Trên bản đồ thế giới châu Phi nằm ở phía Tây Nam đâị lục Á –Âu. Ở phía bắc giáp với Địa Trung Hải .Ở phía Đông Bắc châu Phi giáp với khu vực Trung Đôngvà tách với bán đảo A-Rập bởi Hồng Hải.Phía Đông và phía Tây của châu Phi giáp với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương .
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trang 3PHỤ LỤC
Trang 4I.MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI VÀ TÌNH TRẠNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA GIỮA VIỆT NAM VỚI CHÂU PHI.1.Một số đặc điểm kinh tế văn hóa , xã hội của thị trường châu Phi.
1.1.Vị trí địa lý điều kiện tự nhiên xã hội
1.1.1.Vị trí địa lý điều kiện tự nhiên
Trên bản đồ thế giới châu Phi nằm ở phía Tây Nam đâị lục Á –Âu Ở phía bắc giáp với Địa Trung Hải Ở phía Đông Bắc châu Phi giáp với khu vực Trung
Đôngvà tách với bán đảo A-Rập bởi Hồng Hải.Phía Đông và phía Tây của châu Phi giáp với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương Châu Phi nằm trên tuyến đường giao thông quốc tế từ Đông sang Tây, nối Đại Tây Dương với Ấn Độ Dương, nối châu Á với châu Âu và châu Mỹ, có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế và quân sự.Châu Phi là lục địa lớn thứ 3 trên thế giới (sau châu Á và châu Mỹ), với diện tích rộng gần 30 triệu km2.Dân số châu Phi là khoảng 850 triệu người (2005), chiếm trên 13% dân số thế giới, đứng thứ 2 sau châu Á.Hiện nay châu Phi có 54 quốc gia, tất cả đều là các quốc gia độc lập
Hệ thống sông hồ châu Phi khá phong phú.Các con sông có độ dài và lưu lượng nước lớn nhất thế giới đều bắt nguồn từ giữa lòng các cao nguyên nằm ở miền Nam châu Phi như sông Nile, Niger, Conggo, Zambezi…Các hồ lớn nhất là hồ Victoria, Tangangika, Albert, Turkana…tất cả đều nằm ở khu vực Đông Phi
Châu Phi nổi tiếng với các nguồn tài nguyên phong phú , trữ lượng lớn.Trong
50 loại khoáng sản chủ yếu thì châu Phi đứng đầu thế giới tới 17 loại : Kim cương chiếm 90% của thế giới , coban – 87%, vàng – 67%, photphat – 70%, crom – 54%,mangan – 70%, uranium – 37%, đồng và boxit - 21% Châu Phi còn trữ lượng lớn
về dầu mỏ và khí đốt ở Angieri, Nigeria, Anggola, Lybi…Tiềm năng về thủy điện của châu Phi chiếm 35,4% tiềm năng chung của toàn thế giới
1.1.2.Điều kiện xã hội
Trang 5Dân cư châu Phi rất đa dạng về sắc tộc , có thể chia thành hơn 1000 nhón nhỏ theo những đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa khác nhau Với sự đa dạng về các tộc người , châu Phi có một nền văn hóa phong phú đa dạng , nhiều bản sắc Các tôn giáo đã xuất hiện lâu đời trong các dân tộc châu Phi và ảnh hưởng sâu rộng đến ngày nay.Những tôn giáo chính của châu Phi là đạo Hồi, đạo Thiên chùa, Bái vật giáo, đạo Tin lành, đạo hindu.Ảnh hưởng của các tôn giáo này thay đổi tùy từng khu vực và quốc gia.
Châu Phi là châu lục có tỷ lệ tăng dân số cao, mặc dù tỷ lệ tử vong, đặc biệt là trẻ em được xếp vào hang đầu thế giới.Trog khoảng từ năm 1980 đến 2000 tỷ lệ tăng dân số hàng năm của châu Phi là 2,6% trong khi của thế giới là 1,6%.từ năm
2000 đến năm 2005 tình hình đó được cải thiện nhưng không đáng kể vẫn ở mức 2,2% so với 1,2% của thế giới
Sự phân bố dân cư ở châu Phi không đều Có mật độ dân số lớn nhất là ở
Nigeria, Ethiopia, thung lũng sông Nile và quanh những vùng hồ lớn như Victoria, Tangania.Những thủ đô và các hải cảng lớn là nơi tập trung một khối lượng đáng
kể dân cư
Chất lượng dân số thấp dẫn đến sự chênh lệch lớn giữa số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực châu Phi.Năng suất lao động bình quân của châu Phi thấp vào loại nhất thế giới.Cùng với năng suất thấp thu nhập thực tế của người lao động cũng rất kém cỏi.Điều này đòi hỏi một quá trình đào tạo lâu dài cấp bách với sự đầu tư để cải thiện chất lượng của lực lượng lao động
1.2.Quá trình phát triển kinh tế
Hiện nay, châu Phi vẫn là một lục địa nghèo nhất thế giới.trong 48 quốc gia nghèo nhất mà Liên Hợp Quốc công bố (năm 2000) châu Phi chiếm tới 33 quốc gia.GDP của châu Phi chiếm 2% GDP thế giới (còn dân số chiếm 13%).Hầu hết các quốc gia trừ khu vực Bắc Phi và Cộng hóa Nam Phi dều có cơ sở hạ tầng yếu kém nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác khoáng sản Năm 2001,công nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng bình quân 25,4%GDP.Việc xuất khẩu khoáng sản
và nông sản của châu Phi với giá thấp, sức cạnh tranh kém trong khi nhập khẩu sảnphẩm công nghiệp hàng tiêu dùng giá cao làm cho các nước châu Phi chịu nhiều thiệt thòi
Trang 6Trong khi đó, nạn tham nhũng và các tệ nạn khác tràn lan, nhiều nước phải giải quyết khủng hoảng dựa vao trợ giúp bên ngoài Nợ nước ngoài của châu Phi ngày càng tăng , từ 260 tỷ USD năm 1990 lên 313 tỷ USD năm 1995 đến năm 1997 số
nợ nước ngoài của toàn châu lục đã lên đến 344,1 tỷ USD
Tuy vậy , sau hơn hai thập kỷ trì trệ suy thoái, từ năm 1990 kinh tế châu Phi đã
có biểu hiên phục hồi và từng bước tăng trưởng.Năm 1994, kinh tế châu Phi từng bước được khôi phục.Với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, cải cách kinh tế bướcđầu góp phần khôi phục sản xuất , cải thiện đời sống nhân dân.Các nhà đầu tư nước ngoài cũng quan tâm đến châu Phi.Năm 1996, tổng vốn đầu tư trực tiếp vào châu Phi đạt 11,8 tỷ USD, năm 2001 đã tăng lên gần 17,2 tỷ USD Kinh tế thị trường tự do đã được thiết lập với mức độ khác nhau, hệ thồng tài chính cũng dần được thiết lập theo nguyên tắc thị trường.Nhiều nước đang dỡ bỏ dần rào cản thuế quan, giảm thuế nhập khẩu thúc đẩy tự do hóa thương mại
Các tổ chức kinh tế thương mại khu vực như cộng đồng phát triển miền Nam châu Phi (SADC), cộng đồng kinh tế các nước Tây Phi (ECOWAS),Liên minh kinh tế tiền tệ Tây Phi (UEMOA)…đã tăng cường hợp tác, bổ sung cho nhau, mở rộng thị trường khu vực tạo điều kiện hỗ trợ cho nhau phát triển kinh tế
Năm 1991, tổ chức thống nhất châu Phi (OAU) quyết định thành lập cộng đồng kinh tế châu Phi Năm 1997, cộng đồng này tổ chức hội nghị cấp cao lần đầu tiên
và chính thức đi vào hoạt động với mục tiêu thiết lập một thị trường chung châu Phi.Tháng 7/2001, các nhà lãnh đạo châu Phi đã đưa ra “Sáng kiến mới về châu Phi” trên cơ sở thống nhất “Chương trình chấn hưng châu Phi” với mục tiêu đưa châu Phi thoát khỏi khủng hoảng và đi vào quỹ đạo phát triển chung của thế giới.Ngày 23/10/2001, tại hội nghị cấp cao châu Phi tại Abuja, Nigeria, các nguyên thủ châu lục đổi tên thành “Chương trình đối tác mới vì sự phát triển châu Phi”, viết tắt là NEPAD Tham vọng của NEPAD là thiết lập quan hệ chặt chẽ giữa châu Phi với các nước phát triển và các tổ chức tài chính quốc tế để biến mối quan hệ này thành đối tác bình đẳng vì sự an ninh và phồn vinh của châu Phi cũng như toàncầu
1.3.Một số đặc điểm kinh tế cơ bản
Trang 7Từ đầu những năm 1990, các nước châu Phi đã có những chuyển biến tích cực
về kinh tế chính trị nhờ chính sách cải cách nền kinh tế và mở cửa với thế giới bên ngoài.Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm từ 2% (1993- 1995) lên tới gần 5% (2000-2005)
Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thông qua các chương trình điều chỉnh cơ cấu , đã coi chống tham nhũng là điều kiện đặt ra đối với tất cả các nước châu Phi để được xóa nợ và tiếp cận với những khoản tín dụng có điều kiện.Mặc dù phần lớn các nước châu Phi đã đáp ứng các điều kiện trên nhưng các khoản nợ của họ vẫn tăng lên gần 12% mỗi năm , từ 110 tỷ USD năm 1980 đến năm 2005 là 350 tỷ USD.Gánh nặng nợ nước ngoài tiếp tục là một chướng ngại lớnnhất ngăn cản sự phát triển của các nước châu Phi
Nền kinh tế ở phần lớn các nước châu Phi về cơ bản vẫn là nền kinh tế nông nghiệp.Hơn nữa, nền kinh tế phụ thuộc quá nặng vào viện trợ nước ngoài trong khiphần lớn số viện trợ đó tập trung cho các hoạy động chính trị - xã hội, hỗ trợ ngân sách chi tiêu của chính phủ, còn lại rất ít cho mục đích kinh tế, do đó hầu như không thúc đẩy phát triển kinh tế
Các chương trình, kế hoạch kinh tế hầu hết mang tính chất ngắn hạn và đối phó nhất thời.Cũng do dựa vào quá nhiều vào viện trợ nước ngoài nên các nước châu Phi ít quan tâm đến tăng tiết kiệm trong nướcvà phát triển ngoại thương cũng như đầu tư nước ngoài làm cho nền kinh tế không có động lực để phát triển
Khi chuyển từ cơ chế quản lý hành chính tập chung sang kinh tế thị trường , nhà nước đã nhanh chóng rút khỏi sự quản lý trực tiếp với nền kinh tế thông qua các chính sách tự do hóa và tư nhân hóa, chuyển dần trách nhiệm phát triển kinh tế chokhu vực tư nhân , coi đó là lực lượng đầu tàu , nòng cốt trong khi chưa chuẩn bị các điều kiện cần thiết , nên quá trình tự do hóa dẫn đến nhiều bất cập, làm cho tình hình kinh tế - xã hội không được cải thiện nhiều
Các nước châu Phi đang đẩy mạnh cải cách liên kết khu vực, thu hút đầu tư viện trợ phát triển từ bên ngoài, tình hình khu vực dần đi vào ổn định, các cuộc xung đột đang được giải quyết , kinh tế từng bước hồi phục, một số nước đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá
2.Đặc điểm chung của thị trường châu Phi
Trang 82.1.Quy mô và đặc điểm của thị trường châu Phi.
Với dân số khoảng 850 triệu, châu Phi là thị trường có sức mua khá mạnh.Cơ cấu nhập khẩu cũng rất đa dạng, nhu cầu về công nghệ và hàng hóa rất lớn Sở dĩ châu Phi được thế giới, nhất là các nước phát triển quan tâm là do tiềm năng to lớn của châu lục này.Sau hơn 2 thập kỷ trì trệ và suy thoái, từ đầu những năm 1990 kinh tế châu Phi có biểu hiện phục hồi và từng bước tăng trưởng nhanh, sự chuyển biến tích cực mà nền kinh tế châu Phi có được là do các chính sách cải cách nền kinh tế, mở rộng cửa với thế giới bên ngoài
Sức hấp đẫn từ nguồn dầu mỏ của châu Phi là nhân tố tích cực khiến các nước phát triển nhất là Mỹ, nước tiêu dùng dầu mỏ nhiều nhất thế giới thực hiện chính sách tăng cường quan hệ mọi mặt, đặc biệt là viện trợ cho châu Phi Hiện nay, dầu thô nhập từ châu Phi chiếm 15% tổng số dầu nhập khẩu vào Mỹ.Đối với Trung Quốc là 28%.Châu Phi đang trở thành tiêu điểm tranh chấp dầu mỏ giữa Trung Quốc và phương Tây Để duy trì chỗ đứng và tăng cường vị thế tại khu vực, các cường quốc đều tăng viện trợ và đẩy mạnh các mối quan hệ hợp tác kinh tế -
thương mai vớ các nước châu Phi
Châu Phi là một thị trường đang trong quá trình chuyển đổi nên có nhu câu rất lớn và đa dạng về các chủng loại hàng hóa và lại không quá về phẩm cấp và mẫu mã.Về xuất khẩu châu Phi cung cấp các sản phẩm dưới dạng các nguyên vật liệu thô như dầu lửa, quặng sắt, đá quý, hạt điều,bông thô…với giá cả hợp lý.Vì
vậy,cuộc chạy đua chiếm kĩnh thị trường châu lục này đang diễn ra khá gay gắt.Các quốc gia châu Phi đều đang tích cực đẩy mạnh quá trình hội nhập khu vực
và quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với khắp nơi trên thế giới Đến đầu năm 2003 đã có : 41/54 nước châu Phi là thành viên của WTO.Các nước châu Phi đã lần lượt giảm bớt các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, hình thành nhiềukhu vực mậu dịch tự do
Kim nghạch thương mại châu Phi đã lấy lại đà tăng trưởng trong những năm gầnđây.Đặc biệt, sự buôn bán với các nước châu Á ngày càng phát triển Tỷ trọng buôn buôn bán với châu Á tăng lên rõ rệt Châu Phi ngày càng thu hút được sự quan tâm đẩy mạnh hợp tác kinh tế, đầu tư và thương mại của nhiều nước châu Á
Trang 9Nhu cầu về các mặt hàng của thị trường châu Phi tuy phong phú, đa dạng nhưng thay đổi thất thường, nhất là nhu cầu về mặt hàng nông sản, phụ thuộc nhiều vào tình hình sản xuất lương thực trong nước Như vậy, cũng có tình trạng trao đổi buôn bán mang tính thời vụ, không ổn định.Tình hình tài chính chưa thật ổn định tại một số nước châu Phi, tình trạng tham nhũng quản lý kém…cũng đang là tình trạng khá phổ biến ở các nước châu Phi.
Vì khả năng tài chính hạn hẹp, nên các doanh nghiệp châu Phi thường buôn bán qua trung gian một công ty thứ ba, hoặc buôn bán với hình thức trả chậm, gây khó khăn cho đối tác nước ngoài muốn hợp tác kinh doanh
2.2.Liên kết kinh tế các nước trong khu vực
Trong những năm gần đây, ở châu Phi đã hình thành nhiều tổ chức hợp tác khu vực về kinh tế, thương mại.Ở Trung Phi có Liên minh kinh tế và thuế quan Trung Phi (UDEAC-1964), sau trở thành cộng đồng kinh tế và tiền tệ Trung Phi
(CEMAC).Ở Đông Nam Phi có cộng đồng kinh tế Đông Phi, Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SADC), khu thương mại ưu đãi.Ở Tây Phi có Cộng đồng kinh
tế các nước Tây Phi (ECOWAS), Liên minh thuế quan và tiền tệ Tây Phi.Ở Bắc Phi có Liên minh Arap Magheb
Trong thập kỷ 1990, các tổ chức khu vực châu Phi đã đề ra nhiều sang kiến và đạt được nhiều tiến bộ trong việc đẩy mạnh hợp tác kinh tế, thương mại
Với nhiều kết quả đã đạt được về tự do hóa thương mại, tài chính – tiền tệ, thiết lập liên minh thuế quan, liên minh kinh tế và thị trường chung, dự kiến trong thập
kỷ này quá trình hội nhập khu vực và nhất thể hóa kinh tế sẽ tiếp tục được đẩy mạnh o châu Phi.Đây là điều kiện quan trọng để đảm bảo sự phát triển kinh tế các ngước trong lục địa này
Nạn quan lieu, trì trệ trong các cơ quan nhà nước đang là căn bệnh kinh niên củacác nước châu Phi.Quá trình giai quyết giấy tờ, các thủ tục hành chính cho công việc kinh doanh ở các nước châu Phi rất mất thời gian.Ở nhiều nước, các đối tác giao dịch trong một tần là có thể kí dược hợp đồng nhưng ở châu Phi để đi đến mộtgiao dịch, có thể phải mất một năm hoặc lâu hơn
2.3.Nhu cầu nhập khẩu hàng hóa dịch vụ của thị trường châu Phi
Trang 10Do trình độ phát triển kinh tế còn thấp , các nước châu Phi có nhu cầu nhập khẩucác loại máy móc phục vụ sản xuất , sản phẩm điện, cơ khí, các sản phẩm công nghệ cao…Năm 2001, nhóm hàng này đạt 96,3 tỷ USD chiếm 70% tổng giá trị nhập khẩu.Nhóm hàng nông sản chủ yếu là lương thực, thực phẩm đạt 20,8 tỷ USDchiếm tỷ trọng 15%.Nhóm hàng chế biến đạ 35,7 tỷ USD chiếm 25,3%.Nhóm hàngnông sản(cà phê,ca cao, hạt điều,chè…) đạt 20,7 tỷ USD chiếm tỷ trọng 14,7%.2.3.1.Nhóm hàng nông lâm thủy sản.
Gạo : Tổng khối lượng nhập khẩu gạo của châu Phi tăng từ 3,2 triệu tấn năm 1990 lên 5 triệu tấn năm 2000
Cà phê : Nhập khẩu cà phê của 7 nước nhập khẩu nhiều nhất đã tăng từ
52 ngàn tấn năm 1999 lên 67 ngàn tấn năm 2000.Nhập khẩu của toàn châu Phi tăng từ 136 ngàn tấn lên 213 ngàn tấn
Hạt tiêu : Nhập khẩu của châu Phi dao động khoảng 10 – 12 ngàn
tấn/năm
Cao su: Nhập khẩu cao su của châu Phi tăng nhanh trong thập kỷ 90, từ
90 ngàn tấn năm 1990 lên gần 160 ngàn tấn năm 2000.Riêng Nam Phi nhập khẩu 122 ngàn tấn năm 2000, chiếm gần 80% nhập khẩu toàn châu Phi
Chè : Nhập khẩu chè của châu Phi tăng không nhiều trong thập kỷ
1990,từ 180 ngàn tấn năm 1990 lên 210 ngàn tấn năm 2000, trong đó nhập khẩu của 7 nước tăng từ khoảng 120 ngàn tấn lên 145 ngàn tấn Dự báo nhập khẩu chè của 7 nước châu Phi năm 2010 khoảng 170 – 180 ngàn tấn/năm
Thủy sản : Nhập khẩu thủy sản của châu Phi trong thập kỷ 1990 bình quân chỉ chiếm 5% khối lượng nhập khẩu thủy sản toàn cầu.Năm 2000, nhập khẩu thủy sản toàn cầu đạt 5 tỷ USD thì châu Phi chiếm khoảng 2,5
tỷ USD.Dự báo giai đoạn 2001- 2010, buôn bán thủy sản tăng với tốc độ 2.65%/năm, đạt 70 tỷ USD năm 2010
…
2.3.2.Nhóm hàng nhiên kiệu khoáng sản
Trang 11Nhu cầu nhập khẩu của các nước châu Phi đối với mặt hàng này không cao do nhìn chung các nước này đều giàu tài nguyên khoáng sản.Châu Phi là nơi có thể cung cấp cho thị trường thế giới nhiều mặt hàng khoáng sản, nhiên liệu khác như kim loại màu, đá quý,quặng photphat…, kể cả dầu thô trong tương lai.
2.3.3.Nhóm hàng sản phẩm chế biến chế tạo
Tỷ trọng nhập khẩu nhóm hàng này của châu Phi là rất cao,chiếm tỷ trọng bình quân khoảng 70% trong nhập khẩu
Dự báo đến năm 2010 tỷ trọng nhập khẩu nhóm hàng sản phẩm chế biến, chế tạo
ở các nước châu Phi vẫn được duy trì ở mức cao, bình quân chiếm khoảng 65- 70%tổng kim nghạch nhập khẩu.Kim nghạch nhập khẩu nhóm hàng này của châu Phi
có thể lên đến 150 tỷ USD vào năm 2010.Những mặt hàng nhập khẩu chủ đạo là các loại máy móc thiết bị, sản phẩm cơ khí, điện tử, phương tiện giao thông, hàng tiêu dùng đồ gỗ, đồ nhựa thực phẩm chế biến,các sản phẩm công nghệ cao
3.Thực trạng xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với châu Phi
3.1.Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang châu Phi
Trong thập kỷ 1990, mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam sang châu Phi là gạo.Điều đó xuất phát từ thực tế là nhiều nước châu Phi thường xuyên
bị thiếu lương thực và hàng anwm có nhu cầu nhập khẩu lương thực rất lớn.Các mặt hàng xuất khẩu khác vào châu Phi là hàng dệt may, hàng da giày, hạt tiêu, cao su…Những năm gần đây, Việt Nam đã xuất khẩu các sản phẩm điện, điện tử, cơ khí, đồ nhựa, bột gia vị, tuy nhiên giá trị xuất khẩu chưa cao.Các mặt hàng xuất khâu cả Việt Nam đều có xu hướng gia tăng mạnh mẽ trong gia đoạn 2000 –
2004.Tuy nhiên, xuất khẩu gạo vẫn chiếm tới 63% kim nghạch xuất khẩu hàng hóa vào châu Phi năm 2000,67%năm 2001, 40% năm 2002, 64% năm 2003,
2004.Năm 2005 ,hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang châu Phi bao gồm : gạo, cà phê, chè, hạt tiêu, hàng may mặc, điện tử, đồ nhựa…, trong đó hàng gạo xuất khẩu được 1,8 – 2 triệu tấn/ năm.Hàng dệt may có kim nghạch xuất khẩu tăng khoảng 60%/ năm, hàng giày dép tăng 30%/ năm
Do trình độ phát triển kinh tế cồn thấp, các nước châu Phi có nhu cầu nhập khẩu rất lớn các loại máy móc phục vụ sản xuất , sản phẩm điện , điện tử, cơ khí, sản phẩm công nghệ cao, dược phẩm , may mặc.Năm 2001, nhóm hàng này chiếm tới
Trang 1270% giá trị nhập khẩu của các nước châu Phi Nhóm hàng nông sản chủ yếu là lương thực thực phẩm chiếm 15% kim nghạch nhập khẩu của châu Phi.
Dựa vào nhu cầu nhập khẩu của châu Phi, có thể thấy sản phẩm thuộc thế mạnh của Việt Nam còn khá trống trên thị trường châu Phi Đó là: Nông sản, cà phê, hạt tiêu, hàng thực phẩm chế biến,dệt may, giày dép, thủ công mỹ nghệ….Những mặt hàng này đều có khả năng cạnh tranh hơn so với các hàng hóa cùng chủng loại của các nước khác
Có thể nói mặt hàng gạo của Việt Nam đã trở nên khá quen thuộc với người dân châu Phi.Năm 2005 , các nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam tại thị trường châu Phi là Bờ Biển Ngà (336 nghìn tấn trị giá gần 79 triệu USD), Nam Phi (252 nghìn tấn trị giá %& triệu USD), Angola (248 nghìn tấn trị giá 65 triệu USD), và Senegal (180 nghìn tấn trị giá 39 triệu USD)…
Về chủng loại gạo , hiện nay châu Phi chủ yếu nhập khẩu từ Việt Nam các loại gạo trắng 5% tấm, 15% tấm và 25% tấm.Năm 2005, có tới gần 50% gao Việt Nam xuất khẩu sang thị trường châu Phi là loại 5% tấm , 20% là loại 15% tấm, 15% là loại 25% tấm.Còn lại là các loại gạo thơm và gạo nếp
Sản phẩm điện tử và máy vi tính
Năm 2005, hàng điện tử , máy tính, linh kiện là nhóm hàng đạt kim nghạch xuất khẩu lớn thứ 2 tới thị trường châu Phi, tăng mạnh so với năm 2004 (tăng 48%).Tuynhiên, nếu so với tổng kim nghạch xuất khẩu nhóm sản phẩm này của Việt Nam , thị trường châu Phi còn chiếm một tỷ lệ rất thấp, chỉ đạt gần 4%.Với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng của khu vực thị trường này , kim nghạch xuất khẩu nhóm sản phẩm này tới thị trường châu Phi còn có khả năng tăng cao
Hàng dệt may
Trang 13Trong năm 2005,kim nghạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tới thị trường châu Phi đã đạt trên 47 triệu USD , tăng gấp 2,3 lần so với năm
2004.Tương tự như các sản phẩm điện tử , kim nghạch xuất khẩu dệt may tới thị trường châu Phi còn chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng kim nghạch xuất khẩu hàng dệtmay của Việt Nam (chỉ chiếm gần 1%) Đáng chú ý , hiện nay một mặt hàng thị trường có nhu cầu cao và đang được xuất khẩu khá mạnh sang thị trường châu Phi
là màn tuyn chống muỗi, kim nghạch đạt hơn 30 triệu USD,chiếm 64,4% trong tổng kim nghạch xuất khẩu dệt may tới châu Phi
Về thị trường, hiện nay hàng dệt may Việt Nam được xuất khẩu nhiều nhất ở Angola (8,5 triệu USD), Ethiopia (4,66 triệu USD), Kenya (4,51 triệu USD), và Nigieria (4,2 triệu USD)
Ngoài ra, còn nhiều mặt hàng được coi là thế mạnh của Việt Nam ở thị trường châu Phi như giày dép, dược phẩm , nhựa gia dụng…
Giày dép là hàng hóa tiêu dùng chiếm vị trí quan trọng thứ 3 trong số các hàng hóa xuất khẩu vào châu Phi.Năm 2000, kim nghạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào châu Phi đạt 9,643 triệu USD, năm 2005 đã tăng lên gần 30 triệu USD với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu năm 2005 là 30%/ năm
Dược phẩm Việt Nam có ưu thế về chất lượng và giá rẻ nên có thể chinh phục được thị trường rộng lớn này.Các mặt hàng được tiêu thụ mạnh là thuốc tri các bệnh trường gặp như thiếu vitamin , cảm sốt, kháng sinh , thuốc trị một số bệnh truyền nhiễm…
3.2.Những thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam ở châu Phi
Năm 1991, Libi và Angieri là hai thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam, chiếm tới 90% tổng kim nghạch của Việt Nam xuất khẩu sang châu Phi.Hình thức trả nợ xuất khẩu hàng tiếp tục cho đến năm 1998 khi Việt Nam đã cơ bản trả nợ xong hai nước Angieri và Libi.Từ năm 1996, Việt Nam thực hiện quan hệ buôn bán hai chiều với nhiều quốc gia châu Phi.Đặc biệt từ năm 2000 đến nay, thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang châu Phi đã phát triển cả bề rộng vàchiều sâu.Việt Nam đã phát triển thị trường châu Phi chủ yếu từ hai hướng :thứ nhất là từ Bắc Phi thông qua thị trường Ai Cập, LiBi; thứ hai là từ cộng hòa Nam Phi để thâm nhập khẩu của Việt Nam chỉ có 3 nước , thì tính đến năm 2005 ,Việt
Trang 14Nam có quan hệ trao đổi hàng hóa với 48 nước châu Phi Trong đó, Cộng hòa NamPhi là nước lớn có giá trị trao đổi hàng hóa lớn nhấy với Việt Nam Năm 200, trị giá trao đổi của Việt Nam với nước này là gần 30 triệu USD , chiếm 15,8% tổng kim nghạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với châu lục này.Năm 2005, trị giá trao đổi là 220 triệu USD , tăng 7,3 lần so với năm 2000, và chiếm tới 24,2% tổng kim nghạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với châu Phi.
Tuy Việt Nam có quan hệ thương mại với 48 nước châu Phi nhưng kim nghạch xuất nhập khẩu với các nước thuộc khu vực này cũng thay đổi tùy theo từng
năm.Kim nghạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với 10 thị trường lớn nhất châu Phi năm 2000 chiếm 61,5% tổng kim nghạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với khu vực này, năm 2003 là 80,2% và năm 2005 là 73,2%
II.LỢI THẾ VÀ HẠN CHẾ ; CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG VIỆC XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VIỆT NAM SANG CHÂU PHI
1.Lợi thế và hạn chế:
1.1.Lợi thế và hạn chế ở tầm vĩ mô:
1.1.1.Lợi thế:
Quan hệ truyền thống giữa Việt Nam và các nước châu Phi
Nhiều thập niên qua quan hệ giữa Việt Nam và các nước châu Phi đã in đậm tình hữu nghị tốt đẹp trên các lĩnh vực kinh tế văn hóa , khoa học kỹ thuật , hợp tácquân sự … Vị trí và uy tín của Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới nhất là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã để lại dấu án tốt đẹp trong long nhân dân các nước châu Phi.Quan hệ đó được các thế hệ tiếp bước giữ gìn , phát triển và trở thành nhân tố gắn bó Việt Nam và các nước châu Phi
Từ sự đoàn kết ủng hộ lẫn nhau giữa các dân tộc bị áp bức quan hệ Việt Nam châu Phi bước sang thời kỳ mới của quan hệ chính thức giữa các quốc gia độc lập.Các quốc gia gặp gỡ tiếp xúc trao đổi nhằm phối hợp đấu tranh và bàn các biện pháp mở rộng quan hệ giữa Việt Nam và các nước châu Phi
Đôi ngũ chuyên gia và Việt kiều –cầu nối thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam châu Phi