HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINHHỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I PHẠM VĂN TIẾN TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC HỌC SINH, SINH VIÊN TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGH
Trang 1PHẠM VĂN TIẾN
TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC HỌC SINH, SINH VIÊN TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
GIAI ĐOẠN 2016 – 2020
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI, THÁNG 5 NĂM 2016
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
PHẠM VĂN TIẾN
TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC HỌC SINH, SINH VIÊN TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
GIAI ĐOẠN 2016 – 2020
Người thực hiện: Phạm Văn Tiến
Lớp: Cao cấp LLCT Liên Bộ Y tế - Khoa học và
Công nghệ - Lao động Thương binh và Xã hội
Chức vụ: Phó vụ trưởng Vụ Công tác Học sinh, sinh viên Đơn vị công tác: Tổng Cục dạy nghề - Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội
HÀ NỘI, THÁNG 5 NĂM 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám đốc Học viện, các Thầy giáo, Côgiáo, Ban Quản lý đào tạo, Cô giáo chủ nhiệm lớp đã tạo mọi điều kiện thuậnlợi, tận tình, trách nhiệm trong giảng dạy, truyền tải kiến thức và chia sẻ nhiềukinh nghiệm quý báu giúp tôi hoàn thành khóa học, có được một nền tảngkiến thức lý luận quan trọng, làm cơ sở để thực hiện tốt nhiệm vụ được giaotrong quá trình công tác
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Tổng cục Dạy nghề và cácđồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành Đề án với kết quảtốt nhất Cảm ơn Giảng viên theo dõi và cố vấn thực hiện Đề án đã trực tiếp,tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian qua để hoàn thành Đề án này
Tuy đã cố gắng nhưng bản thân còn thiếu kinh nghiệm và thời gian
có hạn, khả năng nghiên cứu còn có những hạn chế, nên Đề án không thểtránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong tiếp tục nhận được sự quantâm, góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo để Đề án được hoàn thiệnvới đầy đủ các nội dung yêu cầu Mong muốn Đề án được thực hiện với kếtquả cao nhất, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có kỹthuật cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả đề án
Phạm Văn Tiến
Trang 4MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1 Lý do xây dựng đề án 1
2 Mục tiêu của đề án 2
3 Giới hạn của đề án 3
B NỘI DUNG 4
1 Cơ sở xây dựng đề án 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý 10
1.3 Cơ sở thực tiễn 12
2 Nội dung thực hiện của đề án 14
2.1 Bối cảnh thực hiện đề án 14
2.2 Thực trạng vấn đề cần giải quyết trong đề án 18
2.3 Nội dung cụ thể đề án cần thực hiện 33
2.4 Các giải pháp thực hiện đề án 34
3 Tổ chức thực hiện đề án 42
3.1 Phân công trách nhiệm thực hiện đề án 42
3.2 Tiến độ thực hiện đề án 43
3.3 Kinh phí thực hiện các hoạt động của đề án 43
4 Dự kiến hiệu quả của đề án 44
4.1 Ý nghĩa thực tiễn của đề án 44
4.2 Đối tượng hưởng lợi của đề án 44
4.3 Những thuận lợi, khó khăn khi triển khai đề án 44
C KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạoTHPT : Trung học phổ thôngTHCS : Trung học cơ sở
ĐTN : Đào tạo nghề
TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lý do xây dựng đề án
Cách đây hơn 200 năm, đại thi hào Nguyễn Du, danh nhân văn hóa thế
giới, đã viết: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài” Năm 1996, Chủ tịch Ủy
ban UNESCO về Giáo dục cho thế kỷ XXI, Jacques Delors, đã công bố bảnbáo cáo “Học tập: Một tài sản tiềm ẩn”, trong đó khẳng định bốn trụ cột củagiáo dục là: Học để biết; Học để làm; Học để tồn tại và Học để chung sống.Hầu hết các trường học nước ta hiện nay đều đề cao khẩu hiệu “Tiên học lễ,hậu học văn”, học sống làm người trước rồi mới học chữ để hành nghề
Ngân hàng Thế giới gọi thế kỷ 21 là kỷ nguyên của kinh tế dựa vào kỹnăng, năng lực của con người được đánh giá trên cả 3 khía cạnh: kiến thức; kỹnăng và thái độ Trong đó kiến thức chiếm 4%, kỹ năng 26%, thái độ chiếm70% Chúng ta bước vào thế kỷ 21 đã 16 năm, thế mà chương trình đào tạo vàviệc đánh giá năng lực của học sinh, sinh viên vẫn dựa chủ yếu vào kiến thức.Trong giáo dục nghề nghiệp đã quan tâm đến đánh giá kỹ năng nghề nghiệpnhưng trong tình trạng phần lớn trang thiết bị hình thành kỹ năng còn nghèo
và lạc hậu chưa tiếp cận được khoa học và công nghệ hiện đại
Lâu nay chúng ta chỉ nghĩ đến xuất khẩu lao động, nhưng một thực tếmới đang thách thức người lao động Việt Nam là chúng ta đã gia nhập WTO,gia nhập TPP và AEC, người nước ngoài đang đến làm việc tại Việt Namngày càng nhiều Chúng ta có thể bị thất nghiệp trong khi phải thuê lao độngnước ngoài cao hơn rất nhiều so với lao động trong nước
Trong những thập niên vừa qua, nền kinh tế nước ta thực hiện theo cơchế thị trường đã cho thấy phần lớn học sinh, sinh viên khi tốt nghiệp ratrường, tỉ lệ có việc làm rất thấp, trong khi lao động có kỹ thuật cao vừa thiếuvừa yếu đang là một thách thức đối với đối với sự nghiệp công nghiệp hóa,
Trang 7hiện đại hóa đất nước Theo quan điểm của UNESCO về Giáo dục cho thế kỷXXI thì “học để tồn tại và học để chung sống” là 2/4 trụ cột của giáo dục chưađược quan tâm đúng mức và đã trở thành rào cản trong tiến trình hội nhậpkinh tế, quốc tế
Ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, kiến thức kỹ năng mềm chưa phải làkiến thức được đào tạo chính khóa, mà chỉ được thực hiện thông qua các hoạtđộng ngoại khóa trong thời gian các em học tập tại nhà trường Chính vì vậychưa có biên chế giáo viên, giảng viên, giảng dạy kỹ năng mềm cho học sinh,sinh viên mà thực hiện nhiệm vụ này là cán bộ làm công tác học sinh, sinhviên; giáo viên chủ nhiệm Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng mềm cho cán
bộ làm công tác học sinh, sinh viên hiện nay là nhu cầu bức thiết
Những năm gần đây Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chứcđào tạo, bồi dưỡng thí điểm kỹ năng mềm cho cán bộ làm công tác học sinh,sinh viên, với mong muốn đào tạo được đội ngũ cán bộ, giáo viên nòng cốt có
đủ năng lực, kiến thức, kinh nghiệm trong quản lý, giáo dục kỹ năng mềm chohọc sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cả nước
Với các lý do trên, Tôi lựa chọn đề án “Tăng cường giáo dục kỹ năng mềm cho cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2016 - 2020” làm đề án tốt nghiệp Cao cấp lý luận
chính trị
2 Mục tiêu của đề án
2.1.Mục tiêu chung
Đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ hạt nhân làm công tác học sinh,sinh viên có kỹ năng, kiến thức và phương thức thực hiện nhiệm vụ Công táchọc sinh, sinh viên có hiệu quả thiết thực đối với học sinh, sinh viên trong các
cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Trang 8Từng bước hoàn thiện chương trình, xây dựng giáo trình đào tạo, bồidưỡng kỹ năng mềm, hướng tới trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đểđưa vào nội dung đào tạo chính khóa tại các trường Đại học sư phạm, Đại học
sư phạm kỹ thuật, khoa Sư phạm kỹ thuật thuộc các trường cao đẳng tronggiáo dục nghề nghiệp trên toàn quốc
2.2 Mục tiêu cụ thể
Phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% cán bộ làm công tác học sinh, sinhviên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tham gia chương trình đàotạo, bồi dưỡng kỹ năng mềm
Nâng cao hiệu quả thực hiện công tác học sinh, sinh viên trong các cơ
sở giáo dục nghề nghiệp trên cả nước
Tổng kết rút kinh nghiệm để tiến hành tổ chức đào tạo, bồi dưỡngchuyên sâu rộng khắp trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp
3 Giới hạn của đề án
3.1 Đối tượng của đề án
Phát triển kỹ năng mềm cho đội ngũ cán bộ làm công tác học sinh, sinhviên tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên toàn quốc
3.2 Thời gian, không gian thực hiện đề án
Không gian: Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm: Trung tâm
Giáo dục nghề nghiệp, Trường trung cấp, Cao đẳng trong hệ thống Giáo dụcnghề nghệp trên toàn quốc
Thời gian: Đề án được thực hiện trong giai đoạn 2016 - 2020.
Nội dung: Đề án tập trung phân tích 05 kỹ năng cơ bản, phù hợp với
kiến thức kỹ năng cần trang bị cho đội ngũ lao động có kỹ thuật trong tìnhhình mới, bao gồm: Kỹ năng tổ chức công việc và quản lý thời gian hiệu quả;
Kỹ năng giao tiếp; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng làm việc đồng đội; Kỹ
năng làm việc hiệu quả trong môi trường áp lực
Trang 9B NỘI DUNG
1 Cơ sở xây dựng đề án
1.1 Cơ sở khoa học
Kỹ năng sống và kỹ năng mềm không phải là hai phạm trù khác nhau, vàcàng không phải là hai phạm trù giống nhau, mà kỹ năng mềm chính là mộtphần của kỹ năng sống, hay kỹ năng sống bao gồm kỹ năng mềm và một số
kỹ năng khác
Giáo dục kỹ năng mềm
Giáo dục kỹ năng mềm là một quá trình tác động sư phạm có mục đích,
có kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan tớikiến thức và thái độ, giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xãhội, thực hiện công việc, ứng phó hiệu quả với các yêu cầu thách thức củacuộc sống hàng ngày
Cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên
Cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên là người được tuyển dụng, biênchế làm việc tại phòng Công tác học sinh, sinh viên trong các trường trungcấp, cao đẳng, đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân, theo quy định của
Bộ Nội vụ
Trang 10Nhiệm vụ của cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên:
Tham mưu trình Lãnh đạo nhà trường ban hành các văn bản quản lýthuộc lĩnh vực công tác học sinh, sinh viên
Tổ chức tiếp nhận học sinh, sinh viên trúng tuyển vào học tại Trường;sắp xếp, bố trí vào các lớp theo chuyên ngành được tuyển chọn; quản lý hồ sơsinh viên theo quy định
Là đầu mối chủ trì, phối hợp với Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ ChíMinh, Hội Sinh viên và các đơn vị trong và ngoài Trường để thực hiện cáccông tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, văn hoá, thẩm mỹ
Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao, tư vấn nghề nghiệp, dịch vụviệc làm, tâm lý và các hoạt động khác cho sinh viên; xây dựng môi trườnggiáo dục lành mạnh cho sinh viên và học sinh
Theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của sinh viên Phối hợpvới Phòng Đào tạo tổng hợp kết quả học tập, rèn luyện, đánh giá chất lượngtoàn diện đối với sinh viên để công nhận tốt nghiệp
Tổ chức, thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với sinhviên về học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, tín dụng đào tạo và các chế độ khác
có liên quan đến sinh viên
Hàng năm, tổ chức đối thoại với sinh viên Tạo điều kiện thuận lợi chosinh viên tham gia tổ chức Đảng, các đoàn thể trong Trường
Thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật sinh viên
Phối hợp với các đơn vị trong Trường, cơ quan chức năng và chínhquyền địa phương thực hiện công tác sinh viên ngoại trú
Phối hợp cơ quan Y tế trong công tác vệ sinh phòng bệnh cho sinhviên, học sinh
Xử lý các vấn đề về an ninh, chính trị liên quan đến học sinh, sinh viên
Trang 11 Quản lý khu nội trú trong việc đánh giá kết quả rèn luyện, khenthưởng, kỷ luật, tổ chức đời sống vật chất và tinh thần đối với sinh viên, họcsinh nội trú.
Cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Theo quy định tại Điều 5, Chương I, Luật Giáo dục nghề nghiệp số74/2014/QH13, ngày 27 tháng 11 năm 2014 quy định cơ sở giáo dục nghềnghiệp bao gồm: Trung tâm giáo dục nghề nghiệp; Trường trung cấp; Trườngcao đẳng
1.1.2 Nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên
Kỹ năng mềm trong cuộc sống là những kỹ năng cần có cho hành vi lànhmạnh, tích cực cho phép mỗi cá nhân đối mặt với những thách thức của cuộcsống hàng ngày Đó là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêucầu và thách thức của cuộc sống, cũng là khả năng của một cá nhân để duy trìmột trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp
và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xungquanh Trong rất nhiều kỹ năng mềm của kỹ năng sống, cán bộ làm công táchọc sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, với nhiệm vụ cơbản là giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, văn hoá, thẩm mỹ… cầnđược đào tạo, bồi dưỡng 5 kỹ năng sau đây để góp giáo dục toàn diện cho họcsinh, sinh viên:
1.1.2.1 Kỹ năng giao tiếp
Giao tiếp đó là một tập hợp những qui tắc, nghệ thuật, cách ứng xử, đốiđáp được đúc rút qua kinh nghiệm thực tế hằng ngày giúp mọi người hiểunhau hơn Có thể nói kỹ năng giao tiếp đã được nâng lên thành “nghệ thuậtgiao tiếp” bởi trong bộ kỹ năng này có rất nhiều kỹ năng nhỏ khác như kỹnăng lắng nghe, kỹ năng thấu hiểu, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể, kỹ năng
Trang 12sử dụng ngôn từ, âm điệu… Để có được kỹ năng giao tiếp tốt đòi hỏi người sửdụng phải thực hành thường xuyên, áp dụng vào mọi hoàn cảnh mới có thểcải thiện tốt kỹ năng giao tiếp của mình Ngoài ra giao tiếp cũng là một loạihình thông minh của con người.
Kỹ năng giao tiếp của đội ngũ cán bộ làm công tác học sinh, sinh viêntrong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nâng cao khả năng truyền thông của bảnthân cũng như đem lại nhiều thiện cảm và ấn tượng với những người mà họtiếp xúc
1.1.2.2 Kỹ năng giải quyết vấn đề
Kỹ năng giải quyết vấn đề là một trong những kỹ năng rất cần thiết tronghọc tập và làm việc bởi cuộc sống là một chuỗi những vấn đề đòi hỏi chúng taphải giải quyết mà không vấn đề nào giống vấn đề nào và cũng không có mộtcông thức chung nào để giải quyết mọi vấn đề Điều quan trọng là chúng taphải tự trang bị cho mình những hành trang cần thiết để khi vấn đề nảy sinhthì chúng ta có thể vận dụng những kỹ năng sẵn có để giải quyết vấn đề đómột cách hiệu quả nhất
Kỹ năng giải quyết vấn đề giúp đội ngũ cán bộ làm công tác học sinh,sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể bày tỏ những vấn đềcần giải quyết, từ đó nâng cao hiệu quả công tác
1.1.2.3 Kỹ năng làm việc đồng đội
Kỹ năng làm việc đồng đội là kỹ năng tương tác giữa các thành viêntrong một nhóm, nhằm thúc đẩy hiệu quả công việc, phát triển tiềm năng củatất cả các thành viên Một mục tiêu lớn thường đòi hỏi nhiều người làm việcvới nhau, vì thế làm việc nhóm trở thành một định nghĩa quan trọng trong tổchức cũng như trong cuộc sống
Kỹ năng làm việc đồng đội giúp đội ngũ cán bộ làm công tác học sinh,sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cảm thấy không bị cô lập và
Trang 13đơn độc trước những khó khăn trong tổ chức; từ đó mỗi cá nhân tự tin chia sẻnguồn lực, ý tưởng, thông tin; sáng kiến trong công việc; phát huy tinh thầnđồng đội.
1.1.2.4 Kỹ năng tổ chức công việc và quản lý thời gian hiệu quả
Kỹ năng tổ chức công việc và quản lý thời gian hiệu quả là kỹ năng sắpxếp lên danh sách mức độ công việc quan trọng cần ưu tiên thực hiện trướchay những công việc không mấy quan trọng thực hiện sau
Trên cơ sở đó, đội ngũ cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các
cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ rèn luyện khả năng lập luận tư duy trong côngviệc của bạn được hiệu quả hơn như là sử dụng hệ thống sắp xếp thứ tự theo
ưu tiên được diễn giải trong các khóa học về quản lý thời gian
1.1.2.5 Kỹ năng làm việc hiệu quả trong môi trường áp lực
Áp lực công việc là sức ép từ môi trường làm việc, từ chính nội dungcông việc, hay từ chính bản thân nhân viên Áp lực công việc có thể có thậthoặc do cảm nhận của riêng từng người
Trong thực tế công tác học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghềnghiệp luôn luôn tồn tại những áp lực như có quá nhiều công việc, cử chỉkhiếm nhã nơi công sở, nơi làm việc, thiếu bảo đảm nghề nghiệp, làm việctheo ca, thời gian làm việc quá dài, người lãnh đạo không thân thiện, khôngquen chịu áp lực
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục kỹ năng mềm cho cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên
1.1.3.1 Những nhân tố khách quan
Một là, yêu cầu hội nhập Thế giới
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo đã đề ra mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo: “Xâydựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có
Trang 14cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảođảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa,
xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáodục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”
Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các
cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần đáp ứng yêu cầu về trình độ cũng như kỹnăng, đặc biệt là kỹ năng mềm trong xu thế hội nhập Thế giới hiện nay
Thứ hai, quan điểm của Đảng, lãnh đạo đối với việc nâng cao chất lượng
cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên
Quan điểm về xây dựng và phát triển Cán bộ làm công tác học sinh, sinhviên được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm trong suốt quá trình pháttriển đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước
Phát biểu tại Hội nghị Trung ương 2, khóa VIII, đồng chí Đỗ Mười nhấnmạnh: "Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặcbiệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng nhưcán bộ QLGD cả về chính trị, tư tưởng đạo đức và năng lực chuyên môn,nghiệp vụ"
Thứ ba, nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động đào tạo
nâng cao chất lượng Cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển Cán bộ làm công táchọc sinh, sinh viên Một chiến lược có được thực thi hay không thì ngoài việcchiến lược được xây dựng phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, phùhợp với nhu cầu đào tạo của cán bộ lãnh đạo, quản lý thì còn phải để ý đếnyếu tố có đủ kinh phí để thực hiện hay không? Một chiến lược tốt nhưngkhông có đủ kinh phí thì chiến lược đào tạo cũng không được thực hiện vàngược lại Do đó, nguồn kinh phí là điều kiện “cần” để chiến lược đào tạo cóthể thực hiện được
Trang 151.1.3.2 Những nhân tố chủ quan
Một là, nhận thức của bản thân cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên
Một người cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên có kiến thức chuyênmôn tốt, có kỹ năng mềm sẽ xác định được đúng nhu cầu đào tạo, nhận biếtđược chính xác tổ chức đang đứng ở đâu, mục tiêu đào tạo hướng tới là gì vàcách thức để đạt được các mục tiêu đó Điều đó cho thấy, chiến lược đào tạo
đã đi đúng hướng giúp cho tổ chức thực hiện được mục tiêu một cách nhanhnhất và hiệu quả nhất Ngược lại, một người người cán bộ làm công tác họcsinh, sinh viên có trình độ chuyên môn cao, nhưng kỹ năng kém vẫn có thểvẫn đi đúng hướng nhưng cách thức thực hiện vừa tốn thời gian, tốn kém vềmặt chi phí mà các mục tiêu không được thực hiện một cách tốt nhất
Hai là, nhu cầu đào tạo của cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên
Nhu cầu đào tạo của Cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên xuất phát
từ thực trạng trình độ chuyên môn, năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý.Đáp ứng được nhu cầu đào tạo của Cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên làmột trong những mục tiêu của chiến lược đào tạo Do đó, đây là nhân tố chủquan ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển Cán bộ làm công tác học sinh, sinhviên phù hợp với yêu cầu phát triển ngành GD&ĐT hiện nay
1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý
1.2.1 Cơ sở chính trị
Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâmđầu tư cho giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ X đã xác định việc đầu tư cho giáo dục cũng có nghĩa
là đầu tư cho sự phát triển bền vững, là đầu tư cho nguồn nhân lực có chấtlượng cao nhằm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,đội ngũ trí thức giữ một vị trí rất quan trọng Đây chính là yếu tố then chốt,
Trang 16mang tính quyết định đưa đất nước đi lên như cha ông ta đã từng nói: “Hiềntài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì nước mạnh, nguyên khí yếuthì nước suy’’.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI(Nghị quyết số 29-NQ/TW) về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo nước ta đã thể hiện quy luật: muốn đổi mới phải căn bản, toàn diện, khởiđầu cho con đường đi đến kết quả mới của giáo dục và đào tạo nước nhà,ngành giáo dục và toàn dân phải thực sự khởi sắc và có sự dịch chuyển mạnh
mẽ ở tất cả cấp, bậc học, từ mầm non, tiểu học, trung học, giáo dục nghềnghiệp đến đại học, sau đại học
1.2.2 Cơ sở pháp lý
Căn cứ Luật giáo dục 2015;
Căn cứ Luật giáo dục nghề nghiệp 2014;
Căn cứ Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg, ngày 11/01/2005 của Thủtướng Chính phủ về phê duyệt đề án: "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũnhà giáo và cán bộ QLGD giai đoạn 2005-2010"
Căn cứ Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP, ngày 02/11/2005 của Chính phủ
về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục cao đẳng, đại học Việt Nam giaiđoạn 2006-2020
Căn cứ Quyết định số 20/2006/QĐ-TTg, ngày 20/01/2006 của Chính phủ
về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề
Căn cứ Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghịlần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóatrong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhậpquốc tế;
Trang 17Căn cứ Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 6/6/2014 của Ban Bí thư về tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghềcao;
Căn cứ Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Chínhphủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết
số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấphành Trung ương khóa XI;
Căn cứ Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 2 năm 2014 của
Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành quy định quản lý hoạt động giáo dục kỹnăng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa
1.3 Cơ sở thực tiễn
Trong những năm qua, được Đảng và Nhà nước quan tâm, giáo dục nghềnghiệp đã có những bước phát triển đáng kể Số lượng trường cũng như quy
mô học sinh Trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo nghề đều được tăng trưởng
Phát triển số lượng và cơ cấu cơ sở đào tạo
Trong 10 năm qua, mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề đã phát triểnnhanh chóng Từ năm 2005 đến năm 2015 số trường dạy nghề đã tăng khoảng50% Ngoài ra còn có một số trường Trung cấp, Cao đẳng và Đại học cũng cóđào tạo nghề
Bên cạnh đào tạo nghề dài hạn, trong những năm qua, các hình loại cơ sởđào tạo nghề ngắn hạn đã phát triển mạnh Hiện nay đã có 599 Trung tâm Dạynghề, ngoài ra còn có trên 300 Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp;trên 300 Trung tâm Giáo dục Giáo dục thường xuyên có dạy nghề, hơn 150Trung tâm dịch vụ việc làm và hàng ngàn lớp Dạy nghề tại các cơ sở sản xuấtphân bố ở hầu hết các quận, huyện trên địa bàn cả nước
Trang 18Bảng 1.1 Tình hình phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
(Nguồn: Báo cáo Vụ Công tác Học sinh, sinh viên qua các năm)
Trong 10 năm qua, số lượng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã phát
triển mạnh, nhất là các cơ sở dạy nghề ngắn hạn, tỉ lệ lao động qua đào tạo từ
17,07 % vào năm 2005 đã tăng lên 27,79% năm 2015
Tuy nhiên, do sự quản lý chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các Bộ
ngành và địa phương trong việc quy hoạch mạng lưới trường nên mạng lưới
các trường Dạy nghề, TCCN phân bố chưa hợp lý theo ngành nghề, trình độcũng như theo vùng lãnh thổ
Số lượng cơ sở đào tạo GDNN tuy đã tăng trong thời gian qua, nhưng
còn rất mất cân đối so với sự phát triển các cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng.
Phát triển số lượng và cơ cấu tuyển sinh
Cùng với sự phát triển của cơ sở đào tạo, số lượng tuyển sinh các trình
độ của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng tăng nhanh trong 10 năm qua
Trong giai đoạn 2005 – 2015, quy mô đào tạo TCCN cũng như đào tạo
nghề đều tăng nhanh, đặc biệt hệ đào tạo nghề ngắn hạn
Bảng 1.2 Phát triển về số lượng và cơ cấu tuyển sinh cơ sở dạy nghề
Trang 19(Đơn vị: người)
đẳng
Trung cấp chuyên nghiệp
Đào tạo nghề
Tổng Đào tạo nghề
(Nguồn: Báo cáo Vụ Công tác Học sinh, sinh viên qua các năm)
2 Nội dung thực hiện của đề án
2.1 Bối cảnh thực hiện đề án
Một là, yêu cầu hội nhập Thế giới
Trước yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp nhằm tạo racho người học những kỹ năng thiết yếu giúp người học có thể nhanh chóngtiếp cận cơ hội việc làm và làm việc có hiệu quả trong thị trường lao động.Trong xu thế hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi thị trường laođộng ở Việt Nam phát triển linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao sức cạnhtranh của nền kinh tế Thế nhưng, do mới hình thành và phát triển chưa đồng
bộ, nên thị trường lao động Việt Nam đang bộc lộ nhiều điểm yếu lẫn mâuthuẫn, trong đó nghiêm trọng nhất là mất cân bằng giữa cung và cầu, năngsuất lao động thấp Trong khi chúng ta dư thừa sức lao động ở nông thôn thì ởlĩnh vực phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ trung cao cấp lại thiếu hụtlao động trầm trọng
Khi tham gia TPP, Việt Nam có lợi thế là có lực lượng lao động dồi dào
và cơ cấu lao động trẻ Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến giữanăm 2014, quy mô lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam là 53,8triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 47,52 triệu người Tỷ
Trang 20lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 47,1%; khu vực côngnghiệp và xây dựng 20,8%; khu vực dịch vụ là 32,1% Chất lượng lao độngcũng đã từng bước được nâng lên; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 30% lên40% trong vòng 10 năm trở lại đây (theo số liệu của Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội), trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt 30% Lao động quađào tạo đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường laođộng Lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam đã làm chủ được khoa học -công nghệ, đảm nhận được hầu hết các vị trí công việc phức tạp trong sảnxuất kinh doanh mà trước đây phải thuê chuyên gia nước ngoài.
Những yếu kém trên đây cũng chính là những thách thức lớn đối với laođộng Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra nhiệm vụ nặng nề trong việc nâng caochất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế trongquá trình tham gia TPP và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trang bị thêm các kỹ năng giúp sinh viên phát huy hiệu quả các kiếnthức chuyên môn và phát triển tiềm năng cá nhân, đáp ứng tốt hơn, thích ứngnhanh hơn với tình hình thực tế, đáp ứng nhanh nhu cầu cao của của xã hội.Tạo lập môi trường phát triển các kỹ năng mềm để học sinh, sinh viênđược phát huy tối đa năng lực học tập, nghiên cứu khoa học và lập nghiệp;góp phần vào quá trình nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Thứ hai, quan điểm của Đảng, lãnh đạo đối với việc nâng cao chất lượng
cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Trong Hội nghị Trung ương khóa IX nêu rõ: "Các cấp ủy Đảng từ Trungương tới địa phương quan tâm thường xuyên công tác đào tạo, bồi dưỡng nhàgiáo và cán bộ quản lý về mọi mặt, coi đây là một phần trọng tâm của côngtác cán bộ; đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sốngcủa nhà giáo Xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý giáo dục, đảm bảo đủ về số lượng, cơ cấu cân đối, đạt chuẩn đáp
Trang 21ứng yêu cầu thời kỳ mới" Quan điểm này được khẳng định lại trong Chỉ thị40/CT/TW (15/6/2004) của Ban Bí thư: "Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng,đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất,lối sống, lương tâm tay nghề của nhà giáo"
Trong Điều 15, Luật Giáo dục năm 2005 khẳng định: "Nhà nước tổ chứcđào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm cácđiều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò tráchnhiệm của mình
"Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010" của Chính phủ cũng đã nêurõ: "Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu vàchuẩn về chất lượng đáp ứng yêu cầu vừa tăng về qui mô vừa nâng cao chấtlượng và hiệu quả giáo dục"
Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg, ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chínhphủ về phê duyệt đề án: "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo vàcán bộ QLGD giai đoạn 2005-2010" xác định mục tiêu tổng quát: "Xây dựngđội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chấtlượng, đảm bảo về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng caobản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp vàtrình độ chuyên môn của nhà giáo"
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP, ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổimới cơ bản và toàn diện giáo dục cao đẳng, đại học Việt Nam giai đoạn 2006-
2020 xác định: "Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đạihọc đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình
độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiến tiến" và Quyết định
số 20/2006/QĐ-TTg (20/01/2006) của Chính phủ về phát triển giáo dục, đàotạo và dạy nghề Đến năm 2010 khẳng định: "Xây dựng qui hoạch tổng thể
Trang 22phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ QLGD các cấp đảm bảo đủ về sốlượng, đồng bộ về cơ cấu và đạt các tiêu chuẩn chất lượng về trình độ chuyênmôn, nghiệp vụ"
Thứ ba, nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động đào tạo
nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ sở
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Hình 2.1 Nguồn kinh phí NSNN cấp cho hoạt động đào tạo nâng cao chất
lượng cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
(Nguồn: Báo cáo Vụ Công tác Học sinh, sinh viên qua các năm)
Nguồn kinh phí nhà nước cấp cho hoạt động đào tạo nâng cao chất lượngcán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệpđược bố trí hàng năm trong nguồn chi thường xuyên của các địa phương (xemhình 2.1)
Trang 232.2 Thực trạng vấn đề cần giải quyết trong đề án
2.2.1 Thực trạng kỹ năng mềm của cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2011 – 2015
2.2.1.1 Tình hình cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ
sở giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2011 – 2015
a Về số lượng
Trong giai đoạn 2011 – 2015, số lượng cán bộ làm công tác học sinh, sinhviên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cả nước có xu hướng tăng lêncùng với xu hướng tăng lên của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cả nước
Cụ thể: trong năm 2011, số cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trongcác cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cả nước là 2.228 người; đến năm 2012 là
2401 người (tăng 1,01 lần so với năm 2011); đến năm 2013 là 2.457 người(tăng 1,02 lần so với năm 2013); đến năm 2014 là 2.468 người (tăng 1,01 lần
so với năm 2013); đến năm 2015 là 2.480 người (tăng 1,01 lần so với năm2014) và tăng 1,04 lần so với năm 2011
Trang 24Hình 2.2 Thống kê số lượng cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên
trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
(Nguồn: Báo cáo Vụ Công tác Học sinh, sinh viên qua các năm)
b Về trình độ
Trong giai đoạn 2011 – 2015, nhờ sự chỉ đạo quan tâm sát sao của Đảng,Nhà nước về công tác đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm côngtác học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, chất lượng cán
bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có
sự chuyển biến rõ rệt Cụ thể:
Về trình độ văn hóa:
Năm 2011, có 29 người có trình độ tiểu học (chiếm 1,3%), trình độTHCS là 675 người (chiếm 30,0%), trình độ THPT có 1.524 người chiếm68,4% Có thể thấy, số lượng cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trongcác cơ sở giáo dục nghề nghiệp đa phần có trình độ văn hóa THPT, tuy nhiên,vẫn còn tốn tại một số cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ sởgiáo dục nghề nghiệp có trình độ tiểu học và THCS; đa phần đây là cán bộlàm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại cácvùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn của nước ta.Đến năm 2015, có 17 người có trình độ tiểu học (chiếm 0,7%), trình độTHCS là 547 người (chiếm 22,1%), trình độ THPT có 1.916 người chiếm77,3% Trong giai đoạn 2011 – 2015, trình độ văn hóa của đội ngũ cán bộ làmcông tác học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có xuhướng tăng lên, giảm số lượng cán bộ có trình độ tiểu học và THCS; tăng về
số lượng cán bộ có trình độ THPT
Về trình độ chuyên môn:
Năm 2011, có 824 người chưa qua đào tạo (chiếm 37%), trình độ sơ cấp
là 178 người (chiếm 8,0%), trình độ Trung cấp có 901 người (chiếm 40,4%);
Trang 25trình độ cao đẳng là 52 người (chiếm 2,3%); trình độ Đại học và sau Đại học
là 273 người (chiếm 12,3%)
Đến năm 2015, có 722 người chưa qua đào tạo (chiếm 29,1%), trình độ
sơ cấp là 117 người (chiếm 4,7%), trình độ Trung cấp có 964 người (chiếm38,9%); trình độ cao đẳng là 94 người (chiếm 3,8%); trình độ Đại học và sauĐại học là 583 người (chiếm 23,5%) Trong giai đoạn 2011 – 2015, trình độchuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ
sở giáo dục nghề nghiệp có xu hướng tăng lên, giảm số lượng cán bộ có chưaqua đào tạo và có trình độ sơ cấp; tăng số lượng cán bộ có trình độ trung cấp,cao đẳng, đại học và sau đại học
Như vậy, trình độ chuyên môn cán bộ làm công tác học sinh, sinh viêntrong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đa phần mới chỉ dừng lại ở trình độtrung cấp và chưa qua đào tạo; số lượng cán bộ làm công tác học sinh, sinhviên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trình độ cao đẳng, đại học vàsau đại học còn rất hạn chế Đa phần, các cán bộ làm công tác học sinh, sinhviên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trình độ cao đẳng, đại họcthường công tác tại các tỉnh, thành phố phát triển Ở đây, cán bộ làm công táchọc sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có điều kiện học tậpnâng cao trình độ chuyên môn
Bảng 2.1 Thống kê chất lượng cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên
trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
Trang 26- Chưa qua đào tạo 824 804 767 743 722
bộ có trình độ cao cấp là 2 người (chiếm 0,1%)
Đến năm 2015, số cán bộ có chưa qua đào tạo về lý luận chính trị là1.192 người (chiếm 48,1%); số cán bộ có trình độ sơ cấp là 205 người (chiếm8,3%); số cán bộ có trình độ trung cấp là 1.073 người (chiếm 43,3%); số cán
bộ có trình độ cao cấp là 10 người (chiếm 0,4%)
Có thể thấy, trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ làm công táchọc sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tăng lên về trình độtrung cấp và cao cấp; giảm dần số lượng cán bộ làm công tác học sinh, sinhviên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa qua đào tạo và sơ cấp
Về trình độ quản lý hành chính
Trong năm 2011, có 149 cán bộ có trình độ quản lý hành chính (chiếm6,7% tổng số cán bộ); đến năm 2015 có 199 cán bộ có trình độ quản lý hànhchính (chiếm 8,0% tổng số cán bộ); tăng 1,34 lần so với năm 2011 Tuy