Chăn nuôi lợn theo quy mô trang tra ̣i hay chăn nuôi công nghiê ̣p ở nước ta có hiệu quả cao nhưng bên cạnh đó còn có những trở ngại rất lớn của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bện
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017
Thái Nguyên, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã nắm được những kiến thức cơ bản ngành học của mình Qua 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trang trại Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn huyện Tứ Kì tỉnh Hải Dương, đã giúp
em ngày càng hiểu rõ kiến thức chuyên môn, lĩnh hội thêm được nhiều kinh nghiệm quý báu, cũng như đức tính cần có của một người làm cán bộ khoa học kỹ thuật và đã hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp Để có sự thành công này, em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáo GS.TS.Từ Quang Hiển người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này
Cũng qua đây cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc, toàn thể cán bộ và công nhân trong trại lợn Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn, huyện Tứ Kì, tỉnh Hải Dương, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 6 năm 2017
Sinh viên
Cao Thị Dung
Trang 4ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn sinh sản qua 3 năm ( từ năm 2015 – 2017 ) 5
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung 16
Bảng 4.1:Bảng tiêu chuẩn thức ăn chuồng đẻ (kg) 29
Bảng 4.2 Lịch sát trùng 33
Bảng 4.3 Lịch tiêm vaccine phòng bệnh của trang trại 34
Bảng 4.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 40
Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung trong 3 năm (từ 2015 - 2017) 41
Bảng 4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh của đàn nái 42
Bảng 4.7 Cường độ nhiễm bệnh viêm tử cung so với tổng số nái nhiễm 43
Bảng 4.8 Tỷ lệ và cường độ viêm tử cung theo lứa đẻ 44
Bảng 4.9 Tỷ lệ và cường độ viêm tử cung ở lợn nái theo tháng trong năm 2017 47
Bảng 4.10 Hiệu lực điều trị bệnh viêm tử cung của phác đồ 49
Bảng 4.11 Hoạt động sinh lý sinh sản và tỷ lệ thụ thai của lợn nái 50
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm theo lứa đẻ 45
Hình 4.2 Biểu đồ cường độ nhiễm bệnh theo lứa tuổi 46
Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm bệnh theo tháng theo dõi 48
Hình 4.4 Biểu đồ cường độ nhiễm bệnh theo lứa đẻ 48
Trang 7v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở thực tập 5
2.2 Tổng quan tài liệu, kết quả nghiên cứu tình hình trong và ngoài nước 6
2.2.1 Tổng quan tài liệu 6
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 24 3.1 Đối tượng 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 24
3.4.1 Phương pháp theo dõi thu thập thông tin 24
3.4.2 Phương pháp điều trị 24
3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp xử lý số liệu 25
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 27
Trang 8vi
4.1.1 Công tác chăn nuôi 27
4.1.2 Công tác thú y 32
4.1.3 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 35
4.1.4 Công tác khác 39
4.2 Kết quả nghiên cứu 41
4.2.1 Điều tra lợn nái mắc bệnh tại 3 dãy chuồng tại trang trại trong 3 năm gần đây 41
4.2.2 Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái 41
4.2.3 Tỷ lệ và cường độ viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản 44
4.2.4 Tỷ lệ và cường độ viêm tử cung ở lợn nái theo tháng trong năm 46
4.2.5 Hiệu lực điều trị bệnh viêm tử cung của hai phác đồ 48
4.2.6 Ảnh hưởng của các phác đồ điều trị khác nhau đến hoạt động sinh lý sinh dục và khả năng thụ thai 50
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Đề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Chăn nuôi lợn theo quy mô trang tra ̣i hay chăn nuôi công nghiê ̣p ở nước
ta có hiệu quả cao nhưng bên cạnh đó còn có những trở ngại rất lớn của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra nhiều, đối với lợn nái thì các bệnh về đường sinh sản xuất hiện khá nhiều, nhất là lợn nái ngoại được nuôi theo quy
mô công nghiệp do khả năng thích nghi của lợn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém, trong quá trình sinh đẻ lợn nái dễ bị các vi khuẩn như:
Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, … xâm nhập và gây một số bệnh nhiễm
trùng sau đẻ như viêm âm đạo, viêm âm môn, … đặc biệt là bệnh viêm tử cung, đây là bệnh xuất hiện nhiều ở lợn nái và gây ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn nái Nếu không điều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn tới các bệnh kế phát như: viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh,
Trang 102
viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và chết Vì vậy bệnh viêm tử cung
ở lợn nái ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất lượng, hiệu quả ngành chăn nuôi lợn đồng thời còn ảnh hưởng tới chất lượng đàn lợn giống
Để hiểu rõ hơn về bệnh đồng thời giúp người chăn nuôi tìm ra hướng giải quyết phù hợp trong vấn đề phòng và trị bệnh có hiệu quả, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản Xuất phát từ yêu cầu của thực tế sản xuất và được sự hướng dẫn của th ầy giáo GS TS Từ Quang Hiển, cùng sự giúp đỡ của trang trại… chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên
đề: “ Thực hiện quy trình phòng và trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương ”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu chuyên đề
Trang 113
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
- Vị trí địa lý
Trang trại chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh nằm độc lập giữa một vùng bát ngát màu xanh của cánh đồng lúa, được thành lập và đi vào sản xuất năm
2007 địa điểm xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
- Quy mô, cơ sở vật chất :
Trang trại có tổng diện tích 3ha, trong đó xây dựng 1ha khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và 2ha trồng cây xanh và ao hồ Khu chăn nuôi của trại chuyên nuôi lợn sinh sản do công ty CP cung cấp hai giống lợn Landrace - Yorkshire và Pietrain - Duroc
Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1300 nái, bao gồm: 6 chuồng nái đẻ (mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4
m x 1,6 m/ô), 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m x 0,65 m/ô), 3 chuồng cách ly, một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa, 2 quạt đối với chuồng cách ly Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh
Trang 124
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng nái chửa 2 Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
Hệ thống điện: nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng Đối với chuồng đẻ, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác đỡ đẻ, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ và lợn con, mỗi chuồng đẻ được lắp đặt cố định 10 bóng thắp sáng so le nhau, cùng với hệ thống bóng sưởi cho mỗi ô chuồng có lợn con được sinh ra
Hệ thống sát trùng: nhà sát trùng cho người gồm 3 phòng: phòng sát trùng nam, phòng sát trùng nữ và phòng sát trùng kỹ sư Mỗi phòng sát trùng được chia làm 3 khoang gồm 1 khoang thay đồ, 1 khoang sát trùng và 1 khoang tắm tráng với đầy đủ các trang thiết bị như: bình nóng lạnh, sen tắm, chậu rửa, gương soi, móc quần áo, khăn, xà bông, dầu gội Hệ thống sát trùng khu vực ngoài chuồng nuôi gồm: nhà sát trùng xe, hố sát trùng, máy nén phun sát trùng di động trong khu vực chuồng nuôi
Kho chứa thức ăn: trần đóng kín, có sàn cách mặt đất 30 cm để chứa thức ăn trong chăn nuôi
Hệ thống xử lý môi trường: chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường, có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió, có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi
Trang 135
Các công trình phụ trợ khác: khu sinh hoạt tách biệt với khu chăn nuôi gồm phòng kỹ sư, nhà ở công nhân, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh Cổng trại, tường rào đảm bảo an ninh Có nhà kho phục vụ chăn nuôi như nhà để vôi bột, bể tôi vôi nước
Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi
2.1.2 Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở thực tập
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn sinh sản qua 3 năm ( từ năm 2015 – 2017 )
Loại lợn
Số lƣợng lợn qua các năm (con)
Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Số lợn con cai sữa/
nái/ năm (số nái
sinh sản)
Số liệu bảng 2.1 cho thấy: số lượng lợn nái hậu bị của trại tăng lên không đáng kể qua các năm Năm 2016 tăng so với năm 2015 cụ thể là 50
Trang 146
con Số lượng lợn con tăng so với năm trước khá nhiều Năm 2016 tăng so với năm 2015 là 13.921con Số lượng lợn con chết và loại sau sinh giảm không đáng kể Năm 2016 giảm 63 con so với năm 2015 Tính đến tháng 5 năm 2017, tổng đàn giảm đáng kể so với năm 2016 Tổng số lượng con sinh sống của năm 2016 là 36.010 con, trong khi đó 5 tháng của năm 2017 chỉ đạt 14.839 con Cũng như thế, đối với lượng con cai sữa/ nái/ năm của năm 2016
là 30.033 con, trong khi đó 5 tháng của năm 2017 chỉ đạt mức 10.929 con
2.2 Tổng quan tài liệu, kết quả nghiên cứu tình hình trong và ngoài nước
2.2.1 Tổng quan tài liệu
2.2.1.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái
Cơ quan sinh dục của lợn nái được chia thành 2 bộ phận gồm: bộ phận sinh dục bên trong và bộ phận sinh dục bên ngoài
+ Bộ phận sinh dục bên trong gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung,
âm đạo
+ Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: âm môn, âm vật, tiền đình
- Bộ phận sinh dục bên trong
* Buồng trứng (ovarian)
Buồng trứng lợn nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp, thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai
Cấu tạo: phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là miền vỏ và miền tủy Miền tủy có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ gồm ba thành phần: Tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào hình hạt Tế bào trứng nguyên thủy
hay còn gọi là trứng non (Fulliculo oophoriprimari) nằm dưới lớp màng của
Trang 157
buồng trứng Khi noãn bao chín các tế bào nang bao quanh tế bào trứng và
phân chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (Stratum glanulosum) Noãn
bao ngày càng phát triển thì các tế bào bao nang tiêu tan tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng (ovum)
* Ống dẫn trứng (vòi Fallop)
Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng Căn cứ vào chức năng
có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:
- Tua diềm: có hình giống như tua diềm
- Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng
- Phồng ống dẫn trứng: đoạn ống giãn rộng xa tâm
- Eo: đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung
Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời
* Tử cung (Uterus)
Ở lợn, tử cung thuộc loại hình sừng kép, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại
và có độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn lại Độ dài này thích hợp cho việc mang nhiều thai Cả hai mặt của tử cung được đính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng
- Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và cổ tử cung Sừng tử cung dài 40-65cm Thân tử cung dài 5cm Cổ tử cung dài 10cm có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều dài răng lược thông với âm đạo
Chức năng của tử cung: Tử cung có nhiều chức năng Nội mạc tử cung
và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sinh sản Gồm:
- Chuyển vận tinh trùng
Trang 168
- Làm tổ, chửa và đẻ
* Âm đạo (Vagina)
Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:
Âm môn hay còn gọi là âm hộ (vulvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài
âm môn có hai môi (labia pudendi) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima vulvae)
Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến tiết mồ hôi)
* Âm vật (clitoris)
Âm vật nằm ở góc phía dưới hai mép của âm môn Âm vật giống như dương vật con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như cấu tạo dương vật của con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới
* Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ Tiền đình bao gồm:
Trang 179
- Màng trinh: là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo,
phía sau thông với âm hộ Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2
lá niêm mạc gấp lại thành một nếp
- Lỗ niệu đạo ở sau và dưới màng trinh
- Hành tiền đình là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo Cấu tạo giống thể
hổng ở bao dương vật của con đực
Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
* Sự thành thục về tính dục
Theo Xuxoep A.A và cs (1985) [18] sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục
Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng
Giống: các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống có thể vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh (1985) [2] cho rằng, các giống lợn nội có độ tuổi thành thục về tính 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) Trong khi đó tuổi động dục ở lợn ngoại là 6 - 8 tháng tuổi, ở lợn lai F1 (nội × ngoại) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi
Điều kiện nuôi dưỡng quản lý
Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn
Trang 1810
nái Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại
Điều kiện ngoại cảnh:
Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục
về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ ngày, với thời gian 15-20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90kg) động dục lúc 165 ngày tuổi
- Chu kỳ động dục: Từ khi thành thục về tính những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể con vật hết khả năng sinh sản (buồng trứng hết tế bào trứng) Một chu kỳ động dục của lợn dao động khoảng 18-22 ngày, trung bình là 21 ngày Lợn nái sau cai sữa 4-6 ngày sẽ động dục trở lại
Giai đoạn trước động dục: kéo dài 1-2 ngày Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ động dục Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, các noãn bao chín, tế bào tách trứng khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung chạy ra, con vật giảm ăn, hay kêu rống, hay nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng của mình Thần kinh con vật bị kích thích, con vật có biểu hiện băn khoăn, ngơ ngác, đi lại không yên, đái dắt, kêu la (hoặc không kêu)
Buồng trứng có nang trứng phát triển, màng nhầy tử cung dày lên, tụ huyết, cổ tử cung hé mở, đỏ hồng, bóng ướt, niêm dịch nhiều, lỏng và trong suốt, dễ đứt, khó kéo dài, âm đạo đỏ hồng, ướt bóng
Trang 1911
Giai đoạn động dục: Kéo dài từ ngày thứ 2 hoặc thứ 3 tiếp theo của giai đoạn trước Giai đoạn này dài hay ngắn tùy theo giống Lợn ngoại và lợn lai, thường kéo dài 4-5 ngày Ở giai đoạn này con vật biểu hiện hưng phấn cao độ, phá chuồng, giảm ăn uống, kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác và
để con khác nhảy lên lưng của mình, thích gần đực, lúc gần đực luôn ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra
và hơi khụy xuống sẵn sàng chịu đực, âm hộ giảm độ sưng, hơi thâm, se lại có vết nhăn mờ, nước nhờn chảy ra, dính đục, âm đạo bớt đỏ
Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng hai ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồng trứng, thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 - 8 mm và bắt đầu tiết progesterone Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hoà ngược làm giảm tiết oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu ăn uống hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cơ tử cung đóng lại
Giai đoạn yên tĩnh: thường bắt đầu từ ngày sau khi rụng trứng và không được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến Giai đoạn này kéo dài từ 10-
12 ngày, cổ tử cung đóng chặt lại, không có niêm dịch, lợn nái trở lại trạng thái bình thường
* Thời điểm phối giống thích hợp:
Thời gian tinh trùng lợn đực giống sống trong tử cung lợn nái khoảng
45 - 48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, cho nên phải tiến hành phối giống đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực
Đối với lợn nái ngoại, lợn lai, thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi
Trang 20Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho phối vào buổi chiều, nếu có triệu chứng chịu đực buổi chiều thì sáng hôm sau cho phối, thường phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực “chặn đầu khoá đuôi” của thời kỳ rụng trứng
* Quá trình mang thai và đẻ:
Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [15] cho biết, thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói cụ thể hơn là quá trình đồng hóa giữa tinh trùng và trứng Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen từ 2 nguồn gen khác nhau Thời gian mang thai của lợn trung bình 114 ngày Khi mang thai thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố progesterone ức chế sự phát triển của bao noãn Do đó, con vật chửa sẽ không động dục và không thải trứng
Thời gian chửa của lợn cái được chia ra làm hai thời kỳ:
+ Chửa kỳ 1: là thời gian lợn chửa 84 ngày đầu tiên
+ Chửa kỳ 2: là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
Theo Trương Lăng (2003) [5], trong thời kỳ lợn chửa có thể xuất hiện hai tai biến:
+ Toàn bộ các thai chết gây sảy thai
+ Một phần thai chết, các thai khác tiếp tục phát triển xen kẽ không bị đẩy ra ngoài
- Giai đoạn tiết sữa và nuôi con
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng, thức
ăn, giống lợn, số lượng lợn con Lượng sữa tiết ra nhiều nhất vào tuần thứ
Trang 2113
2-3 Sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích của bầu vú gây ra, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa Khi lợn con thúc vú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ não lại truyền xuống vùng hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào tuyến yên, tuyến yên tiết ra kích tố oxytocin
Sau đẻ để lợn con có đủ kháng thể trong ngày đầu sau khi sinh vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa globulin giúp cho cơ thể lợn con có sức đề kháng Quá trình sinh trưởng của lợn con từ khi mới đẻ đến khi cai sữa gặp phải thời kỳ khủng hoảng lúc sau 3 tuần tuổi Khối lượng hầu như tăng theo tuần tuổi, nhưng tỷ lệ tăng có sự biến đổi khá rõ rệt Vào 4 tuần tuổi tăng khối lượng giảm xuống vì giai đoạn đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con tăng nhưng do lượng sữa mẹ giảm cả về số lượng và chất lượng Vì vậy, muốn đảm bảo cho lợn sinh trưởng tốt cần bổ sung thức ăn sớm
2.2.1.3 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tố chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái Nguyễn Hữu Phước (1982) [9], cho biết bệnh xảy ra trên cả đàn lợn nội
và ngoại Tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y
* Nguyên nhân gây bệnh:
Bệnh thường xảy ra vào thời gian 1-10 ngày sau khi đẻ
Theo tác giả Đào Trọng Đạt và cs (2000) [4], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử
Trang 2214
cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tốn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao, gây viêm
Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ co tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm
Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động dục (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung Theo Madec.F và cs (1995) [8], bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong
âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một
cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung
* Triệu chứng:
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [12], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: Sáng sốt nhẹ 39-39,50C, chiều 40-410C Con vật kém ăn, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu
đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn, trong trường hợp thai chết
Trang 2315
lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn
* Các thể của viêm tử cung
+ Thể nhẹ (1+) gọi là viêm tử cung nhờn: Thân nhiệt bình thường, có khi hơi cao 39-39,50
C Lợn kém ăn, có dịch tiết ra từ âm hộ 12-72 giờ sau đẻ, dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ
+ Thể vừa (2+) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt cao 39,5-400C Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lỳ Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xen lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối
Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối
+ Thể nặng (3+) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt tăng cao
39,5-400C Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ xanh vàng sệt,
có khi lẫn máu, mùi tanh thối
Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,
có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm Trạng thái này xuất hiện chậm 7-8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh làm ảnh hưởng đến sản lượng sữa
có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm và cs 1999) [10]
Trang 2416
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
- Chẩn đoán:
- Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục
bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân Có thể dựa vào các chỉ tiêu
Viêm tử cung thể nặng
2 Dịch
viêm
Màu Trắng xám, trắng sữa Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt
5 Bỏ ăn Bỏ ăn một phần hoặc
hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn
Trang 2517
- Đối với lợn nái sau khi đẻ có thể dựa trên cách tính điểm sau:
+ Số ngày chảy mủ, tính từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày
+ Tổng số điểm dưới 1 điểm: không có vấn đề
+ Tổng số điểm từ 2 đến 5 điểm: khắc bệnh nhẹ đến trung bình
+ Tổng số điểm trên 6: bệnh nghiêm trọng
Tóm lại: chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận, phải theo dõi thường xuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi viêm tử cung nhưng không sinh mủ
ở đường sinh dục để thụ tinh trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo
Phòng các bệnh truyền nhiễm cho lợn nái thông qua công tác tiêm phòng vaccine theo định kỳ và thực hiện tốt công tác vệ sinh thú y
Bước 2:
Bổ sung đầy đủ dinh dưỡng trong khẩu phần ăn cho nái mang thai Chăm sóc, nuôi dưỡng thai, điều chỉnh khẩu phần ăn đối với lợn quá béo hoặc quá gầy Tránh để lợn đẻ có thể trạng quá béo hoặc quá gầy Có thể phòng
Trang 2618
bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái bằng quy trình phòng bệnh tổng hợp có bổ sung chế phẩm Biomin - pHD vào thức ăn
Bước 3: Vệ sinh
- Chuồng đẻ phải được vệ sinh sạch sẽ mới chuyển lợn lên
- Trước khi chuyển lợn ở chuồng bầu lên phải được vệ sinh sạch sẽ, nhất
- Khi lợn đẻ được 4-6 con, tiêm một mũi oxytocine liều 2ml/con
- Sau khi đẻ xong tiêm 1 mũi amoxycillin LA với liều 1ml/10kg TT Bước 5: Thụt rửa
Sau khi đẻ 24h thụt vào tử cung 1000ml dung dịch boric acid 1/1000 ngày 1 lần, 3 -5ngày liền
* Điều trị:
Bệnh do vi khuẩn gây ra nên cần phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh, sự mẫn cảm của chúng với kháng sinh và hóa dược trong điều trị nhằm tiêu diệt kịp thời và triệt để vi khuẩn gây bệnh, tránh sự lây lan của chúng
Việc điều trị bệnh cần đạt được hai mục đích: Phục hồi nguyên vẹn niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp của tử cung
Trang 2719
Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ thần kinh - thể dịch Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục bộ
và điều trị toàn thân (Lê Văn Năm và cs, 1999) [8]
+ Điều trị cục bộ: Bơm rửa tử cung hàng ngày 1-2 lần, thụt rửa tử cung bằng dung dịch dung dịch boric acid 1/1000, nếu sau 5 ngày không khỏi thì thụt rửa bằng bột amoxicilin 1/40
+ Điều trị toàn thân: Có thể dùng một số loại kháng sinh tổng hợp như: ampisep, genorfcoli, gentamycin, lincomycin, hanoxylin 10%, ampicillin… kết hợp với thuốc trợ lực: vitamin C, B-complex
Tiêm analgin (giảm sốt 2-3 ống/ngày)
Tiêm kháng sinh:
- Cách 1: Tiêm tetramycine, tiêm bắp liều 10-15 mg/kg, tiêm liên tục từ 3-4 ngày, kết hợp septotryl tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch 1ml/10-15 kgTT/ngày liên tục từ 3-4 ngày
- Cách 2: Dùng tylan + polysul tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch 10kgTT liên tục 3-4 ngày
1ml/5-Tiêm thuốc giảm viêm: dectancyl, hydrocortizone,…Nếu tiêm hydrocortizone thì tiêm bắp 1 ml/kgTT/ngày liên tục trong 3 ngày
Tiêm thuốc trợ sức: Vitamin C; B1; B12
Tiêm thuốc tạo sữa: thyroxineo ngày 1-2 ống liên tục trong 2-3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể hạ xuống bình thường
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [7], tiêm oxytetracylin 30mg/kgTT dùng liên tục trong 3-4 ngày: tiêm penicillin 50.000 UI/kg.P
Đồng thời thụt rửa âm đạo tử cung bằng rivanol 5%, tiêm thuốc trợ sức, trợ lực (vitamin B1; vitamin C; cyein)
Trang 2820
2.2.1.4 Giới thiệu về các thuốc kháng sinh dùng trong phác đồ điều trị
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại kháng sinh có hiệu quả điều trị cao như: vetrimoxin LA, pendistrep, streptomycine, peniciline, genta - tylosin, Bio - D.O.G…
Tại trại sử dụng vetrimoxin LA
- Công dụng điều trị các bệnh về nhiễm trùng đường tiêu hóa, nhiễm
trùng đường hô hấp (như các bệnh do pasteurella gây ra), nhiễm trùng da và
mô mềm, nhiễm trùng đường sinh dục -tiết niệu (viêm bàng quang, viêm vú, viêm tử cung), nhiễm trùng sau giải phẫu
- Liều lượng và cách dùng:
Tiêm bắp hoặc tiêm dưới da:
1ml của vetrimoxin LA cho mỗi 10 kgTT và lặp lại trong vòng 3 ngày khi cần thiết Tỉ lệ này tương đương với 15 mg amoxicillin cho mỗi kg thể trọng Nếu liều lượng vượt quá 20ml, nên chia ra thành hai lần tiêm
Trang 2921
Lưu ý: Ngưng sử dụng thuốc
Sữa: 2 ngày
Thịt: 10 ngày
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới ngành chăn nuôi đang rất phát triển, đặc biệt là chăn nuôi lợn, các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và
áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Để cải tạo chất lượng đàn giống thì vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết, đặc biệt là bệnh viêm tử cung Do đó, đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh viêm tử cung và đã đưa ra các kết luận giúp cho người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao
Theo Sobko A I và GaDenKo N I(1978) [10], nguyên nhân của bệnh viêm tử cung là do tử cung bị tốn thương, do hiện tượng sát nhau Bệnh phát triển là do nuôi dưỡng không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhày ở bộ máy sinh dục
Viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt vài giờ khi đẻ, chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường kéo dài 48 đến 72 giờ
Trong bệnh viêm tử cung thì viêm nội mạc tử cung chiếm tỷ lệ cao Kaminski kiểm tra 1.000 lợn nái ở Liên Bang Đức cho kết quả là 16 % bị viêm nội mạc tử cung
Qua kiểm tra vi thể xứ Brơ-ta-nhơ của miền Tây Bắc nước Pháp, thấy 26 % số lợn nái có bệnh viêm tử cung Ngoài ra 2 % số lợn nái có bệnh tích thoái hóa mô nội mạc tử cung với đặc điểm thành tử cung có cấu tạo sợi fibrine
Trang 30 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ngành chăn nuôi được phát triển, mở rộng thì công tác thú y rất được chú trọng vì khi chăn nuôi phát triển sẽ kèm theo nhiều dịch bệnh xảy ra, có thể bùng phát nếu như không được xử lý kịp thời gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Vì vậy, công tác thú y ngày càng được chú trọng, phát triển nhằm khống chế, ngăn chặn, tiêu diệt mầm bệnh, dịch bệnh, nâng cao năng suất, tăng thu nhập cho người chăn nuôi
Có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ra các phương pháp phòng và trị bệnh cho vật nuôi điển hình như:
Nguyễn Văn Thanh (2002) [11] cho biết, lợn nái sau khi sinh có chứng viêm tử cung chiếm tỷ lệ 42,4% Viêm tử cung trên nhóm lợn nái thuần chiếm khoảng 25,48%, trên nhóm lợn nái lai chiếm 50,84% (trong tổng số
1000 lợn nái khảo sát)
Viêm tử cung thường xảy ra cao nhất ở lứa 1 và 2 Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao hơn nhiều so với nhóm lợn không bị viêm
Bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên trong ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung Để điều trị bệnh viêm tử cung nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho ra các phác đồ điều trị khác nhau:
Trang 3123
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [3], khi gia súc bị bệnh viêm tử cung
ở thể viêm cơ, viêm tương mạng thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm bệnh nặng thêm
Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân hay cục bộ
Trang 3224
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.1 Đối tượng
Lợn nái sinh sản
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Trại lợn của Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh
Hải Dương
- Thời gian: 18/11/2016 - 18/5/2017
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình mắc bệnh viêm tử cung
- Triệu chứng và bệnh tích của lợn mắc bệnh viêm tử cung
- Đánh giá hiệu lực điều trị của phác đồ và ảnh hưởng của điều trị đến khả năng sinh sản
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Phương pháp theo dõi thu thập thông tin
3.4.1.1 Điều tra gián tiếp
- Qua số liệu trong sổ sách của trang trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
3.4.1.2 Điều tra trực tiếp
- Trực tiếp theo dõi, điều trị lợn mắc bệnh và ghi chép hàng ngày
3.4.2 Phương pháp điều trị
Sử dụng phác đồ
- Vetrimoxin LA: 1ml/10kgTT/lần/ngày, tiêm bắp
- Oxytocin: 2ml/con, tiêm bắp, tiêm sau mỗi lần thụt rửa
- Thụt rửa tử cung bằng dung dịch Boric acid tỷ lệ 1/1000
Trang 3325
-Liệu trình: 3-5 ngày
3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp xử lý số liệu
* Các chỉ tiêu
Cường độ nhiễm bệnh viêm tử cung:
- Cường độ nhẹ (1+) (viêm tử cung thể cata)
- Cường độ trung bình (2+) (viêm tử cung thể tích mủ)
- Cường độ nặng (3+) (viêm tử cung thể cata lẫn mủ)
Viêm tử cung thể cata (1+): Khi niêm mạc tử cung tổn thương bị nhiễm khuẩn, bị xây xát gây viêm thể viêm này thân nhiệt tăng nhẹ 38-39oC, lợn kém ăn, bộ phận sinh dục bên ngoài phù thũng, xung huyết, có dịch âm đạo chảy ra màu trắng đục dịch sợi dính, mùi hôi tanh
Thể viêm này xảy ra khi lợn đẻ khoảng 12 đến 72 giờ làm cho lượng sữa
mẹ giảm nhẹ, niêm mạc âm đạo bình thường
Viêm tử cung thể tích mủ (2+): Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử do những vết thương ăn sâu vào tầng cơ tử cung làm cho tổ chức ở đây bị hoại tử Thể viêm này triệu chứng toàn thân biểu hiện khá rõ rệt, thân nhiệt tăng cao 40 - 410C, lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, lượng sữa giảm, có khi mất sữa hoàn toàn, kế phát viêm vú, con vật đau đớn tỏ vẻ khó chịu như luôn cong lưng rặn, đuôi cong lên, bộ phận sinh dục ngoài phù thũng, xung huyết, lợn hay nằm, dịch từ âm đạo chảy ra nhiều gồm hỗn dịch máu, mủ màu vàng hay xanh lơ hơi sền sệt, mùi tanh thối
Thể viêm này thường xuất hiện sau khi lợn đẻ từ 4 - 6 ngày
Viêm tử cung thể cata lẫn mủ (3+): thuộc dạng viêm tử cung sinh mủ, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung, niêm mạc tử cung thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập vào phát triển sâu trong các tổ chức làm cho tổ chức niêm mạc bị phân hủy, thối rữa sinh mủ gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm lớp cơ bản và lớp niêm mạc tử cung bị hoại tử Trong trường