Cam có thể sử dụng các bộ phận : nước quả, tinh dầu từ quả và hoa và là cây có giá trị cao và nhưng năng suất, chất lượng và các sản phẩm của cam ở nước ta hiện nay còn ở mức khiêm tốn,
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1: Đặt vấn đề
Cây ăn quả chiếm một vị trí quan trọng đối với đời sống mội con người cũngnhư nền kinh tế mỗi quốc gia Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có điềukiện tự nhên đa dạng phong phú nên rất thuận lợi cho nghề trồng cây ăn quả vì vậy, nghề trồng cây ăn quả đã có lịch sử từ ngàn năm và trở thành một bộ phận không thể thiếu đối với nền kinh tế nông nghiệp nước ta Mỗi loại cây ăn quả có vai trò riêng biệt cũng như khả năng thích ứng với từng vùng khác nhau
Cam là loại cây ăn quả có giá trị trên thị trường quốc tế và là một trong những cây đặc sản lâu năm ở Việt Nam bởi cam có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, phân bố rộng rãi Các vùng trồng cam nỗi tiếng ở nước ta như: Xã Đoài, Hải Dương, Vinh, Đồng nai và các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long … Và một số loại cam chính là: Cam Sành, Cam đắng( cam chua), Cam ngọt
Cam có thể sử dụng các bộ phận : nước quả, tinh dầu từ quả và hoa và là cây có giá trị cao và nhưng năng suất, chất lượng và các sản phẩm của cam ở nước
ta hiện nay còn ở mức khiêm tốn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển cũng như tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế Vì vậy, cần áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong chọn tạo giống và xây dựng kĩ thuật thâm canh nhằm tăng năng suất, chất lượng cho cây cam
Cam là cây ăn quả lâu năm có quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền), các yếu tố sinh thái (nhiệt độ, ánh sáng, đất đai ) và các yếu tố về kỹ thuật canh tác Với thực tiễn đó việc nghiên cứu tập tính ra hoa đậu quả và ảnh hưởng của các yếu tố trên là nhu cầu bức thiết
để tạo ra được những giống cam có phẩm chất tốt và cho năng suất cao
Trang 2Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội là một trường chuyên về nông nghiệp có nhiều nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Vì vậy việc "Nghiên cứu tập tính ra hoa, đậu quả của một số dòng, giống cam trồng ở trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội "
1.2: Mục đích
Trên cơ sở nguồn gen tại trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội tiến hành khảo sát đặc điểm ra hoa, đậu quả để làm cơ sở cho việc chọn tạo vàxây dựng kĩ thuật thâm canh nhằm tăng năng suất và chất lượng cây cam
1.3: Yêu cầu
Khảo sát đặc điểm ra hoa của một số dòng giống cam : thời gian
ra nụ, hoa, tỉ lệ các cành hoa… tại trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Khảo sát khả năng đậu quả của một số dòng giống cam tại trườngđại học Nông Nghiệp Hà Nội
Bước đầu thực nghiệm một số chế phẩm nhằm tăng sự đậu quả của một số dòng giống cam tại trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội
1.4: Ý nghĩa của đề tài
1.4.1: Ý nghĩa khoa học
Giúp sinh viên cũng cố, hệ thống hóa kiến thức đã học ở nhà trường vào nghiên cứu khoa học, trau dồi kinh nghiệm, kiến thức thực tế
Giúp sinh viên nắm được cách tiến hành một đề tài, thu thập, xử
lý số liệu và trình bày báo cáo khoa học
1.4.2: Ý nghĩa thực tiện
Giúp mọi người hiểu thêm về đặc điểm, tập tính ra hoa và đậu quả của các dòng giống cam từ đó áp dụng các biện pháp kỹ thuật, các chế phẩm phù hợp trong trồng trọt và chăn nuôi để cam cho năng suất cao và chất lượng tốt
Trang 3PHẦN II : TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1: Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam
2.1.1: Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên thế giới
Mặc dù cam có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Á nhưng hiện nay cam được trồng ở rất nhiều nơi trên thế giới với tổng số hơn 100 quốc gia
Các nước nổi tiếng trồng cam là : Italia, Hy Lạp,Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Hoa
Kỳ, Mexico, Braxin, Trung Quốc, Nhậy Bản, Cuba
Các nước xuất khẩu cam chủ yếu là: Brazil, United States of America , Italia
Bảng 2.1: Sản lượng cam ở các châu lục năm 2012 (FAO )
Dựa vào bảng có thể thấy sản lượng cam trên thế giới cao nhưng lại không đồng đều giữa các châu lục Sản lượng cam ở châu Mỹ cao nhất lên tới
34199142 tấn trong khi châu Đại dương chỉ có 34199142 tấn
Bảng 2.2: Sản lượng cam trên thế giới trong giai đoạn 2008- 2012
Trang 4Đồ thị biểu diễn sản lượng cam trên thế giới trong giai đoạn 2008- 2012
Nhìn vào đồ thị này có thể thấy được sự phát triển và nhu cầu về cam trên thế giới đang phát triển chậm lại Ở các quốc gia đang phát triển đang có xu hướng giảm sử dụng quả cam tươi và phát triển công nghiệp chế biến cam
Bảng 2.3: Sản lượng cam năm 2010 của một số nước trên thế giới ( FAO )
Trang 52.1.2: Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam ở Việt Nam
Cam có lịch sử trồng trọt lâu đời ở nước ta, cho đến nay cam đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu tạo ra những giống có năng suất cao, chất lượng tốt đem trồng rộng rãi ở cả nước Theo các kết quả nghiên cứu chothấy cây ăn quả có diện tích , sản lượng cao đó là: chuối, cam, quýt, dứa, xoàitrong đó cam đứng vị trí thứ hai
Các vùng trồng cam chính ở Việt Nam là: đồng bằng song Cửu Long, trung
du miền núi phía bắc với nhiều giống cam đặc sản, chất lượng như: cam Vinh, cam Yên Bái, cam sành Hàm Yên…
Vào đầu những năm của thế kỷ 21 trở lại đây so với những năm 1975 của thế
kỷ trước diện tích, năng suất và sản lượng của cam được tăng lên nhanh và ổnđịnh
Trang 6Theo Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hiện nay diệntích cây ăn quả cả nước đạt khoảng hơn 900 nghìn ha, sản lượng khoảng 10 triệu tấn; trong đó diện tích cây ăn quả phục vụ xuất khẩu khoảng 255 nghìn
ha, sản lượng cuả xuất khẩu ước đạt hơn 400 nghìn tấn Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt gần 300 triệu USD/năm Theo quy hoạch, đến năm 2020, diện tích cây ăn quả cả nước đạt 1.1 triệu ha, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1.2 tỉ USD/năm
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất cam giai đoạn 2008- 2012 (FAO)
Năng suất cam của Việt Nam tương đương với các nước trong khu vực
khoảng 7-10 tấn/ha nhưng thấp hơn nhiều so với các nước tiên tiến trên thế giới như: Úc, Mỹ, Brazil, có năng suất 30-40 tấn/năm Hàng năm nước ta vẫnphải nhập một lượng lớn quả có múi từ nước ngoài (chủ yếu từ Trung Quốc, Thái Lan) với giá trị nhập khẩu mỗi năm một tăng Năm 2008 là 72,4 triệu USD hơn 2 lần so với năm 2007 và hơn 3 lần so với năm 2005 Trong đó 2 loại quả cam và quýt có ưu thế trồng ở phía Bắc lại là 2 loại quả phải nhập
Trang 7khẩu nhiều nhất (năm 2008: cam có 16,37 triệu USD, quýt 56,0 triệu USD) Xuất nhập khẩu quả có múi ở nước ta mới chỉ bằng 1/35 nhập khẩu
Bảng 2.5 : Giá trị xuất nhập khẩu quả có múi ở nước ta từ 2005-2008 Loại
(Nguồn: Trung tâm thương mại quốc gia, 2009)
Những vấn đề lớn đặt ra đối với sản xuất cây cam ở nước ta hiện nay:
- Sản xuất cây ăn quả nhìn chung còn manh mún mang nặng tính tựcấp, tự túc, chưa tương xứng tiềm năng đất đai, khí hậu và thị trường, côngtác quy hoạch sản xuất và tổ chức quản lý thực hiện sản xuất theo quy hoạchchưa được chú trọng đúng mức, suốt thời gian dài phát triển cây ăn quả cómúi mang nặng tính tự phát, theo phong trào
- Công tác giống tuy đã có những chuyển biến nhất định nhưng nhìnchung chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất quả theo hướng hàng hóa Cơ cấuchủng loại giống còn ít, hầu hết là giống cũ, giống địa phương, các giống mớichọn tạo và nhập nội chưa nhiều, chất lượng giống cây ăn quả có múi chưađồng đều chủ yếu là giống chín trung bình như cam Xã Đoài, Vân Du , tuychất lượng tốt nhưng nhiều hạt không đáp ứng được nhu cầu thị trường trongnước và nước ngoài Còn đối với những giống chín sớm và chín muộn chấtlượng tốt thì hầu như không có
2.2: Vị trí phân loại, nguồn gốc và phân bố của cây cam
2.2.1 : Phân loại cây có múi
Việc phân loại cam quýt thường gặp khó khăn do các loài cây ăn quả
có múi có khả năng thích ứng rộng, quá trình di thực diễn ra mạnh trong
Trang 8những năm vừa qua, nhất là ở những năm gần đây do quá trình giao lưu traođổi giữa các nước với quy mô lớn.Vì vậy, hiện nay các loài cây ăn quả có múiđược trồng trong nhiều điều kiện khí hậu và vùng sinh thái khác nhau, ngàycàng có nhiều dạng lai tự nhiên, các đột biến tự nhiên Bên cạnh đó quá trìnhlai tạo, chọn lọc của con người cũng tạo ra nhiều giống mới, nhiều loại hìnhmới Do tình hình phát triển của các loài cây ăn quả có múi như vậy cho nên
sơ đồ phân loại được đưa ra có nhiều điểm khác nhau và thường không baoquát được hết các loại hình đang tồn tại trong tự nhiên và trong sản xuất Theohai nhà khoa học Tanaka và Swingle mô tả hệ thống sơ đồ phân loại như sau:
SƠ ĐỒ MÔ TẢ HỆ THỐNG PHÂN LOẠI CAM QUÝT
Họ phụ Aurantoideae có 250 loài khác nhau Họ phụ này được chia làm
2 tộc chính: Clauseneae và Citreae Tộc Citreae được chia làm 3 tộc phụ.
Trang 9con người trồng trọt Tộc phụ Citrineae được chia làm 3 nhóm A,B,C Trong
số này nhóm C là quan trọng nhất Nhóm C được chia làm 6 chi Trong đó chi
Citrus bao gồm hầu hết các loài các loài cam quýt hiện đang được trồng trọt.
Chi Citrus được chia thành 2 chi phụ Eucitrus và Paped.
Papeda có 6 loài, quan trọng nhất là Citrus Ichangensis được sử dụng
làm gốc ghép và lai tạo giống mới 9 loài quan trọng nhất của cam quýt bao gồm:
quýt (Citrus reticulate Blanco); bưởi chua (Citrus maxima); cam ngọt (Citrus
sinensis Osbeck); chanh (Citrus limon Burm); Laime (Citrus aurantifolia
Swingle); Tahiti laime (Citrus latifolia); cam chua (Citrus aurantium); bưởi chum (Citrus paradishi Macfe) và chanh yên (Citrus medica)
Theo Võ Văn Chi (1997) [3], ở nước ta chi Citrus có 11 loài Theo
Phạm Hoàng Hộ (1999)[11] chi Citrus ở Việt Nam có 25 loài cả trồng trọt và
hoang dại (có 4 loài có tên quýt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồngrộng rãi ở cả 3 miền Bắc –Trung – Nam từ vùng núi cao Sapa- Đà Lạt tới cácvùng đồng băng Bắc bộ: Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… đến đồng bằngNam bộ
2.2.2: Nguồn gốc cam
Trước đây còn nhiều tranh cãi về nguồn gốc của cam nhưng đa số các nhànghiên cứu cho rằng cam hiện nay có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cậnnhiệt đới châu Á Theo Trần Thế Tục (1980 ) nghề trồng cam ở TrungQuốc đã có từ 3.000- 4.000 năm trước
Có một số tác giả thì cho rằng nguồn gốc ở miền Nam Việt Nam, một sốthì cho rằng nguồn gốc các loại cây có múi có nguồn gốc từ các vùng nhiệtđới và á nhiệt đới vùng Châu Á – Thái Bình Dương, mặc dù có vài loại tìmthấy ở châu Phi
Tóm lại cam có nguồn gốc từ niền Nam châu Á, sự lan trải của cam đến thếgiới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh trước
Trang 10đây Cam được chuyển tới chaai Phi từ Ấn độ bởi các thuyền buôn, dichuyển tới Mỹ bởi các nhà thám hiểm và thuyền buôn người Tây Ban Nha
và Bồ Đào Nha (Pinhos Spiegel – Roy El al, 1998)
2.2.3: Phân bố cam
Trên thế giới, cam quýt có sự phân bố rất rộng là do có khả năng dễ thích nghivới nhiều môi trường sống khác nhau, do khả năng dễ lai tạo giữa các chủng
để tạo ra các chủng mới có khả năng thích nghi cao hơn
Ở Châu Âu, cam quýt được trồng nhiều ven Địa Trung Hải Người tatrồng chủ yếu là các giống cam, kéo dài từ ven biển lên đến đồi núi bên tronghay có khi sâu vào lục địa Ở đây có nhiêu vùng trồng cam nổi tiếng nhưMalaga, Gownat , Valangxo (Tây Ban Nha), vùng Cote d’Azu và đảo Goxo(Pháp) trồng nhiều cam đắng để lấy hoa, cất tinh dầu; Napoli, Xoorrenlo,Xixin (Italia) trồng nhiều cam và chanh núm trên diện tích hơn 5 vạn hecta…
Ở Châu Phi, cam quýt được trồng nhiều ở Ai Cập, Angieri, có nhữnggiống cam ngon nổi tiếng như Bowlida, cam Metxki, Matedo,Serubo(Tuynidi)
Ở Châu Mỹ, cam quýt trồng nhiều ở vùng Caribe nhất là Cuba, Nam
Mỹ, Trung Mỹ, song nhiều nhất vẫn là ở Hoa Kỳ, nhiều giống cam ngon nổitiếng như cam Naven
Châu Úc có giống cam Tahiti là loại cam ngon nổi tiếng bậc nhất thế giới Còn Châu Á, cam quýt trồng nhiều ở Xiri, đảo Kio, Ấn Độ, TrungQuốc, Nhật Bản, Malaixia, Việt Nam
2.3: Đặc điểm thực vật học của cam
2.3.1: Bộ rễ
Trang 11Cam trồng bằng hột thường có một rễ cái và nhiều rễ nhánh, từ rễ nhánh mọc
ra các rễ lông yếu ớt Sự phát triển của rễ xen kẻ với các bộ phận thân cànhtrên mặt đất
Bộ rễ cam hoạt động mạnh vào 3 thời kỳ:
Trước khi ra cành xuân ( từ tháng 2 đến tháng 3)
Sau khi rụng quả sinh lý đợt đầu lúc hè xuất hiện ( từ tháng 6 đến tháng 8).Sau khi cành mùa thu đã sung sức (khoảng tháng 10)
Mức độ phát triển theo bề rộng và bề sâu của cam phụ thuộc vào các yếu tốnhư loại đất, thành phần đất, độ dày tầng canh tác, mực nước ngầm, đặc tínhgiống, kỹ thuật nhân giống và canh tác…
Các cây nhân giống bằng hạt và ghép lên gốc ghép gieo hạt thì có bộ rễ ăn sâunhưng phân bố hẹp, ít rễ hút Những cây chiết hay giâm cành thì có bộ rễ ănnông nhưng phân bố rộng, nhiều rễ hút và tự điều tiết được tầng sâu phân bốtheo sự thay đổi của điều kiện ngoại cảnh
2.3.2: Thân, cành
Thân cam thuộc loại thân gỗ, bán bụi, có 4-6 cành chính, cây cao 2 - 3m, phâncành thấp, cành hướng ngọn, thưa, phân cành ngang Các cành chính thườngmọc ra ở các vị trí 1m cách mặt đất Cành có thể có gai, nhất là khi trồngbằng hạt tuy nhiên khi ra hoa đậu quả thì gai ít phát triển
Cam có đặc điểm “ tự rụng ngọn” nghĩa là sau khi cành đã phát triển đến nhấtđịnh thì dừng lại lúc đó ngọn và 1- 2 mầm sẽ rụng đi Hiện tượng này xảy ravới các đợt lộc khiến cho cây cam không có thân chính rõ rệt, cành lá rậm rạp.+ Một năm cam ra nhiều đợt cành:
- Cành xuân: ra vào tháng 2, 3 là cành mang hoa, quả Cành thường ngắnmật độ lá dày thích hợp để lấy mắt ghép
- Cành hè được mọc ta từ cành xuân cùng năm, thường ra vào tháng 5- 7
- Cành thu ra vào tháng 8 – 9
- Cành đông ra vào tháng 11 – 12 thường snh ra trên cành quả
Trang 12+ Cành cam được phân chia làm 3 loại cành:
- Cành quả: tùy từng giống mà có độ dài từ 3- 25 cm Cành có lá thường có
tỉ lệ đậu quả cao hơn so với cành không có lá Cành quả thường nhiềutrong mùa xuân
- Cành mẹ: là cành sinh ra quả, có thể là cành Xuân, cành Hè, cành Thucủa năm trước Cành hè làm cành mẹ thì số cành nhiều quả và tỉ lệ đậuquả cao hơn
- Cành dinh dưỡng: là cành không có hoa quả chỉ có lá, nhiệm vụ chính làquang hợp và tích lũy dinh dưỡng Giữa cành mẹ và cành dinh dưỡngthường không có giới hạn rõ, năm nay là cành dinh dưỡng sang năm cóthể là cành mẹ Vào thời kỳ kinh doanh nên cắt bỏ để tránh cây rụng quả
và sâu bệnh
2.3.3: Lá
Lá cam thuộc loại lá đơn gồm cành lá, cuống lá và phiến lá Tuy nhiên theoquan điểm hiện đại thì cam vẫn có lá kép, dấu vết còn lại là ra lá trước gốc láđơn Eo lá là một đặc điểm để phân biệt các giống Tuổi thọ trung bình của lácam từ 15- 24 tháng Ở Việt Nam lá cam thường rụng nhiều vào mùa đông, lá
có quan hệ chặt chẽ với số lượng và trọng lượng quả Lá càng nhiều thì trọnglượng quả càng lớn vì vậy cần chú ý bảo vệ lá cam để cam có thể cho sảnlượng cao
2.3.4: Hoa, quả, hạt
Hoa cam là loại hoa đầy đủ, thường ra cùng với cành non và ra rõ Một câycam có thể nở tới 60.000 hoa nhưng chỉ có 7% đậu quả là có thể đạt sản lượng
100 kg/ cây Hoa cam là hoa lưỡng tính, thông thường tỉ lệ đậu quả dao động
từ 3 - 11% Hoa cam được chia làm 2 loại: hoa phát dục đầy đủ và hoa dịhình
Trang 13Quả cam thuộc loại quả mọng có múi, số múi tùy thuộc vào loài, thường từ8- 12 múi Khi quả còn xanh chứa nhiều acit nhưng tới khi chin lượng acitgiảm, hàm lượng đường và chất tan tăng lên.
Sự phát triến của quả trải qua 2 đợt rụng sinh lý:
- Đợt 1: Sauk hi ra hoa khoảng 1 tháng (tháng 3- 4) quả còn nhỏ khi rụngmang theo cả cuống
- Đợt 2: Quả đạt đường kính 3- 4 cm ( vào cuối tháng 4) khi quả rụngkhông mang theo cuống Sau 2 đợt rụng quả tốc độ qua lớn nhanh, trungbình 0,5- 0,7 mm/ ngày
Hạt: tùy theo giống mà có sự khác nhau về kích thước, số lượng, màu sắc vàphôi hạt, phần lớn là hạt đa phôi
Lộc Hè: xuất hiện từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 7, lộc hè ra sớm hay muộn,nhiều hay ít tùy thuộc vào từng giống cây, điều kiện ngoại cảnh và trình độthâm canh
Lộc Thu: xuất hiện từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9
Lộc Đông: là đợt lộc thường hình thành ở các cây non Ở các tỉnh phía bắcnước ta đợt lộc này thường chiếm tỉ lệ ít và ra vào tháng 11- 12
2.4: Yêu cầu ngoại cảnh của cây cam
Trang 14Ở nhiệt độ 40℃ với thời gian kéo dài nhiều ngày, cây ngừng sinh trưởng, lárụng, cành bị khô héo Ở Việt Nam trừ một số vùng sương muối kéo dài, còncác vùng khác đều có thể phù hợp để trồng cam.
Cây cam ưa độ ẩm trung bình nhưng nước cần thiết trong suốt thời kỳ sinhtrưởng và phát triển Thời kỳ nảy mầm và ra hoa đậu quả là những thời kỳcây cam cần nước nhiều nhất, tối thiểu phải đạt 1270mm/năm
Việt Nam có tổng lượng mưa phù hợp với cây cam tuy nhiên lại không phân
bố đồng đều trong năm nên mùa khô vẫn cần tưới nước cho cây Ngược lạicây cam không chịu được ngập úng, khi bị ngập úng rễ cây sẽ bị thối rữa, lácây rụng và cây sẽ bị chết
Cam không ưa độ ẩm không khí quá thấp, độ ẩm không khí cần đạt ± 70% đểquả lớn đều, vỏ mỏng, múi nhiều nước và ít bị rụng Tuy nhiên độ ẩm quácao lại tạo điều kiện cho bệnh phát triển nặng, nhất là bệnh chảy gôm
2.4.2: Ánh sáng
Cây cam thích hợp với ánh sáng có cường độ 10.000 – 15.000 lux ( tươngứng với 16 – 17h trong ngày mùa hè ở nước ta) Cam ưa ánh sáng tán xạkhông ưa ánh sáng trực xạ
Không nên trồng cam dưới bóng của cây khác vì như thế cam thường bịnhiều loại sâu bệnh gây hại Muốn có ánh sáng tán xạ cho cam cần bố trí mật
độ trồng thích hợp, vườn cam cần bố trí ở những nơi thoáng và tránh nắng.Các giống cam khác nhau có yêu cầu khác nhau về ánh sáng
2.4.3: Nước
Phần lớn cam có nhu cầu nước cao vào các thời kỳ nảy mầm, phân hóa mầmhoa, kết quả và phát triển quả Cam là cây ưa ẩm nhưng lại sợ úng, mùa mưađất bão hòa nước nên rễ thiếu oxy hoạt động kém, nhiều rễ bị chết làm chocây bị rụng lá và quả non, tỉ lệ đậu quả giảm Cam sinh trưởng tốt khi có độ
ẩm và lượng nước đạt theo yêu cầu và phân bố đều các tháng trong năm
Trang 15Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt tới sự lưu thong không khí, điều hòa độ
ẩm không khí, giảm sâu bệnh, cây sinh trưởng tốt Tuy nhiên tốc độ gió lớn
sẽ làm cây bị gẫy đổ, rụng quả Vì vậy, đói với những vùng trồng cam hay cógió bão lớn cần thiết kế các đai rừng phòng hộ
2.4.5: Đất và dinh dưỡng
- Đất: cam sinh trưởng và phát triển tốt trên đất nhiều mùn và thoáng khí, cótầng canh tác dầy, giữ ẩm tốt, khả năng thấm nước và thoát nước tốt Đấttrồng cam cần có mực nước ngầm thấp, không nên trồng cam trên đất sétnặng, đất cát già hoặc có lớp đất mặt quá mỏng Độ PH thích hợp cho cam là5,5 – 6 Đất có chức năng quan trọng là cung cấp nước và chất dinh dưỡngcho cây
- Dinh dưỡng: Đê cam phát triển và sinh trưởng tốt cần cung cấp đầy đủ vàcân đối các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng cũng như vi lượng
+ Đạm: Là nguyên tố có vai trò quyết định năng suất vầ phẩm chất quả.Đạm xúc tiến sự phát triển thân, cành lá, thúc đẩy sự hình thành lộc trongnăm mới Cam thiếu đạm lá ngả sang màu vàng, quả nhỏ, vỏ mỏng giảmnăng suất nhưng thừa đạm thì quả to, vỏ dày, chất lượng quả kém Ở nước tacây hấp thụ đạn quanh năm nhưng mạnh nhất là vào những tháng trời ấm từtháng 2 đến tháng 12
+ Lân: Là nguyên tố rất cần cho quá trình phân hóa mầm hoa Thiếu lâncành lá sinh trưởng kém, lá rụng nhiều, rễ không phát triển
+ Kali: Cần khi cây ra lộc non và thời kỳ quả phát triển mạnh Kali có ảnhhưởng lớn đến năng suất và phẩm chất của quả Tuy nhiên thừa kali trong lá,trong cây thì cành lá sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây không được lớn Nhiềukali trong đất sẽ ngăn cản quá trình hấp thu Ca, Mg làm quả to nhưng mẫu
mã xấu, vỏ dày
Trang 16+ Magie và các nguyên tố vi lượng: Đều có những ảnh hưởng nhất định đếnnăng suất và chất lượng quả Bón đầy đủ phân chuồng và phân hữu cơ có thểkhắc phục được tình trạng thiếu các nguyên tố vi lượng trong đất.
2.5: Giá trị sử dụng của cây cam quýt
* Giá trị dinh dưỡng
Cam quýt là một trong các loại quả cao cấp được nhiều người ưachuộng và được sản xuất ở nhiều nước trên thế giới Trong cam quýt có nhiềuchất dinh dưỡng cần thiết cho con người: giàu khoáng chất, vitamin, nhất làvitamin C giúp chống lại bệnh tật tăng sức đề kháng Hàm lượng vitamin Ctrong quả từ 30- 62 mg/100g quả tươi, hàm lượng caxi cũng tương đối cao sovới các loại quả khác đặc biệt là quất chín chứa tới 119mg%, ngoài ra trongquả còn chứa rất nhiều các chất khoáng và dầu thơm
Trang 17Bảng 2.6 Thành phần chất dinh dưỡng trong 100g cây có múi (phần ăn được) so với một số ngũ cốc và cây ăn quả khác.
Quả và thực phẩm
khác
Thành phần hóa học
Calo cho 100g
Muối khoáng(mg%) Vitamin (mg%)
Nước
Pro Tein
Lipit Gluxit
Xenlu lozo
Pho
Phôt-Sắt
Caro ten
* Giá trị công nghiệp và dược liệu
Vỏ quả cam quýt chứa rất nhiều tinh dầu Tinh dầu được cất từ vỏ, quả,
lá, hoa được dùng trong công nghiệp thực phẩm và công nghiệp mỹ phẩm Mặtkhác trong các loại cam quýt chứa lượng lớn chất xơ (xenlulozo) có tác dụng rấttốt trong tiêu hóa và làm chậm thải chất khí, chậm hấp thụ đường, tinh bột vàchất béo Ngoài ra chúng còn chứa một lượng lớn các chất chống oxi hóa đó làvitamin A, E và C rất tốt cho sức khỏe con người Ở nhiều nước trên thế giới, từ
thời xa xưa người ta đã dùng các loại quả thuộc chi Citrus làm thuốc chữa bệnh
như ở Trung Quốc, Ấn Độ đã dùng quả cam quýt phòng ngừa bệnh dịch hạch,chữa trị bệnh phổi và bệnh chảy máu dưới da Ở Mỹ vào những năm ba mươicủa thế kỷ XX, các thầy thuốc đã dùng quả cam quýt kết hợp với Insulin để
Trang 18chữa trị bệnh đái tháo đường Ở nước ta, nhân dân đã dùng cây lá và hoa quảcác loài cây ăn quả có múi để phòng và chữa bệnh từ xa xưa Vỏ quýt có tên gọidược liệu là “Trần bì” được sử dụng nhiều trong một số bài y học cổ truyền.
* Giá trị kinh tế
Cây ăn quả có múi là một trong những loại cây ăn quả lâu năm, chóngcho thu hoạch, một số loài có thể cho thu hoạch quả bói năm thứ 2 sau khitrồng Ở nước ta, 1hecta cam quýt ở thời kỳ 4 tuổi, năng suất trung bình có thểđạt 20 tấn Với giá bán quả ở thời kỳ hiện nay người nông dân có thể thu đượclãi thuần vào khoảng 600 triệu đồng một năm Lãi xuất này cao hơn nhiều sovới cây ăn quả và cây trồng khác
* Giá trị sinh thái và môi trường
Cam quýt là cây ăn quả lâu năm được trồng trong các vườn cây củagia đình hoặc trồng trên đồi của tại các trang trại Trong quá trình sinh sống,các chất bay hơi tiết ra từ cây cam quýt có thể diệt một số loài vi khuẩn làmcho không khí trở nên sạch hơn, môi trường sống của con người tốt hơn Camquýt trồng trên các đồi đất, bên cạnh việc cho quả còn có tác dụng phủ xanhđất, giữ ẩm cho đất, giữ nước, ngăn cản các dòng chảy mạnh trên mặt đất saucác trận mưa lớn, do đó có ý nghĩa lớn trong việc làm giảm quá trình xói mòn,rửa trôi đất Ở các các vùng trung du và miền núi, cam quýt được trồng trongcác vườn rừng, vườn đồi trong các hệ thống VAC và VACR là phương thứccanh tác được áp dụng rộng rãi ở các trang trại nông nghiệp và đã thể hiệnnhiều ưu điểm trong việc thực hiện nền nông nghiệp bền vững
2.6: Đặc điểm ra hoa và đậu quả của cam
Cam có hai loại hoa là hoa đầy đủ và hoa dị hình Hoa đầy đủ cánh dài màutrắng, mọc thành chum hay đơn độc Nhị có thể có phấn hoặc không có phấn,
số nhị tường gấp 4 lần số cánh hoa Bầu nhụy thường có 10 – 14 ô, hoa có mùithơm hấp dẫn Hoa cho quả có số múi từ 8 – 12, có thể có 0- 20 hạt.Hoa dị hình