Việt Nam là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Do đó, khối lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường là rất lớn. Để đáp ứng yêu cầu lưu thông hàng hoá một cách nhanh nhất thì hình thức TTKDTM ra đời.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ môcủa Nhà nước Do đó, khối lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường là rất lớn Đểđáp ứng yêu cầu lưu thông hàng hoá một cách nhanh nhất thì hình thức TTKDTM rađời Tuy nhiên, thực trạng thanh toán trong nền kinh tế của nước ta theo nhận xét củacác chuyên gia kinh tế thì Việt Nam vẫn là một quốc gia sử dụng quá nhiêù tiền mặt.TTKDTM chưa phát triển kịp với nhịp phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế, đặcbiệt nó chưa được phổ biến trong tầng lớp dân cư Thực trạng trên là một trở ngại lớnđối với nền kinh tế Việt Nam khi Việt Nam đang trong quá trình mở cửa để hội nhậpvới khu vực và thế giới nói chung và trong lĩnh vực Tài chính ngân hàng nói riêng
Là một sinh viên khoa Tài chính – Kế toán nhận thức được tầm quan trọng vàtính thiết yếu của công tác TTKDTM trong nền kinh tế thị trường Trong thời gianthực tập tại chi nhánh Ngân hàng Công thương KVII – HBT em đã có cơ hội đượctiếp cận với thực tế về nhiều hoạt động và nghiệp vụ của chi nhánh Trong đó em đặcbiệt quan tâm và thích thú với công việc của phòng kế toán Vì vậy, em quyết địnhlựa chọn đề tài: “ Một số giải pháp nhằm mở rộng và hoàn thiện công tác TTKDTMtại Ngân hàng Công thương KVII – HBT”
Nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương I : Cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt
Chương II: Thực trạng công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại chi nhánh Ngânhàng Công thương KVII – HBT
Chương III: Một số giải pháp nhằm mở rộng và hoàn thiện công tác thanh toánkhông dùng tiền mặt tại Ngân hàng Công thương KVII – HBT
Để hoàn thành bài luận văn này em đó nhận được sự giúp đỡ nhiệt tỡnh của cỏccán bộ ở ngõn hàng, cộng với sự hướng dẫn chỉ bảo tận tỡnh của PGS TS Hà ĐứcTrụ Bản thân em cũng đã cố gắng, nhưng do kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế,nên bài viết của em không tránh khỏi nhiều sai xót em rất mong nhận được sự quantâm chỉ bảo của các thầy cô giáo, cùng sự đóng góp của bạn bè để bài viết của emđược hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
LuËn v¨n tèt nghiÖp §ç thÞ thuú d¬ng 04D02515
Trang 2CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TTKDTM TRONG NỀN KINH TẾ
I Sự cần thiết khách quan và vai trò vủa TTKDTM trong nền kinh tế thị trường.
1 Sự cần thiết khách quan của TTKDTM trong nền kinh tế
Thanh toán là khâu mở đầu và cũng là khâu kết thúc của quá trình sản xuất, lưu
thông hàng hoá Chính vì vậy mà các phương tiện thanh toán luôn luôn được đổi mớihiện đại để phù hợp với nhịp độ tăng trưởng không ngừng của sản xuất - Lưu thônghàng hoá
Nền sản xuất hàng hoá càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao
và khối lượng hàng hoá, dịch vụ ngày càng đa dạng cả về khối lượng và chất lượng,các quan hệ thương mại được mở rộng ra trên phạm vi quốc tế thì việc thanh toánbằng tiền mặt gặp nhiều trở ngại và bộc lộ những hạn chế nhất định Trước hết làthanh toán dùng tiền mặt có độ an toàn không cao, với khối lượng hàng hoá, dịch vụgiao dịch lớn thì việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt sẽ an toàn cho người trả tiền
và người nhận tiền do trong quá trình thanh toán phải có sự kiểm đếm, bảo quản, vậnchuyển tiền Tiếp đó, khi quan hệ thanh toán mở rộng phạm vi quốc tế thì chi phí vềthủ tục chuyẻn đổi tiền để thanh toán chi trả tiền sẽ rất lớn vì khoảng cách giữa ngườimua và người bán nhiều khi ở rát xa nhau trong khi để người mua mang tiền đến trả
bị khống chế, điều này dẫn đến sự kìm hãm sản xuất – lưu thông hàng hoá Hơn nữa,thanh toán bằng tiền mặt hạn chế khả năng tạo tiền của NHTM, gây ra nạn tiền giả.Nền kinh tế luôn có nhu cầu tiền mặt để thanh toán, chi tiêu gây sức ép giả tạo về sựkhan hiếm tiền mặt trong nền kinh tế, làm cho giá cả của hàng hoá có khả năng tăngcao ( không phản ánh giá trị thực của hàng hoá ) gây khó khăn cho NHNN trong việcđìêu hành chính sách tiền tệ Ngoài ra, còn một vấn đề quan trọng nữa là chi phí rấtlớn mà NHNN phải bỏ ra để in tiền, vận chuyển, bảo quản… tiền mặt
Từ thực tế khách quan này và trong nền kinh tế chuyển sang một giai đọan pháttriển mạnh mẽ tiền mặt không thể đáp ứng nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tếđòi hỏi phải có những hình thức thanh toán mới ra đòi tiên tiến hơn, hiện đại hơn phùhợp dáp ứng nhu cầu sản xuất lưu thông hàng hoá Hình thức TTKDTM ra đòi đãkhắc phục những hạn chế của thanh toán dùng tiền mặt, đồng thời thúc đẩy sự pháttriển sản xuất và lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế
Trang 32 Khái niệm về TTKDTM
Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thanh toán không có sự xuất hiện củatiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích từ tài khoản của người chi trả để chuyểnvào tài khoản của người thụ hưởng mở tại NH hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thôngqua vai trò trung gian của NH
3 Các nguyên tắc trong TTKDTM
Thứ nhất: Các chủ thể tham gia thanh toán ( kể cả pháp nhân và thể nhân ) đều
phải mở tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và được quyềnlựa chọn tổ chức cung ứng dịch thanh toán để mở tài khoản
Thứ hai: Số tiền thanh toán giưã người chi trả và người thụ hưởng phải dựa
trên cơ sở lượng hàng hoá, dịch vụ đã giao giữa người mua và người bán Người muaphải chuẩn bị đầy đủ phương tiện thanh toán ( số dư trên tài khoản tiền gưỉ thanh toántại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc hạn múc thấu chi nếu có ) để đáp ứngyêu cầu thanh toán đầy đủ, kịp thời khi xuất hiện yêu cầu thanh toán Nếu người muachậm trễ thanh toán, hoặc vi phạm chế độ thanh toán thì phải chiụ phạt theo chế độthanh toán hiện hành
Thứ ba: Người bán hay người cung ứng dịch vụ là người được hưởng số tiền
do người chi trả chuyển vào tài khoản của mình nên phải có trách nhiệm giao hànghay cung cấp dịch vụ kịp thời và đúng với lượng giá trị mà người mua đã thanh toán,đồng thời phải kiểm soát kĩ các chứng từ phát sinh trong quá trình thanh toán
Thứ tư: Là trung gian thanh toán giưã người mua và người bán, các tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán phải thực hiện đúng vai trò trung gian thanh toán Nếu viphạm cũng bị xử lý theo pháp luật
4 Vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế
Hệ thống NH cùng với sự đổi mới nền kinh tế đã thực hiện quá trình hiện đạihoá đặc biệt là trong việc thanh toán, nhờ áp dụng những thành tưụ khoa học kĩ thuậtnhư : áp dụng công nghệ tin học NH, công nghệ thông tin… mà TTKDTM được tổchức thành một hệ thống nhất định, có ý nghĩa kinh tế rất lớn Nó được thể hiện ở cácmặt sau:
- TTKDTM qua ngân hàng tạo điều kiện cho ngân hàng có thể sử dụng nguồnvốn nhàn rỗi trong thanh toán cho đầu tư, cho vay sản xuất sau khi đã tính toán dự trữ LuËn v¨n tèt nghiÖp §ç thÞ thuú d¬ng 04D02515
Trang 4một lượng vốn nhất định đảm bảo được tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khoản dự trữ đảm bảokhả năng thanh toán của mình Khi TTKDTM qua ngân hàng được nhanh chóng,thuận tiện sẽ tạo điều kiện thu hút các đơn vị cá nhân đến mở tài khoản thanh toánhoặc gửi tiền.
- TTKDTM góp phần làm giảm thấp khối lượng tiền mặt trong lưu Do vậy, nótiết kiệm được chi phí lưu thông tiền mặt như: in ấn, phát hành, bảo quản, vậnchuyển, kiểm đếm Hơn nưã, TTKDTM còn giảm nhẹ khâu kế hoạch và điều hoà lưuthông tiền tệ, tăng sức mua của đồng tiền góp phần làm cho lưu thông tiền tệ ổn định
- TTKDTM cung cấp cho các chủ thể thanh toán những công cụ thanh toán nhanhchóng, thuận tiện, hiện đại Khi thực hiện thanh toán, họ không phải mang theo tiền mặt
mà chỉ cần sử dụng một số những hình thức TTKDTM, do vậy sẽ tránh được rủi ro mấttrộm, giảm chi phí vận chuyển, kiểm đếm, bảo quản tiền mặt Nhờ đó, chất lượng của hoạtđộng thanh toán ngày càng nâng cao, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất lưu thônghàng hoá mang lại hiệu quả kinh tế cao và hạn chế được hoạt động rửa tiền
- TTKDTM giúp ngân hàng có thể kiểm soát một phần lượng tiền trong nền kinh
tế, nắm bắt được tình hình biến động số dư tài khoản của khách hàng, tình hình thunhập… để cung ứng các dịch vụ, cho vay, tư vấn Đồng thời, thông qua các thông tin
từ tài khoản thanh toán của khách hàng, ngân hàng sẽ có được những quyết định chovay đúng đắn, đảm bảo thu gốc và lãi đúng hạn, giam tỷ trọng nợ quá hạn, nợ khóđòi, nợ xấu; tăng dư nợ tín dụng, mở rộng và phát triển nghiệp vụ tín dụng
- TTKDTM nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các NHTM và thúc đẩy các dịch vụkhác phát triển Khách hàng ngày càng có nhiều cơ hội lựa chọn dịch vụ ngân hàngsao cho thoả mãn nhu cầu tốt nhất, chi phí thấp nhất, độ an toàn cao nhất, nhanhchóng và thuận tiện
- TTKDTM còn có vai trò đối với quản lý vĩ mô của nhà nước Việc TTKDTMqua ngân hàng đòi hỏi hoạt động thanh toán của khách hàng phải qua ngân hàng hoặcphải mở tài khoản tại ngân hàng Vì vậy, thông qua hoạt động TTKDTM nhà nước cóthể kiểm soát được lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường để có biện pháp quản lýlạm phát, quản lý sự biến động của thị trường, thiết lập các chính sách tài chính – tiền
tệ quốc gia Bên cạnh đó việc thanh toán qua NH sẽ kiểm soát được tình trạng thu chicủa các doanh nghiệp hạn chế tình trạng tham ô, chi tiêu mờ ám, chốn thuế, rửatiền…
Trang 5Tóm lại, TTKDTM trong nền kinh tế thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đốivới các chủ thể thanh toán, các trung gian thanh toán, các đối tượng cơ quan quản lýnhà nước Đứng trên góc độ ngành nó phản ánh khá trung thực bộ mặt hay trang thiết
bị cơ sở vật chất của ngành ở tầm vĩ mô TTKDTM phản ánh trình độ phát triển kinh
tế và dân trí của một nước Bên cạnh đó, việc áp dụng những thành tựu khoa họccông nghệ vào công tác TTKDTM làm cho hệ thống ngân hàng ngày càng trở nênhiện đại góp phần ổn định và phát triển hệ thống tài chính quốc gia, đẩy mạnh quátrình hội nhập quốc tế
II Một số thể thức TTKDTM đang được sử dụng tại Việt Nam
Hiện nay, trên thế giới đã nghiên cứu và áp dụng rất nhiều hình thức, phươngthức TTKDTM Nhưng mỗi nước tuỳ theo mô hình kinh tế, trình độ quản lý, tuỳ theomức độ hoàn thiện và chức năng của hệ thống NH, để lưạ chọn một hình thức cụ thểcho phù hợp với điều kiện của mỗi nước Ở Việt Nam hiện nay đang áp dụng cáchình thức sau:
Hiện nay thanh toán séc qua NH thông dụng nhất là hai loại séc: Séc chuyểnkhoản và Séc bảo chi
1.1 Séc chuyển khoản
Séc chuyển khoản là một tờ séc do chủ tài khoản phát hành và trực tiếp giao chongười hưởng khi nhận hàng hoá, dịch vụ cung ứng Séc chuyển khoản có phạm vithanh toán: Giữa hai khách hàng mở tài khoản tại cùng một ngân hàng hoặc là hai LuËn v¨n tèt nghiÖp §ç thÞ thuú d¬ng 04D02515
Trang 6khách hàng mở tài khoản tại hai ngân hàng thanh toán khác nhau nhưng trên cùngmột địa bàn tham gia thanh toán bù trừ.
Séc chuyển khoản thanh toán trong phạm vi khác ngân hàng có quy trình luânchuyển chứng từ như sau
Sơ đồ luân chuyển chứng từ Séc chuyển khoản
Giữa hai ngân hàng tham gia TTBT
(1): Người bán giao hàng hoá, dịch vụ cho người mua
(2): Người mua sẽ ký phát Séc và giao cho người bán
(3a): Người bán lập bảng kê nộp Séc và gửi kèm tờ Séc chuyển khoản vào ngânhàng phục vụ người bán
(3b): Cũng có thể người bán nộp Séc trực tiếp vào ngân hàng phục vụ người mua (4): Ngân hàng phục vụ người bán chuyển bảng kê nộp séc cung tờ Séc chuyểnkhoản sang Ngân hàng phục vụ người mua trong phiên thanh toán bù trừ
(5): Ngân hàng phục vụ người mua kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của tờ Séc, nếukhông có gì sai sót sẽ hạch toán:
NợTK4311/N.Mua
Có TK 5012 TTBTrừ
(5a): Ngân hàng phục vụ người mua ghi Nợ tài khoản người mua
(5b): Ngân hàng phục vụ người mua chuyển Có sang Ngân hàng phục vụngười bán qua phiên TTBTrừ
(6): Ngân hàng phục vụ người bán nhận được chuyển Có của Ngân hàngngười mua ghi Có tài khoản của người bán:
(3a) (3b)
(4) (5b)
Trang 7và báo Có cho người bán.
1.2 Séc bảo chi
Séc bảo chi là một loại Séc chuyển khoản nhưng được ngân hàng đảm bảo chi trảcho từng tờ Séc trên cơ sở tiền mà người phát hành Séc đã lưu ký, vì vậy người chịutrách nhiệm thanh toán tờ Séc là ngân hàng bảo chi Séc
Như vậy, khả năng thanh toán của Séc bảo chi được đảm bảo không xẩy ra tìnhtrạng phát hành quá số dư Hình thức này được sử dụng trong trường hợp người bánkhông tín nhiệm người mua về mặt thanh toán
Sơ đồ luân chuyển chứng từ Séc bảo chi thanh toán
tại 2 ngân hàng cùng hệ thống
(3a)
(3b) (1) (2) (5b) (4)
(5a)
(1): Người mua lập giấy yêu cầu bảo chi Séc kèm tờ Séc chuyển khoản đã ghi đầy
đủ các yếu tố đồng thời lập UNC xin trích tài khoản tiền gửi thanh toán để ký quỹ vàotài khoản tiền gửi đảm bảo thanh toán Séc bảo chi (4661.1)
(2): NH.NMua kiểm tra các nội dung trên tờ Séc bảo chi (SBC), số dư trên tàikhoản của người mua nếu đủ điều kiện sẽ làm thủ tục bảo chi Séc và hạch toán
N: TK 4311/N Mua C: TK 4661.1/N Mua Sau đó ngân hàng sẽ đóng dấu bảo chi lên tờ séc và giao cho người mua
(3a): Người bán giao hàng hoá, dịch vụ cho người mua
(3b):N.Mua sẽ ký phát Séc và trao cho người bán
(4): N.bán nộp bảng kê nộp Séc kèm tờ SBC cho ngân hàng phục vụ mình
(5): NH NBán kiểm tra tờ SBC nếu hợp lệ sẽ hạch toán:
N: TK 5111
C: TK 4311/N.Bán LuËn v¨n tèt nghiÖp §ç thÞ thuú d¬ng 04D02515
Ngân hàng phục
vụ người mua
Ngân hàng phục
vụ người bán
Trang 8(5a): NH.NBán gửi lệnh chuyển nợ sang NH.Nmua
(5b): và ghi có cho người bán
(6): Nhận được lệnh chuyển Nợ cuă NH.NBán, NH.Nmua sẽ hạch toán
N: TK 4661.1/N.Mua C: TK 5112
Và báo nợ cho người mua
2 Hình thức thanh toán bằng Lệnh chi hay ủy nhiệm chi
UNC là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn yêu cầu NH phục
vụ mình trích một khoản tiền theo số tiền trên UNC để chuyển sang tài khoản củangười thụ hưởng
Phạm vi thanh toán: 2 khách hàng ở cùng ngân hàng, 2 khách hàng ở hai ngânhàng khác nhau
Quy trình thanh toán: 2 khách hàng ở 2 ngân hàng khác nhau
(1)
(2) (3)
(4)
(1): NBán cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho người mua
(2): NMua gửi UNC cho ngân hàng phục vụ mình
(3): NH.Nmua kiểm tra UNC, số dư trên tài khoản người mua, nếu không có gì saisót sẽ hạch toán: Nợ: TK 4311/N.Mua
Có:TK TTVốn (5111,5012,1113)
(4): Nhận được báo Có của NH.Nmua, NH.NBán sẽ hạch toán
- Nếu người bán có tài khoản tại ngân hàng:
Trang 9Nợ: TK 464
Có: TK 1011
3.Hình thức thanh toán ủy nhiệm thu ( UNT)
UNT là một giấy đòi tiền do người thụ hưởng lập theo mẫu quy định, uỷ nhiệm cho
tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thu hộ tiền từ người mắc nợ trên cơ sở hợp đồng
đã ký kết
UNT được áp dụng trong thanh toán giữa hai khách hàng mở tài khoản ở cùng NH
và hai khách hàng mở tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau
Kế toán Uỷ nhiệm thu:
a Hai khách hàng ở cùng ngân hàng:
(1)
(3a) (3b) (2)
(1): N.Bán giao hàng hoá, dịch vụ cho N.Mua trên cơ sở hợp đồng kinh tế
(2): N.Bán lập UNT kèm hoá đơn, chứng từ giao hàng vào NHTM
(3): NH kiểm tra UNT và nếu không có gì sai sót sẽ hạch toán:
Nợ: TK 4311/N.Mua Có: TK 4311/N.Bán
(3a): Báo Nợ cho người mua
(3b): Báo Có cho người bán
b Hai khách hàng ở hai ngân hàng khác nhau:
(1)
(3) (4b)
(1): N.Bán giao hàng hoá cho N.Mua theo hợp đồng kinh tế
(2): N.Bán lập UNT kèm hoá đơn, chứng từ giao hàng nộp vào NH phục vụ mình
LuËn v¨n tèt nghiÖp §ç thÞ thuú d¬ng 04D02515
NHTM
Trang 10(3): Nhận được UNT của N.Bán, NH.NBán ghi nhập sổ theo dõi UNT gửi đến vàlàm thủ tục chuyển bộ UNT sang NH.Nmua.
(4): Nhận được UNT NH.Nmua hạch toán:
Nợ: TK 4311/N.Mua
Có: TK TTVốn (nếu 2 NH cùng hệ thống sử dụng
TK 5111, 2 NH TTBTrừ 5012, TK tiền gửi tại NHNN 1113)
(4a): Báo Nợ cho người mua
(4b): Chuyển Có sang NH.NBán
(5): Nhận được chuyển Có của NH.Nmua, NH hạch toán:
Nợ: TK TTVốn
Có: TK 4311/NBán
Xuất sổ theo dõi UNT gửi đi
Trường hợp UNT đến NH.Nmua mà tài khoản không đủ số dư sẽ lưu lại chờ đủ số
dư thanh toán đồng thời phạt chậm trả
4 Hình thức thanh toán thư tín dụng
Thư tín dụng là một hình thức thanh toán theo sự thoả thuận giưã hai bên mua và bênbán (ở hai địa điểm khác nhau) trong điều kiện bên bán đòi hỏi bên mua phải có đủ điềutiền để chi trả cho phù hợp với giá trị hàng hoá mà bên bán đã giao theo hợp đồng hoặcvận đơn đã ký và bên mua cũng đòi hỏi nhận được hàng trước khi giao tiền
Sơ đồ luân chuyển chứng từ thanh toán thư tín dụng
(1)Đơn vị mua lập 5 liên giấy xin mở L/C nộp vào NH bên mua
(2)NH bên mua lưu ký liên, gửi 3 liên L/C đến NH bên bán
Ngân hàng
phục vụ đơn vị
mua
Ngân hàng phục vụ đơn vị
bán
Trang 11(3)NH bên bán sau khi ghi sổ theo dõi L/C, gửi 1 liên cho bên bán làm căn cứ giaohàng.
(4)Đơn vị bán giao hàng cho đơn vị mua
(5)Đơn vị bán lập 4 liên bảng kê hoá đơn chứng từ giao nhận hàng nộp cho NH bênbán để thanh toán
(6)NH bên bán thanh toán và gửi giấy báo Có cho đơn vị bán
(7)NH bên bán gửi giấy báo Nợ cho NH bên mua
(8)NH bên mua gửi giấy báo Nợ cho đơn vị mua
5 Hình thức thanh toán thẻ Ngân hàng
Thẻ Ngân hàng là một thể thức thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng
phát hành cho khách, theo đó người sử dụng thẻ có thể dùng để thanh toán tiền hànghoá dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ hay rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lýthanh toán thẻ hoặc tại các máy rút tiền tự động
Xét về góc độ nghiệp vụ kế toán thì thẻ thanh toán được chia làm 3 loại:
*Thẻ ghi nợ: Là loại thẻ không phải lưu ký tiền vào tài khoản riêng ở NH, áp
dụng với khách hàng có tài khoản tiền gưỉ tại NH, thanh toán thưòng xuyên, có tínnhiệm với NH và so NH phát hành Đây còn được gọi là thẻ loại A
*Thẻ ký quĩ thanh toán: áp dụng rộng rãi cho mọi đối tượng khách hàng Muốn
sử dụng loại thẻ này thì khách hàng phải lưu ký một khoản tiền gửi vào tài khoảnriêng ở NH ( số tiền này chính là hạn mức thẻ) Khách hàng chỉ được sử dụng thanhtoán trong phạm vi số tiền lưu ký Thẻ ký quĩ còn được gọi là thẻ loại B
*Thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng còn được gọi là thẻ C, áp dụng cho khách hàng có
đủ điều kiện NH đồng ý cho vay Số tiền vay chính là hạn mức thẻ, khách hàng chỉđược phép sử dụng trong phạm vi hạn mức cho vay trên thẻ NH phát hành thẻ cótrách nhiệm thanh toán ngay số tiền trên biên lai do NH đại lý chuyển đến
Qui trình thanh toán và kế toán thẻ:
Khi phát hành thẻ
Sau khi nhập các dữ liệu thông tin cần thiết vào bộ nhớ thẻ NH phát hành thẻ
trao thẻ cho khách hàng, nếu là thẻ loại B, kế toán ghi:
Nợ TK tiền gưỉ của khách hàng hoặc TK tiền mặt (nếu khách hàng nộp tiền)
Có TK ký quĩ đảm bảo thanh toán thẻ (4273)
Khi chủ thẻ mua hàng:
Cơ sở tiếp nhận thẻ sử dụng máy để kiểm tra, lập lại biên lai thanh toán và trả
thẻ cho khách hàng
Tại NH đại lý, khi nhận được biên lai ghi
LuËn v¨n tèt nghiÖp §ç thÞ thuú d¬ng 04D02515
Trang 12Khai nhận được chứng từ về thanh toán thẻ do các NH đại lý chuyển đến ghi:
Nợ TK 4273 đối với thẻ loại B
Hoặc Nợ TK tiền gửi chủ thể đối với thẻ loại A
Hoặc Nợ tài khoản cho vay đối vứi thẻ loại C
Có TK thích hợp ( thanh toán liên hàng, bù trừ…)
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
TẠI NHCT HAI BÀ TRƯNG.
I Khái quát chung về NHCT Hai bà trưng
1.Quá trình hình thành và phát triển của NHCT Hai bà trưng
Ngân hàng Công Thương Hai Bà Trưng là một Chi nhánh cuả NHCT ViệtNam Sau khi thực hiện Nghị Định số : 53/ HĐBT ngày 26/03/1998 của Hội đồng Bộtrưởng về tổ chức bộ máy NHNN Việt Nam chuyển sang cơ chế Ngân hàng Hai cấp,
từ một Chi nhánh NHNN cấp Quận và một Chi nhánh Ngân hàng kinh tế cấp Quậnthuộc địa bàn Quận Hai Bà Trưng, trực thuộc NHNN Thành phố Hà Nội chuyểnthành NHCT Thành phố Hà Nội thuộc Ngân hàng Công Thương Việt Nam Tại quyếtđịnh số: 93/NHCT-TCCB ngày 1/4/1993 cuả giám Tổng giám đốc Ngân hàng CôngThương Việt Nam sắp xếp lại bộ máy tổ chức NHCT trên địa bàn Hà Nội theo môhình quản lý hai cấp của Ngân hàng Việt Nam được tổ chức hạch toán kinh tế và hoạtđộng như các Chi Nhánh NHCT cấp tỉnh, Thành Phố Kể từ ngày 1/9/1993, theoquyết định của Tổng giám đốc NHCT Việt Nam, sác nhập Chi nhánh NHCT khu vực
I và Chi nhánh NHCT khu vực II - Hai Bà Trưng (HN) chỉ còn duy nhất một Chinhánh NHCT và được đổi tên thành NHCT Hai Bà Trưng
Để thực hiện chiến lược đa dạng hoá từ năm 1993 trở lại đây chi nhánh Ngân hàngCông thương KVII – HBT đã thu được nhiều kết quả trong hoạt động kinh doanhtừng bước khẳng định mình trong môi trường kinh doanh mới mang đầy tính cạnhtranh
Trang 132 Chức năng nhiệm vụ của NHCT – Hai Bà Trưng
Quận HBT là một quận có địa bàn rộng với diện tích tự nhiên khoảng 13000 ha
và 40 vạn dân Đây là nơi tập trung nhiều DNNN, tư nhân, các công ty lớn nhỏ Điềunày cho thấy thành phần khách hàng rất đa dạng và chính yếu đó đã tạo điều kiệnthuận lợi cho Ngân hàng Công thương KVII – HBT mở rộng khối lượng và quy môkinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán và dịch vụ ngân hàng Vì vậy
mà chi nhánh Ngân hàng Công thương KVII – HBT có các nhiệm vụ chủ yếu sauđây:
+ Huy động vốn: Khai thác và huy động vốn của mọi tổ chức và cư dân thuộc thành phầnkinh tế trong nước cũng như ở nước ngoài Phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu
+ Tiếp nhận nguồn vốn tài trợ từ các tổ chức kinh tế, nguồn đầu tư từ NSNN
+ Cho vay ngấn hạn, trung và dài hạn đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh vàdịch vụ trên địa bàn
+ Kinh doanh tiền tệ dịch vụ Ngân hàng đối ngoại: Thanh toán quốc tế, chi trả kiềuhối, mua bán ngoại tệ
+ Ngoài ra: Chi nhánh nên hùn vốn đầu tư mua cổ phần với các doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh hàng hoá, dịch vụ Liên doanh các tổ chức tài chính, kinh doanh tiền tệ
3.Cơ cấu tổ chức hoạt động của NHCT- Hai Bà Trưng:
P
quản
lý rủiro
P
tổnghợp
P tổchứchànhchính
P
tiềntệkhoquỹ
P
kháchhàngDNlớn
P
KHDNvừa
&nhỏ
P
ThanhtoánXNK
P
TTđiệntoán
Trang 14Chức năng và nhiệm vụ chính của cỏc phũng nghiệp vụ như sau:
- Phũng kế toỏn giao dịch:
Là Phũng nghiệp vụ thực hiện cỏc giao dịch trực tiếp với khỏch hàng; Cỏcnghiệp vụ và cụng tỏc liờn quan đến cụng tỏc quản lý tài chớnh, chi tiờu nội bộ tạiChi nhỏnh; Cung cấp cỏc dịch vụ Ngõn hàng liờn quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử
lý hạch toán các giao dịch Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịchtrên máy, quản lý tiền mặt đến từng giao dịch viờn Tư vấn cho khỏch hàng sử dụngcỏc sản phẩm Ngõn hàng
- Phũng tiền tệ kho quỹ:
Là phũng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý quỹ tiền mặt theo qui địnhcủa NHNN và NHCTVN Ứng và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịchtrong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt cho cỏc doanh nghiệp cú thu , chi tiền mặt lớn
- Phũng Thanh toỏn xuất nhập khẩu:
Là phũng nghiệp vụ tổ chức thực hiện nghiệp vụ về thanh toỏn xuất nhập khẩu
và kinh doanh ngoại tệ tại Chi nhỏnh theo qui định của NHCTVN
- Phũng Tổ chức hành chớnh:
Là phũng nghiệp vụ thực hiện cụng tỏc tổ chức cỏn bộ và đào tạo tại Chi nhánhtheo đúng chủ trương chính sách của Nhà nước và qui định của NHCTVN, thực hiêncông tác quản trị và văn phũng phục vụ hoạt động kinh doanh tại Chi nhỏnh, thựchiện cụng tỏc bảo vệ, an ninh an toàn tại Chi nhỏnh
- Phũng Tổng hợp:
Là phòng nghịêp vụ thực hiện công tác quản lý và lưu trữ hồ sơ số liêụ cuảtoàn hệ thống có nhiệm vụ cung cấp đầy đủ số liêụ khi các phòng khác cần
- Phòng thông tin điện toán
Là phòng thực hiện công tác duy trì hệ thống, bảo trì bảo dưỡng máy tínhđảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống mạng ,máy tính của chi nhánh
- Phòng khách hàng doanh nghiệp lớn (KH số 1)
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh nghiệp lớn , để khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ ; xử lý các nghiệp vụ liên quan đến cho
Trang 15vay , quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế độ , thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT.
- Phòng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ ( KH số 2)
Là Phòng có chức năng và nhiệm vụ tương tư phòng KH số 1 nhưng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
- Phòng khách hàng cá nhân
Là Phòng có chức năng và nhiệm vụ tương tự phòng KH số 1 nhưngkhách hàng là các cá nhân va còn quản lý hoạt động của các quỹ tiết kiệm ,điểm daodịch , tổ chức huy động vốn của dân cư ( bàng VNĐ hoặc ngoại tệ ) …
- Phòng quản lý ruỉ ro
Là phòng có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc Chi nhánh và công tác quản
lý ruỉ ro của Chi nhánh, thẩm định hoặc tái thẩm định KH, dự án, phương án đề nghịcấp tín dụng Chịu trách nhiệm về quản lý và đề xuất xử lý các khoản nợ có vấn đề
II Kết quả hoạt động kinh doanh của NHCT - Hai Bà Trưng trong những năm gần đây:
Năm 2007, là năm bắt đầu mới cuả nền kinh tế Việt Nam Sau 1 năm ra nhậpWTO, tuy có nhiều thách thức nhưng nền KT tiếp tục có những mức tăng trưởngGDP cao nhất trong 10 năm gần đây, đạt 8,48% nhiều doanh nghiệp đã có nhiều thayđổi khá tích cực trong môi trường kinh doanh sôi động- đa dạng- cạnh tranh quyết liệthơn Cùng với sự sôi động của nền kinh tế, hoạt động cuả NHCT- HBT đã có nhữngbước phát triển rất đáng phấn khởi, hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu được cấp trêngiao, đặc biệt là chất lượng và hiêụ qủa, thu nhập của người lao động được đảm bảo
và tăng cao hơn nhiều so với năm trứơc
1.Hoạt động huy động vốn:
Nhu cầu vốn cho phát triển là rất cấp thiết Trước yêu cầu phát huy nội lực,huy động các nguồn vốn trong xã hội để phục vụ sự nghiệp công nghịêp hoá, hiện đạihoá đất nước, các NHTM trong những năm qua đã không ngừng nỗ lực tìm kiếm và
áp dụng các giải pháp để huy động vốn có hiệu quả Chi nhánh NHCT - HBT cũngkhông nằm ngoài qui luật đó Bằng uy tín cuả mình và cùng với các biện pháp, chínhsách phù hợp Chi nhánh NHCT - HBT đã hoàn thành tốt công tác huy động vốn.Nguồn vốn huy động ngày càng tăng lên và cơ cấu nguồn vốn cũng có nhiều thay đổi
Bảng 1: Tỡnh hỡnh huy động vốn của NHCT-HBT
LuËn v¨n tèt nghiÖp §ç thÞ thuú d¬ng 04D02515
Trang 16Đơn vị: triệu đồng
(Nguồn :báo cáo công tác huy động vốn của NHCT - HBT)
Huy động vốn là công việc đầu tiên làm nền tảng cho những hoạt động tiếptheo của quá trỡnh kinh doanh của Ngõn hàng Chính vì vậy trong năm 2007 thỡ:Tổng nguồn vốn huy động là 3.565.946 triệu đồng, tăng so với năm 2006 là 489.618triệu đồng, tốc độ tăng 16%, đạt 100% kế hoạch được giao
Trong đó: Tiền gửi dân cư trong năm 2007 đạt 1.466.787 chiếm tỷ trọng41,1%, tăng so với năm 2006 là 28.782 triệu trong tổng nguồn vốn huy động, tỷ trọngnày giảm 5,1% so với năm 2006 Tiền gửi tổ chức kinh tế trong năm 2007 là1.402.144 chiếm tỷ trọng 39,3%, tăng so với năm 2006 là 367.297 triệu trong tổngnguồn vốn huy động Tiền gửi các tổ chức tín dụng trong năm 2007 đạt 697.015 triệutăng 93.539 triệu so với năm 2006, chiếm tỷ trọng 19.6%
Nhìn chung công tác huy động vốn tại chi nhánh đã đáp ứng được chỉ tiêu đặt ra.Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng không đều trong năm Để được kết quả như vậy chinhánh đã áp dụng nhiều biện pháp can hiệu quả như:
+ Tăng cường củng cố và nâng cao chất lượng các trang thiết bị kỹ thuật, nâng caochất lượng dịch vụ, triển khai chuyển tiền điện tử, ưu đãi phí dịch vụ chuyển tiền
+ Chi nhánh luôn thanh toán kịp thời cho khách hàng và có chính sách ưu đãi vềlãi suất, tăng cường khuyến mại, đưa ra nguồn sản phẩm tiền gửi phù hợp với từngthời điểm, địa bàn và từng đối tượng khách hàng đồng thời làm tốt công tác thông tin,tuyên truyền để thu hút nguồn vốn có hiệu quả
2 Hoạt động cho vay
Số tiền +/-
Tỷ lệ% +/- Tổng số 3.076.328 100 3.565.946 100 +489.618 +16%
* Cơ cấu nguồn vốn
Trang 17Có thể nói cho “vay tín dụng” là hoạt động cơ bản, tiêu biểu và quan trọngnhất tạo ra lợi nhuận cho NH Vỡ vậy chủ trương của NH là cho vay đối với tất cảcác thành phần kinh tế và tất cả đều được bỡnh đẳng NHCT –HBT đó đáp ứng đầy
đủ, kịp thời mọi nhu cầu về vốn cho cỏc thành phần kinh tế Ưu tiên đầu tư tập trungcho các dự án trọng điểm, những ngành nghề then chốt mũi nhọn quan tâm đến cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ để giúp các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, cải tiến quitrỡnh cụng nghệ, hạ giỏ thành, cạnh tranh và thay thế hàng ngoại nhập, góp phần vàocông nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn năm 2007 tăng 3.832 Triệu đồng so vớinăm 2006, đạt 0,8% so với kế hoạch được giao, chiếm tỷ trọng khá cao là 69.64% LuËn v¨n tèt nghiÖp §ç thÞ thuú d¬ng 04D02515
Chỉ tiêu
Số tiền
Tỷ trọng
%
Số tiền Tỷ trọng
%
Số tiền +/-
Tỷ lệ% +/-