1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng người việt giai đoạn 1930 1945 (qua ngữ liệu truyện ngắn văn học giai đoạn 1930 1945) (2016)

67 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 833,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng không chỉ diễn ra thường xuyên trong cuộc sống, mà còn được các nhà văn đưa vào văn chương một cách sinh động, phản ánh sâu sắc toà

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học

TS KHUẤT THỊ LAN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm khoá luận, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của TS Khuất Thị Lan - giảng viên tổ Ngôn ngữ, các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ - khoa Ngữ Văn, trường ĐHSP Hà Nội 2; sự giúp đỡ động viên của gia đình, bạn bè Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ tới quý thầy cô, gia đình và bạn bè, lời biết ơn sâu sắc nhất

Do điều kiện thời gian hạn hẹp, cùng với sự hạn chế về kiến thức, năng lực tìm tòi, nghiên cứu… của bản thân, nên khoá luận của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn sinh viên

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày11 tháng 05 năm 2016

Sinh viên làm khoá luận

Tráng Sử Hiền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Để đảm bảo tính trung thực của khoá luận, tôi xin cam đoan:

Khoá luận “Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng người việt giai đoạn 1930 -1945 (Qua ngữliệu truyện ngắn văn học giai đoạn 1930- 1945)” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được sự hướng dẫn của TS Khuất Thị Lan- giảng viên tổ ngôn ngữ, khoa Ngữ Văn, trường ĐHSP Hà Nội

2 Các kết quả được trình bày trong khoá luận hoàn toàn là trung thực

Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2016

Sinh viên làm khoá luận

Tráng Sử Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Bố cục 7

NỘI DUNG 8

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1 Giao tiếp 8

1.1.1 Khái niệm giao tiếp 8

1.1.2 Chức năng của giao tiếp 8

1.2 Giao tiếp vợ chồng người Việt 14

1.2.1 Khái niệm giao tiếp vợ chồng người Việt 14

1.2.2 Đặc điểm giao tiếp vợ chồng người Việt 14

1.3 Hội thoại và các phương châm hội thoại 15

1.3.1 Hội thoại 15

1.3.2 Các phương châm hội thoại 16

1.4 Hành vi ngôn ngữ hỏi gián tiếp và hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp 18

1.4.1 Hành vi hỏi gián tiếp 18

1.4.2 Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp 18

Chương 2 HỒI ĐÁP HÀNH VI HỎI GIÁN TIẾP NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CÁC PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI CỦA GRICE 21

Trang 5

2.1 Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp nhìn từ góc độ phương châm về

lượng 21

2.1.1 Lời hồi đáp tuân thủ phương châm về lượng 22

2.1.2 Lời hồi đáp nói không tuân thủ phương châm về lượng 24

2.2 HĐHVHGT nhìn từ góc độ phương châm về chất 30

2.2.1 Lời hồi đáp tuân thủ phương châm về chất 31

2.2.2 Lời hồi đáp không tuân thủ phương châm về chất 37

2.3 HĐHVHGT nhìn từ góc độ phương châm quan hệ 41

2.3.1 Lời hồi đáp tuân thủ phương châm quan hệ 42

2.3.2 Lời hồi đáp vi phạm phương châm quan hệ 45

2.4 HĐHVHGT nhìn từ góc độ phương châm cách thức 49

2.4.1 Lời hồi đáp tuân thủ phương châm cách thức 50

2.4.2 Lời hồi đáp không tuân thủ phương châm cách thức 55

KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giao tiếp là một vấn đề dành được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng trên thế giới, ở Việt Nam các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng như: Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Đức Tồn… đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp Bởi giao tiếp là vấn đề luôn nóng, luôn được cập nhật, và luôn diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Quan trọng hơn, giao tiếp luôn thay đổi theo thời đại

Giao tiếp có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, trong đời sống của mỗi người, nhờ có giao tiếp mối quan hệgiữa con người với con người được hình thành, tình cảm được nảy sinh, mọi tâm tư, nguyện vọng được chia

sẻ Giao tiếp diễn ra hằng ngày tương ứng với nhiều mối quan hệ, đối tượng tham gia giao tiếp rất đa dạng, có thể chênh lệch về lứa tuổi, giới tính, trình

độ văn hóa, hiểu biết…Tuy nhiên, giao tiếp vợ chồng là giao tiếp đặc biệt hơn

cả, bởi giao tiếp vợ chồng có nhiều điểm khác biệt so với các loại giao tiếp khác, đó là giao tiếp giữa hai người khác giới, theo tỉ lệ 1-1

Giao tiếp vợ chồng là giao tiếp phổ biến, nhưng ở mỗi thời đại giao tiếp

vợ chồng trong gia đình người Việt cũng có sự biến đổi để đáp ứng, phù hợp với yêu cầu thời đại Trong thực tế, giao tiếp vợ chồng diễn ra với nhiều biểu hiện phong phú, muôn màu, sinh động.Giao tiếp không chỉ diễn ra trong cuộc sống thường nhật, mà nó còn được các nhà văn phản ánh sâu sắc trong tác phẩm văn học Đặc biệt, giai đoạn văn học 1930– 1945, khuynh hướng hiện thực phê phán với các nhà văn tài năng khi đưa giao tiếp vợ chồng vào tác phẩm, đã phản ánh một cách sâu sắc và toàn diện

Trong hội thoại, không chỉ có sự trao lời khởi xướng cuộc hội thoại, mang tính chất quyết định đi tiếp hay dừng lại của cuộc hội thoại, tuy vậy vẫn chịu sự kiểm soát của người nghe Như vậy, sự hồi đáp của người nghe cũng

có vai trò quan trọng thúc đẩy cuộc thoại phát triển

Trang 8

Giao tiếp vợ chồng, ngoài hành vi hỏi trực tiếp còn hành vi hỏi gián tiếp Đây là hành vi hỏi nhiều khi không nhằm mục đích hỏi mà nó mang hàm ẩn sâu xa, người phát ngôn muốn người tiếp nhận tự hiểu Để đáp lại hành vi hỏi gián tiếp của người hỏi, người nghe có thể hồi đáp bằng lời, cũng có thể hồi đáp phi lời tạo ra hàm ý Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng không chỉ diễn ra thường xuyên trong cuộc sống, mà còn được các nhà văn đưa vào văn chương một cách sinh động, phản ánh sâu sắc toàn cảnh bức tranh giao tiếp vợ chồng người Việt Thông qua hành vi ngôn ngữ hỏi và hồi đáp hành vi ngôn ngữ hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng đã phần nào bộc

lộ tính cách, tâm lí, tâm trạng của các nhân vật

Vì những lí do trên tôi đã lựa chọn đề tài: “Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng người Việt giai đoạn 1930-1945 (Qua ngữ liệu truyện ngắn văn học giai đoạn 1930-1945)” Thực hiện đề tài này tôi hi vọng

tìm hiểu sâu sắc, có hệ thống hơn hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp

vợ chồng người Việt, cũng như sự thể hiện và hiệu quả sử dụng chúng trong những truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Kim Lân

2 Lịch sử vấn đề

Đã có nhiều công trình và các đề tài nghiên cứu đề cập đến phương châm hội thoại của Grice, sự nghiên cứu, tìm hiểu được diễn ra với nhiều cấp độ khác nhau Sau đây chúng tôi chỉ ra một số bài nghiên cứu có đề cập đến nội dung về các phương châm hội thoại của Grice:

Tác giả Đỗ Hữu Châu với cuốn sách “Ngữ dụng học” đi sâu nghiên cứu

các phương châm hội thoại của Grice, với bốn phương châm hội thoại: lượng, chất, quan hệ và cách thức Ông có đóng góp rất lớn trong lĩnh vực ngôn ngữ học, đưa ngành ngữ dụng học vào trong nghiên cứu Phần lớn các đề tài nghiên cứu hay bài viết của ông đều nói tới nguyên tắc cộng tác của Grice

Trang 9

Tác giả Nguyễn Đức Dân với cuốn sách “Ngữ dụng học”; Nguyễn Thiện Giáp “Dụng học Việt ngữ”, cũng đề cập đến phương châm hội thoại của Grice Tác giả Trần Châu Ngọc ở luận án tiến sĩ với đề tài “Truyện cười tiếng Việt nhìn từ lý thuyết hội thoại” trong đó tác giả đã đi sâu nghiên cứu việc vi

phạm các phương châm hội thoại của Grice trong truyện cười tiếng Việt, qua kết quả nghiên cứu cho thấy, đây là một trong những yếu tố gây nên tiếng cười cho truyện cười

Tác giả Đào Nguyên Phúc với bài viết “Biểu thức rào đón trong hành vi ngôn ngữ xin phép tiếng Việt trên cơ sở lí thuyết về phương châm hội thoại của H.Grice” trong Tạp chí ngôn ngữ số 6 (169) năm 2003 Bài viết đã đề cập

đến các phương châm hội thoại của Grice trong hành vi ngôn ngữ xin phép nhìn nhận ở việc sử dụng những biểu thức rào đón Bài viết đã cho ta những hiểu biết về sự biến đổi của các hành vi ngôn ngữ xin phép khi nhìn từ góc độ các phương châm hội thoại Ở đó cho ta cái nhìn khá mới mẻ và lí thú về các phương châm hội thoại

Tác giả Trương Viên với bài viết “Từ nguyên lí cộng tác của Grice đến

lí thuyết quan hệ của Sperber và Wilson” đăng trên tạp chí ngôn ngữ và đời

sống số 6 (224) – 2014 Bài viết tiến hành so sánh và đưa ra nhận định về mối quan hệ giữa các phương châm hội thoại của Grice và Lí thuyết quan hệ của Sperber và Wilson

Bài viết “Một số chiến lược rào đón trong hội thoại của người Việt” trên Tạp chí ngôn ngữ số 3 (190) năm 2005 của tác giả Vũ Thị Nga, bài viết đã chỉ

ra những nội dung hết sức cơ bản về những hành vi ngôn ngữ rào đón nhìn nhận từ góc độ các phương châm hội thoại của Grice Bài viết cũng đi khá sâu vào tìm hiểu, phân tích các phương châm hội thoại ở phương diện rào đón trong hội thoại

Trang 10

Tác giả Khuất Thị Lan với bài viết “Hành vi ngôn ngữ rào đón phương châm về chất trong một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao” đăng trên tạp

chí Ngôn ngữ và đời sống số 8 (178) năm 2010 Bài viết đã đi sâu phân tích một cách kĩ lưỡng về hành vi ngôn ngữ rào đón trong một phương châm hội thoại khá cơ bản là phương châm về chất trong phạm vi một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao Phương châm về chất có sự chi phối lớn trong các cuộc hội thoại và nó có sự thay đổi khá linh hoạt trong giao tiếp

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Liên với đề tài “Hành vi ngôn ngữ rào đón về các phương châm hội thoại của Grice” đã nghiên cứu hành vi

ngôn ngữ rào đón nhìn từ góc độ phương châm hội thoại của Grice trong các tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao Phân tích tác dụng của việc vận dụng hành

vi rào đón về các phương châm hội thoại của Grice

Khóa luận tốt nghiệp của Vũ Thị Tuyết (2011)“Giao tiếp vợ chồng trong gia đình người Việt nhìn từ góc độ các phương châm hội thoại của H.P.Grice (Thông qua tư liệu một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan)”, khóa luận đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về

giao tiếp vợ chồng nhìn từ góc độ phương châm hội thoại của Grice, khóa luận cũng đã chỉ ra được giao tiếp vợ chồng gồm các hành vi ngôn ngữ thể hiện ở mức độ lịch sự và không lịch sự

Vấn đề trả lời dường như dành được sự quan tâm ít hơn của các nhà nghiên cứu Cần phải kể đến một số tác giả như: Lê Đông trên tạp chí ngôn

ngữ số 1 năm 1985 có bài viết: “Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi”

Tác giả Lê Anh Xuân với một số bài đăng trên Tạp chí ngôn ngữ như

“Các dạng trả lời gián tiếp cho câu hỏi chính danh” [TCNN số 4, 2000],

“Trả lời dưới dạng câu nghi vấn gián tiếp thực hiện hành vi phủ định” [TCNN số 11, 2000], “Một cách trả lời gián tiếp cho câu hỏi chính danh: trả lời bằng sự im lặng” [TCNN số 5, 2006] và bài viết trên Ngôn ngữ và đời

Trang 11

sống: “Câu trả lời gián tiếp: chối cãi và thanh minh [Ngôn ngữ và đời sống

số 6, 1999]

Có thể nói các phương châm hội thoại của Grice đã được đề cập đến nhiều trong sách, công trình nghiên cứu,một số bài viết nhưng tìm hiểu, nghiên cứu sâu về hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng dựa vào các phương châm hội thoại của Grice thì chưa có ai nghiên cứu Kế thừa

và tiếp thu những kết quả từ những bài viết đó chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài: “Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng người Việt giai đoạn 1930-1945 qua ngữ liệu tác phẩm văn học giai đoạn 1930-1945” để từ

đó giúp cho bạn đọc có cái nhìn tổng quan hơn về hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp theo các phương châm hội thoại của Grice trong phạm vi giao tiếp cụ thể

sử dụng ngôn ngữ của vợ chồng trong giao tiếp

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu là hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng người Việt thông qua các truyện ngắn của các tác giả: Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Kim Lân

Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng là vấn đề phức tạp

và rộng, để nghiên cứu sâu, toàn diện cần quá trình nghiên cứu lâu dài, vì vậy khóa luận này chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu các nội dung cụ thể: hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp thông qua các phương châm hội thoại của Grice

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu đề tài:“Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng người Việt giai đoạn 1930 -1945 (Qua ngữ liệu tác phẩm văn học)” chúng tôi giải quyết nhiệm vụ sau:

Tổng hợp và khái quát những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu như: các vấn đề về giao tiếp, giao tiếp vợ chồng,hội thoại, các phương châm hội thoại, hành vi hỏi gián tiếp và hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp

Từ những vấn đề lý thuyết đó, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kêsự xuất hiện, biến đổi hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng qua truyện ngắn của các nhà văn Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Kim Lân nhìn từ góc độ các phương châm hội thoại của Grice

6 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích tổng hợp

Trang 13

7 Bố cục

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm hai chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp nhìn từ góc độ các phương châm hội thoại của Grice

Trang 14

NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Giao tiếp

1.1.1 Khái niệm giao tiếp

“Giao tiếp là một quá trình hoạt động, trao đổi thông tin giữa người nói

và người nghe, nhằm đạt được mục đích nào đó”

1.1.2 Chức năng của giao tiếp

Giao tiếp có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, trong đời sống của mỗi người, nhờ có giao tiếp mối quan hệ giữa con người với con người được hình thành, tình cảm được nảy sinh, mọi tâm tư, nguyện vọng được chia sẻ

* Chức năng thông tin: là những điều mà nhân vật giao tiếp thu nhận được trong cuộc giao tiếp, đó là những hiểu biết, những tri thức mới về thế giới thuộc về lĩnh vực của lí trí, của trí tuệ và những nội dung thu nhận được đều có thể được đánh giá theo tiêu chuẩn logic

* Tạo lập quan hệ: đây chính là chức năng làm nảy sinh các mối quan hệ liên cá nhân của các nhân vật khi tham gia giao tiếp: thân hữu, bạn bè…

* Chức năng biểu hiện: bày tỏ những đặc điểm, sở thích, ưu nhược điểm của cá nhân, nguồn gốc địa phương của những người tham gia giao tiếp

* Chức năng hành động: thúc đẩy nhau cùng hành động, người nói, người nghe dưới sự tác động của lời nói đều có sự thay đổi về hành động

* Chức năng giải trí: giải toả bức xúc, những căng thẳng, hướng tới sự thư giãn

Trang 15

1.1.3 Các nhân tố giao tiếp

Theo quan niệm truyền thống có năm nhân tố tham gia, chi phối vào một giao tiếp Mỗi nhân tố đều có ảnh hưởng nhất định đến cuộc giao tiếp

* Nhân vật giao tiếp

Nhân vật giao tiếp: là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói Bao gồm vai nói và vai nghe Giữa các nhân vật giao tếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân Trong đó vai nói là vai phát ra phát ngôn, là người phát tin, quá trình người nói nói ra gọi là quá trình phát tin (Sp1) Trong quá trình giao tiếp vai nói luôn chỉ có một Còn vai nghe là vai tiếp nhận tin, phát ngôn Qúa trình nghe được gọi là quá trình nhận tin (Sp2) Trong quá trình giao tiếp vai nghe có thể là một hoặc nhiều hơn Trong quá trình giao tiếp vai nói và vai nghe luôn

có sự luân phiên lượt lời

Quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp cùng với những đặc điểm khác biệt (tuổi, giới tính, ghề nghiệp, vốn sống, văn hoá, môi trường xã hội), chi phối lời nói (nội dung và hình thức ngôn ngữ) Trong giao tiếp các nhân vật giao tiếp tuỳ ngữ cảnh mà lựa chọn chiến lược giao tiếp phù hợp để đạt được mục đích và hiệu quả

Ví dụ 1:

Một lần hắn đang gò lưng kéo cái xe bò thóc vào dốc tỉnh, hắn hò một câu chơi cho đỡ nhọc Hắn hò rằng:

Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!

Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!

Chủ tâm hắn cũng chẳng có ý chòng ghẹo cô nào, nhưng mấy cô gái lại

cứ đẩy vai cô ả này ra với hắn, cười như nắc nẻ:

- Kìa anh ấy gọi! Có muốn ăn cơm trắng giò thì ra đẩy xe bò với anh ấy! Thị cong cớn:

Trang 16

- Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy? Tràng ngoái cổ lại vuốt mồ hôi trên mặt cười:

- Thật đấy, có đẩy thì ra mau lên!

Thị vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng

- Đã thật thì đẩy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ

Hoạt động giao tiếp trên có những nhân vật giao tiếp là: Tràng, mấy cô gái và Thị Những nhân vật đó có đặc điểm:

Về lứa tuổi: Họ đều là những người trẻ tuổi

Về giới tính: Tràng là nam còn lại là nữ

Về tầng lớp xã hội: Học đều là những người dân lao động nghèo đói Các nhân vật giao tiếp chuyển đổi vai người nói, vai người nghe và luân phiên lượt lời như sau:

Lúc đầu: Hắn (Tràng) là người nói, mấy cô gái là người nghe

Tiếp theo: Mấy cô gái là người nói Tràng và "Thị" là người nghe

Tiếp theo: "Thị" là người nói, Tràng (là chủ yếu), và mấy cô gái là người nghe

Tiếp theo: Tràng là người nói, "Thị" là người nghe

Cuối cùng: "Thị" là người nói, Tràng là người nghe

Các nhân vật giao tiếp trên bình đẳng về vị thế xã hội (họ đều là những người dân lao động cùng cảnh ngộ) Khi bắt đầu cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp trên có quan hệ hoàn toàn xa lạ

Những đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân-sơ, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,…chi phối lời nói của nhân vật khi giao tiếp Ban đầu chưa quen nên chỉ là trêu đùa thăm dò Dần dần, khi đã quen họ mạnh dạn hơn Vì cùng lứa tuổi, bình đẳng về vị thế xã hội, lại cùng cảnh ngộ nên các nhân vật giao tiếp tỏ ra rất suồng sã

* Đối tượng giao tiếp

Trang 17

Đối tượng giao tiếp: còn được gọi là hiện thực được nói tới Nó chính là

đề tài, nội dung mà cả người nói và người nghe cùng quan tâm Hiện thực này bao gồm cả sự việc, sự kiện, tâm trạng, tình cảm của con người Nó là nhân tố khá đa dạng, phong phú trong nhiều lĩnh vực của đời sống con người

Ví dụ 2:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non

(Hồ Xuân Hương, Bánh trôi nước)

Khi làm bài thơ “Bánh trôi nước”, Hồ Xuân Hương muốn ngợi ca vẻ

đẹp và khẳng định phẩm chất trắng trong của người phụ nữ nói chung và của tác giả nói riêng Bài thơ cũng là một "thông điệp" nói lên sự vất vả và gian truân của họ Để thực hiện đích giao tiếp ấy, tác giả đã xây dựng nên hình tượng "chiếc bánh trôi" và sử dụng khá nhiều từ ngữ giàu hàm nghĩa (trắng, tròn, bảy nổi ba chìm, tấm lòng son )

* Hoàn cảnh giao tiếp

Hoàn cảnh giao tiếp là một nhân tố cơ bản và có tác động quan trọng đến nội dung thông tin trong cuộc giao tiếp Đây là những điều kiện về mặt không gian, thời gian xã hội diễn ra cuộc giao tiếp, ảnh hưởng nhiều đến cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp được chia làm hai loại: Hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp

Bối cảnh giao tiếp rộng hay còn gọi là bối cảnh văn hóa: đó là các bối cảnh về lịch sử, xã hội, văn hóa, phong tục tập quán… Những yếu tố này tạo nên môi trường giao tiếp và chi phối người nói lẫn người nghe

Bối cảnh giao tiếp hẹp hay còn gọi là bối cảnh tình huống: bao gồm thời gian, địa điểm, tình huống giao tiếp Những yếu tố này cũng tác động đến người nói lẫn người nghe, chi phối quá trình tạo lập và cảm thụ văn bản một cách trực tiếp

Trang 18

Ví dụ 3:

Nàng rằng khoảng vắng đêm trường

Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa

(Nguyễn Du, Thề nguyền)

Bối cảnh giao tiếp rộng trong hai câu thơ trên là xã hội phong kiến, xã hội mà tình duyên, hôn nhân con cái phụ thuộc vào sự sắp đặt của cha mẹ, nhưng Thúy Kiều đã vượt qua lễ giáo phong kiến, vượt rào cản thời đại, chủ động tìm đến Kim Trọng để cùng nhau thề nguyền

Bối cảnh giao tiếp hẹp cũng thể hiện rõ trong hai câu thơ: thời gian được

biểu hiện qua hình ảnh “đêm trường”nghĩa là thời điểm đêm khuya, không

gian chính là thư phòng của chàng Kim

* Mục đích giao tiếp

Là đích các nhân vật giao tiếp muốn đạt tới trong cuộc giao tiếp Đây là nhân tố quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến cuộc giao tiếp, một cuộc giao tiếp bất kì cần đạt được đích cuối cùng, đích cả người nói lẫn người nghe mong muốn đạt được Có nhiều đích hướng tới trong một cuộc giao tiếp, thông thường người ta hướng tới ba đích giao tiếp tiêu biểu: hành động, truyền tải, thyết phục Ba đích này tồn tại song song nhưng không đồng đều Có những lời nói tác động đến nhận thức là chủ yếu, nhưng có lời nói lại tác động đến hành động là chủ yếu

Trang 19

Ví dụ 5:

Cậy em em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa

(Nguyễn Du, Trao duyên)

Với mong muốn, Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng, Thúy Kiều đã chọn lọc những từ ngữ mang sức thuyết phục cao, phù hợp với hoàn cảnh của mình Hai câu thơ trên hướng đến đích thuyết phục và đích hành động là chủ yếu, Kiều thuyết phục Vân sẽ trả món nợ tình với chàng Kim thay mình Mong Vân có hành động kết duyên với Kim trọng

* Phương tiện giao tiếp

Phương tiện giao tiếp là tất cả các yếu tố được dùng để thể hiện thái

độ, tình cảm, tư tưởng, mối quan hệ và những tâm lý khác trong một cuộc giao tiếp Phương tiện giao tiếp gồm hai nhóm: ngôn ngữ và phi ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện, công cụ để giao tiếp Ngôn ngữ trở thành công

cụ giao tiếp vạn năng của con người vì nó hành trình cùng con người, từ lúc con người xuất hiện cho đến ngày nay Phương tiện giao tiếp ấy được bổ sung

và hoàn thiện theo lịch sử tiến hóa của nhân loại Ngôn ngữ đồng thời cũng là sản phẩm của giao tiếp Những yếu tố có liên quan đến ngôn ngữ gồm:

Nội dung: Nghĩa của từ, lời nói

Tính chất: Ngữ điệu, nhịp điệu, âm điệu

Những biểu hiện của nhóm phi ngôn ngữ gồm: diện mạo, nét mặt,

nụ cười, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, tư thế, hành vi…những yếu tố này cũng chi phối đến cuộc giao tiếp

Ví dụ 6:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Trang 20

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

(Hồ Xuân Hương, Bánh trôi nước)

Để lĩnh hội bài thơ, người đọc phải căn cứ vào các phương tiện ngôn ngữ

(giải mã ý nghĩa của các từ ngữ) như:“trắng, trong” (nói về vẻ đẹp), thành ngữ "bảy nổi ba chìm"n(chỉ sự gian truân vất vả, sự xô đẩy của cuộc

đời), “tấm lòng son” (vẻ đẹp bên trong) Bên cạnh các yếu tố ngôn ngữ, người

đọc còn phải liên hệ với cuộc đời tác giả - một cuộc đời tài hoa và luôn khát khao hạnh phúc nhưng lại gặp nhiều trắc trở về chuyện duyên tình Có như vậy chúng ta mới hiểu đầy đủ nội dung giao tiếp mà nhà thơ muốn gửi gắm trong bài thơ

Tóm lại, các nhân tố trên đều quan trọng, chi phối nhiều đến cuộc giao tiếp, bởi vậy khi giao tiếp cần chú ý đến những nhân tố này

1.2 Giao tiếp vợ chồng người Việt

1.2.1 Khái niệm giao tiếp vợ chồng người Việt

“Là hoạt động giao tiếp trong đó vai tham gia giao tiếp là vợ và chồng Hay nói khác đi các các nhân vật tham gia trao và nhận các phát ngôn chính là

vợ và chồng”

1.2.2 Đặc điểm giao tiếp vợ chồng người Việt

* Giao tiếp vợ chồng người Việt là giao tiếp giữa hai người khác giới Giao tiếp vợ chồng là một kiểu giao tiếp đặc biệt, đặc biệt bởi nó là cuộc giao tiếp giữa hai người khác giới, giới nam và giới nữ Vì khác giới, khác đặc điểm tâm, sinh lí cho nên dẫn đến những khác biệt khi sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp Hai giới có những đặc trưng ngôn ngữ rất khác nhau Nam giới có phong cách ngôn ngữ, lối ứng xử, giao tiếp riêng đặc trưng cho giới mình, và nữ giới cũng vậy Nam giới thuộc phái mạnh, trong gia đình lại có vị thế và vai trò cao hơn phụ nữ, còn nữ giới thuộc phái yếu, có vị thế thấp hơn Điều này có ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp vì thế khác nhau về tính chất

Trang 21

ngôn ngữ Nữ giới có khuynh hướng dùng các chức năng ngôn ngữ diễn đạt tình cảm trong giao tiếp thường xuyên hơn so với nam giới, khuynh hướng dùng những chức năng ngôn ngữ nhấn mạnh tình yêu thương, tinh thần đoàn kết, động viên, giúp đỡ lẫn nhau, trong khi (đặc biệt là trong bối cảnh chính thức) nam giới có khuynh hướng giao tiếp nhằm duy trì, tăng vị thế và quyền lực Nữ giới dùng ngôn ngữ lịch sự và linh hoạt hơn so với nam giới Bởi vậy khi xem xét cuộc giao tiếp giữa hai vợ chồng chúng ta cần quan tâm đến sự chi phối của yếu tố giới

* Giao tiếp vợ chồng người Việt luôn theo tỉ lệ 1-1

Giao tiếp vợ chồng không giống những cuộc giao tiếp khác, nếu những cuộc giao tiếp khác có sự tham gia của nhiều nhân vật, thuộc nhiều tầng lớp, lứa tuổi, hay địa vị xã hội khác nhau… thì giao tiếp vợ chồng luôn luôn chỉ có

sự tham gia của hai người, một chồng - một vợ Giao tiếp vợ chồng là một hoạt động giao tiếp mà ở đó có đối tượng tham gia giao tiếp tương đối đồng nhất về trình độ văn hóa, hiểu biết, vốn sống, lứa tuổi, nghề nghiệp…Vì vậy, khi vợ chồng giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ sẽ chịu sư chi phối của các nguyên tắc giao tiếp vợ chồng nhất định Vì luôn theo tỉ lệ 1- 1 cho nên trong giao tiếp vợ chồng có sự phân vai rõ ràng, vai nói và vai nghe luôn phiên nhau, thay đổi cho nhau

1.3 Hội thoại và các phương châm hội thoại

1.3.1 Hội thoại

1.3.1.1 Khái niệm hội thoại

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [3;201]

Trang 22

1.3.1.2 Các quy tắc hội thoại

Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định C.K.Orecchioni chia quy tắc hội thoại thành ba nhóm:

Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời

Quy tắc điều hành nội dung hội thoại

Quy tắc chi phối mối quan hệ liên cá nhân và phép lịch sự

Khóa luận này chúng tôi chỉ quan tâm, và đi sâu tìm hiểu quy tắc điều hành nội dung hội thoại

1.3.2 Các phương châm hội thoại

Các phương châm hội thoại của Grice thuộc nguyên tắc cộng tác nằm

trong quy tắc “điều hành nội dung hội thoại”

Nguyên tắc này được Grice phát biểu như sau như sau: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh, chị

đã chấp nhận tham gia vào”- [ 3; 229]

Nguyên tắc này bao trùm bốn phạm trù mà Grice gọi tên là phạm trù:lượng, chất, quan hệ, cách thức Ứng với mỗi phạm trù là một phương châm hội thoại

1.3.2.1 Phương châm về lượng

a, Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị có lượng tin đúng như đòi hỏi

b, Đừng làm cho phần đóng góp của anh, chị có lượng tin lớn hơn đòi hỏi.[3; 229]

Ví dụ 7:

An: Hôm nay cậu đi chơi ở đâu thế?

Bình: Tớ lên núi Cô Tiên

Trang 23

Cuộc hội thoại trên đã tuân thủ phương châm về lượng, người hỏi và người hồi đáp đều đưa ra lượng tin đúng như đòi hỏi An hỏi Bình với mục đích muốn biết địa điểm Bình đã đi chơi Lời hồi đáp của Bình ngắn gọn, nhưng đã đưa ra địa điểm cụ thể: núi Cô Tiên, đáp ứng được mong muốn cũng như yêu cầu của câu hỏi

1.3.2.2 Phương châm về chất

a, Đừng nói những điều mà anh tin rằng không đúng

b, Đừng nói điều mà anh không có bằng chứng xác thực.[3; 230]

Ví dụ 8:

Hỏi tên, rằng: Mã Giám Sinh, Hỏi quê, rằng: huyện Lâm Thanh cũng gần

(Nguyễn Du, Mã Giám Sinh mua Kiều)

Mã Giám Sinh đã vi phạm phương châm về chất, khi hắn nói những điều không đúng sự thật nói là viễn khách tức khách ở xa đến, nhưng hắn lại nói cũng gần, đã bộc lộ bản chất đểu giả của tên họ Mã

1.3.2.3 Phương châm quan hệ

Hãy quan yếu, nghĩa là hãy làm cho phần đóng góp của anh có dính líu

và liên quan đến vấn đề đang diễn ra trong cuộc hội thoại.[3; 230]

Ví dụ 9:

Trong giờ học Vật lý, thầy giáo hỏi Đăng:

Thầy: Em hãy cho thầy biết sóng là gì?

Đăng: Thưa thầy, sóng là bài thơ của Xuân Quỳnh ạ?

Trên đây, học sinh Đăng đã không tuân thủ phương châm quan hệ, vì không trả lời định nghĩa về sóng theo yêu cầu của thầy, mà chuyển sang vấn

đề khác thuộc lĩnh vực văn học Câu trả lời của Đăng hoàn toàn không liên quan đến vấn đề thầy đưa ra thuộc lĩnh vực vật lý

Trang 24

1.3.2.4 Phương châm cách thức

a,Tránh lối nói tối nghĩa

b, Tránh lối nói mập mờ (có thể hiểu nhiều nghĩa)

c, Hãy nói ngắn gọn (tránh nói dài dòng)

d, Hãy nói có trật tự[3; 230]

Ví dụ 10:

Trong phát ngôn “Về nhà không ở với chồng cũ được lấy chồng mới”,

người tiếp nhận câu nói này hoàn toàn có thể hiểu sai ý của người phát ngôn,

vì phát ngôn trên mơ hồ, không rõ nghĩa

1.4 Hành vi ngôn ngữ hỏi gián tiếp và hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp

1.4.1 Hành vi hỏi gián tiếp

“Là hành vi ngôn ngữ hỏi nhưng lại hướng tới hiệu lực thuộc một hành

vi ở lời khác như: chào, khẳng định, phủ định, chê bai, phản bác, đe dọa, khuyên nhủ…”

Ví dụ 11:

SP1: Bây giờ là mấy giờ rồi em?

SP2: Dạ! Em xin lỗi thầy, lần sau em sẽ đi học sớm hơn ạ!

Trên đây là cuộc hội thoại giữa thầy giáo và học sinh, câu hỏi của thầy giáo không nhằm mục đích hỏi giờ Sp1 đã sử dụng hành vi hỏi gián tiếp mà mục đích của thầy là phê phán, đồng thời nhắc nhở em học sinh lần sau đi học đúng giờ

1.4.2 Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp

Có nhiều cách thức để hồi đáp lại hành vi hỏi gián tiếp, chúng tôi chia thành hai loại: hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp bằng lời; hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp phi lời

Trang 25

1.4.2.1 Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp bằng lời

Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp bằng lời biểu hiện cũng rất đa dạng, có những cách thức hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp như:

* Cách trả lời đúng vào nội dung được hỏi (tức tuân thủ phương châm về lượng)

Ví dụ 12:

Sp1: Con không làm vỡ lọ hoa thì ai làm vỡ?

Sp2: Là do con mèo nhảy lên bàn làm vỡ lọ hoa mẹ ạ!

Trên đây, câu hỏi của Sp1 mang tính chất khẳng định, buộc tội Sp2 làm

vỡ lọ hoa Lời hồi đáp trả lời đúng yêu cầu của hành vi hỏi, đó là đưa ra đối tượng làm vỡ lọ hoa theo như câu hỏi đề cập

* Trả lời không đúng (vi phạm phương châm quan hệ)

Ngoài ra hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp còn trả lời bằng cách hỏi lại, giải thích vòng vèo

Ví dụ 14: trong cuộc trò chuyện giữa hai chị em

Sp1: Sao chị nói gì em cũng cãi lại? Người đâu mà ngang như cua vậy? Sp2: Sao chị lại nói em ngang như cua?

Hồi đáp lại hành vi hỏi gián tiếp của Sp1, Sp2 đã hỏi lại Sp1, thể hiện thái độ không đồng ý, cũng như phản bác lại ý kiến của Sp1

Trang 26

1.4.4.2 Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp phi lời

Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp phi lời có nghĩa không sử dụng ngôn ngữ

để biểu thị câu trả lời, mà thông qua các biểu hiện phi ngôn ngữ như: cử chỉ, nét mặt, dáng vẻ, điệu bộ, hoặc cũng có thể hồi đáp bằng cách im lặng Cách hồi đáp này đem lại hiệu quả giao tiếp, thể hiện chủ ý của người hồi đáp

* Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp bằng cách im lặng

* Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp thông qua biểu hiện của nét mặt, cử chỉ, hành động…

Ví dụ 16:

Ông Lý: Thế nào? Ế à?

Bà Lý uể oải đi vào, đặt gánh xuống sân, lắc đầu

(Nguyễn Công Hoan, Gánh khoai lang, Nxb văn học)

Thông qua nét mặt, điệu bộ uể oải, hành động đặt gành khoai lang xuống sân phần nào cho thấy tâm trạng mệt mỏi của bà Lý, như vậy không cần trả lời, ông Lý cũng có thể biết được kết quả

Trang 27

Chương 2 HỒI ĐÁP HÀNH VI HỎI GIÁN TIẾP NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CÁC

PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI CỦA GRICE

2.1 Hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp nhìn từ góc độ phương châm về lượng

Grice phát biểu phương châm về lượng như sau:

a Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin vừa đúng như đòi hỏi

b Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin lớn hơn đòi hỏi[3; 230]

Phương châm này giúp cuộc hội thoại diễn ra nhanh chóng vì mục đích cuối cùng của một cuộc thoại là nhận được phản hồi, thông tin mình đang cần một cách nhanh nhất

Trong giao tiếp hàng ngày, cũng như trong văn học các nhân vật tham gia giao tiếp cần tuân thủ phương châm về chất để đảm bảo hiệu quả, chất lượng của cuộc hội thoại Khảo sát các lời hồi đáp hành vi hỏi gián tiếp trong giao tiếp vợ chồng trong những truyện ngắn của Nam Cao, Kim Lân, Nguyên Hồng,

Tô Hoài, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan đã thu được kết quả như sau:

Người hồi đáp tôn trọng phương châm về lượng có 63 cuộc thoại

Người hồi đáp vi phạm phương châm vê lượng có 76 cuộc thoại

Qua số liệu thống kê, ta thấy người hồi đáp vi phạm phương châm về lượng chiếm số lượng nhiều hơn là tuân thủ phương châm Hơn nữa người vi phạm chủ yếu là vợ Điều này xuất phát từ hiện thực đời sống những năm 1930- 1945 được các nhà văn phản ánh trong tác phẩm của mình, lo toan cho gia đình, vấn đề mưu sinh, cơm, áo, gạo, tiền… Một nguyên nhân nữa xuất phát từ tâm lí người phụ nữ thường hay cằn nhằn, trách móc, than vãn, nói nhiều dẫn đến việc vi phạm phương châm về lượng

Trang 28

2.1.1 Lời hồi đáp tuân thủ phương châm về lượng

Người Việt ta có câu “Nói dài, nói dai, nói dại” Câu thành ngữ cho ta

thấy hậu quả của việc nói nhiều, nói dài, lan man Việc cố tình kéo dài cuộc hội thoại bằng cách nói dài để chứng tỏ mình hiểu biết, có vốn kiến thức sâu rộng đã trở thành hiện tượng khá phổ biến Điều này không những không đem lại một cuộc giao tiếp thành công mà ngược lại để lại hậu quả Trong văn học điều này cũng quan trọng, nó phần nào phản ánh tính cách và tâm lí nhân vật

Ví dụ 17:

C: Có hay không? Một tiếng?

Vừa sụt sùi, bà vừa đáp:

V: Không!

Cần quyết liệt hơn, ngài giơ gậy

C: Thật mợ không đi à?

V: Không!

(Nguyễn Công Hoan truyện ngắn chọn lọc, Xuất giá tòng phu, Nxb Văn học)

Từng câu hỏi của người chồng là lời doạ nạt, đe doạ, yêu cầu, ra lệnh bắt

vợ phải làm theo lời mình dù người vợ đã tỏ ý từ chối Đáp lại mệnh lệnh, người vợ khăng khăng một mực từ chối kèm theo tiếng khóc Lời đáp rất ngắn

gọn, chỉ một từ“Không”, người vợ không thanh minh, không giải thích bằng

bất cứ lí do nào, không dài dòng Lượng tin người vợ đưa ra đã có thể đáp lại câu hỏi của người chồng

Người chồng đưa ra điều kiện, yêu cầu vợ chỉ cần lựa chọn, trả lời có hoặc không, người vợ đã thực hiện đúng yêu cầu đó thế nhưng vẫn tiếp tục bị

đe doạ Cùng với lối xưng hô thô thiển, cục cằn việc gọi vợ bằng “Mợ” xưng

là “Tao” đã cho thấy uy quyền của người chồng trong gia đình Qua câu trả

lời của người vợ ta nhận ra sự từ chối rất quyết liệt, nói năng cộc lốc với chồng, quyết không đi cho dù có bị đe doạ, bị mắng chửi hay bị đánh Từ đó

Trang 29

ánh lên vẻ đẹp, phẩm chất cao quý của người vợ, biết tự trọng, biết phân biệt phải trái, biết đâu là việc nên làm đâu là việc không nên làm

Ví dụ 18:

C: Bu mày chịu khó đi đong chịu vậy?

V: Tôi không rỗi!

(Tuyển tập Nam Cao, Trẻ con không được ăn thịt chó, Nxb Văn học)

Trên đây, người chồng đã thực hiện hành vi hỏi nhưng hiệu lực ở lời không phải hành vi hỏi, mà là thực hiện hành vi yêu cầu người vợ đi đong chịu gạo cho mình Lời yêu cầu kèm theo thái độ nịnh nọt, lời nói nhẹ nhàng,

mềm mỏng, nhún mình “Bu mày chịu khó đi đong chịu vậy”

Đang trong cơn tức giận, người vợ trả lời rất rõ ràng “Tôi không rỗi”, lời

hồi đáp đã đáp ứng được đòi hỏi của người chồng đề ra ở trên Không dài dòng, văn hoa, không kể lể này nọ, mà người vợ thể hiện rõ thái độ từ chối thẳng lời đề nghị của chồng với sự bực tức và không mấy dễ chịu Người vợ cũng không cần tốn hơi sức mà trình bày lí do mình không đi được, bởi khi tâm trạng ảnh hưởng rất nhiều đến việc sử dụng lựa chọn ngôn từ khi giao tiếp Lẽ dĩ nhiên khi mệt mỏi người ta thường hạn chế nói, nói ngắn gọn, đi luôn vào vấn đề

Ví dụ 19:

C: Bằng gì nào! Bằng giấy “đỉnh” nhé?

V: Không thèm

C: Bằng kim cương nhé?

V: Tôi thừa rồi

(Nguyễn Công Hoan truyện ngắn chọn lọc, Đàn bà là giống yếu, Nxb

Văn học)

Cuộc ttranh cãi giữa hai vợ chồng diễn ra khá lâu, quan bà có vẻ thắng thế, nên quan ông dịu cơn tức, quay sang nịnh nọt vợ bằng những thứ vật chất

Trang 30

có giá trị Đáp lại lời nịnh khéo của chồng, quan bà từ chối, gạt bỏ tất cả những thứ vật chất đó đầy dứt khoát, không hề có sự tiếc nuối, chần chừ hay

do dự suy nghĩ, cũng không giải thích vòng vo, nhiều lời vì sao mình từ chối những thứ ấy Rất ngắn gọn, đi thẳng vấn đề Lượng tin quan bà đưa ra đáp ứng yêu cầu của câu hỏi Qua đó bộc lộ toan tính sâu xa, cùng lòng tham không đáy của quan bà

Như vậy, phương châm về lượng đã được người vợ tuân thủ khi người

vợ hồi đáp lại hành vi hỏi gián tiếp Đầy đủ thông tin, không thừa, không thiếu, ngắn gọn, đảm bảo lượng thông tin cần thiết Qua câu trả lời, người chồng đã đoán được ý định của vợ, đã ngầm hiểu đó là lời từ chối

2.1.2 Lời hồi đáp nói không tuân thủ phương châm về lượng

Có thể thấy, khi tham gia giao tiếp, nhân vật giao tiếp cần tuân thủ phương châm về lượng để cuộc giao tiếp diễn ra hiệu quả, dân gian ta vẫn thường nói:

“Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

Quả thật, lời nói là phương tiện giao tiếp quan trọng của cộng đồng Con người dùng lời nói để trao đổi công việc, thông tin, thể hiện tâm tư tình cảm… các cuộc hội thoại sẽ đạt hiệu quả giao tiếp cao nếu thực hiện, tuân thủ các phương châm hội thoại trong đó có phương châm về lượng

Khi tuân thủ phương châm về lượng, cuộc hội thoại sẽ đạt mục đích nhanh chóng, vì lượng thông tin cung cấp đầy đủ, không thừa, không thiếu nên người giao tiếp dễ dàng thu nhận cũng như nắm bắt thông tin, nội dung cuộc giao tiếp Tuy nhiên trong giao tiếp hằng ngay nói chung và trong văn học nói riêng không phải bao giờ người ta cũng tuân thủ, thực hiện đúng nguyên tắc giao tiếp cũng như tuân thủ phương châm về lượng Nếu vô tình vi phạm sẽ gây tác hại rất lớn, nói thừa thì vô duyên, làm mất thời gian của

Trang 31

người nghe, dễ nói hớ hênh, dễ bị băt lỗi Nếu nói thiếu sẽ không làm sáng tỏ vấn đề, nội dung cần trình bày,không đáp ứng yêu cầu của người hỏi chuyện Nói thiếu: không tôn trọng người hỏi, khiến cuộc hội thoại kéo dài mà không đạt được mục đích

Ví dụ điển hình về việc người nói vi phạm phương châm về lượng, câu

chuyện cười “Lợn cưới áo mới” đã phê phán lối nói thừa nhằm mục đích

khoe của:

- Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không?

- Từ lúc tôi mặc cái ao mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả

Ta dễ thấy, lời người hỏi lẫn người đáp đều thừa lượng tin: “lợn cưới”,“áo mới” Qua việc vi phạm này đã cho thấy họ là những người thích khoe khoang, vô duyên

Tuy vi phạm phương châm về lượng, sẽ gây nên những hậu quả xấu cho cuộc giao tiếp Nhưng đôi khi người tham gia giao tiếp cố tình vi phạm để tạo

ra hàm ý, tạo ra những hiệu quả giao tiếp khác mà ta cần chú ý để hiểu được nội dung hàm ẩn Trong văn học các nhân vật trong truyện thường vi phạm phương châm về lượng tạo nên hàm ý Vậy khi nào có thể vi phạm phương châm về lượng, đó là khi muốn tạo ra tiếng cười, đùa vui Khi cảm thấy người nghe có nhu cầu được chia sẻ thêm Muốn đưa ra thông điệp, nhắc nhở kín đáo người nghe

Trang 32

V: Đã bảo mà, thầy nó gàn dở quá Năm hết tết đến, còn ai mua của nỡm này làm gì? Chỉ làm tội tôi gánh trật xương vai ra mà thôi

(Nguyễn Công Hoan truyện ngắn chọn lọc, Gánh khoai lang, Nxb Văn học) Trên đây, người chồng hỏi vợ hai câu hỏi liên tiếp “Thế nào”? và “Ế à”?

Câu hỏi cùng với lối nói trống không, cộc lốc Điều này có thể lí giải theo quan niệm của nhân dân ta về tôn ti trật tự trong gia đình người Việt, chồng vai vế cũng cao hơn “Nam tôn nữ ti”, vì vai vế cao hơn, nên không cần thưa gửi

Hồi đáp lại lời chào của chồng, “Bà Lý uể oải đi vào, đặt gánh xuống sân, lắc đầu” Lẽ ra trả lời một cách đầy đủ, đúng, chỉ nên trả lời “Hôm nay ế thầy nó ạ”, đã đảm bảo lượng tin mà người chồng cần Nhưng đáp lại bằng ba

câu nói, chứa đựng ba thông tin khác nhau:

-“Đã bảo mà, thầy nó gàn dở quá” Câu nói mang hàm ý trách móc, phê

bình , biết trước sẽ không bán được, nhưng vẫn bắt vợ gánh khoai ra chợ bán, gánh đi rồi gánh về, tốn công, mất sức

-“Năm hết tết đến, còn ai mua của nỡm này làm gì”?, thông tin thứ hai

ta biết được: đã là cuối năm, năm mới sắp đến, cả năm làm lụng vất vả quanh năm, bởi vậy năm mới phải ăn ngon mặc đẹp chứ ai mua khoai bao giờ

- Thông tin cuối cùng trong câu nói của người vợ: “Chỉ làm tội tôi gánh trật xương vai ra mà thôi” Kể lể sự khổ nhọc, vất vả, than vãn với chồng khi

gánh khoai ra chợ đến trật cả xương vai Người vợ kể để mong sự thấu hiểu, thông cảm từ chồng

Như vậy, lượng thông tin vượt mức Trong khi lượng tin người chồng cần chỉ là ế khoai hay không thì vợ trách, kể lể với mục đích để người chồng thấy rõ sự gàn dở trong suy nghĩ bán khoai để lấy tiền đi tết quan lớn Yêu cầu nên chấm dứt ngay suy nghĩ đó, người vợ đã cố tình vi phạm phương châm về lượng, nói thừa thông tin nhưng có mục đích

Trang 33

Ví dụ 21:

C: Mợ có đi không thì mợ bảo?

V: Tôi cắn rơm cắn cỏ, tôi lạy cậu Cậu đừng làm tôi nhục

(Nguyễn Công Hoan truyện ngắn chọn lọc, Xuất giá tòng phu, Nxb Văn học)

Đặt ra câu hỏi đó không phải quan ông muốn hỏi ý vợ, mà đang ra lệnh,

tra khảo, yêu cầu “Mợ phải đi” Đứng trước sự lựa chọn, vợ đã hồi đáp lại như sau: “Tôi cắn rơm cắn cỏ, tôi lạy cậu Cậu đừng làm tôi nhục” Ta hiểu đây là

lời từ chối gián tiếp Ngoài ra, người vợ còn tỏ thái độ van xin, nài nỉ khi sử

dụng câu thành ngữ “Cắn rơm cắn cỏ”- Van xin người khác người khác một

cách thảm thiết, thảm thương, mong chồng hiểu cho sự khổ tâm của mình

Cách xưng hô “Tôi- cậu” cho thấy thái độ tôn trọng, kính nể đối với

chồng Việc cố tình trả lời thừa lượng thông tin để kể lể nỗi lòng, sự khổ tâm, van lạy chồng tha cho mình vì nếu làm như thế không chỉ mình chịu nhục, mà còn đánh mất giá trị con người, trái với đạo lí

Qua đây, ta cũng thấy thân phận của những người phụ nữ, đúng như tiêu

đề“Xuất giá tòng phu” Nếu quan niệm đấy chỉ đúng trong xã hội phong kiến,

khi người phụ nữ không có quyền quyết định số phận, định mệnh, cuộc đời, trôi nổi, lênh đênh, lận đận như những cánh hoa tàn Quan niệm tam tòng tứ đứcáp đặt lên số phận của họ Luôn phải nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ, thì đến xã hội Việt Nam thực dân nửa phong kiến, khi xã hội dân chủ hơn, bình đẳng hơn nam nữ đã không còn phân biệt đối xử như trước mà tình trạng này vẫn tồn tại như một điều hiển nhiên

Ngày đăng: 25/10/2017, 11:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w