Tình trạng giải pháp đã biết Qua nghiên cứu thực tế tôi thấy rằng chất lượng dạy tập đọc ở tiểu học chưa cao học sinh ít có khả năng đọc hay, diễn cảm và hiểu nội dung bài một cách đầy đ
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số : ………
1 Tên sáng kiến: Vài kinh nghiệm giúp giáo viên chủ nhiệm nâng cao chất
lượng giờ dạy phân môn Tập đọc lớp 4
2 Lĩnh vực áp dụng: Giáo dục tiểu học
3 Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1 Tình trạng giải pháp đã biết
Qua nghiên cứu thực tế tôi thấy rằng chất lượng dạy tập đọc ở tiểu học chưa cao học sinh ít có khả năng đọc hay, diễn cảm và hiểu nội dung bài một cách đầy đủ Học sinh không quan tâm tới phương pháp đọc của mình Do đó, các em đọc rất yếu Chính vì vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài này Trong quá trình thực hiện tôi thấy có những ưu điểm và hạn chế sau:
a) Ưu điểm
- Đa số học sinh đọc trôi chảy, ngắt nhịp đúng lúc, nhấn giọng đúng chỗ, lên xuống, nhanh chậm tuỳ lúc với bài văn;
- Một số em không chỉ đọc trôi chảy, đọc lưu loát mà còn diễn đạt tình ý cơ bản của bài văn bằng giọng đọc có xúc cảm;
- Nhiều em đọc đúng các từ ngữ có âm, vần, thanh dễ phát âm sai;
- Nhiều em đã biết đọc phân biệt lời người kể với lời các nhân vật
b) Hạn chế
- Một số học sinh đọc còn ngắc ngứ, lý nhí, thậm chí các em còn phát âm
sai (đớt), đọc chưa tốt;
- Bên cạnh đó có một số em tốc độ đọc còn chậm, đôi lúc còn phát
âm sai các từ ngữ có âm, vần, thanh khó đọc;
- Các em đọc sai các từ ngữ có âm, vần, thanh dễ phát âm sai;
- Đa số học sinh chưa biết đọc phân biệt lời người kể và lời các nhân vật Khảo sát bài Tập đọc: “Người ăn xin”
+ Rất nhiều em đọc chưa trôi chảy, thậm chí các em còn phải đánh vần,
Trang 2đọc nhỏ;
+ Nhiều em đọc còn sai từ, bỏ sót hoặc thêm từ;
+ Đa số các em chưa ngắt nghỉ hơi phù hợp;
+ Các em chỉ đọc cho xong bài chứ chưa thể hiện cảm xúc, chưa phân biệt được lời người kể và lời của nhân vật
3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
3.2.1 Mục đích của giải pháp
Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng của phân môn Tập đọc lớp Bốn trong nhà trường tiểu học nơi tôi đang dạy Từ đó, tìm ra một
số biện pháp để giúp học sinh đọc tốt, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn trong đọc văn bản
3.2.2 Nội dung của giải pháp
Tính mới của giải pháp
Trước đây giáo viên là người chủ động hướng dẫn học sinh đọc, học sinh chỉ đọc đúng Hiện nay học sinh tự tìm ra cách đọc, biết nhấn giọng và biết đọc đúng, đọc diễn cảm; biết chuẩn bị tư thế khi đọc; biết cách đọc đúng, đọc lưu loát, đọc có ý thức (đọc hiểu), đọc diễn cảm
Các bước thực hiện của giải pháp
a) Chuẩn bị cho việc đọc
Tôi luôn chú ý đến tư thế đọc của học sinh Khi ngồi đọc cần ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách khoảng 30 - 35 cm, cổ và đầu thẳng Khi cô giáo gọi đọc phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay Tư thế đứng đọc phải đàng hoàng, thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay
Mặt khác, tôi cho học sinh hiểu khi đọc thành tiếng: Các em đọc không phải chỉ cho mình cô giáo nghe mà để cho tất cả các bạn trong lớp cùng nghe, nên cần đọc đủ to cho tất cả nghe rõ Nhưng không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên Đối với học sinh đọc quá nhỏ “lý nhí”, tôi kiên nhẫn luyện và động viên các em đọc to dần
b) Luyện đọc đúng
Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không
Trang 3có lỗi Đọc đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần và tiếng Đọc đúng bao gồm đọc đúng các âm thanh, nghỉ ngắt hơi đúng chỗ Nhưng thực tế cho thấy đến lớp 4 rồi các em vẫn còn mắc lỗi đọc thừa, sót tiếng thậm chí có em bỏ qua cả một dòng, có em còn phát âm chưa đúng, ngắt nghỉ chưa đúng chỗ kể cả những chỗ có dấu câu
Đầu năm tôi đã phân loại để nắm được trình độ đọc của học sinh, từ đó có kế hoạch luyện đọc cho từng em Trước khi lên lớp, tôi dự tính các lỗi học sinh lớp tôi
dễ mắc, những từ, những câu khó lần trước chưa đọc tốt để luyện
Ví dụ: Khi dạy bài: “Người ăn xin”
Học sinh A đọc đoạn 1 Học sinh B nhận xét: bạn đọc chưa chính xác
“gặp nát”, sửa lại là: “gặm nát”, “sưng hút” sửa lại là: “sưng húp” Tôi cho học sinh A đọc lại cho đúng Sau đó gọi 2 đến 3 học sinh khác nhắc lại
Đọc đúng bao gồm đúng cả tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điệu câu: khi nghe người khác đọc, nhờ có chỗ ngắt nghỉ của người đọc thì người nghe mới có thể phân cắt dòng ngữ lưu ra từng ý mà tiếp nhận Chỗ ngắt, nghỉ quan trọng như vậy nhưng thực tế học sinh không ý thức được tầm quan trọng này nên đã đọc không tách ý, tách câu khiến người nghe rất khó theo dõi và có khi còn phản ánh một cách hiểu sai nghĩa của nội dung mà văn bản sẵn có Thực tế cho thấy khi đọc các bài văn xuôi học sinh thường mắc lỗi ngắt giọng ở những câu dài có cấu trúc ngữ pháp phức tạp, còn khi đọc thơ học sinh mắc lỗi ngắt nhịp do đọc theo áp lực của thơ một cách tự nhiên chứ không tính đến nghĩa
Việc ngắt nghỉ hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm, lên giọng ở câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu cảm Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung câu cầu khiến khác nhau Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu
Dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp để xác định cách ngắt nghỉ hơi Để giúp học sinh đọc đúng ngữ điệu, tôi dùng ký hiệu để ghi lại ngữ điệu của bài:
“/” dùng khi ngắt hơi, tạo tiết tấu Dấu “//” để nghỉ hơi dài, gạch dưới những từ cần nhấn giọng
Trang 4Ví dụ: Chơi một lúc mới nhớ lời mẹ dặn, em vội chạy một mạch đến cửa hàng / mua thuốc /rồi mang về nhà (Nỗi dằn vặt của An-đrây-ca)
Đối với những bài thơ ngắt nghỉ cần đúng với nhịp thơ
Ví dụ:
Yêu nhiều / nắng nỏ trời xanh
Tre xanh / không đứng khuất mình bóng râm //
(Tre Việt Nam)
Lá trầu / khô giữa cơi trầu
Truyện Kiều / gấp lại trên đầu bấy nay//
(Mẹ ốm)
Đối với một bài thơ, đoạn văn, câu văn học sinh đọc cá nhân thành tiếng chưa ngắt nghỉ hơi đúng, tôi cho một học sinh khác đứng tại chỗ thử đọc sau đó tôi đánh dấu chỗ ngắt nghỉ hơi, nhấn giọng rồi cho học sinh đọc lại
Ví dụ: bài “Tre Việt Nam”
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông / lạ thường
Lưng trần phơi nắng / phơi sương
Có manh áo cộc, tre nhường cho con
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng / thân tròn của tre
* Đọc mẫu
Là giáo viên, không thể hình thành ở học sinh kĩ năng gì mà bản thân mình không có, không thể gặt hái những gì mà chính chúng ta không có khả năng gieo trồng Muốn học sinh đọc tốt, trước hết giáo viên phải đọc tốt Chính
vì vậy, tôi rất quan tâm đến việc tự rèn đọc của bản thân để từ đó có thể hướng dẫn các em đọc tốt hơn
* Tổ chức các trò chơi rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh lớp 4
Trò chơi: “Ai nhanh, ai đúng”: được tiến hành khi luyện đọc đoạn
Mục tiêu: Giúp học sinh phát hiện và phát âm đúng tiếng, từ, cụm từ
trong bài khó đọc, đồng thời phát hiện những chỗ ngắt nghỉ sai, những chỗ đọc
Trang 5ngữ điệu chưa đúng.
Cách tiến hành: Trò chơi này được thực hiện ở bước luyện đọc đoạn nối
tiếp
- Giáo viên nêu yêu cầu:
+ Phát hiện nhanh những chỗ bạn đọc sai;
+ Em hãy đọc lại cho đúng
- Học sinh lắng nghe bạn đọc, sau khi kết thúc lượt đọc giáo viên yêu cầu học sinh trình bày kết quả phát hiện của mình và thực hiện đọc lại trước lớp;
- Học sinh khác nêu nhận xét, bổ sung;
- Giáo viên kết luận và phát âm lại cho chính xác
* Trò chơi: “Đố vui”: mang tên “Đố em bạn dừng đọc chỗ nào”.
Mục tiêu: Giúp học sinh phát hiện bạn dừng đọc chỗ nào và đọc tiếp bài Cách tiến hành: Trò chơi này được tiến hành khi học sinh luyện đọc cả
bài, trong quá trình một học sinh đọc trước lớp giáo viên tổ chức cho học sinh thi phát hiện bạn “dừng đọc chỗ nào”:
- Học sinh đọc văn bản rồi đột nhiên dừng lại;
- Học sinh cả lớp thi phát hiện bạn dừng đọc ở chỗ nào Em hãy đọc lại câu đó và đọc tiếp phần còn lại của bài Trò chơi này là biện pháp giúp học sinh tập trung chú ý khi bạn đọc bài, hứng thú chăm chú hơn vào việc luyện đọc, giúp cho việc luyện đọc hiệu quả
Qua thực tế áp dụng hai trò chơi trên vào việc dạy học sinh luyện đọc cho thấy học sinh chăm chú tập trung vào việc luyện đọc, tiết học sôi nổi hơn, kết quả là số học sinh đọc đúng văn bản nhiều hơn
c) Luyện đọc lưu loát
Đọc lưu loát là đọc không ê a, ngắc ngứ Tốc độ đọc nhanh chỉ thực hiện được khi đã đọc đúng Khi đọc phải chú ý xác định tốc độ để cho người nghe hiểu kịp được
Nhưng đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc độ của lời nói (Tốc độ đọc
Trang 6thành tiếng lớp 4: cuối học kì I: 80 tiếng/phút, cuối học kì II: 90 tiếng/phút) Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ nhanh hơn nhiều
Tôi hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc thầm theo Ngoài ra, tôi còn dùng biện pháp đọc tiếp nối trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của giáo viên, của bạn để điều chỉnh tốc độ Khi học sinh đọc cá nhân toàn bài hoặc đọc một khổ thơ, một đoạn văn tôi đều nhắc cả lớp đọc thầm theo Tôi còn gây hứng thú cho học sinh bằng những trò chơi cuối giờ như: Thi đọc tiếp sức, đọc thơ truyền điện Kết thúc trò chơi bao giờ tôi cũng cho học sinh chọn và tuyên dương nhóm đọc nhanh nhất, giỏi nhất và gợi ý rút kinh nghiệm cho lần chơi sau
Muốn học sinh đọc nhanh, đúng tốc độ cần có sự chuẩn bị bài ở nhà tốt, học sinh phải được đọc trước nhiều Em nào đọc chậm tôi phải giúp các em luyện thêm sau giờ học
d) Luyện đọc có ý thức (đọc hiểu)
Để giúp học sinh đọc cảm nhận văn bản, hiểu văn bản thì trong việc dạy môn Tập đọc phải chú ý rèn luyện khả năng đọc hiểu cho học sinh Đó là vấn đề cần thiết, quan trọng đối với học sinh lớp 4 Có hiểu nội dung bài văn, bài thơ thì mới có cách đọc đúng, đọc hay và diễn cảm được
Việc luyện đọc hiểu thường được thực hiện trong bước đọc thầm Sự thực thì đọc thầm có ưu thế hơn hẳn đọc thành tiếng ở chỗ nhanh hơn đọc thành tiếng
từ 1,5 đến 2 lần Nó có ưu thế hơn hẳn để tiếp nhận, thông hiểu nội dung văn bản vì người ta không phải chú ý đến việc phát âm mà chỉ tập trung để hiểu nội dung điều mình đọc Hiệu quả của đọc thầm được đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc
Do đó, dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức, đọc hiểu Kết quả đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài tức là toàn bộ những gì đọc được
Xây dựng hệ thống câu hỏi để rèn kĩ năng đọc hiểu .
Muốn học sinh có năng lực, có kỹ năng đọc hiểu tốt giáo viên phải có định hướng, có kế hoạch sắp xếp thời gian cho việc tìm hiểu bài, phải coi trọng chất
Trang 7lượng đọc Không phải nói nhiều, giảng nhiều học sinh sẽ hiểu sâu, cảm thụ tốt
mà cái chính là giáo viên phải biết dừng, biết nhấn ở điểm mấu chốt quan trọng, biết lướt nhanh ở những chỗ không cần thiết Cần bám vào chủ điểm của bài để tìm được điểm xoáy, điểm trọng tâm Giáo viên tập trung hướng dẫn học sinh thực hiện yêu cầu của các câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa Để giúp học sinh định hướng hoạt động đọc hiểu, giáo viên nêu rõ câu hỏi hoặc giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh trước khi đọc (đọc câu, đoạn hay khổ thơ nào; đọc để biết, hiểu, nhớ điều gì )
Sau khi học sinh đọc thầm (hoặc kết hợp theo dõi sách giáo khoa theo một bạn đọc thành tiếng), giáo viên có thể yêu cầu các em trả lời, trao đổi ngay trước lớp hoặc nêu ý kiến trong nhóm rồi cử đại diện phát biểu (tuỳ đặc điểm, mức độ yêu cầu của câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa) Cuối cùng, giáo viên chốt lại những ý chính để học sinh nắm vững Câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa có thể tách thành các ý nhỏ hoặc điều chỉnh, dẫn dắt bằng câu hỏi phụ
Để giúp các em cảm nhận sâu sắc nội dung bài đọc và dễ dàng nhận thấy nghệ thuật miêu tả của tác giả Người dạy cần dẫn dắt để học sinh trả lời đúng yêu cầu của câu hỏi (tìm từ ngữ hay câu văn ); tập cho học sinh trả lời theo ý mình (không cầm sách đọc) Tôi thường áp dụng cách đọc rồi viết câu trả lời ra giấy hoặc gạch nhẹ bằng bút chì các chi tiết, hình ảnh cần tìm
Ví dụ: Bài: “Tre Việt Nam”
Cây tre tượng trưng cho con người Việt Nam Qua hình tượng cây tre, tác giả ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam: Giàu tình thương yêu, ngay thẳng, chính trực Bài thơ có nội dung rất phong phú, từ ngữ giàu hình ảnh, ở phần tìm hiểu bài tôi yêu cầu học sinh đọc thầm bài thơ và nêu câu hỏi tìm hiểu (yêu cầu các em dùng bút chì gạch nhẹ trong sách giáo khoa)
Những hình ảnh nào của cây tre tượng trưng cho phẩm chất tốt đẹp của
con người Việt Nam? (Cần cù: ở đâu tre cũng xanh tươi/ Cho dù đất sỏi đất vôi
bạc màu; Rễ siêng không ngại đất nghèo / Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Đoàn kết: Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm / Thương nhau tre chẳng ở riêng
mà mọc thành luỹ Tre giàu đức hy sinh: Lưng trần phơi nắng, phơi sương, có
Trang 8manh áo cộc, tre nhường cho con Ngay thẳng: Nòi tre đâu chịu mọc cong Búp
măng non đã mang dáng thẳng thân tròn của tre) Sau khi học sinh giải nghĩa một số từ ngữ, để khắc sâu về những nét đặc trưng của cây tre tượng trưng cho phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam
Tôi nêu yêu cầu tiếp theo:
Tác giả đã dùng biện pháp nghệ thuật gì để miêu tả những phẩm chất tốt đẹp của cây tre tượng trưng cho con người Việt Nam? (nghệ thuật nhân hoá)
Qua cách miêu tả của tác giả về hình ảnh cây tre Việt Nam, em có nhận xét gì? (Tre có những phẩm chất cũng giống như con người Việt Nam: cần cù, chịu khó, đoàn kết, hi sinh, ngay thẳng,…)
Một điều cần chú ý trong khi xây dựng hệ thống tìm hiểu bài là câu hỏi phải phù hợp với tất cả các đối tượng học sinh Nhất là với những em yếu cần phải có hệ thống câu hỏi phụ, câu hỏi dễ có tính chất phát hiện vấn đề cụ thể để tạo điều kiện cho các em làm việc Những câu hỏi mang tính tổng hợp, khái quát thì yêu cầu hoạt động nhóm Đặc biệt kiêng kị những câu hỏi mà học sinh chỉ trả lời “có” hoặc “không” hay đọc nguyên văn câu, đoạn trong sách giáo khoa
Bên cạnh việc giúp học sinh hiểu nội dung bài Tập đọc nói về vấn đề gì thì hệ thống câu hỏi cần đảm bảo đem lại những hiểu biết gì để mở rộng tầm nhìn, kiến thức và giáo dục đạo đức cho các em
Ví dụ: Bài: “Người ăn xin”
Tôi yêu cầu học sinh đọc thầm đoạn 1 và trả lời lần lượt các câu hỏi:
- Khi đi trên đường phố cậu bé gặp ai?
- Hình ảnh ông lão ăn xin đáng thương như thế nào?
- Điều gì khiến ông lão trông thảm thương đến vậy?
- Thấy ông lão đáng thương như vậy thì cậu bé đã làm gì?
- Hành động và lời nói ân cần của cậu bé chứng tỏ tình cảm của cậu bé đối với ông lão như thế nào?
Cậu bé không có gì ngoài tấm lòng để cho ông lão ăn xin Ông lão không nhận được gì, nhưng yêu quý, cảm động trước tấm lòng của cậu Hai con người,
Trang 9hai thân phận, hoàn cảnh khác nhau nhưng có sự đồng cảm Họ cho và nhận từ nhau sự đồng điệu trong tâm hồn
Trong phần tìm hiểu bài, sau mỗi ý đã khai thác, tôi gọi các em gối ý, tiểu kết ý để khắc sâu nội dung Cần chú ý là để các em tự nêu, tự diễn đạt theo ý cá nhân các em, người dạy chỉ gọt dũa, bổ sung thêm mà thôi Đây cũng chính là biện pháp giúp người dạy khắc phục tình trạng nói nhiều giảng nhiều
Bên cạnh việc đọc đúng, đọc hiểu cần chú ý trong phần liên hệ thực tế Liên hệ thực tế không chỉ góp phần củng cố bài, khắc sâu nội dung mà còn thắt chặt mối quan hệ giữa các phân môn trong Tiếng Việt Tuỳ vào bài có thể liên hệ
về cách đối xử trong cuộc sống hoặc nhận xét về một khía cạnh của nghệ thuật
Ví dụ: Bài: “Người ăn xin”
Qua bài đọc, em học tập được điều gì ở cậu bé?
Khi có một người ăn xin tới nhà mình thì em sẽ làm gì?
Xây dựng hệ thống bài tập để rèn kĩ năng đọc hiểu
Dạng 1: Bài tập yêu cầu học sinh chỉ ra trong bài các từ mới hoặc từ mà
các em không hiểu nghĩa Hình thức bài tập là gạch chân, đóng khung, ghi lại những từ ngữ không hiểu có ở trong bài
Lời giải của bài tập sẽ rất khác nhau, phụ thuộc vào học sinh địa phương nào, sinh sống trong gia đình nào… Vì vậy khi chọn từ để giải nghĩa giáo viên phải có hiểu biết về từ địa phương đồng thời giáo viên phải chuẩn bị để sẵn sàng giải nghĩa cho học sinh bất cứ từ nào trong bài mà các em yêu cầu
Ví dụ: Bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, yêu cầu học sinh cho biết khổ thơ thứ nhất có từ nào em chưa rõ nghĩa
Dạng 2: Bài tập yêu cầu giải nghĩa từ quan trọng, từ “chìa khoá” của bài.
Ví dụ: Bài “Văn hay chữ tốt”: Em hiểu thế nào là văn hay chữ tốt?
Dạng 3: Bài tập yêu cầu học sinh phát hiện những câu quan trọng của bài,
những câu nêu đại ý, chủ đề của bài
Ví dụ: Bài “Trung thu độc lập” có câu “Anh mừng cho các em vui tết trung thu độc lập đầu tiên…”
Trang 10Dạng 4: Bài tập yêu cầu khái quát ý của đoạn, bài: Đặt tên cho đoạn văn,
bài văn hoặc viết tiếp vào câu trả lời, như bài này kể (tả, nói) về…
Ví dụ: Bài “Chị em tôi” học sinh đặt tên khác “Hai chị em” “Cô bé ngoan”
đ) Luyện đọc diễn cảm
Đọc diễn cảm là một yêu cầu đặt ra khi đọc những câu văn bản văn chương hoặc có các yếu tố của ngôn ngữ nghệ thuật Đó là việc đọc thể hiện ở
kỹ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cường độ giọng, để biểu đạt đúng ý nghĩ và tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong bài đọc, đồng thời biểu hiện được sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ cao và chỉ thực hiện được trên cơ sở đọc đúng
và đọc lưu loát
Đối với các bài thơ: Mỗi thể thơ có một cách tổ chức ngôn ngữ riêng, một
cách đọc riêng Tôi đã chú ý khai thác các điểm khác nhau của mỗi thể thơ để tìm cách đọc đúng và hay nhất Khi luyện đọc cho học sinh, tôi hướng dẫn cụ thể cách đọc làm rõ tính cách điệu của thơ mà vẫn giữ nguyên vẻ tự nhiên của giọng đọc, tránh lên bổng, xuống trầm một cách máy móc, giả tạo, cần thể hiện tình cảm khi đọc thơ, phù hợp với nội dung bài đọc;
Đối với văn xuôi: Thơ phản ảnh hiện thực bằng phương pháp trữ tình, còn văn xuôi phản ánh hiện thực bằng phương thức tự sự, miêu tả (ngôn ngữ của nhân vật, ngôn ngữ của tác giả) Mà ngôn ngữ của tác giả chính là lời dẫn chuyện, kể, tả,… Khi đọc cần nhấn giọng vào các từ ngữ gợi tả, ngắt giọng ở các dấu câu, hạ giọng ở cuối câu kể Còn ngôn ngữ nhân vật thường
là ngôn ngữ đối thoại, nên phải đọc với giọng đối thoại (ngôn ngữ nói) Để học sinh có cách đọc đúng, đọc hay tôi lưu ý học sinh một số yêu cầu sau:
- Ngắt giọng biểu cảm: Là cách ngắt giọng thiên về tình cảm, về sự
rung động nội tâm mà không phụ thuộc vào dấu câu, cách ngắt giọng này phụ thuộc vào tâm hồn người đọc;
- Chọn ngữ điệu thích hợp: Tiếng Việt có kho ngữ điệu phong phú và
đa dạng Tôi đã vận dụng điều đó vào đọc đúng, đọc hay bài văn, bài thơ