Đã có nhiều công trình nghiên cứu phòng trị bệnh nhưng vì tính chất phức tạp của nguyên nhân gây bệnh đã có nhiều loại kháng sinh và hóa dược được sử dụng để phòng và trị bệnh nhưng các
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
BÙI THANH TÙNG
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN NGOẠI NUÔI THỊT, BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI CHĂN NUÔI BÌNH MINH,
HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 – 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
BÙI THANH TÙNG
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN NGOẠI NUÔI THỊT, BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI CHĂN NUÔI BÌNH MINH,
HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y
Giảng viên hướng dẫn : TS Hà Văn Doanh
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian dài học tập, rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trại lợn Bình Minh – Mỹ Đức – Hà Nội, đến nay em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Qua đây em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt em xin cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáo TS Hà Văn Doanh, người đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện
đề tài và hoàn thành khóa luận này
Cũng qua đây, em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trại chăn nuôi lợn Bình Minh, cùng toàn thể anh chị công nhân viên đã tạo điều kiện, giúp
đỡ cho em thực hiện chuyên đề tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề
Một lần nữa em xin gửi tới các thầy, cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp cùng gia đình lời cảm ơn sâu sắc và lời chúc sức khỏe cùng mọi điều may mắn thành công
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, 09 tháng 6 năm 2017
Sinh viên
Bùi Thanh Tùng
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Sơ đồ theo dõi thí nghiệm 35
Bảng 4.1 Kết quả công tác cho lợn ăn 41
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi 45
Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 46
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn theo dãy chuồng 47
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy theo tháng theo dõi 48
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn theo lứa tuổi 50
Bảng 4.7 Các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc hội chứng tiêu chảy 51
Bảng 4.8 Kết quả điều trị của 2 phác đồ 52
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CP : Charoen Pokphand
Cs : Cộng sự ĐVT : Đơn vị tính
HC : Hội chứng Nxb : Nhà xuất bản
Tr : Trang
TT : Thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh 3
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 6
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 6
2.2.1 Đặc điểm tiêu hóa của lợn giai đoạn sau cai sữa 6
2.2.2 Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy 7
2.2.3 Nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy 8
2.2.4 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy 18
2.2.5 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích hội chứng tiêu chảy ở lợn 21
2.2.6 Một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng tiêu chảy 22
2.2.7 Biện pháp phòng và trị bệnh tiêu chảy cho lợn 23
2.2.8 Một số loại thuốc kháng sinh và trợ sức sử dụng điều trị 28
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 31
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 31
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 32
Trang 7PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 34
3.3 Nội dung nghiên cứu 34
3.4 Phương pháp nghiên cứu 34
3.4.1 Phương pháp điều tra 34
3.4.2 Phương pháp thử nghiệm hiệu lực của thuốc kháng sinh 34
3.4.3 Xác định bệnh tích thông qua kết quả mổ khám tại chỗ 35
3.4.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định 35
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 35
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 36
4.1.1 Công tác chăn nuôi 36
4.1.2 Công tác thực hiện quy trình chăm sóc, nôi dưỡng 37
4.1.2 Công tác thú y 41
4.1.4.Các công tác khác 45
4.2 Kết quả nghiên cứu 47
4.2.1 Kết quả công tác thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng 47
4.2.2 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn ngoại nuôi thịt 47
4.2.2 Hiệu lực điều trị của 2 phác đồ điều trị 52
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nước ta là một nước nông nghiệp với cơ cấu khoảng 70% dân số làm nghề nông nghiệp Bên cạnh ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi có vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp, đóng góp 18-22% GDP vào nền kinh tế
Nói đến ngành chăn nuôi chúng ta phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu thập và là cơ hội làm giàu cho nông dân
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta có nhiều chuyển biến rõ rệt tăng cả về số lượng và chất lượng Song việc chăn nuôi đang gặp nhiều khó khăn Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng chủ yếu đến hiệu quả chăn nuôi đó là dịch bệnh
Để chăn nuôi lợn có hiệu quả, ngoài việc thực hiện tốt quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng thì vấn đề vệ sinh phòng bệnh cần được đặc biệt quan tâm Bởi dịch bệnh sảy ra là nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống, sự sinh sản, sinh trưởng và phát triển của đàn lợn Ngoài các bệnh truyền nhiễm thì hội chứng tiêu chảy ở lợn cũng rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng đáng kể tới tỉ lệ nuôi sống và sức sinh trưởng của lợn
Đã có nhiều công trình nghiên cứu phòng trị bệnh nhưng vì tính chất phức tạp của nguyên nhân gây bệnh đã có nhiều loại kháng sinh và hóa dược được sử dụng để phòng và trị bệnh nhưng các kết quả thu được lại không như mong muốn, lợn khỏi bệnh thường còi cọc, chậm lớn…làm tăng chi phí trong chăn nuôi… ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế người chăn nuôi
Trang 9Xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất đó, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn ngoại nuôi thịt, biện pháp điều trị tại trại chăn nuôi Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Học hỏi, nắm bắt và thực hiện tốt quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị bệnh trên đàn lợn ngoại nuôi thịt tại trại chăn nuôi Bình Minh, huyện
Mỹ Đức, Hà Nội
1.2.2 Yều cầu của chuyên đề
- Thực hiện tốt quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị bệnh trên
đàn lợn ngoại nuôi thịt tại cơ sở
- Theo dõi, xác định được tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết do hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn thịt nuôi tại cơ sở
- Đề xuất phác đồ điều trị hiệu quả nhất cho lợn mắc hội chứng tiêu chảy
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Các kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình chăm sóc, phòng và điều trị hội chứng tiêu chảy đạt hiệu quả cho đàn lợn ngoại nuôi thịt
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Thực hiện quy trình quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và điều trị bệnh trên đàn lợn nhằm giúp tăng hiệu quả kinh tế và giảm thiểu các chi phí, thiệt hại trong chăn nuôi
- Đề xuất phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy đạt hiệu quả cao, giúp vật nuôi sớm hồi phục và phát triển tốt
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh
2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại
* Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho
công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
* Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí, xây dựng hệ thống như sau:
- Hệ thống chuồng trại cho 5400 lợn ngoại nuôi thịt bao gồm: 9 chuồng mỗi chuồng có 9 ô, 8 ô kích thước 7m × 7m/ô, 1 ô khích thức 3m × 7m/ô
- Hệ thống chuồng trại cho 1200 nái bao gồm: 6 chuồng đẻ mỗi chuồng
có 56 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, 2 chuồng nái mang thai mỗi chuồng có
560 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống
- Một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha chế tinh, kho thuốc…
- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió Hai bên tường có dãy cửa sổ
Trang 11lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
- Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, đầu mỗi chuồng có 1 bể riêng để pha thuốc cho lợn uống phòng khi lợn ốm Nước tắm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
01 chủ trại
01 quản lý trại
03 quản lý kỹ thuật
01 kế toán
01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
10 công nhân và 19 sinh viên thực tập
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau ở các khu nái, khu hậu bị, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại
2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
- Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất lợn con giống, nuôi lợn thịt
và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Thức ăn cho lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp cho từng đối tượng lợn của trại
Trang 12* Công tác thú y:
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty chăn nuôi CP Việt Nam
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, chất thải trong quá trình sản xuất, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định
Chủ trại, kỹ sư, công nhân, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho tiêm phòng vắc xin,uống thuốc đầy đủ
- Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm phòng riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm, bệnh
ký sinh trùng và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%
- Công tác điều trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn
Trang 132.1.2 Thuận lợi và khó khăn
- Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị xuống cấp,
hư hỏng làm ảnh hưởng đến công tác sản xuất
- Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử
lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Đặc điểm tiêu hóa của lợn giai đoạn sau cai sữa
Sau cai sữa thức ăn của lợn con chuyển chủ yếu từ sữa mẹ sang thức ăn hỗn hợp do đó mà hệ tiêu hóa của lợn cũng có sự thay đổi để thích ứng với điều này
Lợn là loài động vật ăn tạp, bất cứ loại thực phẩm nào dù sống hay chín đều có thể ăn được Lợn nặng 90 – 100kg có dung tích dạ dày 5 – 6 lít và có chiều dài ruột non dài gấp 14 lần thân của nó, vì thế lợn tiêu hóa và đồng hóa
Trang 14thức ăn tốt Tuy nhiên, lợn con có bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện, nhưng tốc
độ sinh trưởng cao, do đó ta cần có chế độ ăn uống thích hợp cho chúng
Theo Đỗ Văn Chiến (2010) [2], bộ máy tiêu hóa của lợn có sự phát triển ở tốc độ khác nhau và dần hoàn thiện, sau cai sữa 10 ngày dạ dày sẽ dần phát triển, có dung tích lớn hơn, lượng men tiêu hóa tiết nhiều đặc biệt là men pepsinogen và axit HCl Để dạ dày lợn hoàn thiện sớm thì cần phải cho lợn tập ăn càng sớm càng tốt Sau cai sữa ruột non phát triển chậm lại, độ sâu của khe bờ vi nhung mao thành ruột phải lơn hơn để thích nghi với sự thay đổi thức ăn Bù lại với sự phát triển chậm của ruột non thì ruột già ở lợn con lại phát triên rất mạnh giúp cho lợn con sống độc lập sau cai sữa
Lúc bú sữa, lợn con tiết ra dịch vị khoảng 31% (vào ban ngày) và 69% (ban đêm), do đó cũng thường bú nhiều vào ban đêm Lợn trưởng thành thì ngược lại, vào ban ngày dịch vị của nó tiết ra 62%, lúc đên chỉ còn 38%
Đối với lợn chăn nuôi trang trại quy mô công nghiệp, lợn con sau 21 ngày tuổi bắt đầu chuyển sang nuôi thịt thương phẩm Lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi hệ tiêu hóa còn chưa hoàn thiện đầy đủ rất dễ mắc các bệnh đường tiêu hóa
2.2.2 Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy
Tiêu chảy là hiện tượng đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa (ruột tăng cường co bóp và tiết dịch)
Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa,
là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước
do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [32] Hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải bệnh đặc thù (Archie H.,2000) [1]
Trang 15Tùy theo đặc điểm, tính chất, diễn biến bệnh, hoặc loài gia súc, hoặc nguyên nhân chính gây bệnh mà Hội chứng tiêu chảy được gọi bằng tên khác nhau như bệnh xảy ra đối với gia súc non theo mẹ, gọi là bệnh lợn con ỉa phân trắng, hay bê nghé ỉa phân trắng… còn ở gia súc sau cai sữa là chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hóa, hoặc hội chứng rối loạn tiêu hóa… Nếu xét về
nguyên nhân chính gây bệnh thì có các tên gọi như bệnh Colibacillosis do vi khuẩn E.coli gây ra, bệnh Phó thương hàn lợn do vi khuẩn Salmonella
cholera suis gây ra, bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) do Coronavirut gây ra…
Tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây ra đồng thời gọi là “Hội chứng tiêu chảy” Cho dù do bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả nghiêm trọng nhất là: mất nước, mất chất điện giải và kiệt sức, những gia súc khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn Đặc biệt khi gia súc bị tiêu chảy nặng kèm hiện tượng viêm nhiễm, tổn thương, tổn thương thực thể đường tiêu hóa dẫn đến gia súc có thể chết với tỷ lệ cao, gây hại lớn về kinh tế
2.2.3 Nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy
Trong lịch sử nghiên cứu hội chứng tiêu chảy, đã có rất nhiều tác giả dày công nghiên cứu về nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy, kết quả cho thấy nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy rất phức tạp Tuy nhiên, hội chứng tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý ở đường tiêu hóa, có liên quan đến rất nhiều yếu tố Song dù bất kì yếu tố nào gây ra thì hậu quả của nó là viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng là nhiễm trùng Hội chứng tiêu chảy thường do một số nguyên nhân sau đây:
2.2.3.1 Do vi khuẩn
Tiêu chảy là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn con ở hầu hết các lứa tuổi, nhưng tập trung nhiều nhất ở tuần thứ 3 và khoảng 1 tuần sau khi cai sữa Hội chứng này không những làm giảm tăng trọng, giảm tỉ lệ nuôi sống,
Trang 16dễ dàng làm xuất hiện các bệnh kế phát và làm giảm hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi
Vi khuẩn ở ống tiêu hóa cùng với vật chủ hình thành một hệ thống sinh thái mà sự cân bằng là cần thiết cho sức khỏe vật chủ Vi khuẩn ở ruột có một vai trò rất lớn, chúng tham gia vào quá trình tiêu hóa và chuyển hóa tinh bột, chất xơ, góp phần vào chuyển hóa nước, dị hóa protit, làm giảm bilirubin ở ruột và thủy phân urê
Trong điều kiện bình thường, giữa hệ vi sinh vật đường ruột và vật chủ
ở trạng thái cân bằng, ổn định, cùng tồn tại có lợi cho cơ thể vật chủ Khi có tác nhân bất lợi hoặc từ ngoại cảnh hoặc ngay trong đường tiêu hóa tác động thì sức đề kháng của lợn giảm xuống, trạng thái cân bằng vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ Nhân cơ hội này một số vi khuẩn có hại nhân lên về số lượng, tăng lên về độc lực và gây bệnh
Nhiều tác giả cũng nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng, khi gặp điều kiện thuận lợi các vi khuẩn ở đường tiêu hóa sẽ tăng độc tính, phát triển thành số lượng lớn gây bệnh
Nguyễn Như Pho (2003) [24] cho biết: khả năng gây bệnh của vi khuẩn với các lứa tuổi lợn là khác nhau Ở lợn sau cai sữa hoặc đầu giai đoạn
nuôi thịt nhiễm Salmonella spp cao hơn; giai đoạn sơ sinh – cai sữa thường do
E coli; 6 – 12 tuần tuổi thường do xoắn khuẩn Treponema hyodysenteriae,
còn vi khuẩn Cl perfrigens thường gây bệnh cho lợn con theo mẹ trong 1
tuần đầu đến sau cai sữa
Theo Trần Thị Hạnh và cs (2004) [9], khi nguồn nước uống cho lợn bị
ô nhiễm do chất thải sẽ làm chất lượng và tính chất nguồn nước thay đổi, kèm theo lượng oxi hòa tan suy giảm Quá trình oxi hóa chất hữu cơ, vô cơ bị trở ngại Nước bị ô nhiễm chất hữu cơ và vô cơ là môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển trong đó có vi sinh vật gây hội chứng tiêu chảy
Trang 17Trương Quang (2005) [26] cho rằng: một tác nhân nào đó, trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loài vi sinh vật nào đó sinh sản lên quá nhiều sẽ gây lên loạn khuẩn Loạn khuẩn là nguyên nhân chủ yếu gây lên bệnh đường tiêu hóa, chủ yếu là gây tiêu chảy
Bình thường vi khuẩn E coli cư trú cở cuối ruột non và ở ruột già,
nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nhân lên với số lượng lớn ở lớp sâu tế bào thành ruột, đi vào máu đến các tế bào Trong máu nhờ cấu trúc kháng nguyên O và khả năng gây dung huyết, vi khuẩn chống lại các yếu tố phòng
vệ không đặc hiệu và thực bào Vi khuẩn này tiếp tục phát triển và nhân lên gây cho con vật rơi vào tình trạng bệnh lý
Hồ Đình Soái, Đinh Thị Bích Lâm (2005) [27], khi tìm hiểu nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy ở lợn đã nhận xét 100% mẫu phân lợn tiêu chảy
phân lập được E coli Lượng vi khuẩn E coli có trong phân lợn tiêu chảy cao
gấp 2.37 lần (1 – 45 ngày tuổi); gấp 2,31 lần (45 – 60 ngày tuổi) so với lợn bình thường
Vi khuẩn E coli có sẵn trong đường tiêu hóa của lợn, khi sức đề kháng
của con vật giảm sút do chăm sóc, nuôi dưỡng kém, điều kiện thời tiết thay đổi và các bệnh kế phát thì vi khuẩn sẽ phát triển nhanh, gây lên rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột gây ra tiêu chảy
Nguyễn Thị Ngữ (2005) [22], khi nghiên cứu về E coli và Salmonella
trong phân lợn tiêu chảy và lợn không tiêu chảy cho biết: ở lợn không tiêu
chảy có 83,30 – 88,29% số mẫu có mặt E coli; 61,00 – 70,50 số mẫu có mặt
Salmonella Trong khi đó ở mẫu phân của lợn bị tiêu chảy thì có tới 93,70 –
96,40% số mẫu phân lập có E coli, và 75,00 – 78,60% số mẫu phân lập có
Salmonella
Lê Thị Hoài (2008) [10], kết quả phân lập vi khuẩn E coli và Cl
perfringens từ phân lợn khỏe và lợn tiêu chảy cho thấy: vi khuẩn E coli phân
Trang 18lập được từ 100% ở lợn tiêu chảy và 96,90% ở lợn bình thường, còn tỉ lệ phân
lập được vi khuẩn Cl perfrigens trong phân lợn tiêu chảy là 76,40%; trong
phân lợn bình thường là 12,50%
2.2.3.2 Do virus
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [32], virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở gia súc Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỉ lệ chết cao
Bệnh dịch tả lợn
Bệnh dịch tả do một loại virus thuộc họ Togaviridiae giống Pestisvirus
gây ra Bệnh lây lan với tốc độ nhanh qua tiếp xúc, thức ăn, nước uống, hoặc
có thể qua đường hô hấp và bề mặt da bị tổn thương Bệnh xảy ra quanh năm
và lợn mọi lứa tuổi đều mắc Những triệu chứng chủ yếu của bệnh là:
- Con vật sốt cao, thường 4 – 5 ngày đầu lợn bệnh bị táo bón, lợn bỏ ăn thích nằm chỗ tối, khát nước, chảy nước mắt nước mũi Khi nhiệt độ cơ thể giảm con vật ỉa chảy, phân loãng thối khắm đặc trưng, lợn bị viêm niêm mạc mắt mũi Đồng thời trên vùng da mỏng có những điểm lấm tấm xuất huyết như đầu đinh ghim Về sau những điểm này thường tập hợp thành từng đám
Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm
- Bệnh TGE của lợn do một loại virus cùng tên thuộc nhóm
Coronavirus, họ Coronovirusdiae gây ra Virus xuất hiện năm 1935 tại Mỹ và
được mô tả đầu tiên năm 1946 Tại châu Á bệnh xuất hiện ở Triều Tiên, 1981; Thái Lan, 1987 (Đào Trọng Đạt và cs 1995) [6]
- Lợn ở mọi lứa tuổi đều nhiễm bệnh, thời gian ủ bệnh là 2 – 3 ngày Mức độ trầm trọng của bệnh tùy thuộc vào lứa tuổi của lợn Lợn lớn chỉ gây tiêu chảy nhẹ, kéo dài trong vài ngày, sau đó tự khỏi Ngược lại ở lợn con bệnh lại xảy ra trầm trọng Tỷ lệ chết có thể lên tới 100%
Trang 19 Bệnh tiêu chảy truyền nhiễm ở lợn (PED)
- Bệnh PED do một loại Coronavirus có tên CV777 gây ra Bệnh xảy ra
với mọi lứa tuổi Đặc tính kháng nguyên của loại virus này hoàn toàn khác kháng nguyên của virus gây bệnh TGE Thể bệnh PED giống như thể bệnh TGE, nhưng nhẹ hơn vì bệnh PED chỉ gây chết khoảng 60% lợn con dưới 21 ngày tuổi, 15% lợn vỗ béo (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [6]
- Lợn mắc bệnh PED thường có triệu chứng nôn mửa, con vật có biểu hiện đau bụng Virus phá hủy lông nhung của ruột (đặc biệt là không tràng và hồi tràng) Lợn bỏ ăn, uống nước nhiều, thích nằm chíu đầu vào nhau
- Mổ khám thấy ruột non mỏng, ruột bị căng phồng chứa nhiều nước màu vàng
Theo Nguyễn Tất Toàn và cs (2012) [34], kết quả chẩn đoán cho thấy
tỷ lệ mẫu dương tính với PEDV ở ruột (58,14%) cao hơn mẫu phân (16,96%)
Bệnh do Rotavirus
Archie H.,(2000) [1], cho biết, Rotavirus vào Coronavirus là những
virus gây tiêu chảy quan trọng ở gia súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn con, ngựa con và đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá hủy màng ruột và gây tiêu chảy nặng
Các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Như Pho (2003) [24], cũng cho
thấy Rotavirus vào Coronavirus gây bệnh tiêu chảy chủ yếu cho lợn con trong
giai đoạn theo mẹ với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỉ lệ mắc bệnh và chết cao
Theo Phạm Sỹ Lăng (2006) [18], bệnh tiêu chảy ở lợn do Rotavirus
thường xảy ra ở lợn con bú sữa mẹ lứa tuổi 1 – 3 tuần tuổi và lợn con sau cai
sữa khoảng 6 tuần tuổi bệnh tiêu chảy ở lợn do Rotavirus sẽ trở nên trầm trọng, nếu lợn con bị nhiễm kế phát các chủng E coli có độc lực và các loài
cầu trùng gây bệnh
Trang 20Bệnh tiêu chảy do Rotavirus thường xảy ra ở lợn đang bú sữa từ 1 – 6
tuần tuổi và cao nhất ở lợn khoảng 3 tuần tuổi
Nguyên nhân có thể là do lúc 3 tuần tuổi lượng kháng thể ở sữa mẹ giảm, cùng với lợn vừa mới tập ăn đã tạo điều kiện cho bệnh xảy ra
Biểu hiện đặc trưng của bệnh là lợn đi ỉa phân màu trắng hoặc vàng, lúc
bị bệnh phân lợn lỏng như nước, sau đó vài giờ hoặc một ngày phân sẽ đặc hơn và có dạng như kem rồi keo quánh trước khi trở lại bình thường
Lợn tiêu chảy gầy sút rõ rệt, lông xù Sau khi khỏi bệnh lợn còi cọc, chậm lớn, biếng ăn, còn lợn lớn không có biểu hiện lâm sàng (Đào Trọng Đạt
và cs, 1995) [6]
2.2.3.3 Nguyên nhân do ký sinh trùng
Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Ngoài việc chúng cướp đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc cơ thể vật chủ, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa và là cơ hội khởi đầu cho một quá trình nhiễm trùng Có rất nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra
hội chứng tiêu chảy như sán lá ruột lợn (Fasciolopsii busky), giun đũa lợn (Ascaris suum)…
Thân Thị Dung (2006) [3], chỉ ra rằng: Tỷ lệ mắc ký sinh trùng ở lợn bị tiêu chảy cao hơn rõ rệt so với lợn bình thường Tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 35,54%, giun đũa 31,82%, giun lươn 41,32%, guin tóc 23,14%, sán lá ruột 18,18%
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2009) [15], khi tiến hành xét nghiệm
624 mẫu phân lợn ở một địa phương tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện có trứng giun lươn trong phân của lợn bình thường và lợn tiêu chảy, tuy nhiên lợn tiêu chảy có tỉ lệ nhiễm cao hơn Trong 348 lợn tiêu chảy có 193 lợn nhiễm giun lươn chiếm 55,46%; trong 326 lợn bình thường có 128 lợn nhiễm chiếm 39,26%
Trang 21Theo Trương Thị Thu Trang (2010) [36], thì tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa tăng dần theo tuổi và cao nhất ở 2 – 6 tháng tuổi sau đó giảm dần Lợn nuôi ở điều kiện vệ sinh thú y tốt cường độ nhiễm giun đũa thấp (24,49%), tăng lên ở lợn nuôi trong điều kiện vệ sinh thú ý trung bình (32,13%) và cao nhất ở điều kiện vệ sinh thú y kém (55,89%)
Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [16] cho biết: giun đũa, giun kim, giun tóc
là nguyên nhân gây tiêu chảy cho lợn, đặc biệt là ở lợn con
2.2.3.4 Do nấm mốc
Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm
mốc Một số loài như: Aspergillus, Fusarium… có khả năng sản sinh nhiều độc tố, nhưng quan trọng nhất là nhóm độc tố Aflatoxin (Aflatoxin B1, B2,
G1, G2, M1, M2)
Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc là nguyên nhân gây ra tiêu chảy
Trong các loại độc tố nấm mốc thì Aflatoxin là loại độc tố được quan tâm nhất hiện nay Hàm lượng Aflatoxin trong các mẫu thức ăn chăn nuôi ở các tỉnh
phía Bắc biển đông từ 10 đến 2800 µg/1kg thức ăn Có đến 10% các loại thức
ăn hiện dùng là không an toàn cho gia súc, gia cầm Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc với biểu hiện nhiễm độc đường tiêu hóa và gây tiêu chảy dữ dội
Theo Đậu Ngọc Hào (2006) [7], thì thức ăn cho lợn quá trình chế biến
và bảo quản không tốt rất dễ nhiễm một số loại nấm mốc như Aspergillus,
Aspergillus phân bố trong tự nhiên, chúng có khả năng xâm nhập và phát triển
mạnh trong thức ăn và sản sinh nhiều độc tố gây hại cho lợn và là nguyên nhân của nhiều bệnh: gây ung thư gan, hủy hoại gan, độc cho thận, sinh dục
và thần kinh Lợn khi nhiễm độc tố nấm mốc thường bỏ ăn, thiếu máu, vàng
da, ỉa chảy, ỉa chảy ra máu
Trang 222.2.3.5 Nguyên nhân khác
- Do thời tiết khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, quá nóng, quá lạnh, mất điện, mất nước, mưa gió, ẩm độ, vệ sinh chuồng trại… đều là các yếu tố stress có hại tác động đến tình trạng sức khỏe của lợn, đặc biệt là lợn con
Ở lợn con, do cấu tạo và chức năng sinh lý của hệ cơ quan, hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện Vì vậy, lợn con là đối tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất, bởi các phản ứng thích nghi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [4], thì các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi bất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn còn chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn yếu
Nhiều công trình nghiên cứu còn cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh, ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi
về chức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản ứng điều hòa nội môi Trong những trường hợp như thế, sức đề kháng của cơ thể giảm đi là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc tính và gây bệnh
- Do kỹ thuật chăm sóc nuôi dƣỡng
Vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng trong chăn nuôi Việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng trong chăn nuôi sẽ đem lại sức khỏe và sức tăng trưởng tốt cho lợn Khi thức ăn chăn nuôi không đảm bảo chất lượng, chuồng trại không hợp lý, kỹ thuật chăm sóc không phù hợp, đúng cách là nguyên nhân làm cho sức đề kháng của lợn giảm, tăng nguy cơ mắc bệnh
Trang 23Thức ăn thiếu đạm, tỉ lệ protit và axitamin không cân đối dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng của lợn, cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lượng globulin huyết thanh cũng giảm Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm đi rõ rệt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển và gây bệnh
Nếu khẩu phần ăn của lợn thiếu khoáng và vitamin cũng là nguyên nhân làm lợn con dễ mắc bệnh Chất khoáng góp phần tạo tế bào, điều hòa thức ăn đạm và chất béo Lợn con thiếu khoáng dễ dẫn đến bị còi xương, cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm tạo điều kiện cho vi khuẩn đường ruột tăng độc lực và gây bệnh
Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể động vật, nó đảm bảo cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể diễn ra bình thường thiếu một vitamin sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa
Thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể gia súc, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy
Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu, cho lợn ăn quá nhiều đều là nguyên nhân gây ra tiêu chảy ở lợn
- Do stress
Sự thay đổi các yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuồng nuôi, vận chuyển xa đều là các tác nhân stress quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến hậu quả giảm sút sức khỏe vật nuôi và bệnh tật trong đó có tiêu chảy
Theo Nguyễn Văn Tó và cs (2006) [35], nếu chuồng nuôi kém thoáng khí, ẩm, tồn đọng nhiều phân rác, nước tiểu khi nhiệt độ trong chuồng nuôi lên cao sẽ sản sinh nhiều khí có hại NH3, H2S làm con vật bị trúng độc thần kinh nặng, con vật bị stress – một nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy
Trang 24- Ảnh hưởng của điều kiện chuồng trại
Phần lớn thời gian sống của lợn là ở trong chuồng, do vậy chuồng trại
có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của chúng Chuồng trại xây dựng đúng kiểu, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật, cao ráo, thoáng, độ thông khí tốt, kết hợp với chăm sóc quản lý và vệ sinh chuồng trại tốt sẽ ảnh hưởng rất tốt đến khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh tật của gia súc và ngược lại
Trong điều kiện kỹ thuật nhiệt đới của nước ta, về mùa Hè khí hậu nóng, ẩm, về mùa Đông khí hậu lạnh, khô nên yêu cầu chuồng nuôi gia súc luôn phải khô ráo, thoáng mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông Do vậy trong xây dựng chuồng trại ngoài việc đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật cần chú ý đến địa điểm xây dựng chuồng, hướng chuồng, vật liệu xây dựng để dễ dàng khống chế các chỉ tiêu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn
Theo Nguyễn Văn Tó và cs (2006) [35], nếu chuồng nuôi khô ráo thoáng khí, sạch sẽ sẽ làm giảm lượng khí độc trong chuồng nuôi đồng thời hơi nước thừa được thoát ra ngoài làm cho độ ẩm trong chuồng nuôi vừa phải, góp phần làm giảm tỷ lệ lợn mắc bệnh Cũng theo các tác giả, trong cùng điều kiện chăn nuôi, thời gian nào mà độ ẩm cao ở chuồng mà nền không thoát nước, xây dựng ở chỗ đất trũng thì bệnh lợn con phân trắng phát triển mạnh
Phạm Sỹ Tiệp, Nguyễn Đăng Vang (2006) [33] cho biết: chuồng công nghiệp (có sàn cao hơn mặt đất 40 – 70 cm) đã góp phần cải thiện đáng kể tiểu khí hậu chuồng nuôi, hàm lượng các khí độc giảm 14,50 – 16,0%; ẩm độ giảm 2,50%; nhiệt độ mùa nóng giảm 1,8o
C; tốc độ gió tăng 62,22%; tổng số
vi khuẩn/m3
không khí giảm 1,8 triệu so với ở kiểu chuồng K46, là các yếu tố làm giảm tỷ lệ tiêu chảy ở lợn
Trang 25- Ảnh hưởng của độ ẩm chuồng nuôi
Độ ẩm trong chuồng nuôi 75% là do sản sinh ra từ cơ thể động vật, 20 – 25% từ mặt đất (nền chuồng, ổ lót, tường ẩm…) bốc ra và 10 – 15% từ không khí bên ngoài chuồng đưa vào
Trong chuồng nuôi nếu độ ẩm quá cao ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể gia súc cho dù nhiệt độ không khí cao hay thấp Độ ẩm trong chuồng nuôi từ 55 – 85% ảnh hưởng đến cơ thể gia súc chưa rõ rệt nhưng nếu độ ẩm chuồng nuôi
>90% sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể gia súc Nhiều thí nghiệm cho thấy, lợn nuôi trong chuồng có độ ẩm cao trong thời gian dài không muốn ăn, giảm sức tiêu hóa thức ăn, giảm sức đề kháng với bệnh tật trong đó có hội chứng tiêu chảy
Bất kỳ mùa nào độ ẩm chuồng nuôi cao cũng có hại Về mùa nóng, nếu
độ ẩm chuồng nuôi cao thì hơi nước trong cơ thể khó thoát ra ngoài làm con vật nóng thêm Về mùa lạnh, nếu độ ẩm chuồng nuôi cao thì nhiệt độ cơ thể lợn lạnh thêm do không khí ẩm dẫn nhiệt nhanh hơn không khí khô, cơ thể lợn sẽ mất nhiệt nhiều hơn Đặc biệt, với lợn sơ sinh khi chức năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh, lợn con sống trong chuồng có nhiệt độ thấp, ẩm
độ cao sẽ làm cho thân nhiệt lợn con hạ xuống nhanh Nếu nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp thì thân nhiệt lợn con phục hồi nhanh và ngược lại, nếu nhiệt
độ chuồng nuôi quá lạnh hoặc quá nóng sẽ kéo dài thời gian phục hồi thân nhiệt sẽ làm cho con vật suy yếu rõ rệt Con vật bị stress nhiệt dẫn đến ỉa chảy Độ ẩm thích hợp trong chuồng nuôi là 80 – 85%
2.2.4 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy
Khi tác động vào cơ thể tùy từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình sinh bệnh và gây hậu quả cụ thể Tuy nhiên khi hiện tượng tiêu chảy xảy ra,
cơ thể chịu một quá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng chung
đó là sự mất nước, rối loạn cân bằng axit - bazơ
Trang 26 Mất nước do tiêu chảy
Trong cơ thể nước chiếm 50 – 70% trọng lượng cơ thể, được phân bố ở
2 khu vực chính là trong tế bào và ngoại tế bào
Nước cung cấp cho cơ thể qua thức ăn nước uống và được thải ra ngoài qua nước tiểu, theo phân, mồ hôi, hơi thở Quá trình hấp thu và cân bằng nước trong cơ thể khỏe mạnh thường ổn định (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [32]
Khi bị viêm ruột cơ thể không những không hấp thu được nước do thức
ăn nước uống đưa vào mà còn mất nước do tiết dịch Mặt khác khi bị viêm, tính mẫn cảm tăng, nhu động ruột tăng lên nhiều lần Hơn nữa do tổ chức ruột
bị tổn thương, niêm mạc ruột tăng tiết và kéo theo một lượng chất điện giải với hàng loạt các biến đổi bệnh lý khác
Chính vì vậy trong điều trị viêm ruột, ỉa chảy việc xác định mức độ mất nước và các biện pháp chống mất nước luôn được chú ý hàng đầu
Tình trạng mất nước và chất điện giải
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [32], tùy theo trường hợp ỉa chảy gây nên những thể mất nước khác nhau
Có thể phân loại mất nước thành 3 thể sau:
- Mất nước nhược trương
- Mất dịch và Natri nặng
- Mất nước nặng và giảm Natri trong máu
Mất nước đẳng trương: nước và các chất điện giải mất một lượng tương đương Trong trường hợp này, thể tích nước ở khu vực ngoại bào bị giảm nhưng độ đậm điện giải không thay đổi Khu vực nội bào và thăng bằng về điện giải về H+
không bị ảnh hưởng
Mất nước ưu trương: mất nước nhiều hơn chất điện giải, ở khu vực ngoại bào thể tích nước bị giảm, đậm độ muối tăng (tức hằng số điện giải tăng) nên áp lực thẩm thấu tăng Để lập lại thể thăng bằng áp lực thẩm thấu
Trang 27giữa hai khu vực thì nước từ nội bào ra ngoại bào, kết quả cả hai khu vực nội bào và ngoại bào đều mất nước, đó là mất nước toàn bộ Đi theo với nước người ta còn thấy sự di chuyển của các chất điện giải như:
+ K+ từ khu vực nội bào ra khu vực ngoại bào
+ Na+ và H+ từ khu vực ngoại bào vào khu vực nội bào
Mất nước nhược trương: nước mất ít hơn muối Trong trường hợp này thể tích khu vực ngoại bào bị giảm, nhưng vì mất nhiều muối nên đậm độ cũng giảm, nước đi từ khu vực ngoại bào (chỗ áp lực thẩm thấu hạ) vào khu vực nội bào, cả 3 loại mất nước này đều gây nên những hậu quả bệnh lý
Rối loạn cân bằng axit-bazơ
Phản ứng của máu thường ổn định bởi trong máu có các hệ đệm cùng với các hoạt động của các cơ quan điều hòa phản ứng của máu như phổi, thận
Hệ đệm được hình thành hoàn toàn ngay trong những tháng đầu ngay khi gia súc sinh ra Nó gồm những đôi đệm trong huyết tương và hồng cầu
Axit hữu cơ gồm: Axit lactic, Axit pyruvic và những yếu tố khác
Trong các đôi đệm trên thì đôi đệm quan trọng nhất là đôi đệm hồng cầu Đây là hệ đệm lớn nhất nên sự trung hòa axit trong máu chủ yếu là NaHCO3 quyết định Cũng vì vậy người ta đo hàm lượng muối bicacbonat chứa trong 100ml máu để biểu thị lượng kiềm dự trữ
Trong thực tế, việc đánh giá các rối loạn toan-kiềm dựa vào đánh giá sự thay đổi trong hệ thống bicacbonat-axit cacbonic là hệ đệm chủ yếu của dịch ngoại bào Vì các hệ đệm nội bào và ngoại bào có liên quan đến nhau về chức năng nên việc đo hệ bicacbonat thường được mô tả dưới dạng phương trình Henderson-Haselbatch:
+ Ph = pK + log
+ Ph của acid cacbonnic là 0,1
Trang 28+ H2CO3 được tính bằng α.pCO2 trong đó α là khả năng hòa tan của cacbobioxit (CO2) trong các dịch thể
Như đã thấy thông qua phương trình Henderson-Haselbatch, nếu lượng acid vào máu nhiều, các đôi đệm không trung hòa hết, lượng dự trữ kiềm trong máu giảm xuống khác thường thậm chí phản ứng máu giảm, trường hợp này gọi là trúng độc toan Như khi kiềm vào máu nhiều, hệ đệm không đủ khả năng phản ứng hết OH-, lúc này cơ thể nhiễm độc kiềm
2.2.5 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích hội chứng tiêu chảy ở lợn
2.2.5.2 Bệnh tích
Bệnh tích được phát hiện thấy chủ yếu ở xoang bụng Hạch màng treo ruột sưng to Ruột non bị viêm cata kèm xuất; dạ dày sưng phủ một lớp nhầy Gan bị thoái hóa màu đất sét, sưng, túi mật căng và bị dài ra do chứa đầy mật Lách không sưng, mềm, bóc lớp vỏ thấy xuất huyết Chất chứa trong ruột lỏng, màu vàng Xác lợn chết gầy, bụng hóp những lợn chết qua đêm phần bụng thường có màu đen do quá trình hoại tử gây ra
Trang 292.2.6 Một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng tiêu chảy
Hội chứng tiêu chảy ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây ra như: tuổi gia súc, mùa vụ, thức ăn, chuồng trại, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng… đều
có ảnh hưởng tới hội chứng tiêu chảy Ở lợn, hội chứng tiêu chảy có thể xảy
ra ở mọi lứa tuổi
Archie H.,(2000) [1], cho rằng khi tiêu chảy xảy ra, thường gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi Bệnh thường xuất hiện ở 3 giai đoạn phát triển của lợn:
- Giai đoạn sơ sinh (1 – 4 ngày tuổi)
- Giai đoạn lợn con theo mẹ (5 – 21 ngày tuổi)
- Giai đoạn lợn sau cai sữa (>21 ngày tuổi)
Khi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa của các hộ chăn nuôi gia đình tại Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan (2006) [14] cho rằng: bệnh chịu ảnh hưởng rõ rệt của lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ trong năm, các loại thức ăn, nền chuồng và tình trạng vệ sinh thú y
Về độ tuổi mắc bệnh, tỷ lệ lợn tiêu chảy giảm theo tuổi, cao nhất ở giai đoạn sau cai sữa đến 2 tháng (13,90%), sau đó giảm dần và chỉ còn 5,55% ở lợn trên 6 tháng tuổi
Về mùa vụ, hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ xảy ra quanh năm, nhưng cao nhất là tháng 5 – 8 Trong năm, lợn nuôi ở mùa Xuân và mùa Hè mắc tiêu chảy cao hơn (13,67 – 14,75%) so với 2 mùa còn lại (9,18 – 9,68%)
Điều kiện chuồng trại vệ sinh cũng ảnh hưởng khá rõ rệt đến tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn Lợn nuôi trên nền lát gạch có tỷ lệ tiêu chảy là 9,49%; tăng lên ở chuồng có nền láng xi măng (12,64%) và cao nhất ở chuồng nền đất (20,37%)
Ngoài các vấn đề nêu trên, hội chứng tiêu chảy còn ảnh hưởng bởi các tác nhân gây bệnh do virus, vi khuẩn… các tác nhân này thường làm tăng tỷ
lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết đối với lợn
Trang 302.2.7 Biện pháp phòng và trị bệnh tiêu chảy cho lợn
2.2.7.1 Biện pháp phòng bệnh
Tiêu chảy là bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, để phòng chống bệnh đường tiêu hóa cho lợn phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, tác động đến nhiều khâu, nhiều yếu tố như tác động vào môi trường, thức ăn, nước uống…
Nên cho lợn bú sữa đầu, nên chăm sóc lợn mẹ trước khi sinh, nên tập
ăn sớm cho lợn con
Chống ẩm, chống bẩn và chống lạnh
Phòng tiêu chảy bằng các biện pháp kỹ thuật
Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khỏe mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại
Trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn, nếu chuồng nuôi đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo sẽ làm giảm tỷ lệ bệnh đường tiêu hóa
Trần Thị Hạnh và cs (2004) [9] cho biết: để hạn chế sự tồn tại của tác
nhân gây bệnh như rotavirus và vi khuẩn E coli là vệ sinh, tiêu độc sát trùng
chuồng trại định kỳ, tắm rửa nái trước khi sinh, cho heo con bú sữa đầu và ủ
ấm heo con theo mẹ trong tuần đầu sau khi sinh là điều cần thiết để bảo vệ sức khỏe cho đàn heo con tránh được bệnh tiêu chảy
Theo Dương Quốc Huy (2012) [11], thì chuồng chăn nuôi vệ sinh kém có tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy là 32,48% cao hơn so với chuồng trại vệ sinh tốt 16,09%
Phòng bệnh bằng vaccine
Phòng bệnh bằng vaccine là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa bệnh đặc biệt là các bệnh có nguyên nhân là vi sinh vật Vaccine là chế phẩm sinh học, được bào chế từ vi sinh vật gây bệnh, trong đó mầm bệnh đã bị giết chết hay giảm độc không còn khả năng gây bệnh, khi đưa và cơ thể có khả
Trang 31năng kích thích hệ thống miễn dịch cơ thể vật chủ sản sinh ra kháng thể Vaccine phòng tiêu chảy cho lợn đã được nghiên cứu khá lâu và đã được sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo miễn dịch chủ động cho đàn lợn chống lại bệnh, các loại vaccine này đã và đang cho kết quả phòng bệnh một cách khả quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc bệnh
Theo Trần Văn Hào (2012) [8], khi bổ sung kháng thể E coli trên lợn
con theo mẹ có tác dụng trong việc giảm tỷ lệ tiêu chảy xuống còn 1,17% làm tăng 8,01% trọng lượng lợn con cai sữa, tăng tỷ lệ nuôi sống từ 93,44% lên đến 96,26%
Do E coli có nhiều type kháng nguyên khác nhau nên việc bào chế vaccine E coli gặp nhiều khó khăn nhất định và việc chế một loại vaccine
E.coli để phòng cho lợn ở nhiều địa phương thường đem lại hiệu quả phòng
bệnh không cao Vì vậy có thể sử dụng phương pháp chế tạo vaccine phòng
bệnh E coli cho hiệu quả cao bằng cách lấy vi khuẩn E coli có trong chất
chứa đường ruột của lợn bị tiêu chảy cấp vào sữa và cho lợn mẹ ăn canh trùng đó trước khi đẻ 1 tháng cho kết quả phòng tiêu chảy ở lợn con sơ sinh tốt, phương pháp này hiện nay vẫn được dùng tại Mỹ Ở nước ta, các cơ sở chăn nuôi, các cán bộ thú ý đã thực hiện biện pháp vaccine chuồng cũng cho hiệu quả tốt trong phòng bệnh
Một số vaccine phòng E coli như: vaccine Porcoli, vaccine Porcine
Pili, vaccine E coli phù đầu, vaccine Neocolipor
Bên cạnh các loại vaccine E coli, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu chế vaccine Salmonella Hiện nay trên thế giới đã có nhiều loại vaccine phòng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn Mỹ sản xuất vaccine đã đánh giá thành phần gồm E coli, Pasteurella mutocida, Salmonella choleraesuis Ở Đức chế vaccine Salmonella typimurium chủng DDT104 Hungari chế vaccine vi khuẩn Salmonella có bổ trợ glucoza
Trang 32 Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học
Trong đường ruột của động vật có rất nhiều loại vi sinh vật sinh sống chúng tạo thành hệ vi sinh vật đường ruột Khi hệ vi sinh vật đường ruột ở
trạng thái cân bằng thì chủng vi sinh vật có lợi lactic, Bacillus subtilis phát
triển mạnh, các vi khuẩn này có tác dụng tốt trong quá trình tiêu hóa của vật chủ Ngược lại, nếu trạng thái cân bằng bị phá vỡ thì các vi sinh vật có hại sẽ phát triển gây rối loạn tiêu hóa và ỉa chảy
Có thể thấy, nhân tố nào gây nên sự mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột đều là nguyên nhân dẫn tới gia súc bị tiêu chảy Để kìm chế loạn khuẩn người ta sử dụng kháng sinh bổ sung trong quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, ngoài tác dụng kìm chế những vi khuẩn có hại cũng làm cho vi khuẩn có lợi trong đường ruột giảm đi Khi dùng thường xuyên kháng sinh sẽ làm cho vi khuẩn đường ruột sinh kháng thuốc, tồn dư trong sản phẩm thịt ảnh hưởng đến sức khỏe con người Do vậy, sử dụng chế phẩm sinh học để phòng bệnh nhằm bổ sung những vi sinh vật có lợi, giúp ổn định hệ vi sinh vật đường tiêu hóa là điều cần thiết
Theo Nguyễn Văn Lâm (2013) [19], thì sau khi bổ sung chế phẩm Lactovet vào thức ăn cho lợn lô thí nghiệm số lượng vi khuẩn E coli và Salmonella sau hai tháng ít hơn so với lô đối chứng là 5,4 x 105
vi khuẩn/1g phân và 2,6 x 103 vi khuẩn/1g phân
Các chủng vi sinh vật hữu ích được sử dụng để sản xuất chế phẩm sinh học phải đạt được yêu cầu: có khả năng thích ứng tốt trong môi trường đường tiêu hóa, có khả năng đối kháng với các vi sinh vật được coi là có hại trong đường tiêu hóa để duy trì tính ổn định của hệ vi sinh vật trong đường ruột và có khả năng tạo cá chất cần thiết như acid amin, vitamin trong môi trường nuôi cấy cũng như trong cơ thể, không sản sinh độc tố, dễ dàng bào chế và sử dụng
Trang 33Một số chủng vi sinh vật hiện nay đã và đang được sử dụng để sản xuất
chế phẩm Probiotic là: Lactobacillus acidophilus, Bacillus subtilis, Bacillus
licheniformis, Bacillus polymysa, Saccharomyces, Streptococcus… Trong
những năm gần đây các chủng vi khuẩn lactic được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm, trong đó Lactobacillus acidophilus được chú ý nhiều nhất bởi nó có
thể sống, phát triển tốt trong môi trường đường ruột đồng thời còn có khả năng tổng hợp một số vitamin cần thiết cho cơ thể và có khả năng đề kháng với hơn 40 loại kháng sinh do vậy có thể kết hợp với kháng sinh để điều trị tiêu chảy
Sử dụng chế phẩm sinh học trong phòng bệnh tiêu chảy sẽ tạo sự bảo
hộ tốt với hệ sinh thái đường ruột Chế phẩm sinh học tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn có ích hoạt động, giữ cho hệ vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân bằng, ngăn ngừa sự rối loạn tiêu hóa, một mắt xích quan trọng gây hội chứng tiêu chảy
2.2.7.2 Điều trị bệnh
Để điều trị hội chứng tiêu chảy có hiệu quả cao cần phải điều trị sớm, kịp thời, thực hiện biện pháp điều trị tổng hợp như kết hợp điều trị nguyên nhân, điều trị triệu chứng, bổ sung nước và các chất điện giải cho gia súc, đồng thời có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý, bổ sung các loại vitamin và khoáng chất cần thiết
Điều trị hội chứng tiêu chảy bằng kháng sinh
Kháng sinh hiện nay vẫn được coi là lựa chọn hàng đầu để điều trị nhiễm khuẩn nói chung và hội chứng tiêu chảy nói riêng Tuy nhiên, hiện nay
do việc lạm dụng kháng sinh, sử dụng kháng sinh để điều trị nhiễm khuẩn đường tiêu hóa ở lợn một cách thiếu khoa học ở các địa phương dẫn đến hiện
tượng kháng thuốc của một số chủng vi khuẩn đường ruột trong đó có E coli
và Salmonella và làm kháng sinh đồ để tìm kháng sinh mẫn cảm nhất
Trang 34Nghiên cứu của Đoàn Thị Kim Dung (2004) [4], khi sử dụng apramicin
và enrofloxacin chữa tiêu chảy cho kết quả 80% và 66% Nếu kết hợp các loại kháng sinh này với Biosubtyl thì hiệu quả điều trị tăng lên 98% và 95%
Nguyễn Thị Ngữ (2005) [22] cho biết: Ciprofloxacin cho kết quả điều trị khỏi bệnh là 81,81%; amocixyllin là 69,44% Nếu dùng ciprofloxacin kết hợp với men tiêu hóa HVS 80 để điều trị thì tỷ lệ khỏi là 94,10% ở lợn trên 60 ngày tuổi và 91,66% ở lợn từ 1 – 60 ngày tuổi
Còn theo Văn Thị Hường (2009) [12], thì các mẫu vi khuẩn Salmonella
phân lập từ phân lợn tiêu chảy mẫn cảm với ofloxacin và norfloxacin (100%) tiếp đến là ciprofloxacin (90%) và neomycin (80%) Kháng hoàn toàn với Trimethoprim + Sulfamethoxazol (100%) và kháng cao với một số kháng sinh khác như: Cefazolin (80%), spectinomycin (75%)
Điều trị hội chứng tiêu chảy bằng chế phẩm sinh học
Trong điều trị bệnh, đặc biệt điều trị các bệnh do nhiễm khuẩn, kháng sinh vẫn là biện pháp được sử dụng nhiều nhất bởi hiệu quả diệt khuẩn hoặc kìm khuẩn một cách đặc hiệu của nó Tuy nhiên, ngoài tác dụng chính, kháng sinh còn có những mặt hạn chế do những tác dụng phụ ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của vật nuôi, đặc biệt đối với gia súc non, thường gây còi cọc, chậm lớn Mặt khác một số kháng sinh còn gây tồn dư trong sản phẩm thịt ảnh hưởng đến sức khỏe con người Ngoài ra, do việc quá lạm dụng kháng sinh trong điều trị đã dẫn đến hiện tượng kháng thuốc, nhờn thuốc của các vi khuẩn gây bệnh, gây khó khăn trong việc điều trị
Để khắc phục những hạn chế của kháng sinh, hiện nay các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu bào chế ra các chế phẩm sinh học từ các vi sinh vật hữu ích Chế phẩm sinh học (probiotic) được chế từ việc nuôi cấy các vi sinh vật hữu ích, có tác dụng chống lại vi sinh vật gây bệnh
Trang 35Sử dụng chế phẩm sinh học trong điều trị bệnh bằng cách cho gia súc
ăn hoặc uống, đó là cách tốt nhất để đưa các chủng vi khuẩn có lợi vào đường tiêu hóa, nhanh chóng tạo khả năng tranh giành sự sống và ngăn cản sự phát triển các chủng vi sinh vật có hại, khôi phục nhanh chóng sự mất cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột Do các chế phẩm sinh học thường được sử dụng để điều trị rối loạn tiêu hóa, chướng bụng tiêu chảy do nhiễm khuẩn, viêm ruột cấp tính
Nguyễn Thị Lê (2010) [20], khi bổ sung chế phẩm sinh học Na – butyrate và khẩu phần ăn của ô lợn thí nghiệm có tác dụng tốt cho hệ vi sinh
vật đường tiêu hóa lợn, làm giảm số lượng vi sinh vật có hại như E coli,
Salmonella so với lô đối chứng (bổ sung kháng sinh colistin 0,1%); chế phẩm
có tác dụng hạn chế tiêu chảy, rút ngắn thời gian điều trị và hao hụt khối lượng;
tỷ lệ lợn tiêu chảy ở lô thí nghiệm là 13,79% thấp hơn lô đối chứng 17,24%
Theo Nguyễn Thị Minh Thuận (2011) [31], thì tỷ lệ mắc tiêu chảy giảm
rõ rệt đối với lợn ăn khẩu phần có bổ sung chế phẩm probiotic (30,00%; 26,675 và 33,33% tương đương với các lô TN1, TN2 TN3 so với lô đối chứng là 53,33%)
Theo Dương Quốc Huy (2012) [11], thì nhóm vi khuẩn Lactobacillus
có tác dụng làm giảm tỷ lệ lợn tiêu chảy 32,40% ở lô đối chứng xuống 4,42%
Trang 36Norfloxacin có tác dụng ức chế AND – gyrase, một enzyme cần thiết cho sự sao chép AND của vi khuẩn Norfloxacin là kháng sinh mới thuộc thế
hệ thứ 2 của nhóm Fluoroquinolon (Quinolin mới) có hoạt phổ rộng và có tác dụng ngăn cản và tiêu diệt vi khuẩn thuộc họ đường ruột, các trực khuẩn gram
âm Hiện nay, đây là các loại kháng sinh được coi là đặc trị đối với nhiễm khuẩn đường tiêu hóa ở lợn Thuốc có tác dụng với vi khuẩn hiếu khí Gram
dương và Gram âm như Escherichia coli, Staphylococcus spp, Salmonella
- Cơ chế tác dụng: AmoxiCol gồm có amoxicilin và colistin
Amoxicilin là aminopenicilin, bền trong môi trường axit, có phổ tác dụng rộng Amoxicilin tác dụng diệt khuẩn do ức chế sinh tổng hợp mucopeptid của thành tế bào vi khuẩn Amoxicilin có hoạt tính với phần lớn các loại vi khuẩn gram âm và gram dương như: liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn
không tạo penicilinase, H influenza, Diplococcus pneumonia, N gonorrheae
E coli, Proteus mirabil
Colistin là thuốc kháng sinh nhóm polymyxin, mục tiêu của hoạt động kháng khuẩn của colistin là màng tế bào vi khuẩn Sự liên kết đầu tiên của colistin với màng vi khuẩn xuất hiện thông qua sự tương tác tĩnh điện giữa polypeptide tích điện dương và phân tử lipopolysaccharide (LPS) tích điện âm
ở bên ngoài màng vi khuẩn gram âm, dẫn đến sự xáo trộn màng tế bào Colistin thay thế Mg2+
và Ca2+ mà bình thường làm ổn định LPS, từ đó làm
Trang 37cho phân tử LPS chuyển sang tích điện dương dẫn đến sự rối loạn cục bộ của lớp màng bên ngoài Kết quả của tiến trình này gây ra sự gia tăng tính thấm màng tế bào, sự thoát ra của các thành phần tế bào, vì vậy gây chết tế bào Colistin thường dùng để điều trị những trường hợp nhiễm khuẩn nặng do vi
khuẩn gram âm như Pseudomonas aeruginosa, E coli, Klebsiella,
Enterobacter, Salmonella, Shigella, Haemophillus, Bordetella pertussis, Pasteurella
Cách dùng: Pha nước cho uống hoặc trộn thức ăn
Liều lượng: 2 – 5g/1 lít nước hoặc 5g/1kg thức ăn
Vitamin C
- Thành phần: Vitamin C: 100g
- Tác dụng: Hỗ trợ điều trị suy nhược cơ thể, sốt cao Nâng cao sức đề
kháng trong các bệnh do virus, stress do vận chuyển
- Cách dùng: Pha nước hoặc trộn thức ăn
- Liều lượng: 1g/1 lít nước hoặc 3g/ 1kg thức ăn
B - complex
- Thành phần: Vitamin B6: 1000mg
Vitamin B1: 6000mg