Cùng với các môn học khác ở bậc Tiểu học, môn Toán có vai trò vô cùng quan trọng, nó giúp cho học sinh nhận biết được số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực, nhờ đó mà h
Trang 11
- Họ và tên: Lê Thị Thanh Thúy
- Đơn vị công tác: Trường tiểu học Minh Đức
- Tên đề tài: Một số biện pháp nâng cao chất lượng trong dạy và học toán có lời văn lớp 2
Trang 22
A Phần mở đầu :
Bậc Tiểu học được coi là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục Quốc dân.Vì thế giáo dục có vai trò rất quan trọng đó là nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ Bước đầu chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học các bậc học cao hơn.Vì vậy, việc nâng cao chất lượng dạy, học ở môn Toán nói chung giải toán có lời văn nói riêng là điều vô cùng cần thiết
Từ khi nhận nhiệm vụ giảng dạy lớp Hai đến nay, trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy việc giải toán có lời văn giáo viên và cả học sinh vẫn còn lúng túng Cụ thể trong năm học 2010-2011 vừa qua đa số học sinh còn nhầm lẫn rất nhiều khi thực hiện giải toán có lời văn Từ đó dẫn đến hiệu quả chất lượng không như mong muốn
II Lí do chọn đề tài :
Xuất phát từ định hướng đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới đánh giá kết quả học Toán của học sinh Tiểu học
Cùng với các môn học khác ở bậc Tiểu học, môn Toán có vai trò vô cùng quan trọng, nó giúp cho học sinh nhận biết được số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực, nhờ đó mà học sinh có những phương pháp, kĩ năng nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh Nó góp phần rèn luyện phương pháp suy luận, suy nghĩ đặt vấn đề và giải quyết vấn đề; góp phần phát triển ốc thông minh, suy nghĩ độc lập, linh động, sáng tạo cho học sinh Mặt khác các kiến thức, kĩ năng môn Toán ở Tiểu học còn ứng dụng nhiều trong đời sống thực
tế
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy Khối lớp 2, tôi thấy: Toán có lời văn
có vị trí rất quan trọng trong chương trình toán ở Tiều học Các em được làm quen với toán có lời văn ngay từ lớp 1, đặc biệt ở lớp 2 yêu cầu các em viết lời giải cho phép tính Có thể nói đây quả thực là một khó khăn đối với học sinh khi học về giải toán có lời văn Đọc một đề toán đang còn là khó đối với một số em vậy mà còn tiếp tục phải: Tìm hiểu đề toán, tóm tắt đề, đặt câu lời giải, phép
Trang 33
tính, đáp số Vì vậy đây cũng là một vấn đề mà bản thân tôi luôn băn khoăn Làm thế nào để học sinh hiểu được đề toán, viết được tóm tắt, nêu được câu lời giải hay, phép tính đúng Điều đó còn đòi hỏi rất nhiều công sức và sự nỗ lực không mệt mỏi của người giáo viên đứng lớp
Thực tế qua nhiều năm giảng dạy ở khối 2, tôi nhận hấy học sinh khi khi giải các bài toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập khác Các
em thường lúng túng khi đặt câu câu lời giải cho phép tính, có nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không làm sao tìm được lời giải đúng hoặc đặt câu lời giải không phù hợp với đề toán đặt ra Chính vì thế nhiều khi dạy học sinh đặt câu lời giải còn vất vả hơn nhiều so với dạy trẻ thực hiện các phép tính ấy để tìm ra đáp số
Việc đặt lời giải ngay từ lớp 1,2 sẽ là một khó khăn đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy ở lớp 1,2 nhất là những tuần đầu dạy toán có lời văn, ngay ở việc giúp các em đọc đề, tìm hiểu đề Một số em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề, chưa trả lời được câu hỏi giáo viên nêu: Bài toán cho biết gì? Đến khi giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lời giải Những nguyên nhân trên không thể đỗ lỗi về phía học sinh 100% được mà phần lớn đó chính là các phương pháp, cách áp dụng, truyền đạt của người thầy
Đây cũng là lý do mà tôi lựa chọn đề tài này “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng trong dạy và học toán có lời văn lớp 2”, mong tìm ra những giải pháp nhầm góp phần nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 nói riêng và trong môn toán 2 nói chung Để từ đó, các em có thể thành thạo hơn với các giải toán có lời văn khó và phức tạp hơn ở các lớp trên
III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu :
- Vấn đề mà đề tài này đề cập đến là những khó khăn mà học sinh lớp Hai
thường gặp khi giải các bài toán có lời văn.Thực hiện từ năm học 2010 - 2011
- Đề tài nhằm nghiên cứu những vướng mắc mà học sinh lớp Hai thường gặp khi giải các bài toán có lời văn và biện pháp khắc phục giúp học sinh rèn kĩ
năng học Toán
IV Mục đích nghiên cứu :
Trang 44
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề : Trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt, đặt đề toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính Kĩ năng tính nhẩm với các phép tính (hàng ngang) và kĩ năng diễn đạt bằng lời còn hạn chế Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán Vì thế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm giúp học sinh có thể giải các bài toán được tốt và thông qua đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học Toán lớp Hai
V Điểm mới trong kết quả nghiên cứu :
- Hệ thống lại các kiến thức về giải toán có lời văn mà học sinh đã được
học ở lớp Hai
- Rèn cho học sinh kĩ năng xác định các dạng toán cơ bản đã học từ đó
giúp học sinh tự tin hơn khi giải các bài toán có lời văn
PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận :
1.1 Cơ sở lý luận:
- Phó tiến sĩ Kiều Đức Thành (Vụ Giáo dục Tiểu học) cho rằng: “Toán
học giúp con người giải quyết các bài toán thực tế Các bài toán thực tế được diễn đạt bằng lời văn, từ đó có tên gọi: bài toán có lời văn”
Cái khó của bài toán có lời văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm được những câu lời giải phép tính thích hợp để
từ đó tìm được đáp số của bài toán
Môn Toán ở bậc Tiểu học nói chung và khối Hai nói riêng đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh giá trình độ kiến thức của học sinh Một phần lớn thời gian học toán của học sinh dành cho việc giải các bài toán có lời văn Biết
Trang 55
giải thành thạo các bài toán là tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá trình độ toán học của mỗi học sinh
Sở dĩ giải toán có một vị trí quan trọng như trên vì có những tác dụng to lớn và toàn diện như :
- Củng cố kiến thức đã học
- Phát triển tư duy, sáng tạo
- Phát huy tính tự lực, độc lập suy nghĩ
1.2 Cơ sở thực tiễn:
Hiện nay khi giảng dạy trên lớp một số giáo viên còn sử dụng phương pháp truyền thống Phương pháp này không mang lại hiệu quả Học sinh sẽ thụ động, mất khả năng sáng tạo Một số em chưa hứng thú trong quá trình học tập khả năng phân tích tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa còn hạn chế
Trong chương trình môn Toán ở Tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng Qua việc giải toán đã rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính của con người mới Có ý thức vượt qua khó khăn, đức tính cẩn thận, làm việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện ra những
ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp các em phát
huy những mặt được và khắc phục những mặt thiếu sót “ Kiến thức ở trường
được coi như những viên sỏi và trẻ em nhận nó như một món quà ở nhà trường,
chứ không buộc phải nhận nó như một nhiệm vụ”.(Tạp chí GD tập 42 -2010 )
II Thực trạng của vấn đề :
1.Thuận lợi :
Nội dung sách giáo khoa Toán Hai được soạn thảo hiện đại và cập nhật sự phát triển của khoa học công nghệ, kinh tế, tăng cường thực hành vận dụng, gắn
bó với thực tiễn Việt Nam Hơn nữa nội dung chương trình và sách có tính thống nhất cao, phù hợp với trình độ phát triển chung của đa số học sinh, tạo cơ
Trang 66
hội và điều kiện học tập, phát triển năng lực, góp phần phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng lực đặc biệt
Giáo viên vững về chuyên môn, luôn có ý thức tìm tòi, sáng tạo, nhiệt tình trong công tác giảng dạy Các em học sinh phần lớn ham hiểu biết, có ý thức trong học tập và rèn luyện tu dưỡng đạo đức
2.Khó khăn :
Trong những năm học vừa qua, qua giảng dạy ở trên lớp và dựa trên cơ sở bài thi của học sinh Nhìn chung, kết quả giải bài toán có lời văn đạt tỉ lệ rất thấp Qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy:
+ Việc đọc đề, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với học sinh lớp 2 Vì
kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các em đọc được đề toán và
hiểu đề còn thụ động, chậm chạp…
+ Thực tế trong một tiết dạy 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều
thời gian, phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu
câu trả lời không được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán
+ Do các bài toán có lời văn các em chưa hiểu, chưa nắm vững cách tiến hành thực hiện giải toán nên các em có thái độ lơ là và chán nản đối với những bài toán có lời văn Đặc biệt là ở lời giải, các em lúng túng không biết đặt như thế nào cho đúng, không xác định được yêu cầu của đề bài hỏi gì? Vì vậy dẫn đến chất lượng học tập của các em còn hạn chế Nên cần có biện pháp khắc phục
Tôi đã lên phương án điều tra, khi dạy đến phần này ở lớp Hai mà
mình giảng dạy 2010 – 2011 như sau:
* Kết quả, hiệu quả của thực trạng ban đầu
Tôi đã khảo sát kĩ năng giải toán của 27 học sinh lớp 24 và thu được kết
quả như sau:
Sĩ số Giải thành thạo Kĩ năng giải chậm Chưa nắm được cách
giải
27 em 6 em = 22,2 % 8 em = 29,6 % 13 em = 48.2%
Trang 77
Từ thực trạng trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh có hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp trong giảng dạy như sau:
III Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề :
Để giúp cho học sinh có kĩ năng thành thạo trong việc giải toán thì chúng ta không chỉ hướng dẫn học sinh trong giờ toán mà một yếu tố không kém phần quan trọng đó là luyện kĩ năng nói trong giờ Tiếng việt
* Chúng ta đã biết, học sinh lớp 2 còn thụ động, rụt rè trong giao tiếp
Chính vì vậy , để các em mạnh dạn tự tin khi phát biểu, trả lời người giáo viên cần phải: luôn luôn gần gũi, khuyến khích các em giao tiếp, tổ chức các trò chơi học tập, được trao đổi, luyện nói nhiều trong các giờ Tiếng việt giúp các em có vốn từ lưu thông; trong các tiết học các em có thể nhận xét và trả lời tự nhiên, nhanh nhẹn mà không rụt rè, tự ti Bên cạnh đó, người giáo viên cần phải chú ý nhiều đến kĩ năng đọc cho học sinh: Đọc nhanh, đúng, tốc độ, ngắt nghỉ đúng chỗ giúp học sinh có kĩ năng nghe, hiểu được những yêu cầu mà các bài tập nêu
ra
Tóm lại: Để giúp học sinh giải toán có lời văn thành thạo, tôi luôn luôn
chú ý rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho các học sinh trong các giờ học Tiếng Việt, bởi vì học sinh đọc thông, viết thạo là yếu tố “đòn bẩy” giúp học sinh hiểu rõ đề và tìm cách giải toán một cách thành thạo
* Theo chương trình SGK mới đến tuần 23 học sinh lớp 1 mới tập giải
toán có lời văn Ở lớp 1 yêu cầu học sinh nhìn tranh nêu phép tính, tập nêu tiếp câu hỏi để hoàn chỉnh đề toán, tập viết câu lời giải ở dạng đơn giản và chưa yêu cầu lời giải hay, chính xác Trong khi thời gian dành cho cả tiết học là không quá 40 phút, với nhiều yêu cầu kiến thức khác nhau nên các em chưa được rèn luyện nhiều Vì vậy, khi lên lớp 2 những tuần đầu khi học đến phần giải toán có lời văn, nhiều em lúng túng kể cả một số em có lực học khá Mặc dù giáo viên
đã hướng dẫn các em nêu đề toán, tìm hiểu đề và gợi ý nêu miệng lời giải nhưng cách trình bày, sự trau truốt lời giải của các em chưa được thành thạo Hiểu được những thiếu sót đó của các em , ở những tiết toán có bài toán giải tôi
Trang 88
thường dành nhiều thời gian hơn để hướng dẫn kĩ và kết hợp trình bày mẫu nhiều bài giúp các em ghi nhớ và hình thành kĩ năng
Ví dụ: Sau khi đọc đề toán ở trang 11 SGK Toán 2
“ Lớp 2A có 18 học sinh đang tập hát, lớp 2B có 21 học sinh đang tập hát Hỏi cả hai lớp có bao nhiêu học sinh đang tập hát?”
- Học sinh tập nêu bằng lời để tóm tắt bài toán:
Lớp 2A có : 18 học sinh
Lớp 2B có : 21 học sinh
Hỏi cả hai lớp có: học sinh?
- Học sinh nêu miệng câu lời giải:
Cả hai lớp có tất cả số học sinh đang tập hát là:
Học sinh nêu miệng phép tính: 18 + 21 = 39 (bạn)
- Tiếp đó, học sinh được làm quen với việc tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời sau đó nêu cách giải rồi tự giải ở dạng bài này, giáo viên cũng cần cho học sinh luyện nêu miệng đề toán nhiều lần để các em ghi nhớ một bài toán
Ví dụ: Bài tập 2 (trang 25 - SGK toán 2)
An có: 11 bưu ảnh
Bình nhiều hơn An: 3 bưu ảnh
Bình có: …bưu ảnh?
- Tôi cho học sinh đọc thầm, đọc miệng tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời theo yêu cầu
Học sinh: An có 11 bưu ảnh Bình có số bưu ảnh nhiều hơn số bưu ảnh của
An là 3 cái Hỏi Bình có tất cả có bao nhiêu cái bưu ảnh?
Sau đó cho các em luyện cách trả lời miệng:
Số bưu ảnh của Bình có là: 11 + 3 = 14 (bưu ảnh)
Rồi tự trình bày bài giải:
Bài giải
Số bưu ảnh của Bình có là:
11 + 3 = 14 (bưu ảnh) Đáp số: 14 bưu ảnh
Trang 99
3 Áp dụng qua các tiết dạy
Chương trình Toán lớp 2 mới thường được cho dưới các dạng bài tập sau: + Lớp 2A có 15 bạn gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn Hỏi lớp 2A có bao nhiêu học sinh trai?
+ Tháng trước tổ em được 16 điểm mười, tháng này tổ em được nhiều hơn tháng trước 5 điểm mười Hỏi tháng này tổ em được bao nhiêu điểm mười? Nhưng dù ở hình thức nào, dạng nào tôi cũng tập trung luyện cho học sinh các kĩ năng: Tìm hiểu nội dung bài toán, tìm cách giải bài toán và kĩ năng trình bày bài giải, được tiến hành cụ thể qua các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán
Cần cho học sinh đọc kĩ đề toán giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từ khoá quan trọng nói lên những tình huống toán học bị che lấp dưới cái vỏ ngôn
từ thông thường như: “ ít hơn”, “ nhiều hơn”, “tất cả”…
Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó ở trong bài toán đang làm, sau đó giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đặt câu hỏi đàm thoại:
“ Bài toán cho gì? Bài toán hỏi gì?” và dựa vào tóm tắt để nêu đề toán…
Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, tôi dùng phương pháp giảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh hoạ để các em tìm hiểu, nhận xét nội dung, yêu cầu của đề toán Qua đó học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán và dựa vào câu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bài toán rồi cho các em tự trình bày bài giải vào vở bài tập
Bước 2: Tìm cách giải bài toán
a Chọn phép tính giải thích hợp:
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cái
phải tìm cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Chọn “ phép cộng” nếu bài toán yêu cầu “ nhiều hơn” hoặc “ gộp”, “ tất cả” Chọn “tính trừ” nếu
“bớt” hoặc “ tìm phần còn lại” hay là “ít hơn”…
Ví dụ:
Trang 1010
Vườn nhà Mai có 17 cây cam, vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà Mai 7 cây cam Hỏi vườn nhà Hoa có mấy cây cam?
Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ giữa cái
đã cho và cái phải tìm Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu hỏi gợi ý như:
+ Bài toán cho biết gì? ( Vườn nhà Mai có 17 cây cam)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (Vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà Mai 7
cây)
+ Bài toán hỏi gì? (Vườn nhà Hoa có bao nhiêu cây cam)
+ Muốn biết vườn nhà Hoa có mấy cây cam em làm sao? (Lấy số cây cam
vườn nhà Mai trừ đi số cây cam vườn nhà Hoa)
+ Ta làm phép tính gì? ( Trừ)
+ Lấy mấy trừ đi mấy? (17 – 7)
+ 17 – 7 bằng bao nhiêu? ( 17 – 7 = 10 )
b Đặt câu lời giải thích hợp
Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước vô cùng quan trọng và khó khăn nhất đối với học sinh lớp 2 Chính vì vậy việc hướng dẫn học sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khó khăn lớn đối với người dạy Tuỳ từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các cách hướng dẫn sau:
- Cách 1: (Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất): Dựa vào câu hỏi
của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu “hỏi” và từ cuối “mấy” rồi thêm từ “là” để có câu lời giải: “Vườn nhà Hoa có số cây cam là:”
- Cách 2: Nêu miệng câu hỏi: “Vườn nhà Hoa có mấy cây cam?” Để
học sinh trả lời miệng: “Vườn nhà Hoa có số cây cam là:” rồi chèn phép tính
vào để có cả bước giải (gồm câu hỏi, câu lời giải và phép tính):
Vườn nhà Hoa có số cây cam là:
17 – 7 = 10 (cây cam) Đáp số: 10 (cây cam)