1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động của chính sách tăng tiền lương tối thiểu vùng lên thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp ở việt nam

117 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 25,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn này tập trung nghiên cứu tác động của chính sách tăng tiền lương tối thiểu vùng lên các chỉ tiêu thu nhập bình quân tháng của lao động làm việc trong doanh nghiệp ở Việt Nam tro

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của cá nhân tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh hay chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Tác giả

Nguyễn Hoàng Ngọc Linh

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân với những kiến thức chuyên môn đã được tích lũy, tôi còn nhận được sự giúp đỡ hết lòng từ phía các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè Tôi xin gửi lời tri ân chân thành và sâu sắc đến tất cả mọi người

Tôi cũng xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong Chương trình giảng dạy Kinh

tế Fulbright đã tâm huyết truyền đạt những kiến thức bổ ích và những kinh nghiệm thực tiễn suốt các môn học trong thời gian qua

Đặc biệt, tôi rất biết ơn sự hướng dẫn, góp ý và chỉ bảo tận tình cùng như những lời động viên, khích lệ to lớn của thầy giáo, Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh Xin gửi đến thầy cùng gia đình lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc nhất

Chân thành cảm ơn!

Nguyễn Hoàng Ngọc Linh

Trang 3

TÓM TẮT

Chính sách tiền lương tối thiểu vùng ở Việt Nam, với vai trò và tầm quan trọng của nó, trong những năm qua đã và đang dành được rất nhiều sự chú ý của các bên liên quan Việc đưa ra những bằng chứng thực nghiệm về tác động của chính sách lên các đối tượng hướng tới

sẽ cung cấp những cái nhìn khách quan hơn trong việc thực thi chính sách trong thời gian tới

Luận văn này tập trung nghiên cứu tác động của chính sách tăng tiền lương tối thiểu vùng lên các chỉ tiêu thu nhập bình quân tháng của lao động làm việc trong doanh nghiệp ở Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2014 Với phương pháp DiD kết hợp với PSM cùng bộ dữ liệu VHLSS, đề tài đã cung cấp được bằng chứng thực nghiệm về mức độ tác động của chính sách như mục tiêu đề ra

Kết quả thu được có một số điểm đáng lưu ý: (1) nhóm đối tượng là phụ nữ, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn, không có kỹ năng hoặc trình độ học vấn thấp có khả năng tiền lương thấp hơn so với các nhóm khác; (2) tỉ trọng tiền lương và thu nhập từ việc làm chính chỉ chiếm 60% đến 70% trong tổng thu nhập bình quân của những lao động chịu ảnh hưởng từ chính sách; (3) tác động của chính sách tăng tiền lương tối thiểu lên các vùng hầu hết đều cho kết quả không tương xứng kỳ vọng; (4) mặt khác, các tác động này đa số không có ý nghĩa về mặt thống kê; (5) dưới góc độ của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung, chính sách tiền lương ở Việt Nam không gắn liền với năng suất nên có khả năng tạo ra những hiệu ứng tiêu cực lên xã hội

Từ đó, đề tài đưa ra ba khuyến nghị chính sách: (1) nên thận trọng hơn trong việc điều chỉnh tăng tiền lương tối thiểu vùng ở những năm tiếp theo; (2) xây dựng chính sách tiền lương tối thiểu vùng đa mục tiêu hơn hiện tại; và (3) tăng cường hệ thống giám sát và triển khai thực thi chính sách để tác động chính sách thực sự phát huy trên những đối tượng cần hướng tới

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1

1.2 Vấn đề nghiên cứu 4

1.3 Mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu 5

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 5

1.3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

1.4 Cấu trúc đề tài 6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT 7

2.1 Các khái niệm liên quan 7

2.1.1 Tiền lương và thu nhập 7

2.1.2 Tiền lương tối thiểu và tiền lương tối thiểu vùng 8

2.1.3 Tác động của chính sách tiền lương tối thiểu và tiền lương tối thiểu vùng 9

2.2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 12

2.3 Kinh nghiệm quốc tế về chính sách tiền lương tối thiểu 15

CHƯƠNG 3: KHUNG PHÂN TÍCH VÀ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT 19

3.1 Các mô hình đánh giá tác động 19

3.1.1 Giới thiệu đánh giá tác động 19

3.1.2 Phương pháp mẫu ngẫu nhiên 20

3.1.3 Phương pháp điểm xu hướng (PSM – Propensity Score Matching Method) 20

3.1.4 Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DiD – Difference in Difference) 21

3.1.5 Đánh giá về các phương pháp 23

3.2 Mô hình đề xuất 24

3.2.1 Mô hình khác biệt trong khác biệt (DiD) kết hợp điểm xu hướng (PSM) 24

3.2.2 Chiến lược chọn biến 25

3.3 Nguồn tài liệu 26

3.4 Thiết kế nghiên cứu 29

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

Trang 5

4.1 Thực trạng chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam 31

4.2 Đánh giá tác động chính sách tăng tiền lương tối thiểu vùng lên thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam 36

4.2.1 Tổng quan về mẫu khảo sát 36

4.2.1.1 Giai đoạn 2010 – 2012 36

4.2.1.2 Giai đoạn 2012 – 2014 44

4.2.2 Đánh giá tác động chính sách tăng tiền lương tối thiểu vùng lên thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2012 51

4.2.3 Đánh giá tác động chính sách tăng tiền lương tối thiểu vùng lên thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2014 56

4.2.4 Tổng hợp kết quả đánh giá tác động chính sách tăng tiền lương tối thiểu vùng lên thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014 60

4.3 Một số bàn luận thêm về chính sách tăng tiền lương tối thiểu vùng với doanh nghiệp 63

4.4 Tóm tắt chương 66

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 68

5.1 Kết luận 68

5.2 Khuyến nghị chính sách 69

5.3 Hạn chế của đề tài 70

PHỤ LỤC 73

Trang 6

Bảng 4.14: Kết quả ước lượng tác động chính sách lên thu nhập từ việc làm chính với mô hình

đơn giản giai đoạn 2010 - 2012 54 Bảng 4.15: Kết quả ước lượng tác động chính sách lên thu nhập từ việc làm chính với mô hình

đầy đủ giai đoạn 2010 - 2012 54 Bảng 4.16: Kết quả ước lượng tác động chính sách lên tổng thu nhập bình quân với mô hình

đơn giản giai đoạn 2010 - 2012 55 Bảng 4.17: Kết quả ước lượng tác động chính sách lên tổng thu nhập bình quân với mô hình

đầy đủ giai đoạn 2010 - 2012 55 Bảng 4.18: Kết quả ước lượng điểm xu hướng 2012 56 Bảng 4.19: Kết quả ước lượng tác động chính sách lên tiền lương với mô hình đơn giản giai

đoạn 2012 - 2014 57 Bảng 4.20: Kết quả ước lượng tác động chính sách lên tiền lương với mô hình đầy đủ giai

đoạn 2012 - 2014 58 Bảng 4.21: Kết quả ước lượng tác động chính sách lên thu nhập từ việc làm chính với mô hình

đơn giản giai đoạn 2012 - 2014 58 Bảng 4.22: Kết quả ước lượng tác động chính sách lên thu nhập từ việc làm chính với mô hình

đầy đủ giai đoạn 2012 - 2014 59 Bảng 4.23: Kết quả ước lượng tác động chính sách lên tổng thu nhập bình quân với mô hình

đơn giản giai đoạn 2012 - 2014 59 Bảng 4.24: Kết quả ước lượng tác động chính sách lên tổng thu nhập bình quân với mô hình

đầy đủ giai đoạn 2012 - 2014 59 Bảng 4.25: Ước tính chênh lệch giữa tác động thực tế và dự đoán chính sách lên các vùng, giai

đoạn 2010 - 2012 61 Bảng 4.26: Ước tính chênh lệch giữa tác động thực tế và dự đoán chính sách lên các vùng, giai

đoạn 2012 - 2014 63 Bảng 3.27 Các khoản trích theo lương qua các giai đoạn 64

Trang 7

PHỤ LỤC BẢNG

Bảng 1.1: Kết quả các cuộc thương lượng về chính sách tăng tiền lương tối thiểu, 2015 -2017 1

Bảng 2.1: Tổng hợp các biến kiểm soát được sử dụng từ các nghiên cứu liên quan 14

Bảng 2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương tối thiểu của một số quốc gia trên thế giới 15

Bảng 3.1: Hệ thống các biến, mã hóa và ý nghĩa biến 27

Bảng 3.2: Số quan sát trong các bộ dữ liệu VHLSS 2010 – 2014 28

Bảng 4.1: Mức lương tối thiểu chung ở Việt Nam, giai đoạn 1995 - 2017 35

Bảng 4.2: Mức lương tối thiểu vùng ở Việt Nam, giai đoạn 2009 - 2017 35

Bảng 4.3: Thống kê số quan sát hai nhóm đối tượng giữa các vùng qua các năm 2010 và 2012 36

Bảng 4.4: Thống kê các khoản thu nhập bình quân tháng của hai nhóm đối tượng, giữa các vùng qua các năm 2010 và 2012 37

Bảng 4.5: Thống kê các biến định lượng của hai nhóm đối tượng giữa các vùng qua các năm 2010 và 2012 40

Bảng 4.6: Thống kê các thuộc tính của hai nhóm đối tượng giữa các vùng qua các năm 2010 và 2012 43

Bảng 4.7: Thống kê số quan sát hai nhóm đối tượng giữa các vùng qua các năm 2012 và 2014 44

Bảng 4.8: Thống kê các khoản thu nhập bình quân tháng của hai nhóm đối tượng, giữa các vùng qua các năm 2012 và 2014 46

Bảng 4.9: Thống kê các biến định lượng của hai nhóm đối tượng giữa các vùng qua các năm 2012 và 2014 48

Bảng 4.10: Thống kê các thuộc tính của hai nhóm đối tượng giữa các vùng qua các năm 2012 và 2014 49

Bảng 4.11: Kết quả ước lượng điểm xu hướng 2010 51

Bảng 4.12: Kết quả ước lượng tác động chính sách lên tiền lương với mô hình đơn giản giai đoạn 2010 - 2012 53

Bảng 4.13: Kết quả ước lượng tác động chính sách lên tiền lương với mô hình đầy đủ 53

Trang 8

PHỤ LỤC HÌNH

Hình 1.1: Kết quả so sánh tiền lương tối thiểu và mức sống tối thiểu theo từng vùng 3

Hình 1.2: So sánh tốc độ tăng lương tối thiểu và năng suất lao động qua các năm 4

Hình 2.1: Tiền lương tối thiểu và cung cầu lao động trên thị trường hoàn hảo 10

Hình 2.2: Thống kê cách thức ấn định chính sách lương tối thiểucủa các nước trên thế giới 17 Hình 2.3: Thống kê về phạm vi áp dụng chính sách lương tối thiểucủa các nước trên thế giới 18

Hình 3.1: Sơ đồ thể hiện phương pháp đánh giá tác động chính sách bằng DiD 22

Hình 3.2: Tổng hợp một số phương pháp đánh giá tác động theo dạng dữ liệu 24

Hình 3.3 : Mô hình nghiên cứu đề xuất 26

Hình 3.4: Sơ đồ thiết kế nghiên cứu của đề tài 30

Hình 4.1: So sánh các chỉ tiêu thu nhập của nhóm tham gia năm 2010 39

Hình 4.2: So sánh các chỉ tiêu thu nhập của nhóm tham gia năm 2012 47

Hình 4.3: Tốc độ tăng tiền lương tối thiểu so với tốc độ tăng của các chỉ tiêu thu nhập 60

Hình 4.4: Tốc độ tăng tiền lương tối thiểu so với tốc độ tăng của các chỉ tiêu thu nhập 62

Hình 4.5: Tốc độ tăng lương tối thiểu với tăng chi phí lương 65

Hình 4.6 So sánh tốc độ tăng lương tối thiểu với một số chỉ tiêu khác nhau 65

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng với kinh tế thế giới, chính sách lương tối thiểu ngày càng có một ý nghĩa quan trọng Một mặt, chính sách tiền lương hợp lý sẽ tạo điều kiện để đảm bảo đời sống tối thiểu cho người lao động và tạo động lực cho quá trình sản xuất Mặt khác, các doanh nghiệp cần tiết kiệm chi phí để nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo phát triển bền vững Nhận diện được vấn đề này, trên cơ sở đảm bảo công bằng, an sinh xã hội đối với người lao động và ổn định tình hình kinh tế - xã hội, nhà nước đã luật hóa các chính sách về lao động, tiền lương, trong đó có vấn đề lương tối thiểu Cụ thể, trong Khoản 1, Điều 91, Luật số 10/2012/QH13, Bộ luật lao động quy định:

mức lương tối thiểu là “…mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất,

trong điều kiện lao động bình thường và phải đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ”

Chính sách lương tối thiểu vùng1

được ấn định thông qua các cuộc thảo luận tại Hội đồng tiền lương quốc gia trên cơ sở đề xuất của đại diện doanh nghiệp, người lao động và cơ

sở pháp lý Dựa vào đó, Chính phủ đã cho phép tăng mức lương tối thiểu từ 120 nghìn đồng năm 1996 lên trên 2 triệu đồng tính chung cho các khu vực năm 2015 Tuy nhiên, trải qua hơn

20 năm thực hiện chính sách lương tối thiểu, trước mỗi một lần điều chỉnh luôn có nhiều tranh cãi gay gắt, nảy sinh giữa các bên liên quan

Bảng 1.1: Kết quả các cuộc thương lượng về chính sách tăng tiền lương tối thiểu, 2015 -2017

Năm đề xuất Tổng liên đoàn lao động Phòng Thương mại và Công Mức thống nhất

1 Hiện nay đang tồn tại song song hai mức lương tối thiểu: lương tối thiểu vùng (áp dụng đối với người lao đông tại các doanh nghiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động và được tính cho 04 cấp vùng trên cả nước) và lương tối thiểu chung (hay “lương cơ sở”, áp dụng cho người lao động thuộc khu vực hưởng lương từ ngân sách nhà nước)

Trang 10

Việt Nam (VGCL) nghiệp Việt Nam (VCCI) (bình quân)

cho những cá nhân hưởng hiện tại Cụ thể, thông qua báo cáo Khảo sát thực tế tiền lương, thu

nhập, mức sống tối thiểu của người lao động trong doanh nghiệp năm 2015, Tổng liên đoàn

lao động Việt Nam tính toán rằng, với tiền lương tối thiểu hiện tại của 2 vợ chồng (5.160.000đ/tháng) so với mức sống tối thiểu (7.250.000 đồng/tháng) thì chỉ đảm bảo được 71,2% Vì vậy, việc tiếp tục điều chỉnh tăng nhanh trong thời gian tới là hết sức cần thiết

2

Xem: thieu-tang-23-3027127.html , truy cập lúc 14:15, ngày 21/9/2016

http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/chu-tich-vcci-doanh-nghiep-se-soc-neu-luong-toi-3 Xem:

http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/luong-toi-thieu-vung-2016-chot-de-xuat-tang-12-4-20150903131128499.htm , truy cập lúc 14:20, ngày 21/9/2016

4 Xem:

http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/chot-muc-tang-luong-toi-thieu-vung-2017-chi-tang-73-20160802130709163.htm , truy cập lúc 14:30, ngày 21/9/2016

Trang 11

Hình 1.1: Kết quả so sánh tiền lương tối thiểu và mức sống tối thiểu theo từng vùng

Nguồn: tác giả tổng hợp từ VGCL

Trong khi đó, VCCI – được xem là cơ quan đại diện cho các doanh nghiệp – lại đưa ra những tranh luận gay gắt về mức điều chỉnh lương tối thiểu hàng năm Theo tính toán của

VCCI, “tổng chi phí lao động của doanh nghiệp trung bình ở mức 2905 triệu đồng/năm Độ

co giãn của cầu lao động từ phía doanh nghiệp đối với chi phí lao động ước lượng bằng - 0,175 và - 0,519 trong ngắn hạn và dài hạn 5 ” Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh

mẽ với sự ra đời của AEC và tham gia TPP sắp tới, năng lực cạnh tranh của khối doanh nghiệp

sẽ bị giảm sút đáng kể khi chi phí hoạt động gia tăng trong khi năng suất lao động không theo kịp

5 Xem: 2016072611415345.htm , truy cập lúc 15:00, ngày 21/9/2016

Trang 12

Hình 1.2: So sánh tốc độ tăng lương tối thiểu và năng suất lao động qua các năm

Nguồn: tác giả tự tổng hợp dựa vào Báo cáo Năng suất Việt Nam 2014

Vấn đề lương tối thiểu vùng có ảnh hưởng tới ít nhất 18,7 triệu lao động (chiếm 36%

số lượng lao động) làm việc trong các doanh nghiệp6, có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế quốc gia Vì vậy, các chính sách điều chỉnh đưa ra cần được xem xét kỹ lưỡng, dựa vào các phân tích và đánh giá cụ thể, vừa tạo ra sức thuyết phục, vừa đảm bảo hài hòa lợi ích cho các đối tượng liên quan

Xuất phát từ những vấn đề trên, việc đánh giá tác động của chính sách tăng lương tối thiểu vùng lên thu nhập của lao động ở Việt Nam sẽ cung cấp một bằng chứng thực nghiệm đáng giá cho các hàm ý chính sách điều chỉnh lương tối thiểu trong tương lai gần

1.2 Vấn đề nghiên cứu

Những tranh cãi và bức xúc về việc đề xuất mức lương tối thiểu quốc gia của các bên liên quan mặc dù có nhiều lý lẽ song lại thiếu những bằng chứng thực nghiệm định lượng để thuyết phục Vì vậy, việc đưa ra một kết quả khoa học dựa trên nghiên cứu logic sẽ góp phần quan trọng trong việc mở ra các hàm ý chính sách phù hợp trong giai đoạn hiện nay

Trang 13

1.3 Mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát:

Đề tài này hướng đến mục tiêu đánh giá tác động chính sách tăng tiền lương tối thiểu vùng ở Việt Nam trong giai đoạn từ 2010 đến 2014 đến thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp, từ đó, đưa ra những gợi ý chính sách phù hợp trong giai đoạn tới

Mục tiêu cụ thể:

(i) Đánh giá tác động của chính sách tiền lương tối thiểu vùng lên thu nhập của lao

động trong doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2014;

(ii) Từ đó, đề xuất các khuyến nghị chính sách phù hợp cho chính sách tiền lương

tối thiểu vùng ở Việt Nam cho thời gian tới

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi xuyên suốt của nghiên cứu này là: “Tác động của chính sách tăng tiền lương

tối thiểu vùng lên thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam như thế nào?” 1.3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của nghiên cứu này gồm chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam, thu nhập của lao động trong doanh nghiệp ở Việt Nam cùng các đối tượng khác có liên quan

Về phạm vi không gian: đề tài sẽ xem xét ảnh hưởng của chính sách tăng tiền lương tối thiểu ở Việt Nam đối với thu nhập của lao động làm việc trong khối doanh nghiệp

Về phạm vi thời gian: toàn bộ dữ liệu thứ cấp chính được sử dụng nằm trong giai đoạn

2010 đến 2014

Trang 14

1.4 Cấu trúc đề tài

Dự kiến đề tài bao gồm 4 chương Trong đó, ở chương đầu tiên, tác giả sẽ giới thiệu và làm rõ bối cảnh nhiên cứu, vấn đề nghiên cứu cũng như mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc đề tài Ở chương hai, tác giả sẽ tập trung đi sâu vào việc trình bày các vấn đề lý thuyết liên quan Tiếp đến, trong chương ba, khung phân tích, phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu cần thiết để phục vụ đề tài được giới thiệu, sau khi đã xem xét, đánh giá các nghiên cứu trước có liên quan Chương số bốn là nội dung chính của nghiên cứu, được thiết kế để trình bày các kết quả chính của đề tài Và cuối cùng, chương số năm sẽ đưa ra các kết luận cũng như các gợi ý chính sách khả dĩ, được rút ra từ những tìm hiểu của quá trình nghiên cứu

Trang 15

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT

2.1 Các khái niệm liên quan

2.1.1 Tiền lương và thu nhập

Yếu tố tiền lương được xác định rõ trong thời kỳ cải cách tiền lương năm 1993 là

“ giá cả sức lao động, được hình thành qua thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế quốc dân Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và đựơc trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc” Ngoài ra, “các chế độ phụ cấp, tiền thưởng, nâng bậc lương, các chế độ khuyến khích khác có thể được thoả thuận trong hợp đồng lao động thoả ước tập thể hay quy định trong quy chế của doanh nghiệp” Quan điểm này đã góp phần quan trọng trong việc nhìn nhận, đánh giá lại chính sách tiền lương ở Việt Nam từ sau thời kỳ bao cấp, từng bước trả lại đúng bản chất của giá trị sức lao động trên thị trường

Tiếp tục khẳng định quan điểm đó, Điều 55, Bộ Luật Lao Động hiện naychỉ rõ tiền lương của người lao động là do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Theo đó, tiền lương được xem là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động đã bỏ ra, tính trên số lượng và chất lượng, được chủ lao động chi trả theo sự thỏa thuận, thống nhất của các bên liên quan, theo quy định pháp luật Tiền lương nếu được quy định đúng đắn và phù hợp trong thị trường minh bạch sẽ tạo ra động lực to lớn kích thích người lao động gia tăng năng suất và làm việc hiệu quả hơn, từ đó giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh với các đối thủ Trái lại, nếu tồn tại thị trường bất cân xứng, giá trị sức lao động có thể bị định giá quá cao hoặc quá thấp, lúc đó, hoặc là doanh nghiệp sẽ được lợi nhưng lao động phải làm việc quá sức hoặc người lao động hưởng lương cao nhưng giới chủ phải gánh chịu chi phí quá lớn Một điều đáng lưu ý là dù tiền lương có biến động thế nào đi nữa vẫn phải đủ để bù đắp và tái tạo được sức lao động tối thiểu, duy trì khả năng làm việc Đây là luận điểm quan trọng để hình thành nên mức tiền lương tối thiểu

Trang 16

Bên cạnh đó, tiền lương còn là một thành tố quan trọng cấu thành thu nhập cá nhân Theo wikipedia, thu nhập cá nhân là thuật ngữ đề cập đến tất cả các khoản thu nhập của một

cá nhân kiếm được trong một niên độ thời gian nhất định từ tiền lương, đầu tư và các khoản khác, nó là tổng hợp của tất cả các thu nhập thực nhận bởi tất cả các cá nhân hoặc hộ gia đình

Do đó, trong phạm vi nghiên cứu này, nhằm đánh giá chính xác tác động của tiền

lương tối thiểu vùng, tác giả sẽ xem xét chỉ tiêu thu nhập theo 3 mức độ: (1) chỉ xem xét thu

nhập của lao động là tổng mức tiền lương, tiền công bình quân nhận được mỗi tháng; (2) ngoài tiền công, tiền lương còn kèm thêm tổng giá trị quy đổi của hiện vật, các khoản ngoài lương mà họ nhận được bình quân mỗi tháng Và tất cả các thành phần tạo nên 2 loại thu nhập này chỉ tính cho công việc chiếm nhiều thời gian nhất của lao động, bỏ qua sự ảnh hưởng của việc tham gia các công việc khác Hay nói cách khác, cách tiếp cận này sẽ giả định rằng, một lao động sẽ sống hoàn toàn dựa vào thu nhập đến từ một công việc chính duy nhất Khi đó, việc bóc tách tác động chính sách tiền lương tối thiểu vùng sẽ chính xác hơn; Và (3) thu nhập bình quân mà mỗi cá nhân có được từ tất cả các nguồn khác nhau

2.1.2 Tiền lương tối thiểu và tiền lương tối thiểu vùng

Điều 91, chương VI, Bộ Luật lao động Việt Nam năm 2012 quy định: “Mức lương tối

thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ” 7 Đó là số tiền trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong xã hội với điều

kiện làm việc và cường độ lao động bình thường, lao động chưa qua đào tạo nghề Số tiền đó

đủ để người lao động tái sản xuất giản đơn sức lao động, đóng bảo hiểm tuổi già và nuôi con Mức lương tối thiểu này được dùng làm cơ sở để tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật Thông thường, căn cứ để tính lương tối thiểu hiện được dựa trên bốn yếu tố, gồm

7 http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Lao-dong-Tien-luong/Bo-Luat-lao-dong-2012-142187.aspx , truy cập lúc 10:10 ngày 21/11/2016

Trang 17

nhu cầu sống tối thiểu của người lao động; nhu cầu thị trường lao động; tốc độ tăng GDP và mức độ trượt giá

Theo đó, mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành Căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động, Chính phủ công bố mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia Mức lương tối thiểu ngành được xác định thông qua thương lượng tập thể ngành, được ghi trong thỏa ước lao động tập thể ngành nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố

Tuy nhiên, sau giai đoạn năm 2008, chính sách tiền lương tối thiểu được chia làm hai phần: mức lương tối thiểu vùng và mức lương cở sở với hàm ý và cách áp dụng khác nhau, được phân biệt như phần phụ lục 2 Đối với mức lương tối thiểu vùng, toàn quốc được chia làm 4 vùng theo quy định (xem phụ lục 1)8

2.1.3 Tác động của chính sách tiền lương tối thiểu và tiền lương tối thiểu vùng

Trong phần này, tác giả sẽ xem xét tác động của chính sách tiền lương tối thiểu và tiền lương tối thiểu vùng lên ba khía cạnh: lao động và thị trường lao động, doanh nghiệp và toàn

bộ nền kinh tế

Đối với lao động và thị trường lao động

Theo lý thuyết kinh tế học vi mô về thị trường lao động, cầu lao động phản ánh năng suất biên của lao động và tại điểm cân bằng thị trường, mỗi công nhân được trả lương theo giá trị mà người đó đóng góp thêm cho hoạt động sản xuất Như vậy, mức lương trong thị trường hoàn hảo sẽ được hiệu chỉnh về điểm cân bằng theo cung và cầu lao động [Xem hình 2.1]

Vì vậy để phát huy tác dụng của chính sách, chính phủ sẽ thiết lập lương tối thiểu cao hơn lương cân bằng, ở mức Wmin Hành động này về thực chất là việc quy định một mức giá

8 voi-nguoi-lao-dong-lam-viec-theo-hop-dong-lao-dong-319987.aspx , truy cập lúc 15:00 ngày 21/11/2016

Trang 18

http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Nghi-dinh-153-2016-ND-CP-muc-luong-toi-thieu-vung-doi-sàn cho thị trường lao động, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động, buộc các doanh nghiệp không được trả hơn mức lương tối thiểu này Hệ quả là, do người thuê lao động phải trả lương cao hơn mức cân bằng nên họ sẽ giảm số lao động cần thuê xuống mức cân bằng, ở mức QD Ngược lại, do mức tiền lương Wmin cao hơn mức cân bằng W0 nên sẽ có thêm một lượng lao động mới tham gia thị trường, khiến cung lao động lúc này tăng lên mức QS Sự chênh lệch lao động giữa cung và cầu chính là lượng lao động thất nghiệp do chính sách gây

ra

Nguồn: tác giả tổng hợp

Hình 2.1: Tiền lương tối thiểu và cung cầu lao động trên thị trường hoàn hảo Trong thực tế, đa số các lao động sẽ được trả lương cao hơn so với mức lương tối thiểu quy định bởi hai nguyên nhân: (1) để ổn định được lao động vì người lao động không phải nghỉ việc hoặc chuyển sang đối thủ cạnh tranh; (2) là lý thuyết tiền lương hiệu quả cho rằng nếu lao động được trả lương cao hơn thì năng suất lao động cũng cao hơn Vì vậy, tiền lương tối thiểu chỉ phát huy tác dụng đối với những lao động có kỹ năng thấp và thiếu kinh nghiệm

vì chính sách làm tăng mức lương mà họ thực sự kiếm được trên thị trường lao động tự do Bên cạnh đó, cần chú ý rằng, thị trường lao động ở các nước hầu như không hoàn hảo, do đó, tác động thất nghiệp gây ra trong mô hình lý thuyết cần được phân tích thận trọng

QD

Trang 19

Đối với doanh nghiệp

Xét về khía cạnh tích cực, chính sách tiền lương tối thiểu sẽ tạo động lực cho người lao động tham gia sản xuất, nâng cao tay nghề, đồng thời tạo áp lực buộc doanh nghiệp phải nâng cao năng lực để tồn tại bao gồm cả năng lực quản trị, đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng môi trường làm việc để tạo ra sự gắn bó đối với lao động Nhưng trên thực tế đây không phải là mục tiêu dễ đạt được trong thời gian ngắn Tuy nhiên, mặt trái của việc tăng lương đối với các doanh nghiệp lại dễ dàng được nhận thấy hơn, trong cả ngắn hạn và dài hạn Thứ nhất, tăng gánh nặng chi phí đối với doanh nghiệp Rõ ràng, với các quy định ràng buộc hiện nay, doanh nghiệp là đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách tăng lương tối thiểu vùng Khi tiền lương tối thiểu tăng lên, đồng nghĩa với các khoản chi phí trích theo lương sẽ tăng, từ

đó làm gia tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp Thứ hai, giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Năng lực quản trị muốn nâng cao cần có thời gian dài Nhưng doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn đối với gánh nặng chi trả lương và các khoản theo lương tăng thêm trước mắt Gánh nặng chi phí gia tăng khi năng suất lao động không tăng, việc cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực tay nghề công nhân, năng lực quản trị đòi hỏi cần có thời gian và kinh phí không nhỏ, dẫn tới hệ lụy khiến doanh nghiệp đứng trước nguy cơ thu hẹp quy mô sản xuất

Để giải quyết tình trạng trên, doanh nghiệp sẽ phải tăng giá thành sản phẩm điều này xét về lâu dài sẽ là bất lợi bởi làm giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp so với hàng hóa của các doanh nghiệp khác và hàng hóa nước ngoài

Đối với toàn bộ nền kinh tế

Tác động tích cực đầu tiên mà chính sách tiền lương tối thiểu mang lại cho xã hội liên quan đến việc xóa đói giảm nghèo, góp phần cải thiện bất bình đẳng Bên cạnh đó, việc tăng lương tối thiểu nếu được tính toán hợp lý sẽ là đòn bẩy để gia tăng năng suất, từ đó, gia tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế

Tuy nhiên, xét về mặt hạn chế, rõ ràng, đối với những quốc gia theo đuổi ngành công nghiệp thâm dụng lao động, việc tăng lương tối thiểu làm giảm sức cạnh tranh về giá đối với

Trang 20

hàng hóa sức lao động Hệ quả là, các dòng vốn đầu tư sẽ chảy sang các nước có nguồn lao động rẻ hơn Ngoài ra, việc tăng tiền lương tối thiểu làm tăng chi phí doanh nghiệp có thể tạo

ra sự suy giảm cạnh tranh về giá của hàng hóa nội địa so với hàng nhập khẩu Và cuối cùng, nếu chính sách tăng lương tối thiểu kéo dài, không kiểm soát, nếu gây ra thất nghiệp sẽ để lại những hệ lụy xấu trong việc an sinh xã hội

Chính sách tiền lương tối thiểu vùng

Đối với chính sách tiền lương tối thiểu vùng, việc phân chia theo 4 vùng nhằm đảm bảo ba nguyên tắc9: Thứ nhất, theo mức tăng trưởng kinh tế, bảo đảm cho tiền lương tối thiểu được ấn định phù hợp với khả năng của nền kinh tế, giải quyết mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa tích luỹ, và tiêu dùng, tái đầu tư trong cân đối vĩ mô Thứ hai, theo chỉ số giá sinh hoạt, bảo đảm cho tiền lương tối thiểu luôn giữ được sức mua thực tế Thứ ba, theo cung cầu lao động, cụ thể là theo giá tiền công thực tế trả trên thị trường Như vậy, việc phân vùng

sẽ góp phần chi tiết hóa mức lương tối thiểu, đảm bảo sự công bằng tương đối trong xã hội Tuy nhiên, việc xác định các vùng để phân chia là hết sức khó khăn, đặc biệt là đối với những khu vực có địa giới giáp ranh

2.2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

Hiện nay, các nghiên cứu về chính sách tiền lương tối thiểu quốc gia là khá phổ biến trên thế giới, tuy nhiên, việc xem xét tác động của chính sách này lên thu nhập của lao động vẫn còn hạn chế, đặc biệt là các nghiên cứu trong nước Trong quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy có bốn bài nghiên cứu khá tương đồng như sau:

Thứ nhất, bài nghiên cứu của Helen Bewley, David Wilkinson (2015), The impact of the national minimum wage on employment and hours: Bài nghiên cứu này sử dụng phương

pháp DiD để đo lường tác động của tiền lương tối thiểu lên tình trạng việc làm và số giờ lao

9 Xem: http://vietbao.vn/Kinh-te/Se-co-4-vung-luong-toi-thieu/65085036/87/ , truy cập ngày 30/11/2016 lúc 20:20

Trang 21

động Trong đó, một nhóm đối chứng gồm những người kiếm được hơn 10% so với mức lương tối thiểu quốc gia (NMW) trong suốt thời kỳ trước và sau khi có chính sách được dùng

để so sánh với nhóm chịu tác động trực tiếp Các biến kiểm soát gồm: độ tuổi, bằng cấp cao nhất, tình trạng hôn nhân, gia đình có trẻ nhỏ dưới 5 tuổi hay không, dân tộc, tình trạng sức khỏe trong năm gần nhất

Thứ hai, Taryn Dinkelman, Vimal Ranchhod (2012), Evidence on the impact of minimum wage laws in an informal sector: Domestic workers in South Africa: Cùng sử

dụng phương pháp DiD để đánh giá tác động của luật tiền lương tối thiểu lên lao động nội địa khu vực Nam Phi, tuy nhiên, nhóm biến kiểm soát của nghiên cứu này gồm: độ tuổi, số năm đi học và biến phân biệt có phải là người thuộc Nam Phi hay không

Thứ ba, Haroon Bhorat, Ravikanbur, Benjamin Stanwix (2014), Estimating the impact of minimum wages on employment, wages, and non-wage benefits: The case of Agriculture in South Africa: Để đo lường tác động của tiền lương tối thiểu lên lao động khu

vực nông nghiệp ở Nam Phi, nhóm tác giả sử dụng phương pháp DiD Trong đó, các biến kiểm soát gồm: độ tuổi, trình độ học vấn, chủng tộc

Thứ tư, Cuong Nguyen Viet (2010), The Impact of a Minimum Wage Increase on Employment, Wages and Expenditures of Low-Wage Workers in Vietnam: Tác giả này sử

dụng bộ dữ liệu VHLSS 2004 và 2006 để tính toán tác động của chính sách tiền lương tối thiểu lên việc làm, tiền lương và chi tiêu của lao động lương thấp ở Việt Nam Phương pháp DiD kết hợp PSM đã được sử dụng với các biến kiểm soát gồm: tình trạng hôn nhân, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, kỹ năng, dân tộc, vùng, diện tích đất và mặt nước hiện có Vấn đề cần khắc phục của đề tài này là bộ dữ liệu cũ, chính sách tiền lương tối thiểu đã thay đổi từ 1 mức duy nhất sang thành 4 mức cho 4 vùng khác nhau Bên cạnh đó, bài nghiên cứu này bỏ qua lao động trong khu vực nước ngoài Phương trình hồi quy là:

Y = a0 + a1TD + a2T +a3D + a4X + e Trong đó, Y là biến kết quả (việc làm, tiền lương, chi tiêu của lao động), T là biến giả thời gian với T=1 nếu là năm 20016 và nhận giá trị 0 nếu là năm 2004, D là biến giả nhận giá

Trang 22

trị 1 nếu là nhóm nghiên cứu và nhận giá trị 0 nếu là nhóm đối chứng, X là tập hợp các biến kiểm soát

Các nghiên cứu này không những đóng góp những khái niệm và lý luận quan trọng về phương pháp đánh giá tác động chính sách tiền lương tối thiểu lên thu nhập mà còn chỉ ra những biến kiểm soát phù hợp, làm cơ sở để tác giả tiếp tục nghiên cứu Tổng hợp các nghiên cứu trên, ta có bảng tóm tắt như bên dưới:

Bảng 2.1: Tổng hợp các biến kiểm soát được sử dụng từ các nghiên cứu liên quan

Helen Bewley, David

Wilkinson (2015)

The impact of the national minimum wage on employment and hours

độ tuổi, bằng cấp cao nhất, tình trạng hôn nhân, gia đình

có trẻ nhỏ dưới 5 tuổi hay không, dân tộc, tình trạng sức khỏe trong năm gần nhất Taryn Dinkelman,

Vimal Ranchhod

(2012)

Evidence on the impact of minimum wage laws in an informal sector:

Domestic workers in South Africa

độ tuổi, số năm đi học và biến phân biệt có phải là người thuộc Nam Phi hay không

in South Africa

độ tuổi, trình độ học vấn,

chủng tộc

Trang 23

Cuong Nguyen Viet

(2010)

The Impact of a Minimum Wage Increase on Employment, Wages and Expenditures of Low-Wage Workers in

Vietnam

tình trạng hôn nhân, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, kỹ năng, dân tộc, vùng, diện tích đất và mặt nước hiện có

Nguồn: tác giả tự tổng hợp

2.3 Kinh nghiệm quốc tế về chính sách tiền lương tối thiểu

Thứ nhất, về cách thức xác định mức tiền lương tối thiểu: Việc tính toán mức tiền lương tối thiểu thường không đồng nhất giữa các khu vực khác nhau, tùy vào tình hình thực tế của mỗi địa phương Tuy nhiên, hiện nay, nhìn chung, các quốc gia trên thế giới thường dùng một trong hai phương pháp sau: (1) dựa trên một tỉ lệ phần trăm so với mức lương trung bình được tính chung cho cả nước; Và (2) xây dựng một giỏ hàng hóa gồm lương thực, thực phẩm

và phi lương thực, thực phẩm để làm căn cứ tính ra lương tối thiểu

Thứ hai, việc xác định mức lương tối thiểu sẽ bị chi phối bởi nhiều yếu tố và khía cạnh kinh tế - xã hội khác nhau, tùy vào mục tiêu mà quốc gia theo đuổi Dưới đây là bảng thống kê các tiêu chí mà một số nước áp dụng

Bảng 2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương tối thiểu của một số quốc gia trên thế giới

Quốc gia

Các mức lương khác nhau

Lợi ích an toàn

xã hội

Nhu cầu của lao động

và gia đình

họ

Chi phí sống tối thiệu hoặc/và mức độ lạm phát

Trình

độ của doanh nghiệp

Tình hình phát triển của nền kinh tế

Năng suất

Khả năng chi trả của doanh nghiệp

Mức lương chung trong toàn

Trang 24

Nguồn: Ahmed Almohaimeed (2016)

Thứ ba, về cách ấn định mức tiền lương tối thiểu: Thông thường, mỗi quốc gia sẽ lựa chọn một trong các cách thức khác nhau dưới đây trong việc ấn định mức tiền lương tối thiểu:

(1) Chính phủ đơn phương quyết định mức lương tối thiểu bằng hệ thống luật hóa; (2) Tiền lương tối thiểu là kết quả của các cuộc thương lượng giữa ba bên: giới chủ

thuê lao động, công đoàn đại diện cho tiếng nói người lao động và nhà nước; (3) Chính phủ quyết định mức tiền lương tối thiểu dựa trên sự tư vấn của một bộ

phận chuyên trách trực thuộc;

(4) Tại một số nước, các cơ quan/bộ phận chuyên trách được phép ủy quyền trực

tiếp nghiên cứu và đưa ra mức tiền lương tối thiểu để áp dụng mà không cần thông qua Chính phủ;

(5) Một số quốc gia cho phép mức lương tối thiểu được áp dụng riêng cho từng

ngành, nhóm ngành cụ thể khác nhau và phụ thuộc vào kết quả của các cuộc thỏa hiệp lao động tập thể

Trang 25

Nguồn: Richard Dickens (2011)

Hình 2.2: Thống kê cách thức ấn định chính sách lương tối thiểu

của các nước trên thế giới

Thứ tư, phạm vi áp dụng tiền lương tối thiểu cũng khác nhau giữa các nước Theo đó,

có những quốc gia sẽ chọn một mức lương tối thiểu chung toàn quốc và cũng có những quốc gia áp dụng các chính sách riêng rẽ cho các vùng, khu vực, đối tượng theo độ tuổi, ngành nghề khác nhau… Bên cạnh đó, hệ thống tiền lương tối thiểu có thể được quy định theo giờ hoặc theo tháng

Không áp dụng 6%

Chính phủ ấn định độc lập 10%

Chính phủ tham vấn các tổ chức xã hội

18%

Chính phủ tham vấn cơ quan chuyên trách 47%

Cơ quan chuyên trách

ấn định 11%

Thương lượng 8%

Trang 26

Nguồn: Richard Dickens (2011)

Hình 2.3: Thống kê về phạm vi áp dụng chính sách lương tối thiểu

của các nước trên thế giới Thứ năm, ở một số quốc gia, nhà nước sẽ phân công giam sát và xử phạt các vi phạm

về lương tối thiểu cho một cơ quan chuyên trách hoạt động tại địa phương để theo dõi sát sao Riếng ở Mỹ và Hàn Quốc, các hình phạt hành chính hoặc hình sự đều có thể áp dụng với các trường hợp sai phạm, báo cáo không mình bạch…10

10 Xem: http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=19581 , truy cập ngày 30/3/2017 lúc 17:45

Không áp dụng 6%

Áp dụng toàn quốc 44%

Áp dụng theo vùng 3%

Áp dụng toàn quốc có phân theo khu vực kinh tế hoặc nghề nghiệp 44%

Áp dụng theo vùng có phân theo khu vực kinh tế hoặc nghề nghiệp 3%

Trang 27

CHƯƠNG 3: KHUNG PHÂN TÍCH VÀ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT

3.1 Các mô hình đánh giá tác động

3.1.1 Giới thiệu đánh giá tác động

Tác động của một chính sách thông thường được đánh giá dựa trên các thay đổi kết quả đầu ra Để kết quả đạt được sự chính xác nhất định, các kỹ thuật đánh giá tác động thường

so sánh đầu ra của nhóm tham gia và đối chứng (nhóm đối tượng không chịu sự tác động của chính sách nhưng có những tiêu chuẩn tương đồng với nhóm xem xét) Theo Shahidur R Khandker, Gayatri B Koolwal (2010) kết quả của sự tác động có thể được biểu diễn như sau:

D = [E(Yi(1)|Ti=1) - E(Yi(0)|Ti=0)] + [E(Yi(0)|Ti=1) – E(Yi(0) |Ti=1)]

Hay: D = [E(Yi(1)|Ti=1) - E(Yi(0) |Ti=1)] + [E(Yi(0)|Ti=1) – E(Yi(0)|Ti=0)]

Trong đó D là tác đông j của chương trình, Yi là yếu tố đầu ra, Yi(1) (hoặc Yi(0)) là đầu ra của đối tượng được (hoặc không) tham gia T = 1 (hoặc =0) ứng với việc đối tượng có (hoặc không) tham gia chương trình E() là hàm kì vọng;

[E(Yi(1)|Ti=1) - E(Yi(0)|Ti=1)] được gọi là “hiệu quả can thiệp bình quân”, thể hiện sự thay đổi đầu ra giữa nhóm tham gia và nhóm đối chứng;

[E(Yi(0)|T=1) – E(Yi(0) |Ti=0)] được gọi là phạm vi sai số, thể hiện chênh lệch đầu ra của nhóm đối chứng với giả định có hay không tham gia chính sách Vì đầu ra của nhóm đối chứng trong trường có tham gia chính sách chỉ là giả định, hay nói cách khác là không thể quan sát được E(Yi(0)|Ti=1), nên về cơ bản không thể tính được phạm vi sai số Do đó, việc cần làm của đánh giá tác động là tìm cách loại bỏ sai số

Trong giới hạn nghiên cứu này, tác giả giới thiệu ba phương pháp định lượng thường được sử dụng gồm: mẫu ngẫu nhiên, điểm xu hướng và khác biệt trong khác biệt

Trang 28

3.1.2 Phương pháp mẫu ngẫu nhiên

Về thực chất, phương pháp này sẽ lựa chọn ra một mẫu gồm các quan sát có những đặc điểm tương đồng nhau, có tiềm năng trở thành đối tượng của chính sách, sau đó, mẫu được

phân chia một cách ngẫu nhiên vào hai nhóm khác nhau: nhóm tham gia và nhóm không

tham gia chính sách Việc lựa chọn một cách ngẫu nhiên đảm bảo hai nhóm này có sự đồng nhất cao, do đó, kết quả khác biệt đầu ra hoàn toàn là tác động của chính sách Hay nói cách khác, các sai số đã được loại bỏ

Lúc này, tác động của chính sách có thể được diễn đạt bằng phương trình hồi quy đa biến:

Y = 0+TTi + XXi + i Với T là biến có can thiệp chính sách, Xi biến kiểm soát các yếu tố đầu vào và Y là kết quả dầu ra,  i là sai số của phương trình Phương trình hồi quy này hàm ý rằng sau khi kiểm soát các yếu tố khác biệt Xi, thì tác động của chính sách lúc này là T

Dễ nhận thấy rằng, với phương pháp mẫu ngẫu nhiên, có hai vấn đề lớn cần được kiểm soát tốt nếu muốn đảm bảo về mặt kết quả ước lượng: (1) việc phân chia quan sát vào hai nhóm phải ngẫu nhiên; và (2) tập các biến kiểm soát Xi là đầy đủ, tức có thể kiểm soát hết các biến tác động đến đầu ra chính sách

3.1.3 Phương pháp điểm xu hướng (PSM – Propensity Score Matching Method)

Thực tế cho thấy rằng, rất khó để tạo ra một nhóm đối chứng ngẫu nhiên hoàn toàn để làm căn cứ đánh giá tác động Vì vậy, bản chất của phương pháp PSM là xây dựng nên một nhóm đối chứng tương đồng nhất với nhóm xem xét dựa trên những đặc trưng quan sát được nhất định Với cách tiếp cận đó, Rosenbaum (1983) đã xây dựng một hàm xác suất về khả năng tham gia chính sách của các đối tượng dựa trên tập biến kiểm soát X Theo đó, tác giả này chứng minh rằng xem xét trên X cũng tương tự như xem xét trên P(X), từ đó, các sai biệt giữa nhóm tham gia và nhóm đối chứng có cùng P(X) là có thể tính toán được

Để đảm bảo tính chính xác của ước lượng bằng phương pháp PSM cần 2 giả định Thứ

Trang 29

nhất giả định về độc lập có điều kiện, cho rằng xác suất tham gia chương trình hoàn toàn dựa trên các đặc tính quan sát được Thứ hai, giả định về vùng hỗ trợ chung, đảm bảo phải có sự trùng lặp tương đối trong mật độ đối tượng tham gia vào nhóm kiểm soát và đối tượng tham gia vào nhóm tác động

3.1.4 Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DiD – Difference in Difference)

DiD là phương pháp được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu đánh giá tác động chính sách Trong đó, các đối tượng nghiên cứu được phân tách thành hai nhóm: nhóm tham gia/bị tác động bởi chính sách và nhóm đối chứng – nhóm không tham gia/không bị tác động đáng kể bởi chính sách Tiếp đến, việc phân tích chính sách cần sử dụng hai biến giả với quy ước như sau:

- Biến giả phản ánh đặc tính có tham gia chính sách hay không của đối tượng D = 1 nếu

là nhóm tham gia và D = 0 nếu là nhóm đối chứng

- Biến giả phản ánh thời điểm T T = 1 mô tả thời điểm sau khi có chính sách và T = 0

mô tả thời điểm trước chính sách

Nguyên tắc cơ bản của phương pháp DiD là so sánh mức chênh lệch giữa kết quả đầu

ra Y của hai nhóm này ở thời điểm sau khi có chính sách với trước khi có chính sách Độ lớn của chênh lệch thể hiện độ lớn của tác động do chính sách mang lại với giả định các yếu tố khác đã được kiểm soát chặt chẽ thông qua cách lựa chọn hai nhóm Như vậy, ta có thể diễn đạt lại như sau:

- Vào thời điểm trước khi có chính sách, T = 0, chênh lệch đầu ra của hai nhóm là: (YT=01|D = 1) – (YT=00|D = 0)

- Vào thời điểm sau khi có chính sách, T = 1, chênh lệch đầu ra của hai nhóm là: (YT=11|D = 1) – (YT=10|D = 0)

- Tác động của chính sách được đo lường bằng chênh lệch của hai biểu thức trên:

Trang 30

ATT = [(YT=11|D = 1) – (YT=10|D = 0)] – [(YT=01|D = 1) – (YT=00|D = 0)]

Một trong những giả định quan trọng của phương pháp này là nhóm tham gia và nhóm đối chứng phải có những đặc điểm tương tự nhau trước thời điểm có chính sách diễn ra, từ đó, giả định song song được đảm bảo Có như vậy, chênh lệch đo lường được của hai nhóm theo phương pháp DiD mới có thể phản ánh gần đúng tác động của chính sách (do các tác động khác đã được loại bỏ dựa vào giả định song song) Mô tả bằng đồ thị phương pháp DiD như sau:

Hình 3.1: Sơ đồ thể hiện phương pháp đánh giá tác động chính sách bằng DiD

Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, 2006, Phân tích tác động chính sách công

Đánh giá tác động chính sách bằng phương pháp DiD là một hình thức mới thay thế cho việc sử dụng phương pháp hồi quy OLS đa biến thông thường Vì phương pháp hồi quy

đa biến OLS chỉ xem xét sự khác biệt giữa nhóm tham gia và không tham gia chính sách vào cùng một thời điểm nên hầu như nó bỏ qua tác động của rất nhiều yếu tố ảnh hưởng Trái lại,

Trang 31

với phương pháp khác biệt kép, việc xem xét sự thay đổi của 2 nhóm tham gia và không tham gia vào 2 thời điểm – trước và sau khi có chính sách – cùng với những điều kiện phù hợp sẽ giúp khắc phục được nhược điểm nêu trên

Diễn đạt bằng mô hình hồi quy tuyến tính, ta có dạng như sau:

Y = ao + a1Year*D + a2Year +a3D + a4X + e Với Year là biến giả chỉ thời gian, nhận giá trị 1 nếu là năm sau khi có chính sách và nhận giá trị 0 nếu là năm trước khi có chính sách Hệ số của biến tương tác Year*D chính là

Trang 32

Nguồn: tác giả tổng hợp

Hình 3.2: Tổng hợp một số phương pháp đánh giá tác động theo dạng dữ liệu Trong phạm vi nghiên cứu này, nhằm có được kết quả đánh giá tác động chính xác nhất, tác giả kết hợp phương pháp khác biệt trong khác biệt kết hợp điểm xu hướng

3.2 Mô hình đề xuất

3.2.1 Mô hình khác biệt trong khác biệt (DiD) kết hợp điểm xu hướng (PSM)

Với những phân tích trên, tác giả sẽ sử dụng phương pháp PSM để tạo ra vùng hỗ trợ chung với những quan sát tương đồng nhau về các đặc điểm quan sát được giữa nhóm bị tác động bởi chính sách và nhóm đối chứng Từ đó, làm cơ sở để dùng phương pháp DiD để đánh giá tác động của chính sách, loại bỏ những đặc trưng không quan sát được và không đổi qua các năm Chiến lược xây dựng mô hình gồm 4 bước như bên dưới:

Bước 1: Dựa trên các lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan để xác định các biến phù hợp đưa vào mô hình;

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG

Dữ liệu bất kỳ:

Phương pháp mẫu ngẫu nhiên

Dữ liệu bảng:

Phương pháp điểm xu hướng (PSM)

Dữ liệu chéo:

Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DiD)

Trang 33

Bước 2: Sử dụng phương pháp điểm xu hướng để tìm ra nhóm tham gia và nhóm không tham gia chính sách đồng nhất;

Bước 3: Chạy mô hình DiD kết hợp OLS trên vùng dữ liệu chung vừa tìm được, tiếp cận theo phương pháp từ tổng quát đến đơn giản – đưa hết các biến có được từ nghiên cứu định tính vào mô hình, sau đó điều chỉnh dần cho phù hợp;

Bước 4: Kiểm tra và khắc phục các hiện tượng vi phạm giả thiết nếu có

3.2.2 Chiến lược chọn biến

Biến phụ thuộc:

Như phần giới thiệu ở chương 2, biến phụ thuộc của mô hình là biến thu nhập, xét trên

cả 3 chỉ tiêu: (1) thu nhập từ tiền lương việc làm chính; (2) thu nhập từ việc làm chính kể cả các khoản ngoài lương; và (3) tổng thu nhập tính từ tất cả các nguồn mà lao động có được Biến tác động chính sách:

Trong phần tổng quan về chính sách tiền lương tối thiểu vùng đã giới thiệu, vì chính sách này chỉ tác động đến các đối tượng có tiền lương dưới mức tiền lương tối thiểu nên đây

sẽ là căn cứ chính để tác giả xác định biến tác động chính sách Cách tiếp cận này hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu trước đây đã trình bày Cụ thể, nếu những quan sát có mức tiền lương thấp hơn mức tiền lương tối thiểu ở năm xảy ra chính sách (2011 và 2013) thì sẽ xếp vào nhóm tham gia hay nhóm bị chính sách tác động, những quan sát còn lại sẽ xếp vào nhóm đối chứng vì không chịu tác động bởi chính sách

Về mặt lý thuyết, dữ liệu sẽ tốt nhất nếu các quan sát ở cả hai nhóm nằm xung quanh mức tiền lương tối thiểu, tuy nhiên, do giới hạn về mặt dữ liệu, tác giả quyết định sẽ phân chia các đối tượng trong mẫu thu được như trên

Mô hình đề xuất:

Trang 34

bình quân tháng của lao động có được từ tất cả các nguồn Các đối tượng được chọn lọc sẽ trích xuất từ dữ liệu hộ gia đình gồm những cá nhân có độ tuổi lao động theo luật định như đã phân tích ở trên (từ 15 tuổi trở lên) Các biến kiểm soát sau khi đã được xác định thông qua nghiên cứu định tính sẽ được chọn lọc trong cùng bộ dữ liệu này Hệ thống các biến được chọn được mã hóa như bảng dưới

Bảng 3.1: Hệ thống các biến, mã hóa và ý nghĩa biến

Grossinc12 Thu nhập bình quân tháng của lao động có từ các nguồn năm 2012 Salary14 Thu nhập từ tiền lương bình quân tháng của việc làm chính 2014 Incjob14 Thu nhập bình quân tháng từ việc làm chính năm 2014

Grossinc14 Thu nhập bình quân tháng của lao động có từ các nguồn năm 2014

Biến chính sách

T 1 – Nếu là nhóm bị chính sách tác động (dưới mức tiền lương tối

thiểu); 0 – Nếu là nhóm không bị chính sách không tác động (trên mức tiền lương tối thiểu)

Biến giải thích

Eminor Dân tộc: 1 – Nếu là Kinh; 0 – Nếu khác

Urban 1 – Nếu ở thành thị; 0 – Nếu ở nông thôn

Gender Giới tính của lao động: 1- Nếu là Nam; 0 – Nếu là Nữ

Trang 35

Từ kết quả tổng quan các tài liệu liên quan kết hợp với nghiên cứu định tính về các phương pháp đánh giá tác động, tác giả mô hình hóa mô hình nghiên cứu như bên dưới:

Nguồn: tác giả tự tổng hợp

Hình 3.3 : Mô hình nghiên cứu đề xuất

3.3 Nguồn tài liệu

Đề tài này chủ yếu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ bộ dữ liệu VHLSS 2010, 2012 và 2014

Bộ VHLSS tên tiếng Anh là Vietnam Household Living Standard Survey, được biết đến với tên gọi bộ dữ liệu điều tra mức sống và nhà ở của Việt Nam, do Tổng cục thống kê tiến hành điều tra 2 năm một lần Đây được xem là dữ liệu chính thống và được sử dụng trong nhiều nghiên cứu ở Việt Nam Tác giả sẽ đánh giá tác động chính sách tiền lương tối thiểu lên thu nhập lao động theo từng giai đoạn, ứng với các bộ dữ liệu VHLSS sẵn có: 2010 – 2012, 2012 -

2014

Trong đó, biến đầu ra gồm 3 mức độ: (1) thu nhập tính từ tiền lương/tiền công của lao động trong một tháng, chỉ tính từ công việc thứ nhất; (2) thu nhập gồm cả các giá trị hiện vật, tiền thưởng thêm mà lao động có được từ việc làm thứ nhất, tính bình quân tháng; (3) thu nhập

Trang 36

Married Tình trạng hôn nhân lao động:

1 – Nếu đã lập gia đình; 0 – Nếu chưa

Redriver 1 – Nếu ở đồng bằng sông Hồng; 0 - Khác

North 1 – Nếu ở trung du và miền núi phía Bắc; 0 - Khác

Central 1 – Nếu ở đồng bằng duyên hải miền Trung; 0 - Khác

Highland 1 – Nếu ở Tây Nguyên; 0 - Khác

Mekongriver 1 – Nếu ở đồng bằng sông Cửu Long; 0 - Khác

Slandwater Diện tích mặt đất, nước bình quân sở hữu

Cuối cùng, để chuẩn bị dữ liệu cho quá trình phân tích với phương pháp DiD, tác giả

sẽ tiến hành hợp 2 bộ dữ liệu để chỉ chọn những đối tượng phù hợp với các đặc tính đã được xác định theo nhóm biến kiểm soát

Bảng 3.2: Số quan sát trong các bộ dữ liệu VHLSS 2010 – 2014

Trang 37

Số quan sát có tham gia

Nguồn: tác giả tự tính toán

Bên cạnh các dữ liệu định lượng nêu trên, đề tài còn thu thập các nguồn tài liệu thứ cấp khác có liên quan đến các vấn đề về tiền lương tối thiểu, chính sách tiền lương tối thiểu, thu nhập của lao động, các khái niệm về doanh nghiệp và các thành phần kinh tế thông qua các bài báo, các nghiên cứu trên tạp chí được chọn lọc từ mạng internet

3.4 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ được thiết kế theo các bước tuần tự được sơ đồ hóa như bên dưới Cụ thể, sau khi nhận diện vấn đề, công tác nghiên cứu sơ bộ sẽ được tiến hành Trong đó, thu thập

dữ liệu thứ cấp liên quan đến chính sách tiền lương tối thiểu, các thông tin liên quan từ VCCI

và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, bộ VHLSS… và nghiên cứu định tính là các bước quan trọng để tiến hành xem xét tài liệu, đánh giá các phương pháp và vạch ra khung phân tích phù hợp

Sau đó, quá trình nghiên cứu chính thức với việc phân tích định lượng sẽ được kết hợp chặt chẽ với việc phỏng vấn chuyên gia để tiến hành đánh giá Các bước cần thiết trong phân tích định lượng sẽ bao gồm: thu thập dữ liệu và làm sạch, xử lý, phân tích, trích xuất kết quả

và báo cáo

Trang 38

Nguồn: tác giả tự thực hiện

Hình 3.4: Sơ đồ thiết kế nghiên cứu của đề tài

Phỏng vấn sâu chuyên gia

Lựa chọn khung phân tích phù hợp

Xem xét tài liệu liên quan

Xác định các phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu Thứ cấp

Nghiên cứu định tính

Làm sa ̣ch dữ liệu

Phân tích dữ liệu

Kết quả nghiên cứu

Báo cáo kết quả nghiên cứu

Xử lý dữ liệu Thu thập dữ liệu

đề nghiên cứu nghiên cứu

Nghiên cứu sơ

bộ

Nghiên cứu chính thức

Nghiên cứu định lượng

Trang 39

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Thực trạng chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam

Kể từ năm 1947, khái niệm tiền lương tối thiểu mới bắt đầu hình thành ở Việt Nam,

được quy định trong tiết thứ năm của Sắc lệnh số 29-SL: “là số tiền công do Chính phủ ấn

định theo giá sinh hoạt để một công nhân không chuyên nghiệp sinh sống một mình trong một ngày ở một khu vực nhất định” Theo đó, mặc dù mang tên gọi là “tiền công tối thiểu” nhưng

về bản chất, khái niệm này là căn cứ để đảm bảo đời sống tối thiểu của công nhân lúc bấy giờ, cũng như nêu rõ trách nhiệm của các bên liên quan trong việc xác định mức tiền lương và thẩm quyền hoạt động

Trong giai đoạn từ 1960 đến 1985, chế độ tiền lương được quy định sẵn thông qua hệ thống bậc lương và phụ thuộc vào ngân sách quốc gia Do đó, các quan hệ thị trường giữa người lao động và các doanh nghiệp không tồn tại mà được quyết định thông qua mệnh lệnh hành chính và kế hoạch hóa hoàn toàn Mức lương tối thiểu không thực sự được đề cập suốt thời kỳ bao cấp này Tuy nhiên, mức lương bậc một được xem như là lương tối thiểu, làm căn

cứ để trả công cho lao động của giới chủ

Quyết tâm cải cách và thoát ra khỏi chế độ kế hoạch hóa tập trung, Việt Nam đã nỗ lực

áp dụng các nguyên tắc tự do kinh doanh vào nền kinh tế từ nửa cuối những năm 1985 Để đáp ứng được đòi hỏi đó, Nghị định số 35/NĐ-HĐBT ngày 18/09/1985 về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang được ra đời Đây được xem là một căn cứ pháp lý mới, đánh dấu sự thay đổi rõ rệt cho đời sống lao động Theo đó, mức lương tối thiểu được áp dụng là 220 đồng/tháng, góp phần làm tăng tiền lương lên 64% tính đến tháng 9/1945 Tuy vậy, do nền kinh tế còn khó khăn, tổng sản phẩm quốc dân thấp dẫn đến việc đánh giá lệch lạc giá trị sức lao động, đòi hỏi phải có những cải cách trong giai đoạn tiếp theo

Với sự xuất hiện của các thành phần kinh tế mới, những thay đổi trong chế độ tiền lương tối thiểu cuối những năm 80 và đầu những năm 90 đã bước đầu đảm bảo công bằng cho người lao động Quyết định số 202-HĐBT về tiền lương công nhân, viên chức sản xuất kinh doanh khu vực quốc doanh và công tư hợp doanh và Quyết định số 203-HĐBT về tiền lương

Trang 40

công nhân, viên chức hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang và các đối tượng hưởng chính sách xã hội quy định mức tiền lương tối thiểu là 22.500 đồng/tháng Mặc dù những nỗ lực phân biệt tiền lương lần đầu tiên đối với cán bộ, công nhân viên chức hành chính sự nghiệp với lao động ở các doanh nghiệp là tích cực, tuy nhiên, việc quy định một mức lương tối thiểu chung như trên đã tạo ra hiện tượng “bình quân chủ nghĩa”, không đo đúng giá trị sức lao động trong từng khu vực Bên cạnh đó, việc đánh giá đúng giá trị sức lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, một thành phần kinh tế mới được nêu rõ trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, cũng là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong cải cách tiền lương giai đoạn này Vì vậy, ngày 29/8/1990 Quyết định số 356/LĐTBXH/QĐ

về mức lương tối thiểu của người lao động trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được ban hành với quy định mức lương tối thiểu áp dụng trong riêng khu vực này là 50 USD/tháng

Từ những năm 1990, do ảnh hưởng từ sự bất ổn của Liên xô, kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, đặt biệt, mức lạm phát cao đã tạo ra nhiều thách thức cho đời sống xã hội Theo đó, chính sách tiền lương giai đoạn trước mất dần hiệu lực, không phản ánh đúng giá trị sức lao động Không những vậy, chính sự cào bằng, không phân biệt giữa những vùng miền, khu vực có điều kiện địa lý, kinh tế khác nhau đã khắc sâu thêm tình trạng bất công bằng trong phân phối thu nhập Trước những thách thức này, Nghị định số 26/CP quy định tạm thời chế

độ tiền lương mới trong các doanh nghiệp và Nghị định số 25/CP quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính-sự nghiệp và lực lượng vũ trang được Chính phủ ban hành nhằm cố gắng sửa chữa những khuyết tật của chế độ tiền lương cũ Với quan điểm cải cách tiền lương tối thiểu thực sự trở thành “lưới an toàn cho người lao động”, Chính phủ áp dụng mức lương tối thiểu mới cho cả 2 khu vực trên là 120.000 đồng/tháng

Ngày 23/06/1994, Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Bộ luật lao động, trong đó,lần đầu tiên ghi nhận một cách đầy đủ, toàn diện trong văn bản pháp lý có hiệu lực cao đối với tiền lương tối thiểu Ngày 31/12/1994 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 197/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ lao động về tiền lương

Ngày đăng: 25/10/2017, 23:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w