1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi bờ đô xã cao minh thị xã phúc yên t

65 299 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, nhu cầu người tiêu dùng ngày càng cao, đòi hỏi ngành chăn nuôi lợn không ngừng nâng cao về số lượng và chất lượng của sản phẩm, đem lại nguồn thực phẩm có giá trị d

Trang 1

-

BÙI THỊ MAI PHƯƠNG

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI CHĂN NUÔI BỜ ĐÔ, XÃ CAO MINH, THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính qui Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi thú y

Khóa học: 2013 – 2017

Thái nguyên - 2017

Trang 2

-

BÙI THỊ MAI PHƯƠNG

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI CHĂN NUÔI BỜ ĐÔ, XÃ CAO MINH, THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính qui Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y

Lớp: K45 – CNTY – N04 Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 – 2017

Giảng viên hướng dẫn: Th.S Hà Thị Hảo

Thái nguyên - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình ho ̣c tâ ̣p và thực tâ ̣p tố t nghiê ̣p được sự giúp đỡ , giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi thú y , đã ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi nhất giúp đỡ em hoàn thành chuyên đ ề tốt nghiê ̣p ta ̣i cơ sở thực tâ ̣p

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới:

Ban giám hiê ̣u nhà trường, Ban chủ nhiê ̣m khoa, cùng toàn thể các thầy

cô giáo trong khoa Chăn nuôi th ú y đã tận tình giảng dạy , chỉ bảo cho em trong suốt thời gian ho ̣c tâ ̣p ta ̣i trường

Em xin chân thành cảm ơn tới chủ tra ̣ i là anh Thanh Tiến cùng các anh chị kỹ thuật , công nhân ta ̣i tra ̣i chăn nuôi Bờ Đô đã ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi , dành nhiều thời gian chỉ bảo những kinh nghiệ m quý báu cho em hoàn thành đợt thực tâ ̣p này

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm , giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn : ThS Hà Thị Hảo đã bớt nhiều thời gian , công sức hướng dẫn chỉ bảo tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận này

Mô ̣t lần nữa em xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo, tất cả các ba ̣n b è, người thân đã luôn bên em , giúp đỡ động viên và khuyến khích em trong quá trình hoàn thành khóa luận lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe, cùng mọi điều tốt

đe ̣p nhất

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Bùi Thị Mai Phương

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Bờ Đô qua 3 năm 2014 - 2016 39

Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 40

Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 41

Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 43

Bảng 4.5 Kêt quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 44

Bảng 4.6 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh lợn nái sinh sản và lợn con tại trại 44

Bảng 4.7 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và lợn con tại trại 45

Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản và lợn con tại trại 46

Bảng 4.9 Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn con 47

Trang 6

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 4

2.1.1 Điều kiện của trang trại 4

2.1.2 Thuận lợi, khó khăn 6

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện 7

2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 7

2.2.2.Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 11

2.2.3.Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi 16

2.2.4.Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái đẻ nuôi con và lợn con 20

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 25

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 25

2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 27

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 29

3.1 Đối tượng 29

3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 29

3.3 Nội dung thực hiện 29

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 29

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi thực hiện 29

3.4.2 Phương pháp thực hiện 29

Trang 7

3.4.3 Công thức tính và xử lý số liệu 37

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Bờ Đô Xã Cao Minh- Thị xã Phúc Yên- Tỉnh Vĩnh Phúc qua 3 năm từ 2015 – 2017 39

4.2 K ết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn tại trại 40

4.2.1 Kết quả thực hiện quy trình đỡ đẻ cho lợn nái tại trại 41

4.2.2 Kết quả về nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con tại trại 43

4.2.3 Kết quả phòng bệnh cho lợn nái tại trại 44

Bảng 4.5 Kêt quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 44

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong xu thế hô ̣i nhâ ̣p hiê ̣n nay , phát triển công nghiệp là chiến lược lâu dài, nhưng nông nghiê ̣p vẫn là ngành kinh tế tro ̣ng tâm mà Đảng và Nhà nước ta đă ̣t lên hàng đầu Trong đó ngành chăn nuôi chiếm vi ̣ trí vô cùng quan trọng trong đời sống của nhân dân Chăn nuôi không chỉ góp mô ̣t khối lượng lớn thực phẩm cho đời sống sinh hoa ̣t hàng ngày của con người mà còn cung cấp nguyên liê ̣u cho ngành công nghiê ̣p như : công nghiê ̣p giầy da, cung cấp các phế phụ phẩm cho ngành công nghiệp chế biến thức ăn cho gia súc Bên cạnh đó ngành chăn nuôi cò n giải quyết công ăn viê ̣c làm cho người dân , góp phần ha ̣n chế thực tra ̣ng thiếu viê ̣c làm như hiê ̣n nay , đồng thời góp phần đẩy mạnh kinh tế của người dân

Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp nước ta Nó là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng và chất lượng tốt cho con người Thịt lợn có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon, khi chế biến không làm giảm phẩm chất thịt và phù hợp với khẩu vị đa số người tiêu dùng Ngoài ra, ngành chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón không nhỏ cho ngành trồng trọt hay tận dụng xây hầm bioga để làm khí đốt, và cung cấp các sản phẩm phụ khác cho ngành công nghiệp chế biến như da, lông, mỡ, xương

Hiện nay, nhu cầu người tiêu dùng ngày càng cao, đòi hỏi ngành chăn nuôi lợn không ngừng nâng cao về số lượng và chất lượng của sản phẩm, đem lại nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Muốn đạt được hiệu quả như vậy thì chúng ta cần đẩy mạnh các biện pháp kỹ thuật như giống, thức ăn, biện pháp kỹ thuật chăm sóc Đặc biệt chú trọng tới công tác giống, giống tốt thì vật nuôi mới tăng trọng nhanh, khả

Trang 9

năng tận dụng thức ăn tốt, thích nghi và chống chịu bệnh cao Bởi vậy cần phát triển chăn nuôi các giống lợn ngoại có năng suất và chất lượng thịt cao Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm Tuy nhiên một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái đang nuôi ở các trang trại là bệnh còn xảy ra rất nhiều do khả năng thích nghi của những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém Mặt khác trong quá trình đẻ lợn nái hay bị các loa ̣i vi khuẩn như : Streptococcus, E.coli xâm nhâ ̣p và gây mô ̣t số

bê ̣nh đặc biệt là bệnh ở cơ quan sinh dục: viêm âm đa ̣o, viêm tử cung, viêm

vú, mất sữa…Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây nên làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đà n lợn giống nói riêng, đến năng suất , chất lượng và hiê ̣u quả của ngành chăn nuôi lợn nói chung Chính vì vậy mà việc chăm sóc nuôi dưỡng và tìm hiểu về bệnh của cơ quan sinh dục của đàn lợn nái là việc rất cần thiết

Để nắm bắt được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho lợn nái trong thực tiễn sản xuất , em tiến hành thực hiện chuyên đề: “ Thực

hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại tra ̣i chăn nuôi Bờ Đô xã Cao Minh thi ̣ xã Phúc Y ên tỉnh Vĩnh Phúc” 1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích

- Nắm được tình hình chăn nuôi lợn tại trại chăn nuôi Bờ Đô xã Cao Minh thi ̣ xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc

- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản

- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

Trang 10

- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại tra ̣i chăn nuôi Bờ Đô

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện của trang trại

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại chăn nuôi Bờ Đô nằm trên đi ̣a phâ ̣n thôn Hiển Lễ , xã Cao Minh , thị xã Phúc Yên , tỉnh Vĩnh Phúc Trại hoạt động từ năm 2013 là trại tư nhân và hiện tại do anh Bùi Thanh Tiến làm chủ trại

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu

Phúc Yên là một thị xã thuộc tỉnh Vĩnh Phúc , nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Do đó trại lợn Bờ Đô cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng

Thị xã Phúc Yên có địa hình đa dạng , tổng diê ̣n tích là 12.029,55ha, chia thành hai vùng chính là vùng đồi núi bán sơn địa và vùng đồng bằng , có hồ Đa ̣i Lải và nhiều đầm hồ khác có thể phát triển các loa ̣i hình du li ̣ch

Nằm trong vùng khí hâ ̣u n hiệt đới gió mùa, nhiê ̣t độ bình quân năm là

230C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là 390C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là

120C Có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mù a hè , hanh khô và la ̣nh kéo dài về mùa đông

- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm là 2.267,8 mm/ năm Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, chế độ mưa chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tổng lượng mưa cả năm gần như tập trung vào mùa mưa, chiếm 70% - 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô thì lượng mưa rất nhỏ chỉ chiếm khoảng 20% - 30% tổng lượng mưa cả năm

- Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trong khu vực khá cao , trung bình năm là 83% ( tháng 10) và độ ẩm cực tiểu tuyê ̣t đối là 16%

Trang 12

- Chế độ gió mù a : hướng gió chủ đa ̣o về mùa đông là Đông – Bắc, về mùa hè là Đông – Nam, vâ ̣n tốc gió trung bình năm là 2,4 m/s Vâ ̣n tốc gió cực đa ̣i có thể xảy ra theo chu kỳ thời gian 5 năm là 25 m/s; 10 năm là 32 m/s;

(Nguồn: Trung tâm khí tượng thuỷ văn thành phố Vĩnh Phúc) 2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu tổ chức của trang trại bao gồm :

- 01 Chủ trại : Là người làm chủ và điều hành công việc chung

- 01 Quản lý trại : Trực tiếp quản lý các công việc của trại

- 01: Kỹ thuật trại : Phụ trách các kỹ thuật trên đàn lợn của trại

- 02: Công nhân: Trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn

- 01: Bảo vệ : Chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các chuồng khác nhau như: chuồng bầu, chuồng đẻ, chuồng hậu bị, chuồng cai sữa và chuồng thịt Mỗi chuồng đều thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại

2.1.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại

Trang trại có tổng diện tích 4000m , trong đó khu chăn nuôi cùng khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả, ao hồ chiếm diện tích 3,5 ha

Trong khu chăn nuôi lợn được bố trí xây dựng chuồng trại cho hơn 200 nái sinh sản với các giống sản xuất chính như : Landrace, Yorshire, được nhập từ nước ngoài về

Trại lợn được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hành gồm nơi làm việc, tiếp khách của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân Khu sản xuất gồm: 1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 1 chuồng hậu bị và 1 chuồng cai sữa và 4 ô chuồng thịt nhỏ Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho thuốc, phòng tinh, phòng sát trùng, kho chứa vật liệu

Trang 13

- Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín và hoàn toàn tự động Trang thiết bị trong chuồng hiện đại được đầu tư nhâ ̣p từ nướ c ngoài về Đầu mỗi chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió Riêng chuồng đẻ và chuồng bầu thì trong chuồng có hệ thống cảm biến nhiệt

độ giúp ta biết rõ nhiê ̣t đô ̣ trong chuồng nuôi

- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại phục vụ cho việc pha chế tinh như: ống đựng tinh, nhiệt kế kính hiển vi, tủ sấy, tủ bảo quản tinh sau khi pha

và các dụng cụ khác

- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có hố sát trùng Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi công nhân trong trại cho đến khách vào thăm quan trại trước khi vào chuồng đều phải thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dụng và phải

đi qua hệ thống sát trùng

- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm

- Xung quanh trang trại còn trồng rau xanh, cây ăn quả, đào những hồ sinh học tạo môi trường thông thoáng

2.1.2 Thuận lợi, khó khăn

- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

Trang 14

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện

2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004)[16], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt

Trước khi sinh 3 ngày phải giảm thức ăn xuống từ 3-1kg/ngày Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức

ăn, đẻ trước 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa

Heo nái sắp đẻ có những biểu hiện: ỉa đái vặt, bầu vú căng mọng, bóp đầu vú sữa chảy ra, khi thấy có nước ối và phân xu, heo nái rặn từng cơn là heo con sắp ra Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 -3 ngày không cho lợn

Trang 15

nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 -5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn

- Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Cần phải vệ sinh chuồng trại, tắm chải heo mẹ sạch sẽ, diệt ký sinh trùng ngoài da Cần giữ vệ sinh sạch sẽ vùng giữa âm hộ với hậu môn, vùng này thường chứa nhiều lớp nhăn,

da chết bẩn hoặc dính phân, chúng dễ vấy nhiễm vào âm đạo khi can thiệp móc thai

Cần giữ không khí yên tĩnh, thoáng mát vì khi nhiệt độ cao dẫn đến không khí trở nên nóng, không thông thoáng sẽ làm nái thở mệt, lười rặn, đẻ chậm gây ngộp thở nhiều heo con Bên cạnh đó sự ồn ào, lạ người chăm sóc

sẽ làm nái hoảng sợ hoặc hung dữ, ngưng đẻ hoặc đẻ chậm dẫn đến số heo con tử vong lúc đẻ tăng cao Trước khi lợn đẻ 10 -15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3- 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm trong những ngày mùa đông giá rét Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ những đất hoặc phân bám dính trên người, tắm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy

cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh

Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó cũng là một quá trình quan trọng trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ Ô úm có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn

mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để

Trang 16

khống chế nhiệt độ thích hợp, giúp giữ ấm nhiệt độ cho heo con đặc biệt vào mùa đông

Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú ,thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sót nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời

2.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng

Lợn nái đẻ xong nên cho ăn tăng dần, từ ngày thứ 3 hoặc thứ 4 trở đi cho ăn tự do (4-6kg/ngày/nái) Đảm bảo đủ nước uống cho nái vì heo tiết sữa

sẽ uống rất nhiều nước, từ 30-50 lít nước mát, sạch/ngày/nái

Thức ăn cho heo nái nuôi con phải đủ và cân bằng dưỡng chất, phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Máng ăn phải sạch sẽ, không để thức ăn mốc, thừa, không nên thay đổi thức ăn của heo nái Vì trong thời gian nuôi con, lớp mỡ bọc thân của nái bị mất đi do phải rút lượng Canxi, Phospho, chất béo dự trữ trong cơ thể để hỗ trợ cho sự tiết sữa,

do đó sau khi đẻ nái nhanh gầy, xương trở nên xốp, chân dễ bại liệt Nếu cung cấp dư thừa sắt trong khẩu phần ăn của nái nuôi con cũng không đảm bảo đủ lượng sắt mà heo con nhận được, mà còn dẫn đến tình trạng heo con thiếu sắt

ở tuần tuổi thứ 2, thứ 3 trở đi Vì vậy cần bổ sung đầy đủ sắt trong khẩu phần

ăn của heo nái từ giai đoạn mang thai để đảm bảo cung cấp đủ sắt cho heo con sau khi sinh Việc bổ sung chế phẩm Iod cho nái để tăng hoạt động của tuyến giáp cũng giúp cho nái tiết sữa nhiều, nhưng cần phải thận trọng vì nếu dùng quá liều sẽ dẫn đến các triệu chứng viêm vú, sốt sữa, tuyến sữa bị teo, tắc sữa

Có thể tiêm thêm các vitamin ADE, cho nái sau khi đẻ, thức ăn nái nuôi con cần có Crom hữu cơ giúp nái hấp thu tốt tối đa lượng đường, bảo toàn thể trạng khi nuôi con Cần bổ sung các loại thức ăn là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo,

Trang 17

các loại thức ăn bổ sung đạm thực vật, khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn

Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

từ 1 - 2 - 3kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2kg + (số con x 0,40kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày : 3 (sáng, chiều và đêm)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 – 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn

- Đối với lợn nái nội

+ Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Trang 18

Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị

- Quy trình chăm sóc

Sau khi nái đẻ xong cần theo dõi nhiệt độ cơ thể (giai đoạn sau đẻ 7 ngày), thường thì thân nhiệt nái ở khoảng 390

C, nếu thân nhiệt trên 400C nái sốt cao,bỏ ăn là tình trạng báo động có viêm nhiễm trùng sau đẻ (cần phân biệt hội chứng viêm vú- viêm tử cung- mất sữa (MMA) với sốt sữa- milk fever) Vì vậy giai đoạn này cần phải có biện pháp vệ sinh sát trùng khu vực nái đẻ, theo dõi để phát hiện kịp thời và điều trị bệnh 1 cách thích hợp Cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng

và vitamin

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ, phun sát trùng, rắc vôi theo định

kỳ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và lắp máng tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 – 200C, độ ẩm 70 – 75% và ánh sáng phải chiếu 24/24 giờ

2.2.2.Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

2.2.2.1 Đặc điểm về sinh trưởng và phát dục

Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kì gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khoẻ mạnh

Theo Nguyễn Khánh Quắc và cs (1995) [17] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5-6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7-8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12-14 lần

Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này

Trang 19

là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng mạnh

Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9-14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được 0,3-0,4 gam protein/1kg khối lượng cơ thể theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[16]

Hơn nữa để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần rất ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc thì cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1kg mỡ

2.2.2.2 Đặc điểm về cơ quan tiêu hoá

Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hoá của lợn : Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn

Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hoá phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hoá còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần

Dung tích bộ máy tiêu hoá tăng nhanh trong 60 ngày đầu : Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc

60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít) Còn dung tích ruột già lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít) theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[16] Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hoá giúp

Trang 20

lợn con tích luỹ được nhiều giúp lợn con tích luỹ được nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hoá các chất

Mặc dù vậy, ở lợn con các cơ quan chưa thành thục về chức năng , đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hoá của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hoá

Khả năng tiêu hoá của lợn con rất hạn chế Theo Hoàng Toàn Thắng và

cs, (2005)[24] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự

do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng đó gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn

Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hoá protein

Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hoá thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hao của dịch vi tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hoá nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con

Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh

ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hoá

Trang 21

2.2.2.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, đổ ẩm)

Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn

mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phúc tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa

Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng

Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn con còn thấp, trên cơ thể lợn lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng toả nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá

Trang 22

2.2.2.4 Đặc điểm về khả năng hình thành kháng thể miễn dịch

Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất

là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai đoạn

này mầm bệnh (Salmonella spp, E.coli) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua

đường tiêu hoá và gây bệnh

Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể.Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[16] trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18-19%, trong đó lượng - globulin chiếm số lượng khá lớn(30-35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng –globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thụ nguyên vẹn nguyên tử -globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tuỵ và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng - globulin trong máu lợn đạt tới 20,3mg/100ml máu Sau 24h, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu -globulin kém hơn, hàm lượng - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng

Trang 23

65/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20-25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20-25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể,những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dê mắc bệnh, tỷ lệ chết cao

2.2.3.Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi

2.2.3.1 Phòng bệnh

Như ta đã biết “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh được tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau :

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt :

Bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kếp hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng bệnh tật xảy ra trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của lợn

Theo Lê Văn Năm và cs (2009)[12], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là

vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ.Khi môi trường quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém,nước uống thức ăn bị nhiễm vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bị cảm nhiễm

E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn

trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kĩ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải

Trang 24

được vệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27-30ºC với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để

đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi,thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc những chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ ( pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch ) toàn bộ chuồng nuôi

từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học ; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý , không thải trực tiếp ra môi trường Cần phải phun sát trùng 1-2 lần/ tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần phải rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng quanh chuồng nuôi

Trang 25

khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN ) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hoá học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật

có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7-21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

2.2.3.2 Điều trị bệnh

Nguyên tắc để điều trị bệnh là:

+ Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, đúng thuốc

+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa nhưng gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài , tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là :

+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

Trang 26

+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây :

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dung phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

Trang 27

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dung thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.4.Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái đẻ nuôi con và lợn con

2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh và

cs, 2004)[19]

Chính vì vậy bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2004)[19] viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn thương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết Prostagladin F2  và làm xáo trộn chu kỳ động dục làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007)[20] có nhiều nguyên nhân gây viêm tử cung như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, chăm sóc và quản lý,

vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chính luôn có trong các trường hợp là do vi sinh vật, nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức đề kháng

Trang 28

của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển để gây nên các triệu chứng

* Triệu chứng

Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu : Thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ…

Khi con vật nằm , dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn.Xung quanh

âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm,có khi nó khô lại thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch niêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường

* Hậu quả

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002)[6]; Trần Thị Dân (2004)[4], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

- Theo Trần Thị Dân (2004)[4] lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ

* Biện pháp phòng trị

- Phòng bệnh

Trang 29

Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016)[13], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú

Theo Lê Văn Năm (2009)[12], trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng

kĩ bằng cồn, xoa trơn tay bằng vaselin hoặc dầu lạc

Cho lợn nái chửa thường xuyên vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ sinh sạch sẽ

Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và không để nhiễm khuẩn

Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trực tiếp hoặc lấy tinh

- Điều trị

+ Điều trị cục bộ

Bơm rửa tử cung ngày 1 – 2 lần nước muối sinh lý 0,9% vào tử cung để chống viêm

+ Điều trị toàn thân

Tiêm thuốc hạ sốt analgin 2 – 3 ống/ngày

Tiêm kháng sinh

Phác đồ 1: tiêm kháng sinh Amoxicylin tiêm bắp hoặc tĩnh mạch 15 kg thể trọng/ngày Điều trị liên tục trong 3 – 4 ngày

Phác đồ 2: tiêm Ceptifur ap tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch 1 ml/5 – 10

kg thể trọng/ngày kết hợp oxytoxin giúp đẩy dịch viêm ra ngoài.Điều trị liên tục trong 3 – 4 ngày

Tiêm thuốc trợ sức : vitamin và các loại thuốc bổ

2.2.4.2 Bệnh sót nhau

* Nguyên nhân

Trang 30

Theo Trịnh Đình Thâu và cs (2010)[26], sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức

Do đẻ nhiều lứa hoặc một lứa quá nhiều con nên tử cung co bóp không đẩy thai và nhau ra được Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ, dịch viêm tiết ra gây viêm dính nhau với tử cung, khi đẻ ra nhau bị sót lại trong tử cung

Do nhau chưa ra hết, người đỡ đẻ đã kéo đứt còn lại một ít sót lại trong tử cung Do heo con còn sót lại ở trong trạng thái nằm sai vị trí làm nghẽn lối ra của nhau

* Triệu chứng

Sau khi đẻ 4 – 5 giờ không thấy nhau ra hoặc không hết là bị sót nhau Lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 – 410 C trong vòng 1– 2 ngày, lợn mẹ cắn con, không cho con bú, nước dịch chảy ra ở âm hộ màu đục có lẫn máu đen và những mành nhau đen mùi tanh hôi

* Điều trị

Nếu đẻ xong nhau không ra ta phải điều trị ngay vì để lâu sẽ thối gây nhiễm trùng, nhiễm độc huyết hoặc gây viêm tử cung kế phát làm heo nái sốt cao, bỏ ăn, mất sữa

Điều trị cục bộ : Bơm rửa tử cung bằng dung dịch thuốc tím 0.1% ngày rửa 1-2 lần liên tục 3-4 ngày

Điều trị toàn thân : Tiêm thuốc hạ sốt Analgin

Tiêm kháng sinh Amoxicylin

Oxytoxin Thuốc trợ sức vitamin B12 và các thuốc bổ

Trang 31

2.2.4.3 Bệnh bại liệt sau sinh

* Nguyên nhân gây bệnh

Do thai quá to, tư thế và chiều hướng của thai không bình thường Quá trình thủ thuật kéo thai quá mạnh hay không đúng thao tác Từ đó gây tổn thương thần kinh tọa hoặc ảnh hưởng đến đấm rối hông khum làm cho heo mẹ bại liệt

* Triệu chứng :

Lúc đầu heo mẹ đi lại khó khăn, về sau không đứng được lên được mà nằm bẹp một chỗ Bệnh thường kế phát với một số bệnh ở hệ tiêu hóa, hô hấp như : Chướng bụng đầy hơi, viêm phế quản cấp Nếu bệnh kéo dài, con vật

dễ bị loét từng mảng da phía tiếp xúc với nền chuồng Sau 3-4 tuần con vật gầy dần và chết

* Điều trị:

Thao tác can thiệp kịp thời, đúng kỹ thuật

Hằng ngày trở mình cho heo mẹ để tránh bầm huyết, hoại tử da và kế phát với chướng bụng, đầy hơi

Tăng cường thức ăn có bổ sung nguyên tố vi lượng chất là canxi và photpho Dùng các loại dầu nóng xoa bóp mạnh hai chân cho heo mẹ

Tiêm gluconat canxi hay B12-Buta Ca-Mg, kết hợp với vitamin B1 Đồng thời kết hợp với phương pháp châm cứu

2.2.4.4 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ

* Nguyên nhân : Vệ sinh rốn khi cắt rốn không tốt cũng có thể làm cho

heo con bị viêm rốn, tạo điều kiện cho các vi khuẩn cơ hội như E.Coli, Salmolella, Clostridium, Staphylococcus, xâm nhập, dẫn đến tiêu chảy cho

heo con.Vệ sinh chuồng trại, đặc biệt là nước uống và thức ăn không tốt Có thể thức ăn bị nấm, mốc, đặc biệt là những ngày nồm ầm ướt; làm cho heo con bị tiêu chảy do ngộ độc độc tốc nấm mốc…

Trang 32

- Triệu chứng: Phân lỏng màu vàng hay màu trắng đục dính ở hậu môn, hậu môn ướt đỏ, lợn sút cân nhanh chóng, mắt lờ đờ, dáng đi siêu vẹo, chán ăn

- Điều trị

Tiêm : Alistin 1ml/15kg TT kết hợp với five- Atropin 1ml/ 20kg TT Điều trị liên tục trong 2 – 3 ngày

2.2.4.5.Bệnh viêm phổi

- Nguyên nhân: Là một bệnh truyền nhiễm mà thường được g ọi là

bệnh suyễn hoặc viêm phổi địa phương Mycoplasma là tác nhân chính kết hợp với hệ vi khuẩn gây bệnh cộng phát như: Pasteurella multocida, Bordetell, Chlamidi, Streptococcus, Staphylococcus và một số siêu vi khuẩn khác Mycoplasma thường cư trú tại amidal hoặc xâm nhập từ ngoài vào cơ

thể dưới tác động trực tiếp của các yếu tố stress có hại và sức đề kháng của cơ thể yếu, chúng tăng cường độc lực chui vào phế quản và phế nang, ký sinh và sinh sản ở đó gây bệnh

- Triệu chứng: Ở lợn con bệnh có thể xảy ra ngay sau khi sinh Lợn gầy còm lông xù, thở thể bụng có khi ngồi thở, bụng hóp lại Lợn bị bệnh không tranh bú với các con khác được nên ngày càng gầy yếu hơn, dễ mắc kế phát bệnh viêm khớp Nếu không điều trị kịp thời tỷ lệ chết rất cao

- Điều trị: Tiêm Ceptifur ap : 1ml / 15kg TT

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh viêm tử cung Nhưng những tư liệu nghiên cứu về bệnh viêm tử cung ở lợn nái cũng còn rất ít

Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (1999)[10], bệnh viêm tử cung ở đại gia súc nói chung là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thể khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới

Ngày đăng: 26/10/2017, 08:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Bờ Đô qua 3 năm 2015 - 2016 - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi bờ đô xã cao minh thị xã phúc yên   t
Bảng 4.1. Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Bờ Đô qua 3 năm 2015 - 2016 (Trang 46)
Bảng 4.2. Số lƣợng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dƣỡng tại trại qua 6 tháng - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi bờ đô xã cao minh thị xã phúc yên   t
Bảng 4.2. Số lƣợng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dƣỡng tại trại qua 6 tháng (Trang 47)
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi bờ đô xã cao minh thị xã phúc yên   t
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại (Trang 48)
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về số lƣợng lợn con của lợn nái - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi bờ đô xã cao minh thị xã phúc yên   t
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về số lƣợng lợn con của lợn nái (Trang 50)
Bảng 4.6.  Kết quả tiêm vắc xin, kháng thể phòng bệnh lợn nái sinh sản - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi bờ đô xã cao minh thị xã phúc yên   t
Bảng 4.6. Kết quả tiêm vắc xin, kháng thể phòng bệnh lợn nái sinh sản (Trang 51)
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản và lợn con tại trại - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi bờ đô xã cao minh thị xã phúc yên   t
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản và lợn con tại trại (Trang 53)
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn con - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi bờ đô xã cao minh thị xã phúc yên   t
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn con (Trang 54)
Hình 1: Ceptifur ap  Hình 2: Het dau - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi bờ đô xã cao minh thị xã phúc yên   t
Hình 1 Ceptifur ap Hình 2: Het dau (Trang 61)
Hình 5: Oxytocin    Hình 6: Baycox 5% - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi bờ đô xã cao minh thị xã phúc yên   t
Hình 5 Oxytocin Hình 6: Baycox 5% (Trang 62)
Hình 8: Aftopor - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi bờ đô xã cao minh thị xã phúc yên   t
Hình 8 Aftopor (Trang 63)
Hình 12: Thiến lợn        Hình 13: Nhỏ cầu trùng - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi bờ đô xã cao minh thị xã phúc yên   t
Hình 12 Thiến lợn Hình 13: Nhỏ cầu trùng (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm