghề, những bệnh mắc nhiều nhất là bệnh liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phế quản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72% Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai, tỷ lệ người dân mắc bệnh về thần kinh chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấp chiếm khoảng 65,6% và bị chứng hồng cầu giảm chiếm 19,4% Còn tại làng nghề sản xuất rượu Vân Hà (Bắc Giang) tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da là 68,5% và các bệnh về đường ruột là 58,8%

Khai thác khoáng sản

Hậu quả của ô nhiễm môi trường từ những hoạt động khai thác khoáng sản đã quá rõ ràng Qua điều tra, cứ 4.000 người dân Quảng Ninh có 2.500 người mắc bệnh, chủ yếu là mắc bệnh bụi phổi, hen phế quản, tai mũi họng (80%) Kết quả quan trắc của các cơ quan chuyên môn cho thấy nồng độ bụi ở khu vực Cẩm Phả vượt từ 3 - 4 lần tiêu chuẩn cho phép, gần 0,3 mg/m3 trong

24 giờ (gồm bụi lơ lửng, bụi Pb, Hg, SiO2, khí thải CO, CO2, NO2) Mỏ Đèo Nai phải xử lý lượng đổ thải chất cao thành núi trong mấy chục năm qua Mỏ Cọc Sáu với biển nước thải sâu 200m chứa 5 triệu m3có nồng độ a-xít cao và

độ PH 4 - 4,5mgđl/l sẽ phải tìm công nghệ phù hợp để xử lý

Trong ba năm, hoạt động khai thác sắt, ti-tan khiến các khu vực, rừng ven biển từ Nghệ An, Quảng Bình, Ninh Thuận, Bình Thuận,… bị tàn phá nghiêm trọng Rừng mất đi và dân làng biển đang phải đối mặt bão, lũ, gió cát

Ô nhiễm không khí

Việt Nam cũng đang bị coi là nước có ô nhiễm không khí cao tới mức báo động Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nồng độ chất ô nhiễm trong không khí khu vực ven đường giao thông, trong đó chủ yếu là CO tăng 1,44 lần và bụi PM10 (tức bụi có kích thước bé hơn 10μ) tăng 1,07 lần Kênh rạch ở khu

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

vực nội thành bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh ở mức độ cao Phần lớn nước thải sinh hoạt chỉ mới được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại gia đình Nhiều nhà máy,

cơ sở sản xuất chưa có hệ thống xử lý nước thải, hoặc nếu có trang bị thì không vận hành thường xuyên

1.2.2 Môi trường nông thôn ở Việt Nam

Kết quả điều tra toàn quốc về vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn

do Bộ y tế và tổ chức UNICEF thực hiện được công bố ngày 26/03/2008 cho thấy VSMT và vệ sinh cá nhân còn quá kém chỉ có 18% tổng số hộ gia đình, 11,7% trường học, 36,6 trạm y tế xã 21% UBND xã và 2,6% khu chợ tuyến

xã có nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế (Quyết định BYT); Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch còn rất thấp 7,8% khu chợ nông thôn; 11,7% dân cư nông thôn; 14,2% trạm y tế xã; 16,1% UBND xã; 26,4% trường học có tiếp cận sử dụng nước máy; Ngoài ra, kiến thức của người dân về vệ sinh cá nhân và VSMT còn rất hạn chế, thái độ của người dân còn rất bàng quang về vấn đề này.[14]

08/2005/QĐ-Vấn đề nước sạch và môi trường:

Vấn đề phải kể đến về hiện tượng môi trường sống của người dân ở các vùng nông thôn Việt Nam đang bị tàn phá nghiêm trọng là nước sạch và VSMT nông thôn Nếu như chúng ta quan niệm nước sạch chỉ đơn giả là nước mưa, nước giếng khoan qua xử lý bằng bể lọc đơn giản chứ không phải nước sạch được xử lý ở các thành phố lớn thì tỷ lệ người dân nông thôn nhất

là khu vực miền núi còn rất thấp Chúng ta có thể thấy rõ điều này thông qua bảng số liệu sau

Bảng 1.2: Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng

STT Vùng Tỷ lệ người dân nông thôn

được cấp nước sạch (%)

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

3 Bắc Trung Bộ & Duyên Hải miền Trung 36 – 36

(Nguồn: Lê Văn Khoa, Hoàng Xuân Cơ (2004), Chuyên đề Nông thôn Việt Nam, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội.)[6]

Qua bảng trên, chúng ta có thể thấy rõ, những người dân ở nông thôn Việt Nam đang phải sinh hoạt với những nguồn nước như thế nào Ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi có tỷ lệ cao nhất cũng chỉ 39% dân số được

sử dụng nước sạch Còn vùng thấp nhất là vùng núi phía Bắc, chỉ có 15% dân

số được cấp nước sạch

Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khoẻ, là nguyên nhân gây các bệnh như tiêu chảy, tả, thương hàn, giun sán…Các bệnh này gây suy dinh dưỡng, thiếu sắt, thiếu máu, kém phát triển, gây tử vong nhất là trẻ em Có 88% trường hợp tiêu chảy là do thiếu nước sạch, VSMT kém Có thể thấy, nguyên nhân gây tình trạng ô nhiễm môi trường và nguồn nước ở nông thôn do các nguyên nhân cơ bản sau:

+ Đầu tiên phải kể đến tình trạng sử dụng hoá chất trong nông nghiệp như phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn lan và không có kiểm soát

+ Ngoài ra miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tập tục sử dụng phân người, phân chuồng tươi vào canh tác Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), phân tươi được coi là thức ăn cho cá, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và ảnh hưởng sức khoẻ con người

+ Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm; thuốc diệt chuột; thuốc trừ cỏ Các loại này có đặc điểm là rất độc với mọi sinh vật; tồn dư lâu dài trong môi trường đất, nước gây ô nhiễm; Tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất và môi trường nước

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Theo Phạm Ngọc Quế (2003) hiện tại số hộ ở nước ta chăn nuôi gia súc, gia cầm là rất phát triển nhưng phương thức chăn nuôi lạc hậu (thả rông, làm chuồng dưới nhà sàn, phân để trong chuồng lâu không được xử lý hoặc dọn rửa chuồng xả bừa bãi vào các nguồn nước…) đã làm cho môi trường nông thôn ngày càng ô nhiễm Ngoài lượng phân, còn có nước tiểu, thức ăn thừa cũng chiếm một khối lượng đáng kể trong tổng số chất thải do chăn nuôi đưa đến Rõ ràng nếu lượng phân này không được xử lý tốt chắc chắn sẽ tạo

ra một sự ô nhiễm đáng kể đối với vệ sinh môi trường [14]

Nguyên nhân thứ hai gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất thải rắn từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân Hiện nay, cả nước có khoảng 1450 làng nghề, phân bố trên 58 tỉnh thành và đông đúc nhất ở đồng bằng sông Hồng, vốn là cái nuôi của làng nghề truyền thống, với tổng số 472 làng nghề các loại tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), Thái Bình, Bắc Ninh…Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ sản xuất lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%) Do đó đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nông thôn, tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí, sức khoẻ của người dân làng nghề.[6]

Ô nhiễm không khí: Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là

than Do đó lượng bụi và các lượng khí CO, CO2, SO2 và NO2 thải ra trong quá trình sản xuất trong làng nghề khá cao Theo kết quả điều tra tại các làng nghề sản xuất gạch đỏ (ở Khai Tái, Hà Tây), sản xuất vôi (ở Xuân Quan – Hưng Yên) hàng năm sử dụng khoảng 6000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò đã sinh ra nhiều loại bụi như CO, CO2, SO2, NOx và nhiều loại thải khác gây nguy hại tới sức khoẻ của người dân trong khu vực và làm ảnh hưởng hoa màu, sản lượng cây trồng của nhiều vùng lân cận Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây các vụ xung đột, khiếu kiện như ở Thái Bình, Bắc Ninh, Hưng Yên…[6]

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Ô nhiễm môi trường đất: Chủ yếu tập trung tại các làng nghề tái chế

kim loại Kết quả nghiên cứu của đề tài KC.08.06 cho thấy một số mẫu đất ở làng nghề tái chế thuộc xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên cho thấy hàm lượng Cu2+ đạt từ 43,68 - 69,68 ppm Hàm lượng các kim loại nặng cũng rất cao, vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép.[6]

* Chất thải rắn nông thôn

Bên cạnh đó có khoảng 3.600 chợ nông thôn, trung bình mỗi ngày thải

ra 40 - 50 kg chất thải Việc thu gom rác còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến nên mới thu gom được khoảng 30% chuyên chở về những nơi tập trung rác Bãi rác tại các huyện, các chợ nông thôn chưa có cơ quan quản lý và biện pháp xử lý Chủ yếu tập trung để phân huỷ tự nhiên và gây những gánh nặng cho công tác bảo vệ môi trường.[6]

Bảng 1.3: Lƣợng chất thải phát sinh năm 2003 và năm 2008

Loại CTR Đơn vị tính Năm 2003 Năm 2008

(Nguồn: Báo cáo Diễn biến Môi trường Việt Nam năm 2004; Viện Quy hoạch

Đô thị - Nông thôn, Bộ Xây dựng, 2010)[4]

Một nguyên nhân nữa dẫn đến sự xuống cấp của môi trường nông thôn

là do tổ chức trong lĩnh vực VSMT nông thôn còn phân tán, sự phối hợp các

Bộ ngành chưa tốt Nhà nước chưa có chính sách huy động sự tham gia đóng góp của các thành phần kinh tế để cùng với người sử dụng xây dựng công trình vệ sinh mà vẫn áp dụng cách tiếp cận dựa vào cung cấp là chính Về pháp chế vẫn còn thiếu các quy định và hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốt

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

trong lĩnh vực vệ sinh môi trường Đa số hộ chưa có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn, nhất là vùng bị ngập lụt, vùng ven biển nơi có mật độ ngư dân cao

Hiện trạng về VSMT nông thôn vấn còn nhiều vấn đề bức xúc Chất lượng của chúng ngày một tăng, lan tràn làm ô nhiễm đất, nước kể cả ngấm sâu dưới mặt đất hàng chục, hàng trăm mét Ô nhiễm môi trường gây ra do con người trong hoạt động nông nghiệp, công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp, chăn nuôi và do những chất thải sinh hoạt các khu vực phân bố dân cư

1.2.3 Xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới

* Ở Nhật Bản

Đất nước Nhật Bản đã thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới

từ phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" Từ năm 1979 Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm" (one village, one product), với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách

tương xứng với sự phát triển chung của cả đất nước Nhật Bản Người khởi xướng phong trào OVOP là Tiến sĩ Mo-ri-hi-kô Hi-ra-mát-su Ba nguyên tắc chính xây dựng phong trào OVOP, đó là: Địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; Tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kĩ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm Người dân sản xuất rồi tự chế biến, tự đem đi bán mà không phải qua thương lái Họ được hưởng toàn bộ thành quả chứ không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian nào Chỉ tính riêng trong 20 năm kể từ năm 1979 - 1999, phong trào OVOP "Mỗi làng, một sản phẩm" của đất nước mặt trời mọc đã tạo ra được 329 sản phẩm bình dị và đơn giản như nấm, cam, cá khô, chè, măng tre được sản xuất với chất lượng và

giá bán rất cao

Theo TS Hi-ra-mát-su, gần 30 năm hình thành và phát triển, sự thành công của phong trào OVOP đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên đất

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, đáng chú ý là các quốc gia ở Châu

Á và Châu Phi tìm hiểu và áp dụng Một số quốc gia trong khu vực Đông - Nam Á như: Thái lan, Philippin tận dụng được nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống, đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ

áp dụng kinh nghiệm của phong trào OVOP của Nhật Bản.[12]

* Ở Hàn Quốc

Sau trận lụt lớn năm 1969, người dân Hàn Quốc phải tu sửa lại nhà cửa, đường sá, ruộng vườn mà không có sự trợ giúp của chính phủ Trong khi đi thị sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là Park Chung

Hy nhận ra rằng viện trợ của chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự cứu lấy mình Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợptác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn

Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào “Saemaulundong” được đích thân Tổng thống Park phát động vào ngày 22/4/1970 “Saemaul” theo nghĩa tiếng Hàn là “Sự đổi mới của cộng đồng” được ghép với “undong”

có nghĩa là một phong trào và cụm từ “Saemaulundong” có nghĩa là phong trào đổi mới cộng đồng Vì phong trào bắt đầu từ nông thôn nên

“Saemaulundong” được hiểu là “Phong trào đổi mới nông thôn” Sự ra đời kịp thời của “Saemaulundong” vào đúng lúc nông thôn Hàn Quốc đang trì trệ trong đói nghèo cần có sự bứt phá mạnh mẽ và những kết quả khả quan đạt được ngay sau đó đã làm nức lòng nông dân cả nước Tới năm 1974, chỉ sau 4 năm phát động “Saemaulundong”, sản lượng lúa tăng đến mức có thể tự túc lương thực, phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác, thu nhập một năm của hộ nông dân (674 nghìn won tương đương 562 USD) cao hơn so với hộ ở thành thị (644 nghìn won tương đương 537 USD) Vào năm 1980, bộ mặt nông thôn có thể nói đã hoàn toàn thay đổi với đầy đủ điện, đường, nước sạch, công trình văn hóa…

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

“Saemaulundong” từ một phong trào ở nông thôn đã lan ra thành một phong trào đổi mới toàn xã hội Hàn Quốc.[12]

* Ở Trung Quốc

Nông thôn Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân nông thôn lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT tăng 8,5% so với năm trước Cũng trong năm 2009, Trung Quốc đầu tư làm mới và sửa chữa khoảng 300.000 km đường bộ nông thôn; hỗ trợ trên 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu; triển khai thí điểm ở 320 huyện về bảo hiểm dưỡng lão xã hội nông thôn.[17]

Việc chỉ đạo của Chính phủ trước kia cũng kiểu mệnh lệnh hành chính, nên việc thực hiện khá miễn cưỡng Sau đó, việc thực hiện xây dựng NTM linh hoạt hơn, dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nước và địa phương) Căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội,để đưa ra chính sách, biện pháp thích hợp Ngân sách nhà nước chủ yếu dùng làm đường, công trình thủy lợi…, một phần dùng để xây nhà ở cho dân Đối với nhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ

ra một phần, còn lại là tiền của ngân sách”

Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp Đầu tiên là đầu năm 2006 Trung Quốc xoá bỏ thuế nông nghiệp đã tồn tại 2600 năm, đã cắt 120 tỷ nguyên (15 tỷ USD) gánh nặng thuế của nông dân Việc xoá bỏ thuế làm cho ngân sách các xã giảm nhiều, nhất là ở các vùng không có hoạt động phi nông nghiệp Ngân sách cho phát triển nông thôn tăng lên Xây dựng một cơ chế để công nghiệp và đô thị thúc đẩy phát triển nông thôn Sự phân phối thu nhập quốc dân sẽ được điều chỉnh để cho việc tiêu thụ thuế và đầu tư ngân sách và tài sản cố định và tín dụng sẽ tăng cho nông nghiệp và nông thôn Hỗ trợ từ vốn nhà nước sẽ lớn và tăng liên tục Phần lớn trái phiếu và vốn ngân sách sẽ

đi về phát triển nông thôn Đặc biệt đầu tư để cải tiến sản xuất và điều kiện

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

sống sẽ trở thành một luồng ổn định để tăng vốn cho xây dựng Năm 2005 Nhà nước đã chi 297,5 tỷ nguyên cho Tam nông, năm 2006: 339,7 tỷ, và năm 2007: 391,7 tỷ [17]

Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc Trong đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh, là mở cửa giá thu mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh

là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực.[1]

Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư

hỗ trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn Cùng đó, Trung Quốc cũng tập trung xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ, ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân Trung Quốc còn có chủ trương đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản Đồng thời, thúc đẩy việc mua đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nước trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm (do nhà nước định hướng).[1]

1.2.4 Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Mục tiêu chung: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;

xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Ðảng được tăng cường ” Về mục tiêu cụ thể đến 2015, cả nước

có 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và đến 2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (theo 19 tiêu chí mà Thủ tướng Chính phủ đã ban hành trên tổng số 9.111 xã hiện nay của nước ta

Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) đặt mục tiêu đến hết năm 2015, tỷ lệ số xã đạt tiêu chí môi trường là 37,7% Tuy nhiên, đây là 1 trong 2 tiêu chí có tỷ lệ đạt thấp nhất (27% xã đạt) trong 19 tiêu chí NTM Trong quá trình thực hiện tiêu chí này, hầu hết các địa phương đều phản ánh gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc

Xây dựng nông thôn mới vùng quê thuộc địa bàn Thủ đô Hà Nội

Một trong những tiêu chí đánh giá việc hoàn thành xây dựng Nông thôn mới (NTM) là sự cải tạo môi trường, xanh, trong, sạch đẹp Tuy nhiên, tiêu chí này thuộc diện khó đạt nhất ở nông thôn, ngay cả những vùng quê thuộc

địa bàn Thủ đô Hà Nội

Nhiều nút thắt: Trong chặng đường cán đích 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới (NTM), hiện nay nhiều địa phương đang gặp khó khăn về tiêu chí môi trường Dù ý thức bảo vệ môi trường của người dân đã được nâng lên, phong trào vệ sinh đường làng ngõ xóm được phát triển rộng rãi ở nhiều nơi, song nút thắt lại nằm ở chỗ hệ thống bãi chứa, xử lý rác thải, nước thải ở không ít nơi còn thiếu thốn, chưa đồng bộ

Đến xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, Hà Nội là một trong ít xã điểm xây dựng NTM của TP Hà Nội về đích khá chậm khi đến nay vẫn chưa cán đích thành công Trong số 3 tiêu chí chưa đạt chuẩn của xã có tiêu chí môi trường, theo đánh giá mới đạt 5,5/10 điểm

Ông Nguyễn Văn Kiên, Chủ tịch UBND xã Phùng Xá cho biết, các thôn, xóm đã triển khai quét dọn vệ sinh môi trường vào thứ 6 hàng tuần, rác

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

thải được chôn lấp tập trung tại hai điểm được quy hoạch đảm bảo môi trường Tuy nhiên, theo đề án xã được quy hoạch trạm xử lý nước thải làng nghề và trạm cấp nước sạch tập trung nhưng đến nay chưa hoàn thành nên xã vẫn chưa đạt chuẩn NTM Đây cũng là tình trạng của nhiều xã trên địa bàn Hà Nội hiện nay Tại xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội, chất thải vẫn chưa được thu gom và xử lý theo quy định Trong khi đó tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh mới đạt 78% Ông Phạm Đình Phùng - Chủ tịch UBND xã Bình Minh than thở, việc thu gom và xử lý rác thải trên địa bàn xã còn rất nhiều bất cập Người dân còn phơi lông gà, lông vịt trên các tuyến đường liên thôn, liên xã gây mất mỹ quan môi trường

Hơn nữa, nước thải từ các hộ giết mổ gia cầm gây ô nhiễm môi trường trong khu dân cư Theo thống kê của Ban Chỉ đạo Chương trình 02 huyện Thanh Oai, toàn huyện mới có 4/21 xã tiêu chí về môi trường, còn lại 17 xã chưa đạt (chiếm 81%) Hoàn thành tiêu chí môi trường tại các xã thuần nông

đã khó, tại các địa phương có làng nghề vấn đề này càng nan giải hơn nhiều Đơn cử huyện Thường Tín hiện có 126 làng nghề, 11 cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với 84 DN, 415 hộ đang hoạt động sản xuất, kinh doanh Dù mang lại việc làm và thu nhập ổn định cho hàng chục ngàn lao động, song một số dự án thành phần trong đề án như xây dựng cụm tiểu thủ công nghiệp, nhà máy xử lý nước thải tại làng nghề, cụm công nghiệp còn chậm Hay việc

xử lý môi trường tại huyện Hoài Đức cũng khá khó khăn khi địa phương có tới 6 cụm công nghiệp, 51 làng nghề Một số hộ sản xuất, DN trong các làng nghề chưa thực hiện nghiêm túc các quy định về bảo vệ môi trường trong sản xuất Thêm vào đó, nhiều nghĩa trang Nhân dân nằm rải rác cạnh các thôn, xóm, không đảm bảo các chỉ tiêu về môi trường [8]

Yên Bái nan giải tiêu chí môi trường

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Sau 4 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Yên Bái đã vấp phải những khó khăn nhất định trong thực hiện tiêu chí môi trường mà chưa có lời giải

Là một trong 6 xã được huyện Văn Chấn chọn làm điểm xây dựng NTM, với điều kiện tương đối thuận lợi về mọi mặt, Thanh Lương đã nhanh chóng bắt tay vào thực hiện các nội dung, hạng mục của Chương trình, ưu tiên tiêu chí dễ làm trước, khó làm sau Đến nay, sau 4 năm thực hiện Chương

để tuyên truyền, vận động nhân dân từ bỏ thói quen nuôi nhốt gia súc dưới gầm sàn nhà

Tuy nhiên, nếu nói để hoàn thiện tiêu chí môi trường thì cũng không đơn giản Theo đánh giá, mặc dù đã có các hố rác tại các khu dân cư để thu gom rác thải song chủ yếu là xử lý tại chỗ chứ chưa có điểm tập kết rác thải tập trung Vấn đề nữa là người dân chưa có nước sạch để sử dụng; việc quy hoạch nghĩa trang tập trung cũng khó khăn bởi quỹ đất không có, và phong tục tập quán người dân thích chôn ngay trên đất nhà.[18]

Với địa bàn rộng, trong tổng số 31 xã, thị trấn thì có tới hơn một nửa số

xã thuộc diện vùng cao đặc biệt khó khăn, lệ hộ nghèo cao, tập quán sinh hoạt lạc hậu như: chăn thả, nuôi nhốt gia súc gầm sàn nhà; ăn, ở không hợp vệ

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

sinh; việc chôn cất người chết; thu gom, xử lý rác thải; nước sạch… vẫn là vấn đề nan giải đã khiến cho việc xây dựng NTM của huyện gặp không ít khó khăn Sau 4 năm triển khai Chương trình, trong số 6 xã điểm của huyện là: Thượng Bằng La, Tân Thịnh, Đại Lịch, Phù Nham, Thanh Lương, Sơn A đã đạt từ 10 - 13 tiêu chí nhưng tiêu chí môi trường vẫn chưa đạt

Tóm lại, có thể thấy việc giữ gìn vệ sinh môi trường tại các địa

phương, nhất là các xã vùng cao hiện đang là một trong những vấn đề khó khăn Việc đảm bảo được vấn đề môi trường sẽ là cơ sở để phát triển bền vững ở mỗi địa phương trong quá trình xây dựng nông thôn mới

1.2.5 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh

Hà Giang

Ngay từ khi triển khai Chương trình nông thôn mới, theo chỉ đạo của tỉnh Hà Giang huyện Hoàng Su Phì đã thành lập bộ máy quản lý, chỉ đạo điều hành thực hiện Chương trình nông thôn mới cụ thể: Thành lập BCĐ, tổ giúp việc BCĐ và cử 03 cán bộ chuyên trách thuộc phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn để theo dõi, tổng hợp Chương trình; Ở cấp xã thành lập BCĐ, Ban quản lý và bố trí 01 cán bộ Địa chính - xây dựng để theo dõi nông nghiệp

và nông thôn mới; cấp thôn, xóm thành lập Ban phát triển nông thôn BCĐ các cấp đều đã phân công các thành viên phụ trách địa bàn cụ thể, để chỉ đạo thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới theo kế hoạch hàng năm

1.2.5.1 Công tác tổ chức, chỉ đạo, diều hành, quản lý

Ban chỉ đạo chương trình XD nông thôn mới huyện đã tổ chức họp giao ban các thành viên Ban chỉ đạo huyện, đánh giá tiến độ triển khai thực hiện và triển khai nhiệm vụ tiếp theo Đồng thời các thành viên thường xuyên phối

hợp để bàn bạc, thống nhất các nhiệm vụ được giao

Triển khai các nội dung tại buổi làm việc của Văn phòng điều phối chương trình XD NTM tỉnh với Ban chỉ đạo nông thôn mới huyện đến các

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

thành viên Ban chỉ đạo huyện và Ban chỉ đạo nông thôn mới các xã, thị trấn Phối hợp với các ngành liên quan phân bổ kinh phí XD NTM năm 2014

Ban hành công văn chỉ đạo về việc triển khai Chương trình phát động phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới năm 2014 – 2015, chỉ đạo các xã thị trấn, thành viên BCĐ XD NTM huyện đăng ký giao ước thi đua và triển khai thực hiện

Chỉ đạo các xã, thị trấn đăng ký nhu cầu xi măng triển khai thực hiện các nội dung chương trình XD nông thôn mới năm 2014 (Theo công văn 462/UBND-NNTNMT ngày 03/3/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang,

về việc thực hiện đăng ký nhu cầu hỗ trợ xi măng và kinh phí vật liệu khác thực hiện chương trình XDNTM năm 2014)

Ban hành Kế hoạch số 04-KH/ĐTN ngày 13 tháng 3 năm 2014 của Ban chấp hành huyện đoàn Hoàng Su Phì về Kế hoạch tham gia phát triển kinh tế

- xã hội và XD nông thôn mới năm 2014

Ban hành kế hoạch số 03/KH-MT ngày 10/3/2014, kế hoạch tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển , văn hóa- xã hội và XD nông thôn mới năm

2014 của Ủy ban mặt trận tổ quốc huyện Hoàng Su Phì

Tổ chức hội nghị tổng kết Chương trình xây dựng Nông thôn mới gắn với ký kết giao ước thi đua và công tác khen thưởng năm 2013

Chỉ đạo các xã điểm xây dựng bảng tin nông thôn mới thường xuyên cập nhật trên bảng tin XD NTM tại các thôn, đồng thời cử cán bộ Tổ chuyên trách xuống xã hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra cách cập nhật bảng tin tuyên truyền thực hiện XD NTM

1.2.5.2 Công tác rà soát quy hoạch, đề án xây dựng NTM

Thực hiện công văn chỉ đạo của Tỉnh, BCĐ huyện đã chỉ đạo các ngành chuyên môn tổ chức rà soát lại quy hoạch, đến nay đã rà soát được 21/24 xã, nhìn chung các xã chưa có sự thay đổi nên chưa phải điều chỉnh quy hoạch

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

1.2.5.3 Công tác tuyên truyền, vận động

BCĐ XD NTM huyện chỉ đạo các thành viên, BCĐ XD NTM các xã, thị trấn tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều phương pháp , đặc biệt là công tác tuyên truyền các văn bản về cơ chế chính sách về XD nông thôn mới, sân khấu hóa, phóng sự phát sóng trên truyền thanh, truyền hình huyện và Tỉnh, cụ thể:

Đến nay, Đài phát thanh - Truyền hình huyện đã thực hiện 26 tin thời

sự, 19 bài phóng sự về XDNTM; Tuyên truyền miệng thông qua các buổi họp chợ và các hội nghị tại thôn được 385 buổi với 37.431 lượt người nghe; Sửa chữa thay thế 25 biển tường tại các xã, thị trấn Treo 50 băng zôn, Chiếu phim lưu động được 49 buổi với 5.380 lượt người xem

1.2.5.4 Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân

BCĐ nông thôn mới các xã đã linh hoạt lựa chọn mô hình chăn nuôi phù hợp cho nhân dân, cụ thể trong tháng đã tiến hành thực hiện mô hình nuôi Lợn đen tại xã Nậm Ty mô hình nuôi lợn nái đen (xã Chiến Phố) Ngoài ra tiếp tục duy trì và triển khai nhân rộng tiếp một số mô hình như Mô hình Nuôi Trâu, nuôi Gà, nuôi Lợn, nuôi Dê, trồng Su Su, trồng Dưa Chuột, Dưa Hấu, Ngô Lai Vn10, rau

Tiếp tục duy trì hoạt động hiệu quả của 10 nhóm sản xuất theo sở thích

đã thành lập (tại 05 thôn của 05 xã Tụ Nhân, Sán Sả Hồ, Chiến Phố, Thông Nguyên, Pố Lồ) tính đến thời điểm hiện tại các nhóm sản xuất theo sở thích

đã gieo cấy vụ hè thu xong, vốn cho vay từ vụ xuân đã được thu hồi, tiếp tục cho vay để sản xuất vụ hè thu

Hoạt động của Quỹ phát triển địa phương: Đến nay 27/27 hộ vay của 8 thôn thuộc 4 xã điểm đã được giải ngân, BCĐ nông thôn 4 xã điểm tiếp tục đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra các hộ thực hiện

Về hoạt động đào tạo nghề, chuyển giao khoa học kỹ thuật: Trong tháng tại xã Chiến Phố, Hội phụ nữ xã phối hợp với các ban ngành, đoàn thể

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

đã tổ chức 01 lớp hướng dẫn kỹ thuật trồng đậu cho nhân dân, lớp tập huấn đã thu hút hơn 35 học viên tham gia Triển khai mô hình trông Nấm tại xã Thàng Tín

1.2.5.5 Về phát triển giáo dục, y tế, văn hoá và bảo vệ môi trường

Công tác phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường đã được BCĐ XD NTM huyện chỉ đạo các thành viên, BCĐ XD NTM các xã,

thị trấn quan tâm thực hiện

- Thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Duy trì các xã đạt chuẩn về Y tế (Nậm Ty, Nậm Dịch, Pố Lồ, Thông Nguyên, Nam Sơn, Pờ Ly Ngài, Bản Luốc)

- Tiếp tục và duy trì, phát triển nâng cao chất lượng 8 Làng văn hóa du lịch Tiếp tục tổ chứ c đánh giá theo tiêu chí “gia đình văn hóa” theo thông tư 12/TT-VHTT&DL năm 2012 của Bộ văn hóa Thể thao và du lịch

- Triển khai xây dựng lò đốt rác hộ gia đình tại thôn Tấn Xà Phìn xã Nậm Ty và 13/13 thôn của Xã Thông Nguyên, trong tháng hoàn thành được

57 lò, lũy kế đến nay được 64 lò đốt rác Tiếp tục chỉ đạo các xã thực hiện di rời chuồng trại gia súc ra xa nhà trong tháng di rời được 5 hộ, lũy kế được 36

hộ Duy trì việc trồng cây xanh dưới chân hàng rào thực hiện được 15 hộ tại

xã Thèn Chu phìn; Láng bó nền nhà được 100 hộ; xây dựng nhà vệ sinh lũy

kế 23 hộ; Nhà tắm lũy kế 17 hộ; Bể nước lũy kế 21 bể

1.2.5.6 Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã hội

BCĐ XD NTN huyện đã chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể, các xã, thị trấn vận động cán bộ, công chức, viên chức thi đua xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh, huy động cả hệ thống chính trị các cấp cùng chung sức tham gia chương trình XD NTM, nhân rộng những gương điển hình tiên tiến, nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới Tình hình

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

an ninh trật tự xã hội được giữ vững, không có hoạt động của các thế lực thù địch, truyền đạo trái phép…

Thực hiện phương án thành lập tổ tự quản trong XD NTM, đến nay toàn huyện đã thành lập được 156 tổ tự quản trong XD NTM, các tổ tự quản qua quá trình hoạt động đã xây dựng được quy chế hoạt động của từng tổ, phổ biến tuyên truyền chính sách của Đảng và Nhà nước, dần phát huy được vai trò của mình trong việc vận động hội viên, các gia đình giữ gìn vệ sinh, trật tự

an toàn giao thông, giúp nhau phát triển sản xuất

1.2.5.7 Kết quả chung về xây dựng cơ sở hạ tầng

- Đối với nguồn vốn của Tỉnh cấp thực hiện (Theo Quyết định số 623/QĐ-UBND, ngày 31/3/2014 và Quyết định số 1018/QĐ-UBND ngày 27/5/2014 nguồn hỗ trợ của tổng công ty xi măng việt nam và ngân sách huyện): Trong tháng triển khai đổ đường bê tông rộng từ 2,5m đến 3,5m được

120 m, lũy kế được 1.995m; Xây dựng nhà Hội trường thôn được 4 nhà, lũy

kế 7 nhà (ngân sách tỉnh được 03 nhà, ngân sách huyện được 04 nhà)

Tại các xã còn lại tiếp tục huy động nhân dân nâng cấp các tuyến đường giao thông được 30m, lũy kế thực hiện đạt 27.745m Mở mới đường giao thông đạt 90 m, lũy kế thực hiện đạt 5.880 m Nhân dân đóng góp ngày công lao động (đổ bê tông mặt đường, xây dựng nhà văn hóa thôn, mở rộng, nâng cấp nền đương ) đạt 1330 công, lũy kế thực hiện đạt 17.161 công, hiến đất xây dựng Nông thôn mới đạt 4.963 m2

1.5.2.8 Về huy động nguồn lực

- Tổng nguồn vốn thực hiện xây dựng nông thôn mới năm 2014: 32.424 triệu đồng Trong đó:

+ Nguồn vốn trái phiếu chính phủ: 17.200 triệu đồng

+ Vốn sự nghiệp chương trình mục tiêu quốc gia: 180 triệu đồng

+ Nguồn vốn Ngân sách tỉnh: 240 triệu đồng

+ Nguồn vốn Ngân sách huyện: 1.541 triệu đồng

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

+ Nguồn vốn vay ưu đãi (Mua xi măng): 3.300 triệu đồng

+ Nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án: 8.673 triệu đồng

+ Nguồn Huy động từ các Doanh nghiệp là : 6 triệu đồng

+ Huy động các nguồn vốn khác: 1.290 triệu đồng

1.2.5.9 Kết quả thực hiện theo Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM của tỉnh

- Số xã đạt 10 tiêu chí gồm 1 xã (Thông Nguyên)

- Số xã đạt được 5 – 9 tiêu chí gồm 8 xã, trong đó có 3 xã điểm

- Số xã đạt dưới 5 tiêu chí là 15 xã

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các đối tượng liên quan đến môi trường nông thôn trong XD nông thôn

mới trên địa bàn xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, như:

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Tình hình sửa dụng nước sạch, thu gom rác thải, tình hình sủa dụng đất, các thiên tai môi trường

2.1.2 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu

Địa điểm: Xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang Phạm vi: Những vấn đề liên quan đến môi trường nông thôn trong XD nông thôn mới trên địa bàn xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2014 – 9/2015

2.2 Nội dung nghiên cứu

1) Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, tài nguyên thiên nhiên môi trường xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang

2) Đánh giá hiện trạng môi trường xã Thông Nguyên huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang

3) Đánh giá việc thực hiện tiêu chí môi trường tại xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang

4) Giải pháp thực hiện nhằm về đích tiêu chí môi trường tại xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang trong thời gian tới

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu

Việc thu thập và phân tích tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu là rất quan trọng nhằm giúp ta nhận biết vấn đề một cách nhanh chóng và tổng quát Những tài liệu này là cơ sở ban đầu định hướng cho kế hoạch và triển khai các mục tiêu nghiên cứu

+ Thu thập số liệu thứ cấp

- Các văn bản pháp quy có liên quan

- Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương

- Các tài liệu về hiện trạng môi trường của địa phương

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

- Các tài liệu khoa học đã được công bố, các thông tin đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chính

- Các đề tài luận văn

+ Thu thập số liệu sơ cấp

Thu thập số liệu sơ cấp bằng phương pháp điều tra phỏng vấn

- Yêu cầu phiếu điều tra: Thiết kế bộ câu hỏi có các câu hỏi về thông tin chung, câu hỏi thu thập thông tin nghiên cứu, sử dụng câu hỏi đóng và câu hỏi mở; câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu, dễ trả lời

- Mục đích sử dụng bộ câu hỏi hộ cá nhân nhằm thu thập các thông tin

số thành viên, trình độ học vấn, kinh tế hộ, các vấn đề về nguồn tài nguyên nước, đất, các vấn đề vệ sinh môi trường, các chính sách pháp luật, dự án phúc lợi xã hội hiểu biết của người dân về môi trường…

Bộ câu hỏi chi tiết và phiếu điều tra (phần phụ luc)

- Với xã Thông Nguyên gồm 13 thôn, mỗi thôn sẽ điều tra 10 hộ, tổng điều tra là 130 phiếu Trong khi điều tra kết hợp quan sát thu thập số liệu khách quan

+ 13 thôn là: Khu Chợ, Làng Giang, Phìn Hồ, Nậm Nghí, Nậm Lìn, Giàng Hạ, Giàng Thượng, Nậm Hồng, Bản Giàng, Hồng Quang, Nậm Non, Tân hạ, Ông hạ Để có kết quả điều tra khách quan nhưng chính xác và đầy đủ tôi chọn ngẫu nhiên các hộ trong từng thôn, không phân biệt giàu nghèo, nghề nghiệp, thành phần dân tộc…

- Đối với cơ quan công sở: Lập 1 phiếu thu thập từ các cán bộ tại UBND xã về dân số, tỷ lệ dân số, hiện trạng sử dụng đất đai, tình trạng kinh

tế, cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, vấn đề về đa dạng sinh học, các vấn đề môi trường, các chương trình, chính sách của địa phương Có xác nhận của Chủ tịch UBND

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

2.3.2 Phương pháp thống kê xử lý số liệu

Tiến hành nhập số liệu và mã hóa số liệu vào phần mềm Excel để xử lý

số liệu Sau đó tiến hành vẽ biểu đồ, bảng biểu đối với số liệu đã được xử lý

2.3.3 Phương pháp tổng hợp, đánh giá, phân tích

Tổng hợp tài liệu, thu thập và kế thừa có chọn lọc các thông tin, dữ liệu

có liên quan đến đề tài từ các nguồn dữ liệu (từ các đề tài nghiên cứu, tài liệu hội thảo, từ internet, sách báo ) sau đó phân tích, tổng hợp, so sánh, theo từng vấn đề phục vụ cho nội dung đề tài

3.3.4 Phương pháp chuyên gia

- Tham khảo ý kiến của một số chuyên gia trong lĩnh vực môi trường như các cán bộ tại Phòng Tài nguyên & Môi trường, Ban chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Hoàng Su Phì để tìm hiểu về thực trạng

và đưa ra các pháp giúp xã Thông Nguyên đạt tiêu chí môi trường

- Tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn và các giáo viên trong nhà trường về các giải pháp giúp xã Thông Nguyên đạt tiêu chí môi trường

2.3.5 Phương pháp DPSIR để đánh giá hiện trạng môi trường

Phương pháp đánh giá tổng hợp DPSIR là một mô hình nhận thức dùng

để xác định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân - kết quả Qua đó cho thấy cho thấy bức tranh tổng thể về các lĩnh vực môi trường Từ những nguyên nhân sâu xa gây ra ô nhiễn môi trường tại địa bàn nghiên cứu (D), sẽ tạo ra những áp lực gì lên kinh tế - xã hội (P) và hiện trạng môi trường (S) Ngoài ra, mô hình còn bao gồm cả những tác động (I) của sự thay đổi hiện trạng môi trường và những đáp ứng (R) từ xã hội chống lại những tác động không mong muốn này Phương pháp này đánh giá chính xác những yếu

tố gây ảnh hưởng tới môi trường tại khu vực mà chúng ta cần nghiên cứu

2.3.6 Phương pháp điều tra thực địa

Khảo sát thực tế hiện trang môi trường ở các khu vực khác nhau trong địa bàn xã, chụp ảnh tư liệu…

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Khu vực trung tâm xã, khu vực bãi rác, khu vực suối, khu vực xa trung tâm đồi núi…

2.3.7 Phương pháp dự báo dân số

Hiện trạng tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã Thông Nguyên là 1,3%/ năm Do thực hiện tốt chính sách kế hoạch hóa gia đình không sinh con thứ 3 nuôi dậy con tốt, dự kiến tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1.2% năm 2012, còn 1.15% năm 2020

Dân số phát triển qua các giai đoạn được tính theo công thức:

Pn = P0(1+k)n Trong đó: Pn

- Quy mô dân số đến thời hạn năm n

P0 - Quy mô dân số hiện trạng

k - Tỷ lệ tăng dân số (%)

n – Số năm cần tính

Dân số năn 2012 là 3.207 khẩu, dự tính dân số của xã Thông Nguyên đến hết năm 2015 là 3.298 khẩu; đến năm 2.020 là 3463 khẩu Dự báo số hộ trung bình là 5 người và có xu hướng giản nhẹ Chi tiết các thôn bảng 3.6 trang 49 luận văn

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

- Phía bắc giáp với xã Nậm Ty;

- Phía nam giáp với xã Xuân Minh huyện Quang Bình;

- Phía đông giáp với xã Tân Lập huyện Bắc Quang;

- Phía tây giáp với xã Nậm Khòa

Hình 3.1: Vị trí địa lý xã Thông Nguyên

Xã Thông Nguyên có 13 thôn bản (thôn Khu Chợ, Làng Giang, Phìn

Hồ, Nậm Nghí, Nậm Lìn, Giàng Hạ, Giàng Thượng, Nậm Hồng, Bản Giàng, Hồng Quang, Nậm Non, Tân hạ, Ông hạ) Vị trí địa lý khá phức tạp, nhưng Thông Nguyên còn là trung tâm của 4 xã (xã Nậm Ty, Xuân Minh, Tân Lập, Nậm Khòa), do vậy cũng tương đối thuận lợi cho buôn bán, trao đổi hàng hóa phát triển kinh tế xã hội của xã cũng như như trong vùng

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Nhìn chung địa hình của xã có xu hướng dốc từ Đông Bắc xuống Tây Nam và tương đối bằng phẳng Đi sâu vào từng vùng nhỏ, địa hình khá phức tạp, độ cao thấp không đồng đều nhau ở dạng cục bộ xen kẽ kiểu làn sóng Tạo nên 3 dạng địa hình chính là địa hình núi cao, đồi núi thấp và trung bình, thung lũng hẹp

Là một Xã có địa hình đa dạng, tạo nên hệ thống thực vật, sinh vật phong phú, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc đa dạng hóa cây trồng, phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp

3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn

Xã Thông Nguyên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên mang đặc điểm chung của vùng, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 cho đến tháng 3 năm sau

Nhiệt độ bình quân hàng năm là 21,90C Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 26,20C (tháng 6), nhiệt độ trung bình thấp nhất là 8.20C (tháng 1)

Lượng mưa trung bình hành năm là 1.434,2 mm, nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9 với 80% tổng lượng mưa, ngược lại mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20%

Độ ẩm không khí trung bình là 80%, độ ẩm không khí cao nhất là 85%

- 90% vào tháng 3, tháng 4 Độ ẩm không khí thấp nhất là 65% vào tháng 12

Nhìn chung khí hậu nơi đây thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp với nhiều công thức luân canh đa dạng và phong phú Tuy nhiên, mùa đông thường lạnh và có những năm rét đậm, rét hại, mùa hè thì lại mua nhiều gây sạt lở lũ quét như ở thôn Phìn Hồ, thôn Ông Hạ, ngập úng ở thôn Làng Giang, thôn Nậm Lìn do đó đã ảnh hưởng đến sản xuất của nhân dân

* Thủy văn

Trên địa bàn có ba con suối chảy trên địa bàn các thôn như Làng

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

Giang, Nậm Lìn, Hồng Quang chảy dọc theo giữa xã bắt nguồn từ xã Nậm

Ty, xã Nậm Khòa chảy xuống thôn Khu Chợ rồi đổ ra xã Xuân Minh huyện Quang Bình Ngoài ra còn rất nhiều con suối nhỏ nằm dải rác ở các thôn bản, đây là một trong những thuận lợi của địa phương trong việc sản xuất nông

nghiệp và chăn nuôi thủy sản

3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

- Đất chuyên trồng lúa nước 23,07 0,56

- Đất trồng lúa nước còn lại 182,76 4,46

2 Đất trồng cây hàng năm còn lại 255,16 6,23

II Đất phi nông nghiệp 139,43 3,40

1 Đất trụ sở cơ quan, CT sự nghiệp 0,93 0,02

2 Đất cơ sở sản xuất, kinh doanh 9,11 0,22

III Đất chƣa sử dụng 131,37 3,21

1 + Núi đá không có rừng cây 41,66 1,02

2 + Đất đồi núi chưa sử dụng 89,71 2,19

(Đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2012-2015 và tầm nhìn 2020)[19 ]

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Thông Nguyên là 4.095,35 ha Trong đó, đất nông nghiệp là 3.824,55 ha chiếm 93.39%

Toàn bộ đất đai của xã thuộc loại đất Feranit đỏ vàng, đất thịt pha cát,

Ngày đăng: 26/10/2017, 16:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w