Đã có khá nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về các hệ nuôi trồng thủy sản sử dụng nước thải tuy nhiên các nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào các thành phần dinh dưỡng và các vi sinh
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 62440301
DỰ THẢO TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - 2017
Trang 2Có thể tìm hiểu Luận án Tiến sĩ tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam;
- Trung tâm thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 33
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của nghiên cứu
Việc sử dụng nguồn nước thải có nồng độ kim loại nặng và á kim cao có thể gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ người sử dụng nguồn thực phẩm này thông qua chuỗi thức ăn như cá, rau trong ao (Järup L, 2003) Các dạng tồn tại về mặt vật lý, hóa học có thể của các thành phần kim loại trong ao nuôi có làm tăng mức độ nguy hại hoặc giảm bớt nguy hại cho hệ thống Ngoài ra sự phân bố của các chất ô nhiễm vào các thành phần môi trường trong ao cũng ảnh hưởng đến nguy cơ lan truyền và gây tác động Ví dụ như với sự hấp phụ lên
bề mặt của các hạt lơ lửng trong nước sẽ khiến cho các yếu tố độc hai sẽ thâm nhập vào một số loại cá nuôi trong ao thông qua thức ăn do cá sử dụng các hạt lơ lửng làm thức ăn (Craggs, 2005) Mặt khác nếu sự sa lắng của các chất xuống lớp bùn đáy là cơ chế chuyển hóa chính trong hệ thống thì nồng độ các chất độc hại trong ao sẽ bị giảm xuống do đã được giữ lại phần lớn trong lớp bùn đáy, tuy nhiên nếu sử dụng lớp bùn đáy này để làm phân bón thì có thể sẽ phát tán các thành phần độc hại ra môi trường bên ngoài và cũng có thể gây hại cho sức khỏe con người do thâm nhập qua cây trồng
Đã có khá nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về các hệ nuôi trồng thủy sản
sử dụng nước thải tuy nhiên các nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào các thành phần dinh dưỡng và các vi sinh vật trong ao cá, chưa đề cập đến các kim loại, á kim độc hại
và dạng tồn tại, phân bố của chúng khi di chuyển vào hệ thống nuôi trồng và thâm nhập vào chuỗi thức ăn ảnh hưởng đến người sử dụng Do vậy, việc đánh giá mức độ nguy hại của việc sử dụng nước thải đô thị trong nuôi cá thông qua nghiên cứu về dạng tồn tại và phân bố của một số kim loại và á kim và đánh giá rủi ro việc tái sử dụng nước thải trong nông nghiệp giúp định lượng được các rủi ro có thể xảy ra, nguy
cơ tích tụ các chất độc hại trong sản phẩm cá nhằm đưa ra giải pháp bảo đảm an toàn,
có định hướng xử lý nước thải hợp lý, bảo vệ sức khỏe con người là cần thiết và mới tại Việt Nam cũng như trên thế giới Xuất phát từ thực tiễn đó, luận án đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu cơ chế chuyển hóa và đánh giá nguy cơ rủi ro sức khỏe của asen và cadimi trong nuôi trồng thủy sản có sử dụng nước thải đô thị tại Hà Nội”
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá nguồn, dạng tồn tại và sự phân bố của asen và cadimi trong hệ thống
ao nuôi cá sử dụng nước thải đô thị và đánh giá lượng hóa rủi ro đối với sức khỏe hệ sinh thái và sức khỏe con người từ đó đưa ra những đề xuất phù hợp để đảm bảo an toàn cho người sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
3 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu hiện trạng sử dụng nước thải đô thị nuôi cá tại Hà Nội, tập trung vào khu vực quận Hoàng Mai và Thanh Trì
- Nghiên cứu dạng tồn tại và phân bố của As và Cd trong các ao nuôi trồng thủy sản có sử dụng nước thải trên cơ sở xem xét hình thái tồn tại, mức ô nhiễm và
Trang 44
phân bố các dạng tồn tại của cadimi và asen trong các mẫu ao nuôi cá sử dụng nước thải đô thị
- Đánh giá nguy cơ rủi ro đối với hệ sinh thái ao nuôi và sức khỏe con người của
As và Cd dựa trên dạng, nồng độ, sự phân bố trong nước, trầm tích, thủy sinh (cá, rau) cân bằng khối khi đi vào cơ thể con người thông qua chuỗi thức ăn
- Đề xuất các giải pháp sử dụng nước thải sử dụng nước thải hiệu quả đồng thời đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm của hệ thống
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Thành phần Cd, As trong nước thải đô thị (sông Tô Lịch) sử dụng trong nuôi trồng thủy sản (nuôi cá) và nguy cơ rủi ro đối với hệ sinh thái và sức khỏe Nghiên cứu tại 01 ao cá sử dụng nước thải tại quận Hoàng Mai, Hà Nội và 01 ao cá không sử
dụng nước thải (ao đối chứng) tại huyện Đông Anh, Hà Nội
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án đưa ra được dữ liệu về sự tồn tại, phân bố của Cd và As trong hệ thống nuôi trồng thủy sản sử dụng nước thải đô thị làm cơ sở đánh giá mức độ tích lũy sinh học và nguy cơ rủi ro cho hệ sinh thái ao nuôi và sức khỏe
Ý nghĩa thực tiễn: góp phần đề xuất các giải pháp tái sử dụng an toàn nước thải
đô thị trong nông nghiệp nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêng ở Việt Nam và
các nước có điều kiện tương tự
6 Đóng góp mới của luận án:
- Lần đầu tiên đã đánh giá được các dạng tồn tại về vật lý, hóa học và sự phân bố của As và Cd trong nước, trầm tích, thủy sinh (cá, rau) của hệ ao nuôi cá sử dụng nước thải đô thị làm cơ sở đánh giá mức độ tích lũy sinh học và nguy cơ rủi ro đến
hệ sinh tại và sức khỏe
- Đã đánh giá định lượng được mức độ rủi ro cho hệ sinh thái ao nuôi và rủi ro sức khỏe con người liên quan đến sử dụng cá nuôi bằng nước thải đô thị bị nhiễm asen
đến 10-6 mm, các chất vô cơ chiếm đến 48% (Fe, Mg, Ca, Si…), các chất hữu cơ chiếm đến 52% (Henze và Comeau, 2008)
Trang 55
1.1.2 Sử dụng nước thải đô thị cho nuôi trồng thủy sản trên thế giới
Nước thải dùng để nuôi cá có thể dùng trực tiếp hoặc qua một hồ ổn định để giảm/tách bớt một phần các thành phần ô nhiễm, nguy hại Hai qui trình sử dụng nước thải được minh họa ở hình 1.1
1.1.3 Hiện trạng sử dụng nước thải đô thị cho nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
Theo ước tính khoảng 30-40% nước thải công nghiệp chưa được xử lý thải trực tiếp vào môi trường Hiện trầm tích ở các con sông tiếp xúc với nước thải của Hà Nội đã bị ô nhiễm các kim loại, các thành phần nguy hại (PTEs- Potentially Toxic Elements), đặc biệt là cadImi Marcussen (2007) và Ingvertsen [3] kết luận rằng nồng
độ Cd, As và Pb đều cao hơn các tiêu chuẩn của Việt Nam trong đất Hà [4], Hồ và Egashira (2000) Marcussen (2007)cũng cho thấy nước thải đổ về các sông của Hà Nội
bị ô nhiễm cao các kim loại nặng khác
Thành phố Hà Nội là một trong các tỉnh thành có hoạt động nuôi trồng thủy sản
sử dụng nước thải đô thị với các hệ thống nuôi thủy sản sử dụng nước thải lớn nhất nằm ở quận Thanh Trì và Hoàng Mai, ở phía Đông Nam Tổng diện tích nuôi cá khoảng 1.680 ha và phần lớn tập trung ở các xã Yên Sở, Trần Phú, Hoàng Liệt và làng Tân Triều thuộc quận Thanh Trì và Hoàng Mai Diện tích sử dụng cho sản xuất nuôi
cá ở quận Hoàng Mai và huyện Thanh Trì được duy trì ổn định trong suốt 20 năm qua (Kaplan và nnk, 1987) Theo kết quả khảo sát của Viện Khoa học Môi trường và Phát triển (VESDEC) năm 2014, mỗi ngày hệ thống sông, hồ trên địa bàn thành phố Hà Nội tiếp nhận hàng triệu m3 nước thải công nghiệp, nước thải đô thị Dự báo, lượng nước thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội sẽ lên đến 440.934 m3/ngày đêm vào năm 2020
Trang 66
1.2 HÌNH THÁI VÀ CHUYỂN HÓA CỦA MỘT SỐ KIM LOẠI TRONG AO NUÔI TRỒNG THỦY SẢN SỬ DỤNG NƯỚC THẢI ĐÔ THỊ
1.2.1 Hình thái và chuyển hóa của cadimi trong tự nhiên
Phần lớn lượng cadimi trong môi trường nước là do khuếch tán có nguồn nước
ô nhiễm từ nhiều nguồn khác nhau Cadimi đã được phát hiện trong nước thải có nguồn gốc từ công nghiệp, thương mại, và khu vực tư nhân, với nồng độ cadimi trung bình cao nhất được phát hiện trong nước thải mới (<5 năm) nhà ở tư nhân (0,375 mg/L) (Hanh Thi Duong, 2015)
Hình 1.1 Các nguồn thải Cd và dòng di chuyển trong môi trường vùng ven biển
Trong nước ngọt, cadimi là hiện nay chủ yếu là ion cadimi (II) và Cd(OH)2 và CdCO3 trong phức chất Một số hợp chất cadimi, như cadimi sulfide, cadimi cacbonat,
và cadimi oxide không tan trong nước
1.2.2 Hình thái và chuyển hóa asen trong tự nhiên
Asen có mặt trong nước tự nhiên với nồng độ thấp, chỉ khoảng vài 1µg/L hoặc nhỏ hơn Nồng độ asen trong nước biển ở khoảng 1 - 8µg/L, trong nước ngọt không ô nhiễm là 1 - 10µg/L và tăng cao đến 100 – 5.000µg/L tại những vùng có khoáng hóa sulfur và vùng mỏ Trong nước, asen thường tồn tại ở dạng asenat (As(V)) hoặc asenit (As(III)) Các hợp chất asen hữu cơ dạng metyl hóa như MMA – axit monometyl asonic, DMA – axit dimethyl asonic, TMA – axit trimetyl asonic có mặt một cách tự nhiên trong nước là kết quả của hoạt động sinh học
Nước
thác mỏ
Nông nghiệp Lắng đọng
Cửa sông Biển
Chảy tràn
Cá
Tảo
Trầm tích
Tảo
Trang 7 Đánh giá rủi ro môi trường: Rủi ro = Nguy hại + Tiếp xúc
Đánh giá và mô tả rủi ro theo “the quotient” (thương số) biểu thị cho nồng độ
dự báo (PEC) hoặc nồng độ đo đạc (MEC) được chia bởi một nồng độ dự báo ngưỡng (PNEC): RQ= MEC (PEC)/PNEC (1.1)
Trong đó: RQ: Hệ số rủi ro
MEC: Nồng độ chất ô nhiễm qua đo đạc PEC: Nồng độ chất ô nhiễm qua dự báo PNEC: Nồng độ dự báo ngưỡng không gây ảnh hưởng
Khi: RQ <1: Rủi ro thấp; RQ ≥ 1: Rủi ro cao
Đặc biệt là rủi ro sinh thái sử dụng các cấp độ đánh giá chi tiết hơn:
RQ từ 0,01 đến 0,1: Rủi ro thấp
RQ từ 0,1 đến 1: Rủi ro trung bình
RQ ≥ 1: Rủi ro cao Khi giá trị thương số (quotient) RQ >1, rủi ro được xem là đáng kể, RQ càng lớn thì rủi ro càng lớn Ngược lại, khi RQ<1, rủi ro được xem là thấp
Trong một số trường hợp có thể tính RQ như sau:
Phơi nhiễm cấp tính: RQ = EEC/LD50 (1.2)
Phơi nhiễm mãn tính: RQ = EEC/NOAEL (1.3)
Trong đó: EEC là nồng độ độc chất trong môi trường
1.3.2 Nguy cơ rủi ro và cơ chế gây độc của As
Asen có mặt trong nước có thể gây ra các nguy cơ rủi ro cho thủy sinh vật và ảnh hưởng đến sức khỏe con người ở cả nồng độ thấp
Tương tự như Cd, As cũng là một yếu tố không cần thiết mà có thể gây độc cho con người, nhưng có sự phân bố rộng rãi và không thể tránh khỏi phơi nhiễm với con người Con đường chính của việc tiếp xúc với các loại khác nhau của asen (vô cơ và hữu cơ) là thông qua ăn uống trong thực phẩm, đồ uống, qua da (Laxen và nnk, 1981; Mara và nnk, 2001)
1.3.3 Nguy cơ rủi ro và cơ chế gây độc của Cd
Cadimi trong môi trường nước ở dạng: ion Cd2+ tự do trong nước, dạng trầm tích phân hủy ở lớp bùn đáy, dạng ion tự do Cd2+
là dạng có độc tính cao nhất gây độc cấp tính Cadimi đi vào cơ thể thủy sinh vật theo 2 con đường: Phơi nhiễm qua nước và Phơi nhiễm qua thức ăn
Trang 88
1.3.4 Một số nghiên cứu cụ thể về đánh giá rủi ro, sức khỏe
Winnie W L và nnk (2007) đã đánh giá rủi ro sức khỏe của các loại hàu được nuôi ở khu vực bị nhiễm cadimi Omolara T và nnk (2014) đã thực hiện nghiên cứu nhằm xác định nồng độ kim loại nặng trong cá da trơn Châu Phi (C gariepinus) và điều tra nguy cơ sức khoẻ liên quan đến kim loại nặng ở cá Peter E và nnk (2009) đã nghiên cứu về hình thái và rủi ro của các yếu tố độc hại tiềm ẩn trong các hệ thống sản xuất lương thực tận dùng nước thải -ví dụ điển hình về Campuchia và Việt Nam
1.2 GIẢI PHÁP SỬ DỤNG AN TOÀN NƯỚC THẢI ĐÔ THỊ CHO NUÔI
TRỒNG THỦY SẢN
1.4.1 Kiểm soát các nguồn đầu vào
Các cơ sở công nghiệp đầu tư hệ thống xử lý nước thải, bùn thải trước khi thải
ra nguồn tiếp nhận Một số phương pháp đã và đang được áp dụng để tách loại As và
Cd từ nước thải như: Phương pháp hấp phụ; Phương pháp điện hóa; Phương pháp hóa học;…
1.4.2 Kỹ thuật xử lý, cải thiện chất lượng nước thải đô thị
Các phương pháp vật lý, hóa học và sinh học đã được sử dụng để loại bỏ các chất ô nhiễm khỏi nước thải đô thị Để đạt được mức độ khác nhau của việc loại bỏ chất ô nhiễm, thường áp dụng kết hợp các quá trình/công nghệ xử lý nước thải theo bậc sơ cấp, thứ cấp và bậc cao Ngoài ra, hệ thống tự nhiên cũng được sử dụng để xử
lý nước thải Bùn thải từ các hệ thống xử lý nước thải được xử lý bằng các phương pháp khác nhau để giảm lượng nước và hàm lượng hữu cơ để áp dụng trong phương pháp xử lý cuối cùng và tái sử dụng (Mara DD và nnk, 2001)
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận án gồm: (1) Thành phần của các mẫu môi trường trong
ao nuôi cá có sử dụng nước thải đô thị và ao đối chứng, bao gồm: Rau, cá, nước bơm vào, nước thoát ra, nước trong ao và bùn đáy của ao cá và (2) Cadimi và asen trong nước thải đô thị và trong hệ ao nuôi
Ngoài ra, để đánh giá so sánh tương quan, lựa chọn ao nghiên cứu và ao đối
chứng cùng nuôi 1 loại cá trắm trắng (Cyprinus carpio) và thả 1 loại rau -rau muống (Ipoemoea aquatica)
2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Lựa chọn 01 ao cá sử dụng nước thải tại quận Hoàng Mai, Hà Nội và 01 ao cá không sử dụng nước thải (ao đối chứng) tại huyện Đông Anh, Hà Nội (Hình 2.1)
Trang 99
Hệ thống sử dụng nước thải tại thôn Bằng B, Hoàng Liệt
Hình 2.21 Sơ đồ vị trí nghiên cứu Thông tin về khu vực nghiên cứu được đưa ra ở bảng 2.1
Bảng 2.21 Một số thông tin về địa bàn lựa chọn nghiên cứu
Hoàng mai
Thôn mạch Lũng, Đại Mạch, Đông Anh
Thực vật chủ yếu trong ao Rau muống Rau muống
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Tổng quan tài liệu
Thu thập các số liệu về hiện trạng tái sử dụng nước thải trong nông nghiệp tại
Việt Nam và các nước trên thế giới Tổng quan các nghiên cứu đã thực hiện liên quan
đến luận án
2.3.2 Nghiên cứu thực địa
- Điều tra khảo sát các nguồn thải công nghiệp
Các mẫu nước (lọc và không lọc) được phân tích các thành phần kim loại theo
phương pháp Tiêu chuẩn (APHA, 2012)
- Điều tra hiện trạng hoạt động sử dụng nước thải của ao cá
- Lấy mẫu nước thải đầu vào, đầu ra, nước trong ao, mẫu rau, cá, bùn đáy…ở ao
nghiên cứu và đối chứng nhằm phân tích dạng tồn tại và phân bố của Cd và As và cân
bằng vật chất trong hệ ao nuôi
- Tần suất lấy mẫu: trong quá trình nghiên cứu sẽ lấy mẫu 3 đợt, Căn cứ vào chu kỳ
nuôi cá, thu hoạch cá và chu kỳ bơm nước sẽ thiết kế thời gian lấy mẫu phù hợp
- Tổng số lượng mẫu lấy tại 2 ao để so sánh thống kê, bao gồm cả mẫu lặp lại, thu
hồi để đảm bảo chất lượng kết quả thử nghiệm: 1200 mẫu nước ; 120 mẫu rau; 120
mẫu cá và 150 mẫu trầm tích
Trang 1010
2.3.3 Nghiên cứu thực nghiệm
Sơ đồ nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích so sánh, phối hợp
với điều tra thực địa đánh giá dạng tồn tại, phân bố sự tích lũy của Cd và As trong hệ
nuôi trồng thủy sản và nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe (hình 2.2) Xử lý mẫu theo EPA
3015A/3052 A, phân tích mẫu theo các phương pháp tiêu chuẩn APHA (2012), TCVN
Hình 2.3 Quy trình nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu: (-) Mẫu nước, rau, bùn, cá được lấy và bảo quản để phân tích
hàm lượng Cd và As theo các phương pháp chuẩn (APHA, 2012) SMEWW 3113 B (
quang phổ hấp thụ nguyên tử kỹ thuật lò graphite ), SMEWW 3125B:2012 (ICP-MS)
và Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8467:2010 (Xác định As-QPHTNT kỹ thuật sinh
hydrua); (-) Mẫu rau, cá được xử lý, làm sạch sơ bộ, xay, nghiền nhỏ, đông khô trước
khi vô cơ hóa mẫu bằng lò vi sóng theo EPA 3052 Các mẫu được lấy và bảo quản
theo TCVN TCVN 6663-10:2011 và TCVN 6663-3:2011, được xử lý và phân tích tại
phòng thí nghiệm của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường (NIOEH) Phân tích
asen thành phần trong mẫu nước, rau và cá bằng ICP-MS kết nối HPLC
2.3.4 Phương pháp phân tích, độ chính xác và thống kê của phương pháp phân tích
Phân tích mẫu trắng và mẫu chuẩn ở mỗi lần xử lý để xác định Độ đảm bảo
chất lượng (QA) Hàm lượng Cd và As được xác định bằng AAS Perkin Elmer 5100
AAS, lò graphite HGA-600, Perkin Elmer, Norwalk, Connecticut, USA
Khảo sát thực địa
Xác định nghiên cứu
Lấy mẫu
Xử lý mẫu
Phân tích mẫu GF/AAS và ICP/MS
Xử lý, Phân tích số liệu Đánh giá HRA
Trang 11hệ số Pearson để xem xét tương quan giữa ao nghiên cứu và ao đối chứng và giữa các
mẫu thành phần liên quan đến ao nuôi: mẫu nước, trầm tích, cá và rau
2.3.6 Phương pháp phân tích dòng
Tính toán cân bằng từng chất dựa trên các số liệu nồng độ trong các mẫu rau, nước, bùn, cá, trên cơ sở đó, tính toán cơ chế chuyển hóa của các chất trong hệ thống
Vào = Ra + Tích tụ ± Chuyển hóa*
* Ghi chú: Nếu quá trình chuyển hóa làm mất đi vật chất/khối lượng (tiêu thụ/phân hủy) dấu “+”; nếu tạo ra (hình thành) vật chất/khối lượng dấu “-“
2.3.7 Phương pháp đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro hệ sinh thái
Đánh giá mức độ tích lũy sinh học sử dụng chỉ số nồng độ sinh học (BCF) và chỉ số tích lũy sinh học (BAF) [Anort, 2006]:
BCF = CB/CW (2.2) BAF = CB/CF (2.3) (trong một số trường hợp CF có thể là CW)
Trong đó: C B - nồng độ độc chất trong cơ thể sinh vật (g/kg); C W - nồng độ độc chất trong môi trường nước (g/L); C F - nồng độ độc chất trong thức ăn (g/L)
Đánh giá rủi ro sức khỏe
Lượng hấp thụ trung bình hàng ngày (ADI)
ATBW
EFDCR
CADI
(2.1)
Trang 1212
Tổng lượng hấp thu từ các nguồn
Nếu bị phơi nhiễm 1 độc chất từ nguồn nguồn hoặc một nguồn cchứa nhiều độc
chất sẽ tính giá trị ADI tổng:
ADITổng = ADIi (2.5)
- Chỉ số rủi ro (HI): HI = HQi (2.7)
Các thông số giả định thường sử dụng trong tính toán (bảng 2.2)
Bảng 2.2 Các thông số giả định thường sử dụng trong tính toán nguy cơ rủi ro
(cho người lớn)
Hàm lượng As trong cá (phần ăn được) 0,087 mg/kg (nồng độ cao nhất)
Hàm lượng Cd trong cá (phần ăn được) 0,16 mg/kg (nồng độ cao nhất)
Thời gian phơi nhiễm (năm) 60
Lượng sử dụng (g/người/ngày) 83,3 [Nguồn: Viện dinh dưỡng, 2010,
trung bình 2,5kg cá/tháng]
Tần xuất sử dụng 365 ngày/năm (tính với mức phơi nhiễm
cao nhất) Thời gian trung bình (năm) 60
2.3.7 Đề xuất giải pháp sử dụng an toàn nước thải đô thị cho nuôi cá
Trên cơ sở tổng quan và dánh giá mực độ ô nhiễm As, Cd trong hệ ao nuôi, đề xuất
các phương án sử dụng nước thải sử dụng nước thải hiệu quả đồng thời đảm bảo an
toàn cho người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm của hệ thống
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ NGUỒN VÀ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM Cd VÀ As
TRONG AO NUÔI CÁ SỬ DỤNG NƯỚC THẢI ĐÔ THỊ
3.1.1 Nguồn và thực trạng phát sinh nước thải công nghiệp vào sông Kim Ngưu
và sông Tô Lịch
Các ngành thải xả nước thải vào sông Tô Lịch chủ yếu là ở quy mô vừa với các
ngành cơ khí, dệt nhuộm và công nghiệp chế biến thực phẩm Từ kết quả khảo sát sơ
bộ 223 cơ sở công nghiệp đã lựa chọn 17 cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm cao để lấy
mẫu, phân tích và đánh giá hàm lượng một số kim loại trong nước thải (bảng 3.1)
Tiêu chí lựa chọn các cơ sở công nghiệp dựa vào: (1) xả nước thải có chứa thành phần
kim loại nặng Cu, Pb, Zn, Cd, Cr, Ni, As và Hg; (2) Mức độ ô nhiễm và nguy cơ theo
quy mô sản xuất và tải lượng nước thải
Kết quả điều tra cho thấy 80% các cơ sở công nghiệp hoạt động vơi công suất
100% Lượng nước thải dao động trong khoảng 5 đến 150 m3/ngày đêm với chu trình
thải nước thải từ 8 đến 24 giờ/ngày