Đề nghị xét công nhận sáng kiến: “ Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả ở học sinh lớp 4” Lĩnh vực áp dụng Chuyên môn: Tiếng Việt II.. Mô tả giải pháp: 1.Tình trạng giải pháp đã
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Mã số:………
Kính gửi: Hội Đồng chấm sáng kiến kinh nghiệm cấp tỉnh
Tác giả sáng kiến: LÊ THỊ THỦY
Đơn vị: Trường tiểu học Tân Hội
Các đồng tác giả: Không
I Đề nghị xét công nhận sáng kiến: “ Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả ở
học sinh lớp 4”
Lĩnh vực áp dụng Chuyên môn: Tiếng Việt
II Mô tả giải pháp:
1.Tình trạng giải pháp đã biết
Các giải pháp đã đề xuất và vận dụng nhằm khắc phục lỗi chính tả ở học sinh lớp
4 là: luyện phát âm, phân tích và so sánh, giải nghĩa từ, ghi nhớ mẹo luật chính tả, làm các bài tập chính tả
Các giải pháp mà tôi nghiên cứu trong đề tài này trong quá trình thực hiện có những ưu và khuyết điểm sau:
* Ưu điểm: Trong thời gian vừa qua cũng như hiện nay, việc áp dụng các biện
pháp trong đề tài đã làm cho kết quả khắc phục lỗi chính tả của học sinh có tiến bộ rõ rệt Học sinh ngày càng yêu thích môn chính tả Những giải pháp bản thân đưa ra được
sự đồng tình, ủng hộ của đồng nghiệp cũng như lãnh đạo nhà trường
* Khuyết điểm: Sáng kiến này chỉ mới áp dụng trong phạm vi tại đơn vị, chưa
Trang 2hơn khi giao tiếp, nhằm mục tiêu đào tạo những chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển hiện nay Giúp học sinh học tốt các phân môn của Tiếng Việt và các môn học khác Rèn cho học sinh một số phẩm chất như tính cẩn thận, tinh thần trách nhiệm với công việc, óc thẩm mĩ Cụ thể:
Giáo viên luyện cho học sinh phát âm nhằm rèn cho học sinh thói quen nói đúng, nghe phát âm và viết chính tả đúng Biện pháp phân tích và so sánh nhằm nhấn mạnh những điểm khác nhau giữa các tiếng và từ để tránh lẫn lộn Trong giờ chính tả giáo viên còn vận dụng biện pháp giải nghĩa từ để học sinh hiểu nghĩa mà viết đúng Một giải pháp hữu hiệu để khắc phục lỗi là ghi nhớ mẹo luật chính tả vì các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ Song song với các biện pháp trên, biện pháp làm các bài tập chính tả cũng nhằm giúp học sinh làm quen với việc sử dụng
c Mô tả chi tiết bản chất của giải pháp
Với những học sinh có vấn đề về mặt phát âm ( nói ngọng, nói lắp…) giáo viên lưu ý học sinh chú ý nghe cô phát âm để viết cho đúng Vì vậy, giáo viên phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng được
*Phân tích và so sánh
Trang 3Những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ
Ví dụ: Khi viết tiếng “buồng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “ buồn”, giáo viên
yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- buồng = b + uông + thanh huyền
- buồn = b + uôn + thanh huyền
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng buồng có âm cuối là “ng”, tiếng buồn có
âm cuối là “n” Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết các em sẽ không viết sai
Ví dụ: Phân biệt bổng và bỗng
+ Giải nghĩa từ bổng: Giáo viên có thể giúp học sinh hiểu nghĩa của tiếng bổng (bay lên cao một cách nhẹ nhàng); tìm từ có chứa tiéng bổng ( bay bổng…)
+ Giải nghĩa từ bỗng: Giáo viên có thể giúp học sinh hiểu nghĩa của tiếng bỗng
(một sự việc xảy ra một cách bất ngờ, đột ngột không đoán trước được); tìm từ có chứa
tiếng bỗng ( bỗng đâu, bỗng xuất hiện,…)
Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ
*Ghi nhớ mẹo luật chính tả
Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách hữu hiệu Ngay từ
lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie Ngoài ra, giáo viên còn có thể cung cấp
một số mẹo luật khác như:
Trang 4+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s: sả, si, sồi, sứ, sung , sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu,
sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa,… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô,…
+ Luật bổng – trầm: Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh hay dấu của hai yếu tố
ở cùng một hệ bổng ( ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm ( huyền/ ngã/nặng) Để nhớ được hai
nhóm này, giáo viên chỉ cần cho học sinh thuộc hai câu thơ:
Em huyền mang nặng, ngã đau Anh ngang, sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại)
Ví dụ: Bổng
Ngang + hỏi: nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ,…
Sắc + hỏi: nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ,…
Hỏi + hỏi: lỏng lẻo, thỏ thẻ, hởn hển, thủ thỉ, rủ rỉ,…
Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: gập ghềnh, khấp
khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh, …
Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng đoàng,
loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng, ằng
ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, reng reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch,…
Trang 5Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân
*Làm các bài tập chính tả
Giáo viên đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để học sinh ghi nhớ
- Bài tập trắc nghiệm:
* Khoanh tròn vào chữ cái trước chữ viết đúng chính tả:
a hướng dẩn b hướng dẫn
c buồn chuối d buồng chuối
e uốn lượng g uống lượng
* Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào ô trống trước những chữ viết sai chính tả:
ruộng vường ruộng vườn cây thước cây thướt nằm ngũ nằm ngủ trong thấy trông thấy
* Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng
Rạp đang chiếu phim thì một bà đứng dậy len qua hàng ghế ra ngoài Lát
(sau/xau), bà trở lại và hỏi ông đầu hàng ghế ( rằng/ rằn):
- Thưa ông! Phải (chăng/chăn) lúc ra ngoài tôi vô ý giẫm vào chân ông?
Trang 6- Vâng, nhưng ( sin/ xin) bà đừng ( băng khoăng/băn khoăn), tôi không (sao/xao)!
- Dạ không! Tôi chỉ muốn hỏi để (sem/xem) tôi có tìm đúng hàng ghế của
mình không
Truyện vui nước ngoài
* Xếp các từ ngữ sau đây thành hai cột ( từ ngữ viết đúng chính tả, từ ngữ viết sai chính tả):
a) sắp sếp, sáng sủa, sản sinh, tinh sảo, bổ xung, sinh động
b) thân thiếc, thời tiết, công việc, nhiệc tình, chiết cành, mải miết
Từ viết đúng chính tả Từ viết sai chính tả
Tố Hữu
ên/ênh: Mẹ rằng : Quê mẹ, Bảo Ninh
M… mông sóng biển, l… đ… mạn thuyền
Sớm chiều, nước xuống triều l…
Cực thân từ thuở mới l… chín mười
* Điền tiếng láy thích hợp và chỗ trống:
Dáng tre vươn mộc …., màu tre tươi nhũn… Rồi tre lớn lên, cứng …, dẻo …, vững chắc
Trang 7- Bài tập tìm từ:
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, có tiếng chứa phụ âm đầu hoặc dấu thanh theo yêu cầu,…
* Tìm các từ láy:
a) Có tiếng chức âm s: M: suôn sẻ
Có tiếng chứa âm x: M: xôn xao
b) Có tiếng chức thanh hỏi: M: nhanh nhảu
Có tiếng chứa thanh ngã: M: mãi mãi
* Tìm các từ chứa tiếng có vần ươn/ ương, có nghĩa như sau:
- Cố gắng tiến lên để đạt tới mức cao hơn, tốt đẹp hơn
- Tạo ra trong trí óc hình ảnh những cái không có ở trước mắt hoặc chưa từng có
* Tìm những tiếng bắt đầu bằng r/d/gi diền vào chỗ trống:
Đánh dấu mạn thuyền
Xưa có người đi thuyền, kiếm … bên hông, chẳng may làm kiếm … xuống nước Anh ta liền đánh… vào mạn thuyền chỗ rơi Người trên thuyền thấy lạ bèn hỏi:
- Bác làm … thế ạ?
- Tôi đánh … chỗ kiếm… Khi nào thuyền cập bến, cứ theo chỗ đánh … mà
mò, thể nào cũng tìm thấy kiếm
Truyện cười dân gian
* Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau:
- Trái nghĩa với thật thà:
- Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố:
- Cây trồng để làm đẹp:
- Khung gỗ để dệt vải:
- Bài tập phân biệt:
* Đặt câu để phân biệt các cặp từ sau:
nổi- nỗi đổ- đỗ thuở- thở biếc- biết
Trang 8- Bài tập giải câu đố:
Chim gì luyện tựa con thoi Báo mùa xuân đẹp giữa trời say sưa
hiểu nhiều nên ít sai lỗi chính tả hơn
3 Khả năng áp dụng của giải pháp
Sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi tuy phạm vi và đối tượng nghiên cứu còn hạn hẹp nhưng những kinh nghiệm mà bản thân tôi đề xuất đã được áp dụng ở lớp tôi chủ nhiệm và bước đầu mang lại kết quả khả quan Các biện pháp mà tôi đưa ra còn
có thể áp dụng được trong phạm vi cả tổ Đề tài này còn có thể áp dụng cho các khối lớp khác trong trường Rộng hơn nữa, có thể vận dụng các biện pháp này cho các trường lân cận có điều kiện, cơ sở vật chất giống trường tôi Ngoài ra với sáng kiến kinh nghiệm này giáo viên có thể áp dụng cho tất cả các niên học
4 Hiệu quả lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp
Tôi đã áp dụng các biện pháp nêu trong sáng kiến kinh nghiệm và nhận thấy học sinh có tiến bộ khá rõ rệt Bản thân các em cũng ý thức hơn khi viết bài nên bài viết ít mắc lỗi chính tả Những em trước kia thường sai 9, 10 lỗi thì nay còn 3, 4 lỗi, những
em trước kia sai 5, 6 lỗi thì nay chỉ còn 1, 2 lỗi… Với kết quả nghiên cứu của mình, tôi
đã hình thành cho học sinh của tôi kĩ năng sử dụng tiếng Việt Trong đó các em được đặc biệt chú ý tới kĩ năng viết ( có kết hợp với kĩ năng nghe) Ở đề tài này, học sinh còn được cung cấp một số kiến thức về chữ viết như: cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh, quy tắc chính tả…Ngoài ra, thông qua việc thực hiện đề tài, học sinh còn được rèn luyện các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, thay thế, bổ sung , so sánh, khát quát
Trang 9hóa…, học sinh được cung cấp những hiểu biết sơ giản về văn học, văn hóa Việt Nam
Từ đó các em còn được bồi dưỡng lòng yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt,
sự công bằng, góp phần hình thành lòng yêu mến tiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Nếu sáng kiến kinh nghiệm này được áp dụng liên tục ở khối lớp 1 đến khối lớp 5 thì tôi chắc chắn rằng hiệu quả sẽ rất cao Hy vọng những biện pháp tôi đưa ra sẽ được áp dụng ở các đơn vị lân cận có thực trạng và cơ sở vật chất giống trường tôi
Thống kê điểm chính tả năm học 2011-2012:
Sĩ số Khảo sát chất lượng đầu năm Cuối năm học
Trên trung bình Dưới trung bình Trên trung bình Dưới trung bình
24
5 Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu: Không
6 Tài liệu kèm theo: Không có
Tôi cam đoan những điều khai trong đơn là đúng sự thật
Tân Hội, ngày 15 tháng 05 năm 2012
Người làm đơn
Lê Thị Thủy
Trang 10Phần mở đầu
I Bối cảnh của đề tài
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt ( nghe, nói, đọc , viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và của nước ngoài Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt
Chữ viết là hệ thống kí hiệu bằng đường nét đặt ra để ghi tiếng nói và có quy tắc, quy định riêng Muốn viết đúng chính tả Tiếng Việt, ta phải tuân theo những quy định, quy tắc đã xác lập Phân môn chính tả có nhiệm vụ cơ bản là giúp học sinh nắm vững quy tắc chính tả, hình thành kĩ năng chính tả Ngoài ra, phân môn chính tả còn có nhiệm vụ rèn cho học sinh một số phẩm chất tốt như: tính cẩn thận, chính xác; bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý tiếng Việt và chữ viết của tiếng Việt
Trong những năm qua, các em học sinh ở trường tôi còn viết sai nhiều lỗi chính tả Trước bối cảnh đó, tôi quyết tâm tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi và tìm ra một số giải pháp giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả
II Lý do chọn đề tài
Trong thực tế, học sinh mắc lỗi chính tả rất nhiều Có những học sinh viết sai hơn
10 lỗi ở một bài chính tả khoảng 60 chữ Khi chấm bài Tập làm văn, tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính tả Điều này ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát Vì vậy, để hạn chế tình trạng viết sai chính tả tôi đã chọn đề tài “ Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả ở học sinh lớp 4” nhằm giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả: viết đúng chữ ghi âm đầu, âm chính, âm cuối, viết dấu thanh đúng vị trí, tiến tới viết đẹp, viết nhanh
III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đề tài này chỉ thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra môt số biện pháp khắc phục Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 41
Trang 11IV Mục đích nghiên cứu
Tôi đã tiến hành thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra “Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả ở học sinh lớp 4”, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp, nhằm mục tiêu đào tạo những chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển hiện nay Giúp học sinh học tốt các phân môn của Tiếng Việt và các môn học khác Rèn cho học sinh một số phẩm chất như tính cẩn thận, tinh thần trách nhiệm với công việc, óc thẩm mĩ
V Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Ở đề tài này, tôi đã thống kê những lỗi học sinh hay mắc phải, phân loại lỗi và đưa
ra một số mẹo viết chính tả, cấo tạo âm tiết, vỏ ngữ âm của từ, những hiểu biết về chữ cái, dấu thanh, quan hệ giữa âm và chữ, phân biệt sự sai lệch của hệ thống âm địa phương với âm chuẩn để học sinh dễ nhớ và viết đúng hơn
II Thực trạng của việc rèn chính tả ở lớp 4 hiện nay
Trang 12động viên của lãnh đạo nhà trường
2 Khó khăn
Phụ huynh phần lớn không quan tâm đến việc học của con em nói chung và việc rèn chính tả nói riêng Do các em mắc lỗi nhiều từ những năm học trước nên việc rèn chính tả đòi hỏi phải mất nhiều thời gian và công sức Qua việc chấm tập, giảng dạy học sinh ở lớp, tôi có thống kê một số lỗi như sau:
* Về thanh điệu
- Tiếng Việt có 6 thanh điệu ( ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều học sinh không phân biệt được 3 thanh hỏi, ngã, sắc Tuy có 3 thanh nhưng số lượng tiếng mang thanh này không ít và rất phổ biến – kể cả những người có trình độ văn hóa cao
Ví dụ: sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành, lấn lộn,…
* Về âm đầu
- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ d/gi: đám dỗ, gia giẻ ,…
- Học sinh thường lẫn lộn chữ ghi âm chính trong các âm sau đây:
+ i/iê/ê: diệu dàng, thiêu hoa, …
+ o/ô: con ông, ong bà, óng khói,…
+ ơ/ư/ươ: bứu cổ, con hưu, thở nhỏ, hơi thuở, hơ vòi,…
+ u/ uô: đui gà, luối huối
* Về âm cuối
- Học sinh thường lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ an/ang: cây bàn, bàng bạc,…