1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động của xứ ủy nam bộ và trung ương cục miền nam từ năm 1945 đến năm 1954

177 235 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hoạt động có hiệu quả của mô hình tổ chức Xứ uỷ Nam Bộ và Trungương Cục miền Nam mỗi giai đoạn thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954 là một tro

Trang 1

1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

2 Đánh giá kết quả của các công trình nghiên cứu

3 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết

71417

NỘI DUNG

Chương 1 : XỨ ỦY NAM BỘ KIỆN TOÀN TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ LÃNH

ĐẠO NHÂN DÂN NAM BỘ TIẾN HÀNH KHÁNG CHIÊN (1945-1951)

20

1.1 Thống nhất hai Xứ ủy thành Xứ ủy Nam Bộ, bước đầu củng cố tổ

chức, bộ máy và lãnh đạo nhân dân chống thực dân Pháp mở rộng

chiếm đóng (1945-1946)

20

1.2 Thành lập Xứ ủy chính thức, lãnh đạo nhân dân Nam Bộ kháng

chiến kiến quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế (1947-1951) 42

Chương 2: TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM THÀNH LẬP, LÃNH ĐẠO

KHÁNG CHIẾN Ở NAM BỘ ĐI ĐẾN THÁNG LỢI (1951-1954) 712.1 Thành lập Trung ương Cục miền Nam, lãnh đạo đẩy mạnh kháng

chiến trong giai đoạn giữ vững, phát triển thế tiến công (1951-1953) 712.2 Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo phối hợp đấu tranh đưa cuộc

kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, chuyển hướng

phong trào cách mạng Nam Bộ sau Hiệp định Giơnevơ (1953-1954)

Trang 2

1.1 Cách mạng tháng Tám thành công chưa được bao lâu thì ngày

23-9-1945, thực dân Pháp quay lại đánh chiếm Nam Bộ, mở đầu cuộc xâm lược ViệtNam lần thứ hai Nhân dân Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Nam Bộ đãtiên phong, anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược

Cuộc kháng chiến ở Nam Bộ diễn ra tại một vùng xa nhất tính đến ViệtBắc, trong tình thế chiến trường toàn quốc bị chia cắt, giao thông liên lạc khókhăn giữa địa phương và Trung ương, do đó, Trung ương Đảng đã chủ trươngduy trì và củng cố cơ quan lãnh đạo chung cho toàn Nam Bộ là Xứ ủy Nam Bộ(trước Cách mạng tháng Tám là Xứ ủy Nam Kỳ) mà không giải thể cơ quanlãnh đạo này như đã thực hiện ở Bắc Bộ và Trung Bộ Đến năm 1951, trướcyêu cầu về tăng cường lãnh đạo của Trung ương đối với cuộc kháng chiến ởNam Bộ, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương (Khoá II) họptháng 3-1951 quyết định giải thể Xứ ủy Nam Bộ, thành lập Trung ương Cụcmiền Nam, cử đồng chí Lê Duẩn, Uỷ viên Bộ Chính trị, làm Bí thư Tháng 6-

1951, Trung ương Cục miền Nam chính thức được thành lập để lãnh đạo cuộckháng chiến ở Nam Bộ

Hiện thực lịch sử cho thấy, Xứ uỷ Nam Bộ (1945-1951) là cấp uỷ Đảngcao nhất ở Nam Bộ trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Trungương Cục miền Nam (1951-1954) là một bộ phận của Ban Chấp hành Trungương, đóng vai trò to lớn trong lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện,trường kỳ, tự lực cánh sinh ở Nam Bộ, góp phần đưa cuộc kháng chiến đếnthắng lợi vẻ vang Lãnh đạo kháng chiến trong điều kiện ở xa Trung ương, Xứ

uỷ Nam Bộ rồi Trung ương Cục miền Nam đã quán triệt chủ trương, đường lốichung của Trung ương Đảng, đồng thời có những sáng tạo quan trọng, nhất làtrong xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, trong vận động đồng bào các tôngiáo tham gia kháng chiến, thực hiện chính sách ruộng đất, trong thực hiệnnghĩa vụ quốc tế giúp phong trào kháng chiến của nhân dân Campuchia

Trang 3

Sự hoạt động có hiệu quả của mô hình tổ chức Xứ uỷ Nam Bộ và Trungương Cục miền Nam mỗi giai đoạn thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) là một trong những cở sở để Trungương Đảng thành lập và xây dựng cấp uỷ, bộ máy tổ chức của cơ quan lãnh đạocao nhất của Đảng ở miền Nam thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâmlược.

Vai trò của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam trong cuộckháng chiến chống thực dân Pháp rất to lớn, mô hình tổ chức và hoạt động củahai cơ quan lãnh đạo này chứa đựng nhiều sáng tạo độc đáo trong công tác xâydựng Đảng trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc xây dựng Đảng của chủ nghĩaLênin, phù hợp với đặc điểm Việt Nam Tuy nhiên, đến nay, chưa có công trìnhnào tập trung nghiên cứu về hai cơ quan lãnh đạo này Trong nguyên tắc tổchức tập trung dân chủ của chính đảng vô sản cũng như trong hoạt động thựctiễn, các cấp ủy Đảng, nhất là cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng đóng vai tròđặc trưng cho hoạt động, cho năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.Điều đó cho thấy, chỉ khi nghiên cứu một cách thấu đáo về các cơ quan lãnhđạo, đặc biệt các cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng trên các phương diện tổchức, hoạt động, những sáng tạo, thành tựu và hạn chế mới có thể nhận thứcmột cách toàn diện, đúng đắn và sâu sắc về tiến trình cách mạng Việt Namdưới sự lãnh đạo của Đảng

1.2 Xây dựng đảng về tổ chức gắn kết hữu cơ với hai mặt chính trị và tư

tưởng là điều kiện không thể thiếu, bảo đảm cho Đảng thống nhất ý chí và hànhđộng, vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tiễn cách mạng và kháng chiến.Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta xác định nhiệm vụ xây dựng Đảnggiữ vị trí then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạngcủa nhân dân Việt Nam Để góp phần nâng cao năng lực, sức chiến đấu củaĐảng, cần phải nghiên cứu, đúc kết, vận dụng những kinh nghiệm lịch sử về

Trang 4

xây dựng đảng, trong đó có những kinh nghiệm xây dựng cơ quan lãnh đạo cáccấp của Đảng giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích

Nghiên cứu Quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động của Xứ ủy Nam

Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1945-1954) để làm sáng rõ quá trình xây

dựng, đặc điểm tổ chức, hoạt động và vai trò của cơ quan lãnh đạo của Đảng ởNam Bộ trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, góp phần phát triểncông tác nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, cung cấpthêm một số luận cứ khoa học cho công tác xây dựng Đảng hiện nay

2.2 Nhiệm vụ

- Sưu tầm, hệ thống hoá sử liệu thuộc quan điểm và thực tiễn xây dựngĐảng liên quan đến Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam trong thời

kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

-Tái hiện, luận giải quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động của Xứ uỷ

Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dânPháp xâm lược (1945-1954)

- Làm rõ vai trò của Xứ uỷ Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam tronglãnh đạo chiến tranh cách mạng chống thực dân Pháp xâm lược trên địa bànđược phân công phụ trách

- Phân tích một cách khoa học những đặc điểm, ưu điểm và hạn chế củaquá trình xây dựng Xứ uỷ Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam trong cuộckháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954); đúc kết những kinhnghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 5

Luận án nghiên cứu sự chỉ đạo của Trung ương Đảng về xây dựng Xứ

uỷ Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam; cơ cấu tổ chức, bộ máy và hoạt độngcủa Xứ uỷ Nam Bộ rồi Trung ương Cục miền Nam trong quá trình lãnh đạocông cuộc kháng chiến, kiến quốc ở Nam Bộ và thực hiện nhiệm vụ quốc tếđối với cách mạng Campuchia

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Nội dung xây dựng tổ chức , bộ máy và hoạt động

của Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam rất phong phú, Luận án tậptrung nghiên cứu quá trình xác lập, biến đổi về cơ cấu tổ chức, bộ máy, nhân

sự chủ chốt; hoạt động lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miềnNam trên các phương diện: phát động và điều hành phong trào kháng chiến,lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang, mặt trận dân tộc thống nhất, chínhquyền, tổ chức nền kinh tế và văn hóa kháng chiến, chỉ đạo nhiệm vụ xâydựng Đảng và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ phong trào kháng chiếncủa nhân dân Campuchia

- Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu trong thời gian từ năm 1945

đến 1954

- Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu địa bàn Nam Bộ và các khu

vực thuộc phạm vi phụ trách của Xứ ủy Nam Bộ∗, Trung ương Cục miền Namtheo sự phân công của Trung ương Đảng, gồm các tỉnh Nam Bộ vàCampuchia

4 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Trang 6

của Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng về xây dựngđảng làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu.

4.2 Nguồn tài liệu

Nghiên cứu, viết luận án, tác giả chủ yếu sử dụng những nguồn tư liệusau:

- Các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Trung ương, của Xứ uỷ Nam

Bộ, Trung ương Cục miền Nam đã được công bố trong Văn kiện Đảng Toàn

tập.

- Các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Trung ương, của Xứ uỷ Nam

Bộ, Trung ương Cục miền Nam hiện lưu tại Kho Lưu trữ Văn phòng Trungương Đảng; Phòng Tư liệu Viện Lịch sử Đảng và một số cơ quan lưu trữkhác

- Sách Lịch sử Đảng bộ của các địa phương ở miền Nam đã xuất bản;các tư liệu, tài liệu, ý kiến, hồi ký của các đồng chí lãnh đạo, các nhân chứnglịch sử có liên quan đến đề tài luận án

- Các công trình nghiên cứu, các chuyên khảo của các tác giả trong vàngoài nước có liên quan đến tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng của

Xứ uỷ Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam thời kỳ 1945 - 1954; các kỷ yếuhội thảo khoa học, các bài viết có liên quan đến đề tài luận án, đăng tải trênTạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Lịch sử quân sựViệt Nam và các tạp chí khác

- Các tư liệu, tài liệu của đối phương về Xứ ủy Nam Bộ, Trung ươngCục miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp được thậm định và chắt lọc

kỹ khi sử dụng

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Trang 7

Luận án sử dụng các phương pháp lịch sử, lôgíc, thống kê, so sánh; chútrọng áp dụng các phương pháp phê phán sử liệu và phương pháp nghiên cứuđặc thù của khoa học Lịch sử Đảng là lấy các văn bản nghị quyết, chỉ thị gốccủa Đảng làm cơ sở đối chiếu với sự kiện, nhân vật lịch sử trong thực tiễn đểphân tích, đánh giá, qua đó, tái hiện quá trình xây dựng tổ chức và hoạt độngcủa Xứ uỷ Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam từ năm 1945 đến 1954.

5 Đóng góp của luận án

5.1 Về tư liệu: Sưu tầm, tập hợp, thẩm định khối tư liệu, tài liệu, nhất

là những tư liệu gốc thuộc lĩnh vực công tác xây dựng cơ quan lãnh đạo cáccấp của Đảng thời kỳ 1945 - 1954, trong đó có những sử liệu mới

5.2 Về nội dung: Kết quả nghiên cứu của luận án giúp người đọc hiểu

rõ hơn những sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo cách mạng; vị trí quan trọngcủa nhiệm vụ xây dựng cơ quan lãnh đạo của Đảng các cấp đối với sự vữngmạnh của Đảng và sự phát triển của cách mạng Việt Nam; góp phần vào việcnghiên cứu, giảng dạy và tuyên truyền Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam thêmtoàn diện và sâu sắc

Kết quả nghiên cứu của luận án cũng cung cấp thêm các luận cứ khoahọc, gợi mở những suy nghĩ có thể vận dụng trong công tác xây dựng Đảnghiện nay

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,luận án gồm 3 chương, 6 tiết

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Cho đến nay, vấn đề xây dựng tổ chức và hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ vàTrung ương Cục miền Nam từ 1945 đến 1954 đã được đề cập ở những mức độ,

Trang 8

phạm vi, góc độ khác nhau trong một số công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng,lịch sử dân tộc, lịch sử quân sự, lịch sử các ban, ngành, đoàn thể Trung ương vàlịch sử địa phương.

1.1 Một số công trình nghiên cứu cơ bản được công bố đề cập đến tổ

chức của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam

Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, sơ thảo, tập 1 (1920 – 1954) [40] là

cuốn lịch sử chính thức của Đảng về thời kỳ thành lập Đảng, lãnh đạo nhân dânđấu tranh giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược,trong đó trình bày một số chủ trương và hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ trong thời

(1954-biên, đã tái hiện những sự kiện lịch sử về tổ chức và hoạt động của Xứ ủy Nam

Bộ và Trung ương Cục miền Nam thời kỳ 1954 -1975, trong đó có nội dung vềhoạt động và sự kết thúc nhiệm vụ của Trung ương Cục miền Nam năm 1954.Cuốn sách cũng trình bày sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, của

Bộ chính trị và Ban Bí thư đối với Trung ương Cục miền Nam với cách mạngmiền Nam trong thời kỳ chuyển quân tập kết cũng như những chỉ đạo kết thúcnhiệm vụ của tổ chức này

Công trình Các Đại hội đại biểu toàn quốc và hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2006) [126] do PGS, TS Nguyễn

Trọng Phúc chủ biên, phản ánh một số khía cạnh công tác xây dựng Đảng ở Nam

Bộ về tổ chức, chính trị, tư tưởng

Trang 9

Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và Bài học

[36] của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị đã tổng kếtnhững thắng lợi của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta qua các giai đoạn của cuộckháng chiến chống Pháp 1945- 1954, trong đó có một số bài học, kinh nghiệmxây dựng các cấp ủy Đảng nói chung và cấp bộ Đảng ở Nam Bộ

Bộ sách Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

1945-1954, gồm 2 tập, [236; 237;] trình bày ở mức độ nhất định vai trò của cấp ủy

Đảng ở Nam Bộ trong lãnh đạo thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng

1.2 Sách chuyên khảo, lịch sử Đảng bộ và lịch sử chiến tranh cách mạng các khu, tỉnh tại miền Nam có liên quan đến hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam

Một số sách chuyên khảo tiếp cận từ góc độ khác nhau cũng đề cập một sốvấn đề, sự kiện liên quan đến vai trò lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ươngCục miền Nam

Gần đây nhất là cuốn Đảng với vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn (1930-1975) [96] do PGS, TS Vũ Quang Hiển chủ biên, trong phần viết về chính

sách ruộng đất của Đảng đã đề cập một số điểm nổi bật trong quá trình thực hiện ởNam Bộ dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy

Nghiên cứu về Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam thời kỳ1945-1954 còn là một phần nội dung các công trình lịch sử Đảng bộ và lịch sửchiến tranh cách mạng các khu và tỉnh tại miền Nam trong cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược

Sách chuyên khảo của các Đảng ủy và Bộ Tư lệnh các quân khu: Quân khu

8 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975) [74]; Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 9 [75] ; Tây Nam Bộ 30 kháng chiến (1945-1975) [37]; Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1954) [91] thể hiện một số chủ trương

Trang 10

của Xứ ủy Nam Bộ và Trung Cục miền Nam, chủ yếu là về quân sự Cuốn Lịch sử căn cứ U Minh 30 năm kháng chiến (1945-1975) [ 73] của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh

Quân khu 9 đề cập một số chủ trương, quan điểm xây dựng căn cứ địa của Xứ ủy

và Trung ương Cục miền Nam trong lãnh đạo, chỉ đạo các Khu, tỉnh và phong tràokháng chiến ở các địa phương

Các cuốn lịch sử Đảng bộ các tỉnh, thành phố, huyện, quận phía Nam viết

về giai đoạn lịch sử Đảng 1945-1954 đã phản ánh một số khía cạnh về sự lãnhđạo của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam trong thời gian đó

Năm 2010, Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến xuất

bản bộ sách Lịch sử Nam Bộ kháng chiến [ 92; 93; 94], trong tập I Lịch sử Nam

Bộ kháng chiến 1954 [92], Biên niên sự kiện Nam Bộ kháng chiến

1945-1975 [93] đã trình bày một số sự kiện liên quan đến sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam

Bộ, Trung ương Cục miền Nam trên một số lĩnh vực cụ thể về xây dựng lựclượng vũ trang, xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc kháng chiến…

Đó là một thuận lợi cho tác giả luận án trong việc tìm hiểu, nghiên cứucông tác xây dựng đảng ở Nam Bộ Tuy nhiên, trong các tác phẩm này, công tácxây dựng tổ chức Đảng cấp Xứ ủy và Trung ương Cục chỉ được đề cập đến mộtcách hạn chế, thường chìm vào bối cảnh kháng chiến và thiên về trình bày sự lãnhđạo của Đảng bộ các địa phương đối với nhiệm vụ kháng chiến

1.3 Một số công trình lịch sử đoàn thể, ban, ngành có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương cục miền Nam

Khoảng 10 năm gần đây, các Ban Đảng thuộc Trung ương bắt đầu tổng kết

và biên soạn lịch sử Một số công trình chú ý nêu lên khía cạnh liên quan đến đềtài

Trung tâm nghiên cứu tổ chức - Ban Tổ chức Trung ương xuất bản cuốn

Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2000) [143], trong

đó, vấn đề tổ chức Đảng tại miền Nam, bao gồm cả các cơ quan lãnh đạo củaĐảng ở Nam Bộ thời kỳ 1945-1954 được đề cập ít nhiều

Trang 11

Các cuốn Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam 1930-2000 [44]; Lịch sử biên niên công tác tư tưởng- văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1925-1954) [104] phản ánh công tác tư tưởng của Đảng ở Nam Bộ

trong kháng chiến chống Pháp hướng trọng tâm vào quán triệt về đường lối khángchiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính và định hướng đấu tranh đòiđịch thi hành Hiệp định Giơnevơ

Các ban, ngành, đoàn thể ở một số tỉnh miền Nam đã chú ý sưu tầm, biênsoạn lịch sử tổ chức và hoạt động của mình Trong các tác phẩm này, rải rác cónghiên cứu công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn cách mạng 1945-1954, nhưngđây không phải là những công trình chuyên về lịch sử Đảng, thường phản ánh về

tổ chức và hoạt động của cơ quan, đoàn thể địa phương trong một thời gian dàinên phần viết về công tác xây dựng Đảng cũng rất sơ lược, những nội dung liênquan đến Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam không nhiều, chưa cócông trình lịch sử nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về cơcấu tổ chức, bộ máy, vai trò lãnh đạo, những sáng tạo trong chỉ đạo phong tràocách mạng của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam thời kỳ 1945-1954

1.4 Các tác phẩm hồi ký của cán bộ lão thành cách mạng, nhân chứng lịch sử thời kỳ 1945-1954 liên quan đến công tác tổ chức và nhân sự Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam

Nhiều công trình nêu một số khía cạnh về tổ chức, về nhân sự trong côngtác xây dựng cấp ủy Đảng và hoạt động lãnh đạo của các Đảng bộ ở Nam Bộ Có

thể kể đến các cuốn: Nhớ về Anh Lê Đức Thọ [112]; Lê Duẩn - một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam [95]; Nguyễn Văn Linh, Nhà lãnh đạo kiên định và sáng tạo (Hồi ký) [105]; Thân thế và sự nghiệp đồng chí Hoàng Quốc Việt [140]; Hồi ký cách mạng của Hà Huy Giáp Đời tôi những điều nghe, thấy và sống [84]

Trong những công trình viết về các lãnh tụ hay kỷ yếu hội thảo về các lãnh

tụ, các đồng chí lão thành cách mạng cũng phản ánh bộ máy tổ chức của Đảng ở

Trang 12

cấp Trung ương và cấp xứ trong thời kỳ 1945 - 1954 Có thể kể một số công trìnhnhư: Đồng chí Trường Chinh, tập I [81]; Đồng chí Trường Chinh, tập II [82] …

Trong những năm gần đây, các địa phương, ban ngành ở các tỉnh Nam Bộchú trọng tổ chức các hội nghị, hội thảo lớn và xuất bản kỷ yếu, hoặc tập hợp hồi

ký của các của các nhân chứng lịch sử về các tổ chức, đơn vị trong các thời kỳcách mạng là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu của đềtài

Đó là cuốn sách Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam thời kháng chiến chống Pháp [54] tập hợp hồi ký của nhiều tác giả từng tham gia công tác ở các cơ quan Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam Gần đây nhất, tập Hồi ký về Khu di tích căn cứ Xứ ủy Nam Bộ tại Đồng Tháp Mười [88] được Tỉnh ủy Đồng Tháp xây dựng, các nhân chứng lịch sử đã cung cấp thêm một số thông tin, hoạt

động của các đồng chí lãnh đạo và tập thể Xứ ủy Nam Bộ, chủ trương xây dựngvùng giải phóng trong khu căn cứ Đồng Tháp Mười khi Xứ ủy và các cơ quanlãnh đạo, chỉ huy kháng chiến đóng tại đây

Các bài nói, bài viết, hồi ký, biên bản tọa đàm về lịch sử Đảng của các đồngchí đã từng là cán bộ các cơ quan lãnh đạo của Đảng tại miền Nam như NguyễnVăn Linh, Phạm Văn Xô, Võ Văn Kiệt, Trần Văn Trà, Võ Chí Công, Lê Toàn Thư,Phan Triêm, Trần Quang Lê [89; 90] do Viện Lịch sử Đảng và các nhà khoa họcchuyên nghiên cứu về các lãnh tụ của Đảng sư tầm, thầm định, càng làm rõ thêmmột số vấn đề xung quanh nhân sự và bộ máy Xứ ủy, Trung ương Cục miền Nam

1.5 Bài viết trên tạp chí chuyên ngành và công trình nghiên cứu chuyên sâu về công tác xây dựng Đảng ở Nam Bộ giai đoạn 1945-1954

Trên tạp chí chuyên ngành Lịch sử Đảng những năm gần đây xuất hiện một

số bài nghiên cứu đề cập ở những mức độ khác nhau về những vấn đề thuộc lĩnhvực xây dựng Đảng liên quan đến đề tài Điển hình là các viết của GS, TS Trịnh

Nhu “Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về tổ chức trong tiến trình đấu tranh

Trang 13

giành chính quyền và kháng chiến kiến quốc (1930-1945)” [117]; bài viết của PGS, TS Trần Thị Thu Hương “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng - Bài học lớn từ thực tiễn cách mạng Việt Nam” [98] Các tác giả cho

rằng, xây dựng đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó có xây dựng các

cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng xuất phát từ yêu cầu thực tiễn về lãnh đạocách mạng và là một thành công lớn của Đảng; các cơ quan lãnh đạo các cấp cónhiều sáng tạo trong lãnh đạo phong trào cách mạng, kháng chiến và để lạinhiều bài học cho công tác xây dựng Đảng hiện nay

Ngoài ra, còn có hàng chục bài viết về các lãnh tụ của Đảng được đăng tải

trên các Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Xưa & Nay…

Các công trình nói tuy đề cập đến công tác xây dựng tổ chức Đảng các cấpTrung ương, xứ uỷ, nhưng tản mạn, thiếu hệ thống

Một số vấn đề liên quan đến công tác xây dựng Đảng về chính trị, tưtưởng và tổ chức của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam bước đầuđược nghiên cứu trong phạm vi đề tài cấp bộ của Viện Lịch sử Đảng và đề tài

L’histoire de la Guerre d’Indochine (Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương) [240] ; Philippe Devillers, Paris - Saigon- Hanoi, Tài liệu lưu trữ của cuộc chiến tranh 1944-1947, 2 tập, [78] ; Luien Bodard, Cuộc chiến tranh Đông Dương (La Guerre d’Indochine ) [48] Các tác phẩm này cung cấp một số tư

liệu về chính sách đàn áp của Pháp đối với phong trào và cơ quan lãnh đạokháng chiến ở Nam Bộ, một số văn bản liên quan đến việc vận động, tổ chứcnhân dân tham gia kháng chiến mà đối phương thu được Tuy nhiên, các tác

Trang 14

phẩm này chứa đựng nhiều tư liệu cùng những đánh giá, phản ánh sai lệch hiệnthực lịch sử

Một số công trình của các nhà nghiên cứu, nhà sử học trên thế giới như:

Archimedes L.A Patti với Why Vietnam? Tại sao Việt Nam? [118]; Furuta Motoo, Việt Nam trong lịch sử thế giới [108], khi nghiên cứu về phong trào

cộng sản ở Việt Nam, những nhà cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản ViệtNam, có đề cập và đưa ra những quan điểm nhìn nhận, đánh giá về hệ thống tổchức, về các cơ quan lãnh đạo cấp Trung ương và xứ uỷ của Đảng cộng sản ViệtNam thời kỳ 1945 - 1954

Nhìn chung, các tác giả đánh giá cao tính chặt chẽ về vai trò, về mặt tổchức của Đảng cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, các tác giả nêu trên không đi sâukhảo cứu về hệ thống tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung cũng như vềcấp Trung ương, xứ uỷ ở Nam Bộ

Mặt khác, do lập trường, quan điểm, do phương pháp nghiên cứu, khôngtìm hiểu thấu đáo về hệ thống tổ chức Đảng và hoạt động của nó, nên có nhữngtác giả đưa ra những nhận định sai lệch với thực tiễn lịch sử Tướng Yves Graslại đồng nhất Đảng Cộng sản Đông Dương với Việt Minh, cho rằng tổ chức ViệtMinh cũng là tổ chức Đảng [240] Nhà nghiên cứu Stein Tonesson nhận định,các tổ chức Đảng tồn tại ở Nam Kỳ trong giai đoạn 1943-1945 gồm nhóm “GiảiPhóng” và nhóm “Tiền Phong” là “địch thủ” của nhau [241, tr.414] Những nhậnđịnh như trên đã được trao đổi và cần tiếp tục được trao đổi, thảo luận và bác bỏbằng những tư duy khách quan, khoa học

2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Qua các công trình đã công bố có thể thấy mảng đề tài về công tác tổ

chức của Đảng, trong đó có đề tài về Xây dựng tổ chức và hoạt động của các cơ quan lãnh đạo của Đảng như Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã thu hút sự quan tâm,

Trang 15

nghiên cứu của nhiều tác giả, với nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoàinước

2.1.Trong các công trình đó, công tác xây dựng, hoạt động và vai trò của

cơ quan lãnh đạo kháng chiến của Đảng ở Nam Bộ đã được phản ánh ở nhữngmức độ khác nhau Hầu hết các tác phẩm đã phác họa bối cảnh lịch sử, nhữngthuận lợi, khó khăn của phong trào kháng chiến trên địa bàn Nam Bộ nhữngnăm 1945 -1954; nêu lên được những thay đổi về mặt tổ chức, nhân sự của cơquan lãnh đạo của Đảng ở Nam Bộ, của Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miềnNam; đề cập một vài quan điểm và một số chỉ đạo cụ thể của Xứ ủy Nam Bộ,Trung ương Cục miền Nam đối với phong trào kháng chiến ở Nam Bộ; nêuđược một số sáng tạo và vai trò của Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Namtrên lĩnh vực chỉ đạo chiến tranh du kích Tuy nhiên, trong hầu hết các côngtrình đã công bố, vấn đề tổ chức và hoạt động của các cơ quan lãnh đạo củaĐảng ở Nam Bộ từ năm 1945 đến năm 1954 chưa được quan tâm đúng mức

Điểm dễ nhận thấy đầu tiên là trong các tác phẩm đó, công tác xây dựng

cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Phápxâm lược chỉ được thể hiện đơn lẻ, rời rạc, hòa lẫn với diễn biến chung củaphong trào kháng chiến; nặng về mô tả sự kiện cụ thể mà thiếu một cách nhìntoàn diện, khái quát về quá trình phát triển và những chuyển biến về mặt tổ chứccủa cơ quan lãnh đạo trên địa bàn này

Công tác xây dựng tổ chức và hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ và Trungương Cục miền Nam được đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Ban Chấp hànhTrung ương, của Chủ tịch Hồ Chí Minh Tuy nhiên, chủ trương, quan điểm vànhững chỉ đạo cụ thể của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác tổchức và hoạt động của cơ quan lãnh đạo ở Nam Bộ còn rất mờ nhạt

Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam có vai trò rất to lớn đối vớicuộc chiến tranh cách mạng trên địa bàn Nam Bộ Cơ quan lãnh đạo ở Nam Bộ

có nhiều sáng tạo trong lãnh đạo chiến tranh, trong xây dựng khối đại đoàn kết

Trang 16

toàn dân; trong thực hiện chính sách ruộng đất, trong xây dựng Đảng, phát triển

hệ thống chính quyền, tạo lập nền kinh tế, văn hóa kháng chiến Tuy nhiên,các công trình đã công bố chỉ nghiên cứu hoạt động của Đảng bộ Nam Bộ vềphương diện chỉ đạo quân sự, đấu tranh vũ trang

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, cơ quan lãnh đạo Đảng ởNam Bộ còn làm nhiệm vụ quốc tế, trực tiếp giúp đỡ phong trào cách mạng củanhân dân Campuchia, xây dựng cơ sở của Đảng ở Campuchia Chủ trương bỏ

Xứ ủy Nam Bộ, lập Trung ương Cục miền Nam vào năm 1951 để tăng cường sựlãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương đối với Nam Bộ và thực hiện tốt hơnnhiệm vụ quốc tế giúp phong trào kháng chiến ở Campuchia là một sáng tạo lớncủa Đảng, một đặc thù trong công tác tổ chức của Đảng, phù hợp với điều kiệnViệt Nam Tuy nhiên, vấn đề này cũng như tổ chức và hoạt động của Trungương Cục miền Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp hầu như vắngbóng trong các công trình đã công bố

2.2 Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam trong thời kỳ khángchiến chống thực dân Pháp xâm lược đã để lại nhiều kinh nghiệm Trong cáccông trình đã công bố chưa chú trọng đúc kết những kinh nghiệm giúp ích chocông tác xây dựng Đảng, nhất là xây dựng cơ quan lãnh đạo cao cấp hiện nay

Trong những công trình đã công bố còn nhiều khác biệt về các sự kiện,nhân vật lịch sử, những đánh giá, nhận định thiếu sức thuyết phục hoặc chưa xácđáng Đáng chú ý nhất là trong một vài công trình nghiên cứu có liên quan củahọc giả nước ngoài đã nêu ra những nhận định thiên kiến, sai lạc, như Yves Grahay Lucien Bodard đã nhầm lẫn và đồng nhất tổ chức Đảng với Mặt trận ViệtMinh; nhận định sai lệnh về mối quan hệ giữa cơ quan lãnh đạo kháng chiến ởNam Bộ với Trung ương Đảng ngoài Bắc, cho rằng: Việt Minh Nam Bộ tự trịgần như hoàn toàn đối với Tổng bộ ở Bắc Kỳ, hoặc đánh giá không đúng về vaitrò của các cá nhân trong cuộc kháng chiến ở miền Nam, như cho rằng tướngNguyễn Bình là người một mình xây dựng cuộc kháng chiến miền Nam, đã sáng

Trang 17

tạo ra cuộc chiến tranh du kích mà đối phương không dập tắt nổi, trên đồngruộng và trong rừng rậm Nam Kỳ

Những sai lạc trên đây rất cần được trao đổi, phản bác bằng những luận

cứ khoa học rút ra từ việc nghiên cứu đề tài này

Có thể nói, Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam trong khángchiến chống thực dân Pháp chưa bao giờ được coi là một đối tượng nghiên cứuđộc lập Sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể của Đảng đối với cuộc kháng chiến ở Nam

Bộ ra sao? Hệ thống các cấp ủy Đảng, nhất là cơ quan đứng đầu ở Nam Bộ được

tổ chức như thế nào, có những đặc điểm gì? Sự lãnh đạo kháng chiến có nhữngsáng tạo gì để đưa cuộc kháng chiến “đi trước về sau” của nhân dân Nam Bộ điđến thắng lợi? Những đóng góp và vị trí của phong trào kháng chiến ở Nam Bộđối với cuộc kháng chiến toàn quốc ra sao? Bên cạnh đó, việc cơ quan lãnh đạoĐảng ở Nam Bộ còn có nhiệm vụ quốc tế, trực tiếp giúp đỡ phong trào cáchmạng của nhân dân Campuchia, xây dựng cơ sở của Đảng ở Campuchia như thếnào.v.v vẫn còn là những khoảng trống cần được nghiên cứu đúng mức Chừngnào những vấn đề trên chưa được làm sáng tỏ và luận giải thấu đáo thì nhữngđánh giá, kiến giải về quá trình xây dựng Đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng trongthời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vẫn chưa đầy đủ, sâu sắc vàtoàn diện

3 NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT

Tổ chức và hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Namtrong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược một đề tài đã được nghiên cứusinh quan tâm nghiên cứu nhiều năm Năm 2009, tôi đã thực hiện và bảo vệ

thành công đề tài luận văn cao học “Tổ chức và hoạt động của Trung ương Cục miền Nam từ năm 1951 đến năm 1954” Ở cấp độ một luận văn Thạc sĩ, luận

văn mới chủ yếu dừng lại ở việc tái hiện mà chưa đi sâu luận giải nhiều vấn đề

Trang 18

về lý luận, về kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của một mô hình tổ chức Đảng rấtđặc thù ở Việt Nam Đây là đề tài tiếp tục những nghiên cứu trước đây củanghiên cứu sinh, có sự mở rộng về đối tượng, phạm vi nghiên cứu và đi sâuluận giải, đánh giá một cách sâu sắc những vấn đề nghiên cứu.

Trong khuôn khổ đề tài luận án, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu,giải quyết những vấn đề sau:

- Phân tích toàn diện những điều kiện và nhân tố về đặc điểm kinh tế, xãhội, bối cảnh lịch sử, những chuyển biến của phong trào kháng chiến ở Nam Bộtác động đến công tác xây dựng cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Nam Bộ Trên cơ

sở đó, luận án sẽ lý giải những nguyên nhân Trung ương Đảng quyết định củng

cố Xứ ủy Nam Bộ trong khi quyết định giải thể Xứ ủy Bắc Bộ, Xứ ủy Trung Bộngay trong năm đầu toàn quốc kháng chiến, cũng như lý giải vì sao đến năm

1951, Trung ương quyết định giải thể Xứ ủy Nam Bộ, lập Trung ương Cục miềnNam, thiết lập sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương đối với các Đảng bộ NamBộ

- Trình bày một cách có hệ thống những quan điểm, chủ trương và sự chỉđạo cụ thể của Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với công tác xâydựng Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam từ 1945 đến 1954 Luận án sẽ

đi sâu phân tích đường lối kháng chiến, kiến quốc của Đảng, sự quan tâm lãnhđạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng là nhân tố quyết định thành công của côngtác xây dựng cơ quan lãnh đạo của Đảng tại Nam Bộ Những kết quả nghiên cứu

về nội dung này sẽ góp phần bác bỏ những phản ánh sai lệch về hoạt động của

cơ quan lãnh đạo kháng chiến Nam Bộ của một số học giả nước ngoài, như đãtrình bày

- Tái hiện quá trình củng cố, kiện toàn Xứ ủy Nam Bộ trong những năm

1945 -1951, thành lập Trung ương Cục miền Nam vào năm 1951 và sự giải thểcủa Trung ương Cục miền Nam vào cuối năm 1954 Luận án sẽ trình bày cơ cấu

tổ chức, bộ máy, các chức danh nhân sự, nguyên tắc sinh hoạt của Xứ ủy Nam

Trang 19

Bộ, Trung ương Cục miền Nam từ 1945 đến 1954 Đây là một quá trình rất giankhổ, sự phấn đấu liên tục trước hết là của những chiến sĩ cộng sản trực tiếp lănlộn, hòa mình trong phong trào kháng chiến ở Nam Bộ Luận án cũng sẽ đề cậpđến các cơ quan giúp việc, tham mưu của Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miềnNam thời kỳ này

- Làm sáng tỏ những hoạt động lãnh đạo và chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ,Trung ương Cục miền Nam đối với cuộc chiến tranh cách mạng ở Nam Bộ trêntất cả các lĩnh vực: lãnh đạo cuộc chiến tranh du kích, xây dựng Đảng, xây dựngchính quyền, củng cố và phát triển khối đoàn kết dân tộc, xây dựng nền kinh tế,nền văn hóa kháng chiến Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam đã vậndụng chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn kháng chiến địa phương,nâng cao tinh thần tự lực cánh sinh, có nhiều sáng tạo trong chỉ đạo thực tiễn,nhất là trong thực hiện chính sách ruộng đất, trong vận động tôn giáo, trí thức,tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân

Làm sáng rõ những hoạt động của Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miềnNam trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế giúp phong trào kháng chiến củanhân dân Campuchia Đây là một vấn đề thường bị các thế lực thù địch bóp méo

và xuyên tạc sự giúp đỡ trong sáng của Đảng, Nhà nước ta đối với nhân dânCampuchia

- Đánh giá một cách xác đáng vị trí, vai trò của Xứ ủy Nam Bộ, Trungương Cục miền Nam đối với cuộc kháng chiến ở Nam Bộ trên các lĩnh vực vàđối với phong trào kháng chiến ở Campuchia Đồng thời, đưa ra những nhận xétxác đáng về vai trò, cống hiến của các đồng chí lãnh đạo ở Nam Bộ trên cơ sởhiệu quả hoạt động cụ thể, đức độ và tài năng

- Đúc kết một số kinh nghiệm từ việc nghiên cứu tổ chức và hoạt độngcủa Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam, nhất là kinh nghiệm về phươngthức sinh hoạt, xây dựng qui chế làm việc đạt hiệu quả cao, kinh nghiệm về lựachọn, bố trí, sử dụng cán bộ của Đảng

Trang 20

- Chính xác hóa những sự kiện, nhân vật trong bộ máy tổ chức của Xứ ủyNam Bộ, Trung ương Cục miền Nam còn bị phản ánh sai lệnh trong các côngtrình nghiên cứu có liên quan đã được công bố.

Tình hình nghiên cứu đề tài xây dựng tổ chức và hoạt động của Xứ ủyNam Bộ và Trung ương Cục miền Nam cho thấy, đến nay chưa có một côngtrình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về Xứ ủy Nam

Bộ và Trung ương Cục miền Nam cả về phương diện xây dựng tổ chức và hoạtđộng của cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng ở Nam Bộ trong những nămkháng chiến chống Pháp

Vì vậy, nghiên cứu quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động Xứ uỷ Nam

Bộ, Trung ương Cục miền Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâmlược (1945- 1954) nhằm phản ánh hiện thực xây dựng tổ chức, nhân sự của cấp

uỷ đó; soi tỏ thêm đặc điểm, tổ chức, hoạt động của các cấp bộ Đảng, của nhữngnhân vật lịch sử nổi bật của Đảng trong quá trình lãnh đạo kháng chiến; đúc kếtkinh nghiệm xây dựng, bảo vệ tổ chức Đảng để cung cấp thêm những luận cứkhoa học cho công tác xây dựng Đảng hiện nay; bác bỏ những luận điệu xuyêntạc, hiệu chỉnh những nhận định sai lạc, thiên kiến về vai trò lãnh đạo của Đảngtrong kháng chiến

NỘI DUNG Chương 1

XỨ ỦY NAM BỘ KIỆN TOÀN TỔ CHỨC, BỘ MÁY VÀ LÃNH ĐẠO

NHÂN DÂN KHÁNG CHIẾN (1945 - 1951) 1.1 Thống nhất hai Xứ ủy thành Xứ ủy Nam Bộ, bước đầu củng cố tổ chức, bộ máy và lãnh đạo nhân dân chống thực dân Pháp mở rộng chiếm đóng (1945-1946)

Trang 21

1.1.1 Thống nhất hai Xứ ủy, bước đầu củng cố tổ chức, bộ máy đáp ứng yêu cầu kháng chiến

1.1.1.1 Khái quát quá trình hình thành cơ quan lãnh đạo cấp xứ ở Nam

Bộ trước Cách mạng tháng Tám 1945

Xứ ủy Nam Bộ∗ (trước Cách mạng tháng Tám - 1945 là Xứ ủy Nam Kỳ)thành lập tháng 12-1930 theo Chủ trương và Điều lệ Đảng được thông qua tạiHội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 10-1930

Sau khi thành lập, Xứ ủy Nam Kỳ đã trải qua quá trình xây dựng về tổchức, bộ máy và phát huy vai trò lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng củanhân dân Nam Kỳ hướng tới mục tiêu khởi nghĩa giải phóng dân tộc, giànhchính quyền về tay nhân dân

Từ năm 1931 đến năm 1935, Xứ ủy Nam Kỳ liên tục bị đánh phá nhưngnhanh chóng được lập lại và đảm trách lãnh đạo phong trào cách mạng ở Nam

Kỳ, gây dựng cở sở của Đảng ở Campuchia

Từ năm 1936 đến năm 1939, Xứ ủy Nam Kỳ được củng cố, lãnh đạophong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ ở Nam Kỳ Dưới sự lãnh đạo của Xứ

ủy, Nam Kỳ là nơi có phong trào đấu tranh mạnh mẽ; hệ thống tổ chức Đảng bộđược xây dựng từ cấp xứ đến chi bộ, có đội ngũ đảng viên đông và mạnh nhấttrong toàn Đảng

Trong cao trào đấu tranh giành chính quyền 1939-1945, Đảng bộ Nam Kỳ

đã vượt qua sự khủng bố ác liệt của chính quyền thuộc địa sau khởi nghĩa Nam

Kỳ 23-11-1940, khôi phục thành công hệ thống tổ chức Đảng từ cấp xứ đến cơ

 Về mặt hành chính, sau khi thành lập vào tháng 4-1945, Chính phủ Trần Trong Kim đổi Nam Kỳ thành Nam Bộ, Trung Kỳ thành Trung Bộ và Bắc Kỳ thành Bắc Bộ Tuy nhiên, các Đảng bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn dùng danh xưng là Xứ Bộ Nam Kỳ, Xứ bộ Trung Kỳ và Xứ bộ Bắc Kỳ do các Xứ ủy với các tên gọi tương ứng lãnh đạo Sau Cách mạng Tháng Tám, danh xưng các Xứ ủy thay đổi cho phù hợp với tên gọi hành chính mới là Ban Chấp hành Xứ Đảng bộ Tuy nhiên, trong một số văn bản, cho đến năm 1948, vẫn còn tồn tại danh xưng Xứ ủy Nam Kỳ Để tiện trình bày, Luận án sử dụng tên là Xứ ủy Nam Bộ

Trang 22

sở Theo thống kê chưa đầy đủ từ lịch sử đảng bộ đã xuất bản của các tỉnh từĐồng Nai trở vào, tính đến tháng 8 - 1945, 18 tỉnh, thành phố Nam Kỳ đã có cơquan lãnh đạo tỉnh uỷ hoặc ban cán sự [136, tr.17-19] Với hệ thống tổ chứcĐảng được gây dựng, Xứ ủy Nam Kỳ đã lãnh đạo thành công cuộc Tổng khởinghĩa giành chính quyền ở Nam Bộ- Sài Gòn ngày 25-8-1945, góp phần quantrọng vào thắng lợi vĩ đại Cách mạng tháng Tám 1945 của dân tộc ta, lập nênnước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Hiện thực lịch sử cho thấy, sự thành lập các xứ ủy, trong đó có Xứ ủyNam Kỳ, thời kỳ đấu tranh giành chính quyền 1930-1945 là một sáng tạo trongcông tác tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương trên cơ sở tuân thủ nhữngnguyên tắc xây dựng chính Đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin đồng thời trên cơ sởthực tiễn cách mạng Việt Nam

Xây dựng tổ chức và hoạt động trong hoàn cảnh bị chính quyền thuộc địaliên tục khủng bố, cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng không ổn định về tổ chức,

Xứ ủy Nam Kỳ gặp phải nhiều khó khăn và bộc lộ một số hạn chế Đặc biệt, từ

1945, Đảng bộ Nam Kỳ có một hạn chế lớn là không thống nhất về tổ chức.Trong cùng một địa bàn, cùng một nhiệm vụ cách mạng nhưng Đảng bộ có 2 Xứ

ủy cùng tồn tại và lãnh đạo là Xứ ủy Nam Kỳ “Tiền Phong’’, thành lập tháng

10-1943 và Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ “Giải phóng” ra đời tháng 3-1945 Sự thiếuthống nhất của 2 Xứ ủy đã dẫn đến sự song song tồn tại 2 hệ thống tổ chức Đảng

ở Nam Kỳ Nhiều tỉnh có 2 tỉnh uỷ hoặc ban cán sự cùng chỉ đạo

Nhận thức được những tác hại của việc chia rẽ và được Trung ương uốnnắn, 2 Xứ ủy đã tiến hành nhiều cuộc gặp gỡ để bàn việc thống nhất về tổ chức,song do những khác biệt về quan điểm chỉ đạo và phương pháp xây dựng lựclượng tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, sự thiếu tin tưởng lẫn nhau nênviệc thống nhất cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ Nam Kỳ không mang lại kết quả.Tháng 7-1945, dưới sự chỉ đạo của Trung ương, 2 Xứ ủy lập “Ban Hành độngchung” có đại diện của 2 bên tham gia Tuy nhiên, do mâu thuẫn 2 Xứ ủy khásâu sắc nên Ban hành động chung chỉ tồn tại trên danh nghĩa

Trang 23

Sự thiếu thống nhất về tổ chức trong bộ phận lãnh đạo của Đảng bộ Nam

Kỳ tồn tại trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền chưa được giải quyết sauTổng khởi nghĩa tháng Tám -1945, thì cuộc kháng chiến chống thực dân Phápxâm lược nổ ra ở Sài Gòn- Nam Bộ

Sự tồn tại của 2 cơ quan lãnh đạo trong cùng một Đảng bộ là đặc điểmảnh hưởng đến công tác xây dựng Đảng và lãnh đạo kháng chiến ở Nam Bộ khithực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta lần thứ hai

1.1.1.2 Nhân dân Nam Bộ đi đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

xâm lược và những yêu cầu củng cố Xứ ủy Nam Bộ

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nhân dân Nam Bộ hưởng tự do,độc lập chưa được bao lâu thì đêm 22 rạng ngày 23-9-1945, quân Pháp bất ngờgây hấn ở Sài Gòn, đánh chiếm trụ sở Uỷ ban nhân dân Nam Bộ và các cơ quan,công sở của chính quyền cách mạng mở đầu cuộc xâm lược Đông Dương lầnthứ hai Đối đầu với họa xâm lăng, với lời thề “Độc lập hay là chết”, dưới sựlãnh đạo của Đảng, nhân dân Nam Bộ đã chủ động, tiên phong, anh dũng đứnglên chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập vừa mới giành được

Công cuộc kháng chiến khởi đầu từ Nam Bộ, sự nghiệp xây dựng chế độmới đặt ra yêu cầu Đảng phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu trongđiều kiện Đảng cầm quyền, củng cố và kiện toàn lại cơ quan lãnh đạo các cấptrên cả nước nói chung và Nam Bộ nói riêng

Ngày 25-11- 1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị

Kháng chiến kiến quốc đề ra những vấn đề cơ bản về chủ trương, đường lối,

phương pháp cách mạng, về xây dựng Đảng đủ năng lực lãnh đạo công cuộc xâydựng và bảo vệ chế độ, kháng chiến gắn liền với kiến quốc Chỉ thị nhấn mạnh:

“Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giảiphóng”[62, tr.26] Chỉ thị chỉ rõ: “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Phápxâm lược phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”[62, tr.26] Chỉ thị đề ranhững nhiệm vụ chủ yếu, vừa mang tính cấp bách trước mắt vừa mang tầm chỉ

Trang 24

đạo chiến lược, nhiệm vụ bao trùm là bảo vệ và củng cố chính quyền Để thựchiện nhiệm vụ đó, một trong những yêu cầu về mặt quân sự là Trung ương Đảngphải tăng cường sự lãnh đạo đối với cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và Nam TrungBộ; về Đảng, phải tiến hành củng cố và phát triển hệ thống tổ chức, duy trì hệthống tổ chức bí mật và nửa công khai của Đảng, phát triển đảng viên và các tổchức cơ sở Đảng trong các cơ quan, xí nghiệp, trong quân đội, …

Với những nội dung quan trọng trên đây, Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc là

cương lĩnh hành động trước mắt của toàn Đảng, toàn dân ta, là cơ sở và địnhhướng cho cuộc kháng chiến cũng như cho công tác xây dựng và kiện toàn cơquan lãnh đạo của Đảng ở Nam Bộ

Là một địa bàn chiến lược trọng yếu, cuộc kháng chiến bảo vệ chínhquyền cách mạng ở Nam Bộ có vai trò rất to lớn không chỉ đối với nhân dânNam Bộ mà còn đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ mới trên phạm vi

cả nước, cho phong trào cách mạng của nhân dân 3 nước Đông Dương

Đảng bộ và nhân dân Nam Bộ thực hiện nhiệm vụ to lớn đó trong hoàncảnh nhân dân ta phải đối phó với nạn thù trong, giặc ngoài, thế nước còn chôngchênh Trên địa bàn Nam Bộ, từ cuối tháng 10-1945 đến tháng 2-1946, quânPháp phá vỡ các phòng tuyến bao vây của lực lượng kháng chiến; chiếm các đôthị lớn, các đường giao thông chủ yếu rồi đánh chiếm hầu hết các tỉnh Nam Bộ.Tất cả các tỉnh lỵ Nam Bộ nằm trong vòng kiểm soát của quân đội Pháp Trongkhi đó, chính quyền cách mạng mới ra đời được một thời gian ngắn, chưa cókinh nghiệm tổ chức và điều hành kháng chiến Lực lượng vũ trang Nam Bộ mớiđược thành lập, gồm các sư đoàn dân quân cách mạng và Cộng hòa vệ binh,thiếu thốn về cán bộ chỉ huy, trang bị, vũ khí, bỡ ngỡ tác chiến, phức tạp về tổchức và thành phần

Nam Bộ lại là địa bàn xa Trung ương (đóng ngoài Bắc), giao thông, liênlạc gặp nhiều khó khăn

Trang 25

Đặc biệt, bước vào cuộc kháng chiến, trong bối cảnh rất cam go, hệ thống

tổ chức Đảng ở Nam Bộ, nhất là cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ còn chia rẽ vềmặt tổ chức Sự tồn tại của 2 Xứ ủy chưa được giải quyết trong những ngàyTổng khởi nghĩa giành chính quyền đã gây nên tình trạng “Việt Minh cũ”, “ViệtMinh mới” “dẫm chân nhau”, cùng tranh thủ, lôi kéo quần chúng Cả hai Xứ ủy

đều mắc khuyết điểm“không chịu tự chỉ trích và gièm pha, không thương nhau

và giữ uy tín cho nhau”[129] Thực trạng đó gây nên nguy cơ rất lớn đối với

thanh danh và vai trò lãnh đạo của Đảng, nguy hại đối với phong trào khángchiến của quân và dân Nam Bộ

Nguyên tắc tổ chức của chính Đảng vô sản theo chủ nghĩa Lênin, yêu cầucủa thực tiễn kháng chiến đòi hỏi Đảng bộ Nam Bộ phải nhanh chóng chấn

chỉnh lại hàng ngũ, kiện toàn một cơ quan lãnh đạo tập trung, thống nhất về tổ chức, ý chí và hành động, đảm bảo sứ mệnh lãnh đạo công cuộc kháng chiến

kiến quốc trên địa bàn

1.1.1.3 Thống nhất cơ quan lãnh đạo của Đảng, lập Xứ ủy duy nhất của Nam Bộ

Nhận rõ tác hại của sự phân liệt trong cơ quan lãnh đạo Xứ ủy, đáp ứngyêu cầu cấp bách của tình hình và thực hiện nguyên tắc tổ chức của chính đảngMác- Lênin, được sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, ngày 15-10-1945, Đảng bộNam Bộ tổ chức Hội nghị tại Cầu Vĩ (Mỹ Tho) để bàn biện pháp chỉnh đốn tổchức Hội nghị do đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ Trung ươngĐảng, phái viên của Trung ương vào hỗ trợ Đảng bộ Nam Bộ, chủ trì

Hội nghị ra quyết định giải thể 2 Xứ uỷ “Tiền Phong” và Xứ ủy “Giảiphóng”, thành lập một Xứ uỷ thống nhất lấy tên là Xứ uỷ Nam Bộ lâm thời Xứ

ủy gồm 11 đồng chí, trong đó có thành viên của 2 Xứ uỷ (cũ) và một số đồng chívừa từ Côn Đảo về ∗, gồm: Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Ung Văn

 Về đội ngũ cốt cán của Đảng, sau Cách mạng tháng Tám, nhiều cán bộ từ nhà tù đế quốc trở về, trong đó có các đồng chí tù chính trị Côn Đảo như Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Linh, Mai Chí Thọ, Hồ Văn Long, Vũ

Trang 26

Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Văn Kỉnh (Thượng Vũ),Nguyễn Thanh Sơn, Phan Trọng Tuệ, Lê Văn Sĩ, Đào Văn Trường Hội nghị nhấttrí bầu (vắng mặt) đồng chí Tôn Đức Thắng làm Bí thư Xứ ủy lâm thời Việcbầu đồng chí Tôn Đức Thắng đứng đầu cơ quan Xứ ủy, chẳng những xuất phát từđức độ và tài năng của đồng chí, mà còn thể hiện mong muốn của Hội nghị làđồng chí với uy tín lớn, được rèn luyện trong nhà tù Côn Đảo vừa mới trở về sẽphát huy vai trò trung tâm, qui tụ và xây dựng khối đoàn kết toàn Đảng bộ Hộinghị cũng thống nhất một số Tỉnh ủy và chỉ định Bí thư ở những tỉnh có 2 hệthống tổ chức Đảng, không cho phép đảng viên hoạt động riêng lẻ

Sau khi được tổ chức, Xứ uỷ tiến hành Hội nghị mở rộng tại Thiên

Hộ-Mỹ Tho vào ngày 25-10-1945, với sự tham dự của các đồng chí Hoàng QuốcViệt, Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn Hội nghị kiểm điểm tình hình, rút kinh nghiệmchỉ đạo cuộc kháng chiến Nam Bộ, đề ra những biện pháp cấp thiết củng cố vàxây dựng lực lượng như đưa đảng viên vào nắm bộ đội, đặt lực lượng vũ trangdưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, đẩy mạnh công tác trừ gian, xây dựng cơ sở

bí mật trong các thành phố, thị xã bị địch lấn chiếm, khôi phục chính quyền ởcác nơi bị tan vỡ

Hội nghị tập trung thảo luận về vấn đề củng cố Đảng nhằm xây dựng một

tổ chức Đảng thống nhất, đảm đương trách nhiệm lãnh đạo kháng chiến ở Nam

Bộ đang diễn ra rất quyết liệt Theo đề nghị của đồng chí Tôn Đức Thắng, Hộinghị đã cử Lê Duẩn làm Bí thư Xứ uỷ lâm thời; Tôn Đức Thắng đảm trách Chủtịch Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ và chỉ đạo lực lượng vũ trang [92, tr.252].Cũng tại Hội nghị này, Xứ ủy phân công và giao nhiệm vụ cho một số cán bộ:

Nguyễn Văn Kỉnh phụ trách báo Thống nhất; Nguyễn Thành A, Bí thư Tỉnh ủy

Tân An; Nguyễn Văn Lộng và Nguyễn Oanh bổ sung vào Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một;

Lý Chính Thắng, Tổng thư ký Công đoàn Nam Bộ; Nguyễn Văn Tư, Chủ tịch

Ủy ban Kháng chiến thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn [57, tr.27]

Thiện Tấn, …

Trang 27

Những hoạt động trên đây thể hiện sự nỗ lực của các đồng chí ở Nam Bộtrong việc thống nhất tổ chức và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng bộ

Tuy nhiên, sau khi được thành lập, do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt địch

mở rộng chiếm đóng, chiến trường bị chia cắt, các xứ uỷ viên phải phân tán đểlãnh đạo phong trào, mặt khác, trong nội bộ Đảng Nam Bộ vẫn còn những mâuthuẫn vốn có từ trước Tổng khởi nghĩa chưa được giải quyết triệt để nên Xứ ủygặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động

Đầu năm 1946, do yêu cầu nhiệm vụ, một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt củaĐảng và của Xứ ủy đang công tác ở Nam Bộ như: Hoàng Quốc Việt, Cao HồngLãnh, Tôn Đức Thắng (Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ), Trần Văn Giàu(Nguyên Bí thư Xứ ủy) được triệu tập ra Hà Nội Tháng 3-1946, Bí thứ Xứ ủy

Lê Duẩn lên đường ra Bắc báo cáo tình hình Nam Bộ với Trung ương Với việcnhững cán bộ chủ chốt ra Bắc, từ tháng 3- 1946, Xứ ủy Nam Bộ gặp nhiều khókhăn và không thực hiện được vai trò lãnh đạo đối với phong trào kháng chiến.Trong khi đó, do Nam Bộ trở thành vùng tạm bị chiếm, các tổ chức Đảng phảirút vào hoạt động tại các căn cứ địa Mặt khác, những tồn tại nhiều bất đồng vốn

có chưa thể giải quyết tiếp tục gây nên những vấn đề nghiêm trọng trong nộiĐảng bộ Nam Bộ Vấn đề “Việt Minh cũ”, “Việt Minh mới” tiếp tục nổi lên, một

số nơi gây xung đột, thậm chí “bắn giết nhau”, làm cho Đảng bộ lâm vào tìnhtrạng “hàng ngũ Đảng rời rạc và Đảng khác nào như một người luôn ốm yếu”[62, tr.63-64]

Vấn đề lớn đặt ra cho Đảng bộ Nam Bộ là chấn chỉnh lại tổ chức, nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên đủ sức để tổ chức lãnh đạo nhân dânkháng chiến Căn cứ vào thực trạng của các Đảng bộ trong cả nước, Trung ươngĐảng nhận rõ rằng việc cải tổ Đảng bộ Nam Bộ là hết sức quan trọng, có tácdụng quyết định đến sự phát triển vững chắc của cuộc kháng chiến ở khu vựcnày

Trang 28

Từ ngày 25 đến 27-5-1946, Trung ương Đảng triệu tập các đồng chí cán

bộ Nam Bộ ở Hà Nội họp Hội nghị bàn riêng về vấn đề Nam Bộ Hội nghị chỉ ranhững những khuyết điểm của Đảng bộ Nam Bộ, nhất là sự nghi kỵ, định kiến,

tự ái, óc bè phái, lãnh tụ, tư hiềm, gây chia rẽ, mất đoàn kết của một bộ phận cán

bộ trong Nam Trung ương Đảng chỉ rõ: “Trong lúc phải phấn đấu với quân thù

võ trang hơn ta, mà có phức tạp và lộn xộn trong hàng ngũ ta như vậy, thì nhấtđịnh ta sẽ thất bại” [62, tr 64]

Hội nghị đề ra nhiệm vụ cần kíp là: Phải cải tổ Đảng bộ Nam Bộ, giaonhiệm vụ cho các đồng chí: Lê Duẩn, Nguyễn Thị Thập và Hoàng Minh Châuchịu trách nhiệm trước Trung ương nhanh chóng trở vào Nam Bộ cùng các đồngchí hiện hoạt động trong Nam lập thành "Uỷ ban cải tổ Đảng Nam Bộ" do LêDuẩn phụ trách để tiến hành cải tổ và chấn chỉnh Đảng bộ Nam Bộ Uỷ ban cónhiệm vụ: phân công người đi các địa phương để chắp mối và lựa chọn nhữngđảng viên có phẩm chất tốt, tinh thần hoạt động hăng hái lập thành danh sách,trên cơ sở đó thành lập các tiểu tổ Đảng, loại trừ những phần tử xấu; kết nạpnhững đồng chí mới trong các quần chúng ưu tú, hăng hái và trung thực vàoĐảng; tẩy trừ tàn tích “Việt Minh cũ”, “Việt Minh mới”; tiến tới “ Lập Xứ ủylâm thời và đi tới Hội nghị cán bộ toàn kỳ để cử ra Xứ ủy chính thức” Khẩuhiệu cải tổ của Đảng bộ Nam Bộ là “thống nhất, trong sạch” [62, tr.67-68]

Ngày 30-5-1946, Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng Bí thư TrườngChinh gửi thư cho các đồng chí Xứ ủy Nam Bộ hiện hoạt động trong Nam truyềnđạt chủ trương của Hội nghị, kêu gọi “Các đồng chí Cộng sản Nam Bộ hãycương quyết thi hành phương pháp cải tổ Đảng bộ Nam Bộ đặng mau làm chogiai cấp công nhân Đông Dương có một đảng tiên phong bền vững, mạnh mẽ vàthống nhất, xứng đáng với nhiệm vụ lịch sử của họ” [62, tr.65]

Quyết định cải tổ Đảng bộ Nam Bộ của Trung ương Đảng đã kịp thờiđáp ứng được yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất cuộc kháng chiếnngày càng quyết liệt ở một vùng trọng điểm của đất nước

Trang 29

Thực hiện nhiệm vụ Trung ương giao, ba đồng chí Lê Duẩn, Nguyễn ThịThập, Châu vào Nam, cùng Hà Huy Giáp, Ung Văn Khiêm, Phạm Hùng khẩntrương thực hiện cải tổ Đảng bộ Nam Bộ, chỉ đạo các Đảng bộ trực thuộc chấphành chủ trương chung của Đảng (rút vào hoạt động bí mật, lập các hội nghiêncứu chủ nghĩa Mác ), tiến hành kiểm điểm, chấn chỉnh tổ chức, loại khỏi Đảngnhững phần tử thoái hoá; tuyển thêm đảng viên mới, gây cơ sở trong các xínghiệp, phát triển Đảng trong nông thôn, trong giới trí thức, trong các hội quầnchúng, trong các cơ quan hành chính và bộ đội theo cách sát hợp với điều kiệnthực tiễn và hoàn cảnh kháng chiến, chuẩn bị tổ chức lại Xứ uỷ

Ngày 1-10-1946, “Uỷ ban cải tổ Đảng Nam Bộ” ra Thông cáo về thành lập

Xứ uỷ Nam Bộ lâm thời, gồm 9 ủy viên: 7 đồng chí chính thức là Nguyễn VănKỉnh, Phạm Hùng, Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Đức Thuận, Ung Văn Khiêm, HàHuy Giáp, Trần Văn Trà; hai ủy viên dự bị là Hoàng Dư Khương và Hồ∗ BanThường vụ Xứ ủy gồm 5 người: Nguyễn Văn Kỉnh, Hà Huy Giáp, Nguyễn ThịThập, Nguyễn Đức Thuận, Phạm Hùng [18; 19] Xứ uỷ lâm thời có nhiệm vụphụ trách công việc cải tổ Đảng bộ và lãnh đạo toàn dân kháng chiến, củng cố và

mở rộng mặt trận dân tộc, chỉ đạo các cơ quan hành chính, quân sự chuẩn bịthành lập Xứ uỷ chính thức

Tháng 11-1946, Xứ ủy lâm thời họp Hội nghị mở rộng tại Kinh NămNgàn, thuộc chiến khu Đồng Tháp Mười - căn cứ của Xứ ủy Nam Bộ Thànhphần tham dự có các đồng chí Xứ ủy viên và các đại biểu của các Liên tỉnh ủy(miền Đông, miền Trung, miền Tây Nam Bộ) Hội nghị bàn về các vấn đề bổsung nhân sự, củng cố Xứ ủy lâm thời, gồm 10 ủy viên: Phạm Hùng, Hà HuyGiáp, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Đức Cúc (Nguyễn Văn Cúc, Nguyễn Văn Linh),Trần Văn Trà, Nguyễn Đức Thuận, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Kỉnh, Hoàng

Dư Khương, Nguyễn Văn Tiếp Phạm Hùng được phân công làm Bí thư, NguyễnVăn Kỉnh phụ trách Thường trực Xứ ủy Hội nghị quyết định củng cố các Liên

 Hiện chưa xác định được đầy đủ họ tên

Trang 30

tỉnh ủy; phân công Nguyễn Đức Thuận làm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Đông;Nguyễn Văn Cúc phụ trách Sài Gòn- Chợ Lớn

Tại Hội nghị này, Xứ ủy quyết định đưa ra khỏi Đảng những phần

tử cơ hội, những đảng viên thoái hóa, giảm sút ý chí chiến đấu nhằm tăng cường

sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng bộ; làm cho sự lãnh đạo, chỉ đạocủa Đảng từ cấp Xứ đến các cấp cơ sở được thông suốt [75, tr.111; 77]

Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ tháng 11-1946 có ý nghĩa quan trọng tăng cường

sự thống nhất trong cấp ủy, đặt hệ thống lãnh đạo, chỉ đạo thông suốt từ cấp xứđến cơ sở, kịp thời tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới từsau Tạm ước 14-9-1946, đã “chấm dứt thời kỳ Xứ ủy Nam Bộ phải phân tánkhông đủ sức lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ” [92, tr.278]

Nhận được tin Xứ ủy lâm thời được củng cố, vào tháng 12-1946, Trungương Đảng tiếp tục gửi thư cho các đồng chí Nam Bộ nhắc nhở phải kiên quyếtđấu tranh chống những hành động gây mất đoàn kết trong Đảng bộ Nam Bộ.Trung ương Đảng khẳng định: “Đảng ta cần phải mạnh và thống nhất Không cómột Đảng thống nhất và mạnh mẽ không thể đương đầu với tình hình hiện tạiđược Thống nhất củng cố Đảng, phát triển Đảng thành một Đảng quần chúng

đủ oai quyền, đầy đủ năng lực lãnh đạo là điều kiện cốt yếu để kháng chiến, kiếnquốc” [62, tr.164]

Những quan tâm và chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng là động lực để

Xứ ủy lâm thời đẩy mạnh công tác, xúc tiến chuẩn bị các điều kiện thành lập Xứ

ủy Nam Bộ chính thức

1.1.2 Xứ ủy Nam Bộ lãnh đạo nhân dân khởi đầu công cuộc kháng chiến kiến quốc

Mặc dù gặp gặp khó khăn trong công tác tổ chức bộ máy và nhân

sự, thậm chí có thời gian hoạt động bị đình trệ, Xứ ủy Nam Bộ và những xứ ủyviên đã nêu cao tinh thần chủ động phát động, lãnh đạo nhân dân Nam Bộ khởiđầu phong trào kháng chiến kiến quốc

Trang 31

1.1.2.1 Xứ ủy Nam Bộ phát động và lãnh đạo nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược

Ngay sau khi quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, sáng ngày 23-9-1945, Xứ ủy∗

và Ủy ban Hành chính Nam Bộ tổ chức cuộc hội nghị tại số nhà 269 đường CâyMai (nay là đường Nguyễn Trãi, Quận 5) bàn chủ trương đối phó với quân xâmlược Hội nghị có sự tham dự của Hoàng Quốc Việt, đại diện Ban Thường vụTrung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh Nam Bộ

Sau khi thảo luận, phát huy tinh thần chủ động, Hội nghị thống nhất chủtrương: vừa phát động nhân dân Nam Bộ đứng lên chống quân xâm lược Phápvừa báo cáo xin chỉ thị của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; quyếtnghị thành lập Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, cử Bí thư Xứ ủy Trần Văn Giàu làmChủ tịch; lập tức phát động nhân dân quyết tâm kháng chiến, sử dụng bạo lựccách mạng chống quân xâm lược [92, tr.236-237; 56] Đáp lời kêu gọi của Xứ ủy

và Ủy ban hành chính Nam Bộ, nhân dân Nam Bộ, trước hết là nhân dân SàiGòn, Chợ Lớn, Gia Định đã nhất tề đứng lên chống quân xâm lược

Chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ đã nhận được sự chấp thuận của Chínhphủ lâm thời, sự đồng tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh Ngày 26-9-1945, trongThư gửi đồng bào Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôi chắc và đồng bàoNam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp nhữngchiến sĩ và nhân dân hiện đang hi sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập nướcnhà” [62, tr.14] Sự động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng tiếp thêm sứcmạnh cho nhân dân Nam Bộ chiến đấu

Hạ quyết tâm phát động nhân dân đứng lên chống quân xâm lược, đồngthời báo cáo, xin ý kiến Trung ương là một quyết định đầy tinh thần chủ động,dám làm, dám chịu trách nhiệm của Xứ ủy Nam Bộ, là hiện thực hóa tinh thầnTuyên ngôn độc lập, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân trong việc bảo vệ nềnđộc lập tự do của dân tộc

 Xứ ủy “Tiền Phong” Lúc này Nam Bộ có 2 Xứ ủy như đã trình bày.

Trang 32

Sau khi phát động nhân dân đứng lên kháng chiến, được sự chấp thuận vàđộng viên của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiên lượng những âm mưu

và hành động của quân xâm lược, Xứ ủy chỉ thị sơ tán người già, trẻ em ở cáckhu vực nội thành như Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, tản cư về các vùng nôngthôn; đồng thời di chuyển gấp các phương tiện, máy móc, thiết bị, hồ sơ của các

cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể ra khỏi khu vực nội thành, kêu gọi nhândân ngoại thành tiến hành tiêu thổ kháng chiến Về mặt tác chiến đánh địch, Xứ

ủy chủ trương thực hiện “Trong đánh ngoài vây”, hình thành các mặt trận baovây, giam chân địch trong thành phố

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy, cuộc chiến đấu anh dũng, kiêncường của quân dân sài Gòn Chợ Lớn-Gia Định đã kìm chân quân đội Pháptrong thành phố 1 tháng, bước đầu ngăn cản kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh”của chúng, tạo điều kiện cho các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ có thêm thờigian chuẩn bị đối phó khi quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng

Từ tháng 10-1945, quân Pháp bắt đầu phá vỡ các phòng tuyến bao vây,

mở rộng đánh chiếm rộng ra các tỉnh Nam Bộ Trước tình hình đó, chỉ 10 ngàysau khi thành lập, tại Hội nghị mở rộng (Thiên Hộ) ngày 25-10-1945, Xứ ủy lâmthời thống nhất đã đề ra nhiều biện pháp cấp thiết để củng cố, xây dựng lựclượng chính trị và đặt lực lượng vũ trang dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng;xây dựng cơ sở bí mật trong các thành phố, thị xã bị địch chiếm đóng; khôi phụcchính quyền cách mạng ở những nơi bị địch phá vỡ; diệt ác, trừ gian; phát triển

du kích, lấy chiến tranh du kích làm chính, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, ngănchặn bước tiến của địch, vận động quần chúng nhân dân bất hợp tác với chínhquyền, quân đội Pháp Chủ trương của Hội nghị Thiên Hộ đã bước đầu xác lậpnhững nội dung cơ bản để nhân dân Nam Bộ triển khai thực hiện cuộc khángchiến toàn dân, toàn diện

Thực hiện chủ trương của Hội nghị, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy và cácĐảng bộ địa phương, nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng bố trí trậnđịa chiến đấu cản địch khắp nơi

Trang 33

Ngày 20-11-1945, Xứ ủy họp tại Đức Hòa, gồm có: Bùi Công Trừng, TrầnNgọc Danh, Đào Văn Trường, Nguyễn Bình, Vũ Văn Đức và sự tham dự củađồng chí Hoàng Quốc Việt Hội nghị quyết định chia Nam Bộ thành 3 khu quânsự: Khu miền Đông do Nguyễn Bình phụ trách; Khu Trung Giang do Đào VănTrường phụ trách; Khu Hậu Giang do Vũ Văn Đức phụ trách.

Sau 2 tháng Nam Bộ chiến đấu quyết liệt chống thực dân Pháp xâm lược,

ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc Chỉ thị

nêu rõ nhiệm vụ quân sự ở Nam Bộ là “phải cắt đứt đường dây liên lạc giữa cácthành phố đã lọt vào tay địch, phong tỏa những thành phố ấy về kinh tế, bao vây

về chính trị, nhiễu loạn về quân sự” [62, tr.31]

Sau khi nhận được Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc của Trung ương Đảng

và quyết định của Chính phủ về việc chia Nam Bộ thành 3 chiến khu, ngày 12-1945, Xứ ủy tổ chức Hội nghị mở rộng ở Bình Hòa Nam (Đức Huệ, ChợLớn) bàn biện pháp triển khai chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ.Hội nghị quyết định giải thể Ủy ban kháng chiến Nam Bộ; phân công cán bộtham gia các Bộ Chỉ huy Chiến khu (Gọi tắt là Khu bộ) Theo đó, các chiến khu

10-bước đầu được hình thành: Chiến khu 7 gồm: thành phố Sài Gòn- Chợ Lớn và 6

tỉnh miền Đông Nam Bộ (Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định,

Chợ Lớn) Chiến khu 8: Gồm 5 tỉnh miền Trung Nam Bộ (Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tra, Sa Đéc) Chiến khu 9: Gồm 9 tỉnh miền Tây Nam Bộ (Vĩnh

Long, Trà Vinh, Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, RạchGiá, Hà Tiên) [92, tr 253]

Các chiến khu hình thành cũng là lúc quân Pháp mở rộng đánh chiếm, tiếnhành các cuộc càn quét, bình định Đến tháng 2 -1946, chỉ còn vùng Đồng ThápMười (thuộc quận Mộc Hóa, tỉnh Tân An), vùng Thạnh Phú (tỉnh Bến Tre), Vùng

U Minh (thuộc 2 tỉnh Bạc Liêu, Rạch Giá) do địa thế hiểm trở, vẫn còn là vùng

tự do của ta [16, tr.17]

Trang 34

Trước sức tấn công của kẻ thù, các cơ quan Đảng, chính quyền, quân sự ởNam Bộ đã di chuyển về nông thôn, xây dựng các căn cứ đứng chân lãnh đạokháng chiến Từ cuối năm 1945, những căn cứ như An Phú Đông (Gia Định),Rừng Sác (Đông Nam thành phố Sài Gòn), Tân Uyên (mật danh là Chiến khu Đ,Biên Hòa), Vườn Thơm-Bà Vụ (Chợ Lớn), Đông Thành (gồm 5 xã hữu ngạnVàm Cỏ Đông thuộc Đức Hòa của tỉnh Chợ Lớn và phần Bắc Thủ Thừa của TânAn), Đồng Tháp Mười lần lượt ra đời, trở thành địa bàn của nhiều cơ quanlãnh đạo kháng chiến, lực lượng vũ trang Có thể nói, sự hình thành của mạnglưới căn cứ địa ngay trong năm đầu kháng chiến đã tạo điều kiện để các cơ quanlãnh đạo kháng chiến có nơi đứng chân ổn định, vượt qua thời kỳ gian khó nhất

để lãnh đạo cuộc kháng chiến diễn ra ngày càng ác liệt

Do chiến sự lan rộng, một số xứ ủy viên được phân công tham gia Ban chỉhuy các chiến khu, số phân tán trong các địa phương, một số vấn đề nội bộ chưađược giải quyết, nên từ sau Hội nghị ngày 10-12-1945, Xứ ủy Nam Bộ không cóđiều kiện làm việc tập trung, gặp nhiều khó khăn trong lãnh đạo phong tràokháng chiến, sự chỉ đạo xuống các địa phương bị đình trệ

Trong bối cảnh đó, một số lãnh đạo chủ chốt đã phát huy tinh thần chủđộng, thực hiện vai trò và nhiệm vụ được phân công Bí thứ Xứ ủy Lê Duẩn vềhoạt động trong căn cứ Đồng Tháp Mười Tháng 3-1946, Bí thư Xứ ủy chỉ thịTrần Văn Trà, Ủy viên chính trị Giải phóng quân Hóc Môn- Bà Điểm- Đức Hòa

về Đồng Tháp Mười thống nhất lực lượng, kiện toàn Khu bộ Khu 8, lấy MộcHóa đóng Sở Chỉ huy, chuẩn bị đất đứng chân cho cơ quan lãnh đạo kháng chiến

ở Nam Bộ Cũng trong tháng 3-1946, đồng chí Lê Duẩn lên đường ra Bắc

Ngoài những hoạt động của một số cán bộ trên đây, từ tháng 3-1946, Xứ

ủy Nam Bộ không thực hiện được vai trò lãnh đạo Với việc Bí thư Xứ ủy LêDuẩn và một số cán bộ chủ chốt ra Bắc, trên thực tế, Xứ ủy lâm thời Nam Bộ chỉcòn danh nghĩa Sau này, Xứ ủy chính thức nhận định: lúc đó, “Xứ ủy Nam Bộphân tán không đủ sức lãnh đạo kháng chiến ở Nam Bộ, nên ở nhiều địa phươngtrong cuộc kháng chiến trở thành tự động” [77, tr.110] Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn

Trang 35

viết: “Thường vụ Xứ ủy vì thiếu người, vì đau ốm không đảm nhiệm được đầy

đủ trách nhiệm lãnh đạo kháng chiến toàn quốc” [58, tr.6]

Từ tháng 3 đến tháng 10 -1946, phong trào kháng chiến ở Nam Bộ tiếnhành theo chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ, sự chỉ huy của BộTổng chỉ huy, dưới sự điều hành chủ yếu của Uỷ Ban kháng chiến miền Nam,Ban chỉ huy các chiến khu, của các cấp ủy Đảng địa phương và Uỷ ban cải tổĐảng bộ Nam Bộ Sự chỉ huy, điều hành kháng chiến ở Nam Bộ thời gian nàydựa trên cơ sở quán triệt đường lối, chủ trương kháng chiến của Trung ươngĐảng, Chính phủ, đồng thời có sự tiếp nối và phát huy những chủ trương Xứ ủyNam Bộ đã đề ra trong những ngày đầu kháng chiến

Tháng 10-1946, Xứ ủy lâm thời được tổ chức lại Ngay sau khi lập lại,bên cạnh việc tập trung vào công tác xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy theo chỉđạo của Trung ương Đảng, tại Hội nghị tháng 11-1946, Xứ ủy quyết định củng

cố các khu kháng chiến, xây dựng căn cứ địa trong các vùng nông thôn, căn cứven đô, những nơi chính quyền cách mạng kiểm soát Thực hiện chủ trương đó,trong vùng căn cứ, các Đảng bộ địa phương lãnh đạo lực lượng dân quân tự vệ,

du kích kiên cường bám trụ, chống địch đánh chiếm, càn quét, bảo vệ cơ quanlãnh đạo kháng chiến, bảo vệ nhân dân, mở rộng căn cứ

1.1.2.2 Xây dựng và chấn chỉnh lực lượng vũ trang Nam bộ

Trước khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 nổ ra, Đảng bộ Nam Kỳ

đã xây dựng được một lực lượng tự vệ, các đội Thanh niên Tiền phong, trang bị

vũ khí thô sơ

Cách mạng tháng Tám thành công, để bảo vệ chính quyền cách mạng,nhất là để chống lại cuộc xâm lược của thực dân Pháp, Xứ ủy chủ trương sửdụng các lực lượng vũ trang gồm: Bảo an binh, lực lượng của một số tổ chứcchính trị, giáo phái khác nhau, một bộ phận thanh niên yêu nước, bộ phận Thanhniên Tiền phong , tập hợp dưới hình thức các các sư đoàn “Cộng hòa vệ binh”,sau đổi thành các sư đoàn “Dân quân cách mạng” với số lượng khoảng trên

Trang 36

2.500 người, phần lớn lực lượng đóng ở miền Đông Nam Bộ, một bộ phận nhỏ ởmiền Trung và Tây Nam Bộ Tại các tỉnh thành lập các đơn vị bộ đội “Cộng hòa

vệ binh”, các đội thanh niên vũ trang

Dưới sự lãnh đạo Xứ ủy, lực lượng vũ trang ở Nam Bộ đã chiến đấuchống thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn; cùng nhân dân Nam Bộ thực hiện baovây, giam chân chúng trong các đô thị Tuy nhiên, trong đội ngũ các sư đoàn

“Dân quân cách mạng” có nhiều tổ chức quân sự thành phần lực lượng và chỉhuy có xu hướng khác nhau và thái độ chính trị hết sức phức tạp, nhiều đơn vị cónguồn gốc từ lực lượng vũ trang do các phần tử thân Pháp, thân Nhật, các giáophái lập ra từ trước Tổng khởi nghĩa, trước khi thế của quần chúng, họ ngả theocách mạng

Việc sử dụng các đơn vị “Dân quân cách mạng” là một giải pháp tình thếcủa Xứ ủy Nam Bộ trong hoàn cảnh cấp bách sau ngày Cách mạng tháng Támthành công Do phải tiến hành chống cuộc xâm lăng của thực dân Pháp sớmnhất cả nước, sau khi giành chính quyền chỉ 28 ngày, nên công tác xây dựng vàcủng cố lực lượng vũ trang, nhất là về mặt chính trị, tổ chức của Xứ ủy Nam Bộ

bị hạn chế

Cuối năm 1945, quân Pháp đẩy mạnh các cuộc tấn công, phá vỡ phòngtuyến bao vây của quân và dân Nam Bộ, các sư đoàn “Dân quân cách mạng” lầnlượt tan rã, một bộ phận trở thành thổ phỉ cướp bóc nhân dân

Trước sức tấn công của kẻ thù, ở miền Đông, các đơn vị bộ đội địaphương phân tán thành những đơn vị du kích∗; ở miền Trung Nam Bộ, các lựclượng vũ trang không còn; tại vùng Đồng Tháp Mười chỉ còn 100 du kích và một

ít vũ khí, phải ẩn náu bảo tồn lực lượng; ở vùng Hậu Giang, sau khi mất hai tỉnhcuối cùng là Rạch Giá và Bạc Liêu, lực lượng kháng chiến rút về U Minh, một

số hoạt động rải rác ở các tỉnh Bên cạnh đó, trong quá trình chiến đấu, các tổ

 * Vào tháng 11-1945, ở Chợ Lớn, Gia Định có khoảng 300 chiến sỹ do Tô Ký chỉ huy Ở Thủ Dầu Một có 100 chiến sĩ do Kính Vương chỉ huy Ở Bến Cát do Đinh Thiên Lý chỉ huy Ở Bích Lý do Huỳnh Kim Trương chỉ huy Biên Hòa có hơn 100 chiến sỹ do Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy Lực lượng bộ đội Tổng công đoàn Nam Bộ còn 250 chiến sỹ, gia nhập bộ đội Bình Xuyên.

Trang 37

chức vũ trang địa phương được hình thành mỗi nơi tổ chức một kiểu Lúc này,lực lượng vũ trang do Đảng bộ Nam Bộ xây dựng và lãnh đạo chỉ có Bộ độiTổng Công đoàn Gò Vấp, bộ đội Liên quân Hóc Môn-Bà Điểm và 2 đơn vị Namtiến.

Để trang bị vũ khí, tăng cường thực lực cho kháng chiến, tháng 10-1945,

Xứ ủy Nam Bộ cử đoàn cán bộ quân sự sang Campuchia công tác, xây dựnghành lang đưa vũ khí từ Thái Lan về Nam Bộ Tại đây, các cán bộ của Xứ ủytuyên truyền vận động Việt Kiều tham gia ủng hộ nhân tài vật lực cho cuộckháng chiến trong nước Được sự phối hợp tích cực của các cán bộ hoạt độngtrong cộng đồng người Việt định cư tại Thái Lan, Campuchia, như Trần VănGiàu (Trung ương cử sang hoạt động tại Thái Lan từ tháng 1-1946), Ngô ThấtSơn, Dung Văn Phúc , các chi đội bộ đội hải ngoại được thành lập trong Việtkiều trở về Nam Bộ tham gia chiến đấu: Bộ đội Độc lập số 1 tham gia chiến đấutrên địa bàn Tây Ninh với phiên hiệu Bộ đội Hải ngoại số 1; Bộ đội Quang Trung

về tham gia chiến đấu trong lực lượng Quân Khu 9; Bộ đội Trần Phú về chiếnđấu trong lực lượng Khu 8, hoạt động tại Sa Đéc; Tiểu đoàn Cửu Long 2 về hoạtđộng tại Bạc Liêu, Sóc Trăng [39, tr.56-63] Sự trở về trực tiếp tham gia chiếnđấu của các đơn vị hải ngoại góp phần tăng cường lực lượng kháng chiến củanhân dân Nam Bộ; đồng thời khẳng định trên thực tế tinh thần yêu nước và đónggóp hiệu quả của đồng bào ở xa Tổ quốc

Trước tình hình lực lượng vũ trang kháng chiến hoặc tan rã, hoặc phân tán

và rời rạc về lãnh đạo, chỉ huy, thiếu thống nhất trong tổ chức, biên chế, gây ranguy cơ lớn đối với kháng chiến, Xứ ủy Nam Bộ quyết định tiến hành chấnchỉnh lực lượng vũ trang

 * * Gồm có các lực lượng: Mặt trận tiền tuyến Gò Vấp, Bộ đội Thía Nguyện võ sĩ đạo, Bộ đội Nguyễn Huệ, Bộ đội đoàn Hùng Vương, Bộ đội HT (Hồng Tảo), Bộ đội Lý Thường Kiệt, Thân binh đoàn Bà Rịa, Bộ đội Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo, lực lượng Thanh niên Tiền phong, Tổng công đoàn Nam Bộ…

Trang 38

Tại cuộc họp ngày 20-11-1945, cùng với việc phân chia Nam Bộ thành 3chiến khu, Xứ ủy đề ra chủ trương xây dựng và chấn chỉnh lực lượng vũ trang.Chủ trương của Xứ ủy được báo cáo ra Bắc Sau Hội nghị, công tác chấn chỉnh

bộ đội được khẩn trương triển khai [16, tr.19]

Qua báo cáo của các đồng chí Nam Bộ, Trung ương Đảng nắm bắt đượctình hình lực lượng vũ trang cùng những vấn đề cấp bách đặt ra trong phong trào

kháng chiến Nam Bộ và yêu cầu Đảng bộ Nam Bộ phải thống nhất lãnh đạo, thống nhất chỉ huy trong lượng vũ trang, đặt lực lượng vũ trang Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng, nghị quyết của Hội nghị Xứ ủy,

từ đầu năm 1946, đồng thời với lãnh đạo quân và dân Nam Bộ chiến đấu chốngcác đợt đánh phá căn cứ, càn quét và bình định của quân Pháp, các cấp ủy Đảngkhu, tỉnh Nam Bộ đẩy mạnh việc chấn chỉnh bộ đội, chú trọng chất lượng bộ đội

với tinh thần chiến đấu cao, trung thành, hăng hái kháng chiến, loại ra khỏi đội

ngũ những người không đủ tiêu chuẩn như kém tinh thần, lừng chừng và tiếnhành đào tạo cán bộ, huấn luyện chiến sĩ [16, tr.22] Đồng thời, sau Hiệp định Sơ

bộ giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa với Đại diện Chính phủ Phápđược ký kết (6-3-1946), các Xứ ủy viên phân tán hoạt động tại các địa phương

đã chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc Xứ ủy tranh thủ thời gian hòa hoãn, ra sức củng

cố Ủy ban kháng chiến tỉnh và lực lượng vũ trang

Những chủ trương và sự chỉ đạo trên đây của Xứ ủy là một trong những

cơ sở để các cấp bộ Đảng và Ban chỉ huy các khu ở Nam Bộ tiếp tục thực hiệncông tác xây dựng, chấn chỉnh lực lượng vũ trang sau khi những cán bộ chủ chốtcủa Xứ ủy Nam Bộ ra Bắc, Xứ ủy không còn lãnh đạo tập trung như đã trìnhbày Do đó, đến thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tạm ước với Chính phủPháp (14 - 9-1946), các tổ chức vũ trang địa phương các khu, tỉnh đã xây dựngđược các chi đội Vệ quốc đoàn, hoạt động dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảnghoặc đảng viên cộng sản [20, tr.14] Trong vùng nông thôn Nam Bộ, lực lượngdân quân du kích, tự vệ địa phương được chú trọng xây dựng Đến cuối năm

Trang 39

1946, lực lượng dân quân tự vệ phát triển nhanh chóng, chỉ riêng các khu khángchiến miền Đông Nam Bộ, có hàng chục nghìn người tham gia.

Đồng thời với xây dựng các đơn vị bộ đội, Xứ ủy, Ủy ban kháng chiếnNam Bộ chú trọng lãnh đạo xây dựng lực lượng công an cách mạng - các đơn vịQuốc gia tự vệ Cuộc Thực hiện Sắc lệnh 23/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh vềviệc thành lập Việt Nam Công an Vụ, Quốc gia tự vệ Cuộc Nam Bộ đổi thành SởCông an Nam Bộ Các tỉnh thành lập các ty công an trên cơ sở là các đơn vịQuốc gia tự vệ Cuộc ra đời sau Cách mạng tháng Tám và xây dựng hệ thống tổchức công an đến tận các làng xã; thành phần đều là công nông Dù mới thànhlập, Quốc vệ đội đã lập nhiều thành tích xuất sắc, điển hình là bảo vệ thành côngcuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên tại Nam Bộ trong hoàn cảnh địch ráoriết đánh phá, trừng trị những tên Việt gian phản động có nhiều nợ máu với cáchmạng

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, nhìn chung, công tác xây dựng lựclượng vũ trang cách mạng của Xứ ủy Nam Bộ thời gian này chưa đáp ứng yêucầu kháng chiến, mắc nhiều hạn chế và khuyết điểm Bộ Tổng chỉ huy nhậnđịnh:

Cơ quan lãnh đạo không nắm được bộ đội không có một đường lốichiến lược, chiến thuật chung cho các lực lượng vũ trang chưa thấy lựclượng vũ trang là một trong hệ thống chuyên chính vô sản, đặc biệt sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản, cho nên vai trò của Đảng trong bộ đội Nam

Kỳ không được đề cao trong giai đoạn đầu 1945-1946 hoạt động quân

sự Nam Bộ có phần nào tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng [16, tr.45]

1.1.2.3 Lãnh đạo xây dựng, củng cố chính quyền, chỉ đạo công tác Đảng

ở địa phương và giúp cách mạng Campuchia

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ,chính quyền cách mạng được thành lập từ cấp Xứ đến tận các làng xã Ngày 10-9-1945, Lâm ủy Hành chính Nam Bộ chuyển thành Uỷ ban Nhân dân Nam Bộ

Trang 40

Đến ngày 22-11-1945, Ủy ban Nhân dân Nam Bộ đổi thành Uỷ ban Hành chínhNam Bộ Uỷ ban bao gồm các ủy viên thuộc nhiều thành phần: Đảng Cộng sản,Đảng Dân chủ, tư sản, tôn giáo,… theo đúng tinh thần đại đoàn kết của Chủ tịch

Hồ Chí Minh

Thực hiện Sắc lệnh 14/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, về qui định mởcuộc bầu cử Quốc hội theo phổ thông đầu phiếu, trong hoàn cảnh chiến tranh ácliệt, Xứ ủy Nam Bộ đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc bầu cử vào ngày 6 - 1 -

1946 Mặc dù bị quân đội Pháp bắn phá ác liệt, nhiều cán bộ làm công tác bầu cử

đã hi sinh, duy nhất tỉnh Tây Ninh vì chiến sự ác liệt không thể tổ chức bầu cử,dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, tất cả các tỉnh, thành ở Nam Bộ đã tiến hành cuộcTổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủcộng hòa Nhiều ứng cử viên đại diện cho các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầnglớp, giới, ngành nghề trong xã hội ở Nam Bộ đã trúng cử vào Quốc hội [47;92,tr.254-255] Bầu cử đại biểu Quốc hội thành công trong hoàn cảnh chiến tranh

ác liệt là nguồn cổ vũ lớn lao đối với cán bộ đảng viên và quân dân Nam Bộ, gópphần vào công cuộc xây dựng, và bảo vệ chính quyền cách mạng

Từ tháng 3- 1946, do Xứ ủy không thể lãnh đạo tập trung, công tác xâydựng chính quyền ở Nam Bộ đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng

và Chính phủ Do chiến tranh, phạm vi điều hành của Uỷ ban nhân dân Nam Bộ

chỉ bó hẹp trong một số tỉnh giữa Khu 7 và Khu 8 [16, tr.46]

Cùng với chấn chỉnh về tổ chức bộ máy theo sự chỉ đạo của Trung ương,

Xứ ủy đã tiến hành chỉ đạo công tác Đảng ở một số địa phương

Như đã đề cập, trong quá trình lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc, ởNam Bộ hình thành 2 hệ thống tổ chức Đảng, có 8 Đảng bộ địa phương có 2 hệthống tổ chức hoạt động, nhiều tỉnh có 2 Tỉnh ủy hoặc Ban cán sự Ngoài ra, ởNam Bộ còn một số Liên tỉnh ủy được hình thành Khi kháng chiến nổ ra, Nam

Bộ mới bước đầu thống nhất tổ chức cấp xứ, còn ở các địa phương mâu thuẫn

“Việt Minh cũ”, “Việt Minh mới” vẫn rất nặng nề Do những bất đồng trong nội

Ngày đăng: 25/10/2017, 15:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w