Thực trạng công tác tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông
Trang 1Lời mở đầu
Tổ chức và quản lý tiêu thụ sản phẩm là một chức năng quan trọng có vaitrò quyết đinh tới sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp Ngày nay,trong cơ chế thị trường đầy biến động, doanh nghiệp không chỉ phải đưa rasản phẩm gi? Giá bao nhiêu? Ra thị trường mà còn phải phân phối chúng nhưthế nào? Và lúc nào? Khi thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, việc dànhđược lợi thế cạnh tranh là hết sức khó khăn, các chiến lược quảng cáo, xúctiến khuyếch trương, giảm giá chỉ có tác dụng trong một thời gian ngắn bởi nórất dễ bị bắt chước thì các doanh nghiệp muốn có một lợi thế lâu dài hơn Đểđạt được mong muốn này, các doanh nghiệp phải triển mạng lươi kênh phânphối của mình Đây là nhân tố duy nhất giúp doanh nghiệp có thể duy trìđược lợi thế của minh trong thời gian dài vì nó đòi hỏi đầu tư thời gian, sứclực, trí tuệ, tiên của….và phụ thuộc khá nhiều vào các mối quan hệ nên ngoàigiữa các doanh nghiệp có một hệ thống phân phối tốt không dễ bị mất lợi thế Xuất phát từ ý nghĩa và vai trò đó, các nhà sản xuất kinh doanh khôngngừng hoàn thiện công tác tiêu thụ sản phẩm sao cho phù hợp với sự cạnhtranh ngày càng gay gắt, phức tạp của nền kinh tế thị trường và làm thế nào
để đẩy mạnh năng suất của công ty
Cung cấp sản phẩm bóng đèn và phích nước được trên 45 năm, công tybóng đèn phích nước Rạng Đông không nằm ngoài quy luật thị trường cũngnhư sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường Bóng đèn phích nước Rạng Đôngvới hoạt động chính là sản xuất kinh doanh các sản phẩm phích nước nóng vàbóng đèn điện các loại, đã không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và đẩymạnh tiêu thụ và tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm đang trở thành vấn đề bứcxúc nhất và được đặt lên vị trí quan tâm hàng đầu của công ty
Trang 2Xuất phát từ quan điểm này, trong thời gian được về thực tập tại Công tyBóng đèn Phích nước Rạng Đông, tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu về công tác tiêuthụ sản phẩm của công ty thông qua đề tài: “Nâng cao công tác quản lý tiêuthụ sản phẩm trên thị trường tại công ty cổ phần Bóng đèn phích nước RạngĐông”
Trang 3Chương I: Cơ sở lý luận về sản phẩm và công tác quản lý tiêu thụ sản
phẩm trong doanh nghiệp
Sản phẩm là kết quả của quá trình hoạt động của tất cả các ngành sản xuấtvật chất và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân Như vậy, sản phẩm không chỉ
là những sản phẩm thuần vật chất mà còn bao gồm các dịch vụ
Sản phẩm được chia làm 2 nhóm chính:
- Nhóm sản phẩm thuần vật chất: Là những vật phẩm mang các đặc tính lýhóa nhất định
- Nhóm sản phẩm phi vật phẩm: là các dịch vụ, thông tin
1.1.2 Đặc điểm của sản phẩm
Đặc điểm sản phẩm là tất cả các đặc tính vốn có của sản phẩm qua đó sảnphẩm tồn tại và để có thể phân biệt được sản phẩm này và sản phẩm khác Nghiên cứu tính chất, đặc điểm của sản phẩm giúp xác định được quá trìnhgia công, chế tạo thích hợp và trang bị những kiến thức để khảo sát, quyết
Trang 4định các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm, xác định những biện pháp, điềukiện bảo vệ chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất và lưu thông tiêudùng.
Mỗi sản phẩm đều có một số giá trị sử dụng nhất định mà giá trị sử dụngcủa sản phẩm lại tạo thành từ thuộc tính cụ thể Có thể nêu ra một số đặc tínhcủa sản phẩm như sau:
Thứ nhất: Nhóm đặc điểm, chức năng, công dụng: Đây là nhóm thuộc tính
quyết định giá trị sử dụng của sản phẩm nhằm thõa mãn một loại nhu cầu nào
đó, trong điều kiện xác định phù hợp với tên gọi
Thứ hai: Nhóm đặc điểm công nghệ: Nhóm thuộc tính này rất đa dạng và
phong phú, các đặc tính về kỹ thuật có quan hệ hữu cơ với đặc tính công nghệcủa sản phẩm Đây là nhóm tính chất quan trọng nhất trong việc thẩm định,lựa chọn cải tiến, thiết kế sản phẩm mới Việc nghiên cứu thành phần hóa họccủa nguyên vật liệu đến các tính chất cơ, lý, điện, hóa, sinh…giúp xác địnhquy trình chế tạo sản phẩm, xác định các phương pháp bảo quản Mặt khác,các đặc tính về công nghệ lại quyết định chất lượng của sản phẩm như cấutrúc kích thước, khối lượng, các thông số kỹ thuật, độ bền, độ tin cậy
Thứ ba: Nhóm thuộc tính sinh thái: Sản phẩm phải đảm bảo yêu cầu về môi
sinh, không gây ô nhiễm môi trường khi sử dụng, đảm bảo tính an toàn, thuậntiện trong quá trình sử dụng, vận chuyển, bảo dưỡng… Ngoài ra, sản phẩmcòn thể hiện tính phù hợp giữa sản phẩm với môi trường, sản phẩm với người
sử dụng, đảm bảo vệ sinh và tâm lý của người sử dụng sản phẩm
Thứ tư: Nhóm đặc tính thẩm mỹ: Thẩm mỹ là thuộc tính quan trọng,
ngày càng được đề cao khi đánh giá chất lượng sản phẩm những đặc tínhthẩm mỹ phải biểu hiện:
- Kiểu cách, kết cấu phù hợp với công dụng của sản phẩm, phù hợp với đốitượng sử dụng và với môi trường
Trang 5- Hình thức trang trí phải phù hợp với từng loại sản phẩm, cái đẹp của sảnphẩm phải được thể hiện được trong từng không gian cụ thể.
- Tính thẩm mỹ của sản phẩm phải thể hiện kết hợp giữa giá trị sử dụng vớigiá trị thẩm mỹ
Thứ năm: Nhóm đặc điểm kinh tế - xã hội: Nhóm đặc điểm này quyết định
mức chất lượng sản phẩm, phản ánh phí lao động xã hội cần thiết để cải tạosản phẩm, cùng những chi phí thỏa mãn nhu cầu Đây là đặc tính quan trọngkhi thẩm định thiết kế sản phẩm được thực hiện qua các chỉ tiêu như: chi phísản xuất thấp, giá cả hợp lý, phí bảo dưỡng, sử dụng vừa phải, phù hợp vớinhu cầu thị hiếu, lợi nhuận cao, khả năng sinh lợi lớn trong khi sử dụng
1.1.3 Vai trò của sản phẩm
Trên thị trường hiện nay sản phẩm có rất nhiều vài trò quan trọng phải kểđến là:
-Do nhu cầu hàng hóa hiện nay trên thế giới là vấn đề cấp thiết.Sản phẩm sinh
ra đáp ứng nhu cầu, thị yếu của người tiêu dùng
- Cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng: khi nhà sản xuất ra sản phẩmthì người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ Có người tiêudùng mới có sản phẩm Vì thế sản phẩm là cầu nối giữa nhà sản xuất và ngườitiêu dùng
- Từ việc trao đổi thông thường mở rộng quan hệ hợp tác thông qua trao đổisản phẩm Việc trao đổi sản phẩm nhỏ thì ở các tỉnh này qua tỉnh khác lớn thìgiữa các nước với nhau Vì sản phẩm là đặc thù riêng của nó, nhu cầu ngườidân thì cao nên việc quan hệ giữa các nước với nhau ngày càng được mởrộng
- Công nghệ ngày càng cao thì sản phẩm có chất lượng về mẫu mã và giá trị
sử dụng của nó đáp ứng cho nhu cầu người dân được tốt hơn Vì thế côngnghệ sản xuất đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm
Trang 6* Có thể chia thành 3 loại sản phẩm sử dụng thường ngày:
- Sử dụng thường được mua đều đặn: khi hết ngày, người dân phải mua ngaychứ không cất trữ
- Sản phẩm mua ngẫu hứng: không có kế hoạch từ trước và người tiêu dùng
không có chủ ý tim kiếm, họ chỉ mua khi thấy thích hoặc nhận thấy có lợi íchtrước mắt nào đó đang cần
- Sản phẩm mua khẩn cấp được khách hàng mua khi xã hội có nhu cầu cấp
bách
- Sản phẩm mua có sự lựa chọn: Là những sản phẩm có giá trị cao, thời gian
sử dụng lâu bền Lúc đó, người tiêu dùng thường so sánh, cân nhắc các chỉtiêu công dụng, chất lượng, giá cả và cấu hình bên ngoài; thường phải lên kếhoạch từ trước để thu nhập thông tin và tích lũy tài chính
- Sản phẩm có nhu cầu đặc biệt: Là những sản phẩm có tính chất hết sức đặc
biệt và đặc biệt riêng về mặt tinh thần Sản phẩm theo nhu cầu đặc biệt có giáthành rất cao, không đòi hỏi người mua phải so sánh cân nhắc người tiêu dùngsẵn sàng bỏ thêm thời gian, tiền của và công sức để tìm kiếm sản phẩm
- Sản phẩm có nhu cầu thụ động: Là những sản phẩm mà người tiêu dùng
không biết hoặc nếu biết thì cũng không nghĩ đến việc mua chúng, ngay cả cónhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá
Trang 71.2 Tiêu thụ sản phẩm và công tác quản lý tiêu thụ sản phẩm
1.2.1 Các khái niệm:
- Tiêu thụ sản phẩm là hoạt động quyết định sự thành bại của một doanh
nghiệp, để quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục thì các doanh nghiệpphải tiêu thụ được sản phẩm của mình đã sản xuất ra Tiêu thụ sản phẩm còn
là một trong sáu chức năng cơ bản của doanh nghiệp: Tiêu thụ, hậu cần, kinhdoanh, tài chính, kế toán và giá trị doanh nghiệp Vậy tiêu thụ là gì ?
Theo quan điểm truyền thống của quản trị kinh doanh: “Tiêu thụ là hoạtđộng đi sau sản xuất, chỉ được thực hiện khi đã sản xuất được”.- Trích nguồn Theo quan điểm hiện đại: “Tiêu thụ sản phẩm là một quá trình thực hiệntổng thể các hoạt động có mối quan hệ logic và chặt chẽ bởi một tập hợp cánhân, doanh nghiệp phụ thuộc lẫn nhau nhằm thực hiện quá trình chuyển hóa
từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng” Trích nguồn
Có định nghĩa cho rằng: “Tiêu thụ sản là quá trình đơn vị bán xuất giaosản phẩm hàng hóa cho đơn vị mua và thu được khoản tiền và số sản phẩmđó” Trích nguồn
Thời điểm tiêu thụ sản phẩm là thời điểm đơn vị mua trả tiền hoặc chấpnhận trả tiền số sản phẩm đó
Thực hiện tiêu thụ sản phẩm các doanh nghiệp mới hoàn thành quá trìnhsản xuất kinh doanh, đảm bảo cho quá trình sản xuất được thường xuyên, liêntục, giúp cho vốn trở về hình thái ban đầu của nó
Đứng trên góc độ luân chuyển vốn: “Tiêu thụ sản phẩm là một quá trìnhchuyển hóa hình thái giá trị của vốn từ hình thái sản phẩm hàng hóa sang hìnhthái tiền tệ làm cho vốn trở thành hình thái ban đầu khi nó bước vào mỗi chu
kỳ sản xuất” Trích nguồn
- Công tác quản lý tiêu thụ sản phẩm là toàn bộ tất cả các bước của quá trình
tiêu thụ trong đó mỗi bước thực hiện một chức năng nhiệm vụ để hoàn thành
Trang 8mục tiêu đề ra Quản lý tiêu thụ là hoạt động quản lý của những người thuộclực lượng bán hàng hoặc hỗ trợ trực tiếp cho lực lượng bán hàng Hai mụctiêu của quản lý tiêu thụ là con người và lợi nhuận Những công ty thành côngđều có hàng loạt mục tiêu được xác định rõ ràng với những chiến lược để đạtmục tiêu ấy Thông thường những mục tiêu này được cụ thể hóa thành nhữngchỉ tiêu tăng trưởng về lợi nhuận và doanh số, sau đó được chi tiết hóa theo hệthống tổ chức của công ty đến từng định mức cho từng vùng địa phương.Điểm cuối cùng của dây chuyền lệnh ấy là những người đại diện bán hàng.Nếu người đại diện bán hàng không chân thành nỗ lực bán sản phẩm của công
ty thì hầu hết doanh nghiệp sẽ rất khó khăn nếu không muốn nói rằng hầu nhưkhông thể đạt được những mục tiêu đề ra Người có trách nhiệm cuối cùng vềviệc thi hành nhiệm vụ của người đại diện bán hàng là người quản lý côngviệc bán hàng theo lĩnh vực
Quản lý tiêu thụ đảm bảo tăng doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp.Thực hiện việc quản lý tiêu thụ sản phẩm sẽ đảm bảo yêu cầu biểu hiện mặtkinh tế và biểu hiện mặt lượng kết quả công tác bán hàng của doanh nghiệp.Lợi nhuận cao là mục tiêu trực tiếp của doanh nghiệp, giữa doanh số tăng vàlợi nhuận không phải luôn đồng hướng Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệtcủa thị trường, cái mà doanh nghiệp cần quan tâm hàng đầu không phải làmức lợi nhuận tối đa cho một đơn vị sản phẩm mà là tổng lợi nhuận Mặtkhác, doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào cơ cấu sảnphầm hàng hóa tiêu thụ, và các chính sách vĩ mô của Nhà nước
Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động bán hàng trong doanh nghiệp ta
có thể thấy hoạt động của quản lý bán hàng thường được thực hiện tốt sẽ đạthiệu quả cao, tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp Hiệu quả của quản lý bánhàng còn được thể hiện ở việc uy tín của doanh nghiệp để nâng cao, ngày
Trang 9càng có nhiều cửa hàng đến với doanh nghiệp Do đó giảm chi phí, tăng thịphần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
1.2.2 Đặc điểm công tác tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm là công việc hàng ngày của mỗi doanh nghiệp đồng thờicũng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh Trong thời đại bùng
nổ thông tin, thời đại khoa học phát triển như vũ bảo, sản phẩm tiêu thụ có tớihàng vạn hàng nghìn loại khác nhau, có những sản phẩm mới ra đời, cónhững sản phẩm nằm trong dự đoán, có những sản phẩm chiếm lĩnh thịtrường…làm cho nhu cầu tiêu dùng trên thị trường thường xuyên thay đổi Vìvậy tiêu thụ sản phẩm trên nền kinh tế thị trường là việc rất khó khăn Trongthực tế hoạt động kinh doanh cho thấy có những doanh nghiệp tồn đọng hàng
tỷ đồng vốn trong sản xuất do không tiêu thụ được sản phẩm, để thu hồi vốnnày doanh nghiệp phải bán sản phẩm với giá rẻ, thấp hơn giá thành, chấpnhận thua lỗ, sở dĩ xảy ra tình trạng này là do các sản phẩm làm ra kém chấtlương, không phù hợp với nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng, sản phẩmsản xuất ra nhiều trong khi nhu cầu tiêu thụ lại thấp, định giá sản phẩm quácao, chưa làm cho người tiêu dùng hiểu được giá trị sản phẩm…
Vì thế quá trình công tác tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp phải đạtđược những yếu tố sau:
Tăng thị phần của doanh nghiệp: giữ vững và mở rộng thị trường( tăng thịphần thị trường) là một trong những yêu cầu hàng đầu của quản lý
Đảm bảo tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
Bảo đảm và năng cao hiệu quả tiêu thụ: để tổ chức quản lý tiêu thụ sảnphẩm ở các doanh nghiệp cần tiến hành tốt các hoạt động quảng cáo, tổ chứcmarketing, giao nhận, phương tiện vận chuyển, các phương thức thanh toán…
Trang 10Tăng tài sản vô hình của doanh nghiệp, đó chính là tăng uy tín đối củadoanh nghiệp nhờ tăng niềm tin đích thực của người tiêu dùng đối với sảnphẩm của doanh nghiệp.
Phục vụ khách hàng góp phần vào việc thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế- xãhội của đất nước Yêu cầu này thể hiện một khía cạnh chức năng xã hội củadoanh nghiệp và khẳng định vị trí của doanh nghiệp như một tế bào trong hệthống nền kinh tế quốc dân
1.2.3 Hiệu quả công tác quản lý tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp
Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả khối lượng sản phẩm củadoanh nghiệp tiêu thụ được thể hiện dưới hai hình thức là hiện vật và giá trị Hình thức hiện vật có ưu điểm là biểu hiện cụ thể khối lượng đang tiêu thụ,tường loại hàng, song hình thức này không tổng hợp và không so sánh đượcthông qua các công thức sau chúng ta tìm hiểu đánh giá hiệu quả công tác tiêuthụ sản phẩm trong doanh nghiệp:
-Khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong một năm hoặc trong một kỳ được tínhtheo công thức
Lượng tồn kho đầu năm + lượng sản xuất trong năm – lượng tồn cuối năm-Số lượng tồn kho đầu năm tiêu thụ trong năm hình thức hiện vật là chỉ tiêuphản ánh bằng tiền của khối lượng sản phẩm bán ra và doanh nghiệp đã thuđược doanh thu hoặc lấy giấy báo của ngân hàng
Doanh số( doanh thu)= Khối lượng tiêu thụ trong năm xuất giá bán
KT n Q Gi. i
TRong đó Qi: Giá trị sản phẩm hàng hóa thực hiện
Gi : Lượnghàng hóa loại I được tiêu thụ
Trang 11Kt giá bán hàng hóa i
Chỉ tiêu so sánh kết quả đạt được của từng mặt hàng trong quá trình tiêu thụ
Hệ số tiêu thụ=
Hệ số này đánh giá mức độ tiêu thụ sản phẩm và cho biết mức độ hoàn thành
kế hoạch tiêu thụ của sản phẩm của doanh nghiệp
( Hệ số này càng gần bằng 1 thì hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Doanh thu = Sản lượng tiêu thụ x Giá bán
Qua đây chúng ta biết được hiệu quả của công tác quản lý tiêu thụ sản phẩm
phụ thuộc vào các yếu tối về giá bán… muốn hiệu quả tốt doanh
nghiệp phải biết thực hiện cho mình các chỉ tiêu đúng đắn
1.2.4 Nội dung công tác tiêu thụ sản phẩm
a Nghiên cứu và dự báo thị trường.
Các doanh nghiệp trước khi tiến hành sản xuất để cho sản phẩm của mình
có thể tiêu thụ được thì điều quan tâm đầu tiên là phải tiến hành nghiên cứuthị trường, điều tra thị trường để nắm được nhu cầu, tình hình cạnh tranh trêntiêu thụ từ đó hướng sản xuất vào nh cầu đó, đồng thời phải có những giảipháp để chiến thắng trong cạnh tranh Qua đó thì thị trường sẽ cung cấp chodoanh nghiệp thong tin về các danh mục những sản phẩm hàng hóa được tiêuthụ, và sự phù hợp của chủng loại hàng hóa để quyết định mở rộng hay thuhẹp mặt hàng mà mình sản xuất
Trong nghiên cứu thị trường gồm: nghiên cứu về cầu sản phẩm và nghiên
- Nghiên cứu về cầu sản phẩm: là nghiên cứu nhu cầu có khả năng thanh toáncủa thị trường về sản phẩm đó Nghiên cứu cầu về sản phẩm giúp doanhnghiệp xác định được nhu cầu trong hiện tại và tương lai, thông qua các đốitượng có cầu: các doanh nghiệp, gia đình và các tổ chức xã hội khác Nếu làvật phẩm tiêu dùng thì nghiên cứu cầu cần phân nhóm theo các tiêu thức cụ
Trang 12thể như độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, mức thu nhập… hoặc có thể phân chiacầu theo khu vực tiêu thụ, mật độ dân cư, các thói quen tiêu dùng cũng nhưtính chất mùa vụ.
Nếu cầu là tư liệu sản xuất: Phải nghiên cứu số lượng và quy mô của doanhnghiệp có cầu, tính chất sử dụng sản phẩm hiện tại và khả năng thay đổi trongtương lai, ngoài ra chú ý tới nhu cầu sản phẩm thay thế
Thường xuyên nghiên cứu thị trường sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt đượcthay đổi của cầu do tác động của các nhân tố như: mốt, sự ưa thích, sản phẩmthay thế, thu nhập và mức sống của người tiêu dùng Biết được thông tin phảnhồi về phản ứng của người tiêu dùng trước sản phẩm, các biện pháp quảngcáo, các phản ứng của đối thủ cạnh gtranh trước những chính sách bán hàngmới của doanh nghiệp Giải thích được những thay đổi do phát triển của toàn
bộ ngành kinh tế - kĩ thuật, nguyên nhân mùa vụ hay suy thoái kinh tế
Nghiên cứu thị trường tạo ra cơ sở dữ liệu về thị trường, tìm ra khả năng cóthể ảnh hưởng tới cầu như: giá cả, sản phẩm, giá cả sản phẩm thay thế, nhucầu của người tiêu dùng, các biện pháp quảng cáo cũng như độ co dãn của cầuđối với từng nhân tố tác động tới nó
- Nghiên cứu cung: Nghiên cứu về đối thủ cạnh tranh hiện tại và tương lai,thường doanh nghiệp trước tiên quan tâm đến đối thủ cạnh tranh hiện đangchiếm thị phần cao trong thị trường
Nghiên cứu cung là xác định được số lượng đối thủ cạnh tranh hiện tại vàtiềm ẩn, quan sát và phân tích các nhân tố có ý nghĩa đối với chính sách tiêuthụ của đối thủ như thị phần, chương trình sản xuất, chất lượng và chính sáchkhác biệt hóa sản phẩm, chính sách giá cả, phương pháp quảng cáo và bánhàng, chính sách phục vụ khách hàng cũng như các điều kiện thanh toán vàtín dụng Phải làm rõ khả năng phản ứng của đối thủ trước các giải pháp vềgiá cả, quảng cáo, xúc tiến bán hàng… của doanh nghiệp mình
Trang 13Doanh nghiệp phải quan tâm đến ảnh hưởng của sản phẩm thay thế của cácdoanh nghiệp trong nước và quốc tế, vì càng ngày hàng ngoại nhập càng trànvào nhiều, doanh nghiệp cần có thông tin để có phản ứng chủ động.
Doanh nghiệp có thể sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: nghiên cứuchi tiết, nghiên cứu tổng hợp, nghiên cứu trực tiếp, nghiên cứu gián tiếp
Quảng cáo là dùng những phương tiện thông tin đại chúng để truyền tin vềsản phẩm của doanh nghiệp đến khách hàng cuối cùng trong một khảng thờigian, không gian nhất định để thuyết phục người mua công chúng mục tiêu, làmột công cụ xúc tiến rất hữu hiệu Đó là mọi hình thức trình bày giám tiếp vàkhuyếch trương ý tưởng, hàng hóa hay dịch vụ được người bảo trợ nhất địnhtrả tiền
Ngày nay, với sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ, đời sốngngày một nâng cao, yêu cầu người tiêu dùng ngày một cao, các đối thủ cạnhtranh ngày càng mạnh, quảng cáo là phương tiện truyền tin thiết yếu của cácdoanh nghiệp để truyền bá thông tin về sản phẩm và thương hiệu của mình đểkhách hàng biết đến
Nội dung quảng cáo: Thông qua thông điệp quảng cáo, các phương tiệntruyền tin, công ty tiến hành giới thiệu về sản phẩm, về công ty, về tính năng
sử dụng của sản phẩm, tính ưu việt của sản phẩm để khách hàng biết đến sảnphẩm của doanh nghiệp mình
Trang 14- Xúc tiến bán hàng là các hoạt động gây mối liên hệ giữa doanh nghiệp vàkhách hàng Xúc tiến bán hàng là tất cả những gì mà doanh nghiệp làm đểkhiến khách hàng mua hàng khi đến cơ sở của doanh nghiệp hoặc khi tiếp xúcvới doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào.
c Xây dựng và phát triển kênh phân phối.
Phân phối là toàn bộ các hoạt động nhằm đưa sản phẩm từ nơi sản xuấtđến khách hàng cuối cùng một cách tốt nhất
Để hoạt động phân phối diễn ra doanh nghiệp xây dựng kênh để lưuchuyển hàng hóa của doanh nghiệp mình Kênh phân phối gồm tổng thể cácthành viên gồm doanh nghiệp kinh doanh thương mại, trung gian, người tiêudùng tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm, nhờ đó mà sản phẩm đượcbán và vận động từ tay người sản xuất tới tận tay người tiêu dùng cuối cùng Nội dung: dựa vào số cấp của kênh có thể chia làm hai hệ thống kênh phânphối là phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp
Kênh phân phối trực tiếp ( kênh cấp không) chỉ gồm người sản xuất bánhàng trực tiếp cho khách hàng cuối cùng Gồm các phương thức: bán hànglưu động, bán hàng qua Tivi, qua trang web của công ty và các của hàng, đại
lý đại diện của ng sản xuất
Với loại hình kênh phân phối này nhà sản xuất duy trì được quyền kiểmsoát chặt chẽ đối với mức độ đảm bảo dịch vụ, đề cao hình ảnh của nhà sảnxuất với khách hàng
Song nhược điểm của nói là: do nhu cầu xã hôi là quá lớn, doanh nghiệpkhó có thể tự mình phân phối, tính toán hết tới mọi nhu cầu của các nhómngười tiêu dùng được do đó rất khó khăn trong lập kế hoạch kinh doanh, kếhoạch sản xuất và kế hoạch tiêu thụ…
Trang 15Kênh phân phối gián tiếp: gồm người sản xuất, các trung gian và ngườitiêu dùng, hàng hóa từ tay nhà sản xuất, luân chuyển qua các trung gian rồimới tới tay người tiêu dùng.
Nhược điểm: người sản xuất thu nhận thông tin về những người sử dụngcuối cùng và thực hiện việc kiểm soát đối với trung gian trong việc thực hiệncác dịch vụ và khả năng người sản xuất chỉ đạo giá cả sẽ khó khăn hơn
Ưu điểm: hàng hóa đến tay người tiêu dùng nhanh chóng hơn, dễ dàngthỏa mãn nhu cầu khách hành mau hơn khi họ đòi hỏi địa điểm phải hết sứcthuận tiện, tăng phạm vi bao quát và mức tiêu thụ
Việc xác định hệ thống kênh phân phối của người sản xuất phát triển phùhợp với những cơ hội và điều kiện về tính chất của sản phẩm, thị trường màdoanh nghiệp cần hướng tới
Những sản phẩm mau hỏng, dễ vỡ đòi hỏi không chậm trễ, giảm thiểu việcbốc xếp nhiều lần do đó thích hợp kênh trực tiếp, kênh ít cấp
Những sản phẩm là hàng hóa thông dụng như: thuốc lá, xăng dầu, xà bông,thực phẩm ăn vặt…doanh nghiệp thường áp dụng chiến lược phân phối ồ ạt(sử dụng kênh nhiều cấp)
Khi thiết kế kênh doanh nghiệp cần tìm hiểu xem khu vực thị trường nàodoanh nghiệp sẽ muốn chinh phục, tìm hiểu địa điểm, nhu cầu của khách hàng
ở những khu vực đó ra sao
Một kênh phân phối có hiệu quả phải đảm bảo các yêu cầu: về tính linhhoạt trong giao hàng, thời gian, địa điểm, lượng hàng có thể cung ứng, đadạng sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ (tín dụng, giao hàng tận nhà, sữa chữa)
Ngoài ra thiết kế kênh phải quan tâm đến các yếu tố của môi trường: tìnhhình kinh tế ở khu vực xây dựng kênh, quy định của phát luật, luật pháp,không chấp nhận những cách tổ chức kênh “có thể có xu hướng tạo ra một tổchức độc quyền”
Trang 16Ngoài ra doanh nghiệp cần phải xác định rõ nghiệp vụ và trách nhiệm củanhững thành viên tham gia kênh để ràng buộc và kiểm soát họ.
d Hoạt động bán hàng
Bán hàng là hoạt động người mua và người bán gặp trực tiếp để trao đổi vềđiều kiện mua hàng và nói chỉ diễn ra khi mà cả hai bên thương lượng đồng ý,người bán chấp nhận giá mà người mua trả và người mua hài lòng với mứcgiá người bán đưa ra
Bán hàng là khâu quan trọng trong công tác tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp, nó là quá trình mà giá trị hàng hóa được thực hiện Qua hoạt động bánhàng hàng hóa đến được tay người tiêu dùng, doanh nghiệp thu được doanhthu, lợi nhuận còn khách hàng có được giá trị sử dụng của hàng hóa Qua bánhàng doanh nghiệp thu hồi được vốn, thực hiện tái sản xuất, kinh doanh
Hoạt động bán hàng càng được đẩy mạnh thì càng giảm được các khoảnchi phí lưu thông, tăng tối đa được công suất của máy móc, thiết bị Thực hiệntốt các hoạt động bán hàng là cơ hội để doanh nghiệp duy trì, phát triển và mởrộng thị trường
Thực hiện tốt các hoạt động bán hàng giúp doanh nghiệp tìm kiếm đượcthông tin về giá cả, các mặt hàng mới từ đó mà có các chiến lược kinh tế mới Doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác bán hàng để chocông tác bán hàng phù hợp với cơ chế thị trường trong từng giai đoạn, hoàncảnh cụ thể
Có 2 phương thức bán hàng:
Bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng: đây là hình thức mà kênh phân phốicủa doanh nghiệp là trực tiếp Khách hàng và người tiêu dùng trực tiếp gặpnhau và trao đổi thỏa thuận về giá bán
Trang 17Bán hàng qua các đại lý, trung gian: là hình thức bán hàng qua kênh phânphối nhiều cấp Hàng hóa chưa tới trực tiếp tay người tiêu dùng ngay mà nócòn phải qua tay người trung gian mới tới tay người tiêu dùng.
e Tổ chức dịch vụ hậu mãi
Để duy trì, cũng cố và mở rộng hoạt động tiêu thụ sản phẩm cũng như thịtrường của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần tổ chức tốt hoạt động dịch vụ saubán hàng là điều kiện không thể thiếu
Yêu cầu của dịch vụ sau bán hàng là: đảm bảo nhanh chóng, thuận tiện,không được gây khó khăn cho khách hàng
Yêu cầu tổ chức dịch vụ sau bán hàng là đảm bảo chất lượng cung cấpdịch vụ và tính hiệu quả
Có 3 hoạt động hậu mãi cho khách hàng:
Thứ nhất: hướng dẫn và bảo hành:
- Cung cấp cho khách hàng phiếu giải thích cách thức sử dụng kèm theo sảnphẩm Nội dung giải thích đầy đủ, trình bày ngắn gọn và thật dễ hiểu
- Nhân viên bán hàng trực tiếp hướng dẫn khách hàng cách sử dụng
- Thực hiện lắp đặt và hướng dẫn sử dụng đối với các sản phẩm đòi hỏi yêucầu kỹ thuật nhất đinh khi lắp đặt, sử dụng
- Thực hiện tốt, chu đáo công tác bảo hành sản phẩm theo đúng thời hạn vànội dung đã ghi trên phiếu bán hàng Phải tổ chức mạng lưới các điểm dịch vụbảo hành rộng khắp, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng có cầu về dịch vụbảo hành, sữa chữa
- Bố trí đội ngũ nhân viên bảo hành , sửa chữa có trình độ tay nghề cao và
có trách nhiệm, nhiệt tình với khách hàng
- Thực hiện đúng các cam kết với khách hàng nếu doanh nghiệp vẫn muốnchiếm được lòng tin và cảm tình của khách hàng, không bị thất bại trong cạnhtranh
Trang 18- Đối với các thiết bị phải tổ chức kiểm tra định kỳ tại nơi khách hàng sửdụng, điều chỉnh và đưa ra những lời khuyên cần thiết.
Thứ hai: Cung cấp phụ tùng và dịch vụ sản chữa:
- Tính toán sản xuất và tổ chức bán hàng phụ tùng thay thế phù hợp với tuổithọ của từng loại phụ tùng cụ thể
- Tổ chức dịch vụ sửa chữa rộng khắp, tạo điều kiện thuận lợi cho kháchhàng
Thứ ba: Kết hợp với hoạt động bảo hành và sữa chữa là hoạt động thu nhập
thấp, phân tích các thông tin về sản phẩm và phản hồi về cho bộ phận thiết kế
- Ảnh hưởng của loại sản phẩm:
Sản phẩm là những loại hàng hóa dịch vụ có khả năng thỏa mãn nhu cầucủa khách hàng, do các doanh nghiệp sản xuất bán ra thị trường để kiếm lời.Sản phẩm là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị và sử dụng
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà người ta có các phân loại sảnphẩm theo mức độ cạnh tranh, phân loại sản phẩm theo quan hệ sử dụng,phân loại sản phẩm theo nhu cầu tiêu dùng
- Chất lượng sản phẩm:
Nâng cao chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trong thúc đẩy công tác tiêuthụ sản phẩm của doanh nghiệp Khi chất lượng sản phẩm được nâng cao làm
Trang 19tăng uy tín của doanh nghiệp dẫn đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ đượcnhiều hơn, hơn nữa giúp cho doanh nghiệp có điều kiện nâng cao giá bán mộtcách hợp lý do đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng doanh thu và tăng lợinhuận của doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm là giá trị tăng thêm của sản phẩm, sản phẩm sản xuất
ra có thể phân chia thành nhiều loại I, loại II, loại III,…mỗi loại có các giábán khác nhau Nếu doanh nghiệp biết tổ chức thu hoạch, chế biến, bảo quảnthì sản phẩm thu được có chất lượng cao Ngược lại nếu thi công chậm dẫnđến chất lượng kém
Như vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa rất quan trong tới việcnâng cao uy tín của doanh nghiệp Nó là sợi dây vô hình thắt chặt khách hàngvới doanh nghiệp, tạo điều kiện cho tiêu thụ sản phẩm được dễ dàng
- Giá cả sản phẩm tiêu thụ:
Giá cả sản phẩm có tác động rất lớn đến quá trình tiêu thụ sản phẩm Vềnguyên tắc, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa và giá cả xoayquanh giá trị Trong cơ chế thị trường hiện nay, ngoài sự ảnh hưởng của quyluật giá trị, giá cả do quy luật cung cầu trên thị trường quyết định do đó doanhnghiệp hoàn toàn có thể sử dụng giá cả như một công cụ sắc bén để đẩy mạnhtiêu thụ sản phẩm
Như vậy, các quyết định về giá cả sản phẩm sản xuất ra của doanh nghiệp,ngoài một số loại có tính chất chiến lược được Nhà nước bảo hộ và can thiệpvào việc định giá, còn đối với những mặt hàng khác giá cả được hình thànhtrên cơ sở giá trị hàng hóa và quan hệ cung cầu
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Công tác tổ chức bán hàng, thanh toán của doanh nghiệp
- Quảng cáo giới thiệu sản phẩm:
Trang 20Trong nền kinh tế thị trường, quảng cáo còn là một vấn đề có tính chất chiếnlược của sản xuất và tiêu thụ
1.3.2 Yếu tố khách quan:
Là những nhân tố bên ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp có ảnh hưởngtrực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tiêu thụ sản phẩm củadoanh nghiệp bao gồm:
- Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô: kinh tế,chính trị, luật pháp, văn hóa xãhội, khoa học công nghệ, địa lý….ảnh hưởng tới công tác tiêu thụ của doanhnghiệp như trong việc xác định kênh, tổ chức bán hàng…
- Các yếu tố thuộc về đối thủ cạnh tranh: gồm đối thủ cạnh tranh hiện tại vàđối thủ cạnh tranh tiềm ẩn của doanh nghiệp là một yếu tố vô cùng quan trọngảnh hưởng tới sự sống còn của doanh nghiệp
Hiểu biết sâu sắc về những gì đang xảy ra trong thị trường, những đối thủcạnh tranh với mình là ai? ở đâu? Và cần phải làm gì để cạnh tranh trên thịtrường là một yêu cầu quan trọng cần thiết với tất cả các doanh nghiệp.tan Theo dõi sát sao và phân tích những hành động về kinh doanh cũng nhưcác chiến lược quảng bá của đối thủ cạnh tranh trực tiếp sẽ giúp doanh nghiệpphản ứng kịp thời với những chiến dịch lớn của đối thủ cạnh tranh và địnhhướng được chiến dịch tương lai cho phù hợp với doanh nghiệp mình Kiểmtra lượng hàng hóa trên thị trường có biện pháp ngăn chặn hàng giả, hàngnhái, hàng kém chất lượng
Trang 21Chương II: Thực trạng công tác tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần
Bóng đèn Phích nước Rạng Đông
2.1 Khái quát về công ty cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông
2.1.1 Khái quát về công ty
Tên công ty: Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông
Tên giao dịch: Rang Dong light source and vaccum flask share company
Tên giao dịch viết tắt: Ralaco
Địa chỉ trụ sở chính: 87- 89 Hạ Đình – Thanh Xuân – Hà Nội
Địa chỉ cơ sở 2: Khu công nghiệp Quế Võ – Bắc Ninh
Sứ mệnh Rạng Đông: Rạng Đông sản xuất, cung cấp các sản phẩm chiếu sáng
đa dạng, đồng bộ có chất lượng cao, các giải pháp chiếu sáng hiệu quả nhằm nângcao lợi ích người tiêu dung, nâng cao chất lượng cuộc sống
2.1.2 Quá trình hình thành của công ty
Công ty Bóng đèn phích nước Rạng Đông ngày nay có tên giao dịch làRangDong light source and Cacuum Flask Company, trực thuộc Tổng công tysành sứ thủy tinh Công nghiệp và cũng trực thuộc Bộ Công nghiệp quản lý.Công ty được khởi công xây dựng vào tháng 5 năm 1959 theo thiết kế củaTrung Quốc, đến tháng 6 năm 1962 thì hoàn thành đưa vào sản xuất thử Đếnngày 27 tháng 1 năm 1963 Công ty chính thức đi vào sản xuất Công ty nằmtrong khu công nghiệp Thượng Đình, trên Km7 quốc lộ 6, tại 15 phố Hạ Đình
Trang 22- Thanh Xuân - Hà Nội với diện tích mặt bằng ….Trên mặt bằng nhà máyhiện nay có 45 hạng mục công trình với diện tích xây dựng là 20696 m2 chưa
kể diện tích sân bãi và đường xá Tháng 6 năm 1994 chính thức đổi tên nhàmáy thành Công ty Bóng đèn Phích nước Rạng Đông theo quết định số667/QD-TCLD ngày 30 tháng 6 năm 1994 của Bộ Công nghiệp nhẹ Qua gần
40 năm thành lập và phát triển, đến nay Công ty Bóng đèn Phích nước RạngĐông đã lớn mạnh, trở thành một cái tên quen thuộc với mọi người dân ViệtNam Quá trình hình thành được chia thành các giai đoạn sau:
*Giai đoạn từ ngày thành lập cho đến năm 1975
Đây là giai đoạn phát triển của công ty trong thời lỳ đất nước có chiếntranh, đi vào sản xuất được 3 năm thì cuộc chiến trạnh phá hoại leo thang ramiền Bắc Nhà máy bị tàn phá nặng nề, toàn bộ cán bộ và công nhân viêncùng với vật tư và máy móc, thiết bị của công ty phải sơ tán về các cơ sở ở HàTây và Hải Hưng Công nhân vừa phải bám máy sản xuất, vừa phải cầm súngchiến đấu Trong điều kiện hết sức khó khăn đó nên công ty không thể khaithác hết được công suất thiết kế Năm 1975 mức sản lương tối đa cũng chỉ là :Bóng đèn tròn: 1.700.000 chiếc
Ruột phích: 200.000 chiếc
* Giai đoạn từ năm 1976- 1988
Giai đoạn này đất nước đã được thống nhất, nhân dân bắt tay vào côngcuộc hàn gắn vết thương chiến tranh đồng thời xây dựng và phát triển CNXHtrên pham vi cả nước Song giai đoạn này chúng ta cũng gặp những khó khănkhông nhỏ do nguồn viện trợ của các nước XHCN giảm dần Đặc biệt lànguồn viện trợ lớn phục vụ cho sản xuất mà ta nhập lại từ Trung Quốc bị cắthoàn toàn do mâu thuẫn giữa hai nước Mặc dù trong điều kiện khó khăn nhưvậy nhưng công ty vẫn xác định phải đầu tư chiều sâu vào một số công đoạntrong dây chuyền công nghệ Sau đây là kết quả thu được:
Trang 23- Thủy tinh 1977- 1979: Nấu thủy tinh bằng lò bể đôt dầu và đốt than cho lònồi bán khí.
1982: Băng hấp phích nước bằng bức xạ nhiệt
- Cơ động 1976- 1980: Chế tạo lò gaz kiểu Đức 350 m3/ giờ thay thế cho lògaz 60 m3/giờ của Trung Quốc
1986- 1988: Cải tiến van thải không khí cho lò gaz
1988: Đưa nguồn nước Thượng Đình vào bể 300 m3
- Đột dập 1986- 1987: Cuốn thân phích bằng thép lá tráng thiếc tipo, phích cóquai xách
- Phích 1979: Rút khí phích nước trên máy bầu tròn tự động của Nhật Bản 1982: Công nghệ trang trí vỏ phích với khắc họa bản giấy, sơn maukhô Ankyd Melamin
1984-1985: Thực hiện đề tài thu hồi AgNO3 Nâng cao chất lượngruột phích, đưa băng ủ miệng phích vào sản xuất thay cho ủ rơm
1986: Đưa vỏ phích in tipo vào sản xuất thay cho phun sơn, vỏ phích
* Giai đoạn từ năm 1989-2004
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, nước ta bước vào giai đoạn mớichuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của
Trang 24Nhà nước theo định hướng XHCN Hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước đềurất lúng túng trong việc chuyển mình từ trạng thái sản xuất theo chỉ tiêu kếhoạch Nhà nước giao, các nguồn lực đầu vào do Nhà nước cung cấp và sảnxuất ra được Nhà nước bao tiêu sang trạng thái tự thân vận động
Nhà nước chỉ cấp vốn ban đầu còn lại các khoản vốn khác thì doanhnghiệp phải tự lo Công ty đã tự tìm cho mình một hướng đi đúng đắn cho sựphát triển Từ tình trạng công ty phải đóng cửa 6 tháng liền vì hàng ngoại lấn
át, sản phẩm đơn điệu, chất lượng chưa cao, không tiêu thụ được đến duy trìsản xuất ổn định liên tục, sản lượng tăng không ngừng để đáp ứng cho nhucầu thi trường Công ty vẫn tiếp tục có những cải tiến công nghệ sản xuất:
- Thủy tinh 1991- 1993: Thiết kế các lò thủy tinh đốt bằng hơi than, hiệusuất khai thác cao, chất lượng ổn đinh
1995: Đầu tư máy thổi vỏ bong tự động 18 đầu khuôn
- Cơ động: 1992- 1993: Cải tiến công nghệ vận hàng lò gaz, đảm bảo tuổithọ lò, tiết kiêm than, đáp ứng được nhu cầ tiêu dùng gaz cao
- Đột dập: 1992_1993: Tự đúc cán nhôm, cải tạo hệ thống khôn mẫu dậpphụ tùng phích bằng nhôm dày 0.6 mm, tiết kiệm nguyên liệu
- Bóng đèn: 1992: Chế tạo mới máy vít miệng cho dây chuyền số 3
1993-1994: Chế tạo đưa vào sản xuất dây chuyền đèn thường
số 4
1992-1993: Thực hiện cuộc cách mạng về bao bì cho bóng đèn 1994-1995: Củng cố thiết bị, phụ tùng, ổn định chất lượng đèntrong sử dụng và giảm chi phí vật tư Đầu tư dây chuyền lắp ghép bóng đènmới, công suất 1200 chiếc/ giờ với máy vít miệng 24 đầu, máy rút khí 36 đầu
và máy gắn đầu đèn hàn thiếc và thồn điện liên hoàn tự đông
Trong giai đoạn này, 6 năm liền doanh số tiêu thụ của công ty tăng từ108,8 tỷ (1998) lên 399,38 tỷ (2004), bình quân mỗi năm tăng đều đặn 50 tỷ
Trang 25liên tục, năm sau cao hơn năm trước Nộp ngân sách năm 1998 là 9,083 tỷ,năm 2004 là 22 tỷ Thu nhập bình quân tháng là 1,76 triệu/người/tháng, năm
2004 là 2,195 triệu/người/tháng Lợi nhuận thực hiện năm 1998 là 9,7 tỷ, năm
2004 đạt 12,59 tỷ
Kết quả này tạo nhiều thuận lợi cho công ty tiến hành và chuyển sang công
ty cổ phần
*Giai đoạn phát triển sau khi cổ phần hóa công ty 2005- 2009
Ngày 15/7/2004 công ty đổi tên thành công ty cổ phần bóng đèn phíchnước Rạng Đông, hoạt động theo điều lệ công ty cổ phần Khi bắt đầu hoạtđộng theo điều lệ công ty cổ phần, ngày 30/6/2004 vốn chủ sở hữu là 84,1 tỷđồng Sau đó tăng liên tục
Trang 262.1.3 Đặc điểm về tổ chức, quản lý sản xuất của công ty
Sơ đồ 1 : Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị
Đại hội đồng cổ đông
Ban kiểm soát Hội đồng quản trị
Ban Tổng giám đốc
05 Văn phòng đại diện
Ban doanh nghiệp dịch
vụ tư vấn chiếu sáng
Phòng Tổ chức- điều hành sản xuất
Trang 27Bộ máy của công ty đứng đầu là giám đốc, đại diện cho Nhà nước quản
lý công ty Giám đốc có quyền quyết định việc điều hành, hoạt động sản xuấtcủa công ty theo đúng kế hoạch, chính sách pháp luật của Nhà nước, chịutrách nhiệm trước Nhà nước và tập thể công ty về kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh, trược tiếp chỉ đạo và giám sát phòng thị trường Dưới giám đốc
có 2 phó giám đốc và kế toán giúp việc tham mưu điều hành các phòng bancòn lại Nhiệm vụ và các chức năng cơ bản của các phó giám đốc, phòng banphân xưởng trong công ty được phân công như sau:
- Phó giám đốc kỹ thuật và đầu tư phát triển: điều hành hoạt động củaphòng KCS và đứng đầu Văn phòng Giám đốc đầu tư phát triển
- Phó giám đốc điều hành sản xuất và nội chỉnh: phụ trách quản lý cáctrưởng phòng quản lý kho, phòng tổ chức điều hành sản xuất, phòng dich vụđời sống, phòng bảo vệ
- Kế toán trưởng: quản lý trược tiếp hướng hoạt động của phòng thống kê
kế toán tài vụ
- Phòng quản lý kho: chịu trách nhiệm quản lý vật tư trong kho, về thủ tục xuất
và nhập kho đồng thời quản lý việc xếp dỡ, lưu kho, bảo quản và giao hàng đượcthực hiện tại kho
- Phòng tổ chức điều hành sản xuất: chức năng chính là quản lý nhân sự,
bố trí, sắp xếp lao động trong công ty, bảo đảm vật tư cho sản xuất, lên kếhoạch điều hành sản xuất, thống kê vật tư tồn kho và tham mưu cho Tổnggiám đốc
- Phòng dịch vụ đời sống: có trách nhiệm chăm lo tới đời sống vật chất,
- Phòng thị trường: phòng này khảo sát, nghiên cứu thị trường và xây dựngcác chiến lược marketing cho công ty Họ còn thực hiện bán hàng, xúc tiếngiới thiệu sản phẩm Hiện nay phòng thị trường có 05 chi nhánh chịu trách
Trang 28nhiệm bán hàng, 05 văn phòng đại diện và ban doanh nghiệp dịch vụ tư vấnchiếu sáng.
* Các văn phòng đại diện: Họ là đại diện của công ty với chức năng giám sát
việc tiêu thụ sản phẩm, thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trongvùng thị trường của văn phòng Hiện nay công ty đã có văn phòng đại diện tạicác thành phố: Thái Nguyên, Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Vinh và chinhánh tại Thành phố; Đà Nẵng, Nha Trang, Biên Hòa, Hồ Chí Minh và TPCần Thơ
* Ban DNDV TV CS: có chức năng xúc tiến hoạt động thương mại và tư vấn
nhằm mục đích khuyến khích và phát triển sử dụng đồng bộ các sản phẩm củacông ty Họ trực tiếp cung cấp các dịch vụ thiết kế, lắp đặt thiết bị chiếu sang,thay thế các sản phẩm cũ bằng sản phẩm hoàn toàn mới của công ty
- Phòng thống kê kế toán tài vụ: có nhiệm vụ quản lý và sử dụng hợp lýcác nguồn vốn của công ty sao cho có hiệu quả Thường xuyên theo dõi cáckhoản thu chi, hướng dẫn các phòng ban thu tục thanh toán với khách hàng,đồng thời tính toán lãi, lỗ trong quá trình hoạt động
- Phòng đầu tư phát triển: Quản lý các dự án, các công trình đầu tư xây dựng,duy tu, bảo dưỡng, sản xuất lắp đặt trang thiết bị phụ trợ, sửa chữa các côngtrình xây dựng của công ty Định ra chiến lược phát triển cho công ty trongtừng giai đoạn
- Phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm: trách nhiệm thiết lập hệ thống kiểmtra chất lượng đầu vào, ra của sản phẩm và giải quyết các vấn đề về chấtlượng nguyên vật liệu bán thành phẩm, sản phẩm Kiểm soát sản phẩm khôngphù hợp và đề ra các biện pháp khắc phục
- Phòng bảo vệ: Có nhiệm vụ kiểm tra, bảo vệ của cải vật chất, cũng nhưcon người trong công ty, kịp thời xử lý các hành vi về mặt an ninh trật tự
Trang 29- Trạm y tế: Phục vụ nhu cầu kiểm tra sức khỏe cho công nhân các bộtrong công ty, đảm bảo năng suất lao động không bị ảnh hưởng.
2.1.4 Đặc điểm cơ sở vật chất, máy móc thiết bị
Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông, hiện nay có 02 cơ sở sảnxuất bao gồm:
*Cơ sở 1 được xây dựng năm 1958 với tổng diện tích 57 000 m2, bao gồm 11phòng ban trực thuộc, 04 xưởng sản xuất chia làm 14 ngành, 4 dây chuyền sảnxuất bóng đèn huỳnh quang, bóng đèn huỳnh quang Compact, bóng đèn sợi đốt, 03dây chuyền sản xuất thiết bị chiếu sáng, 03 dây chuyền sản xuất balát điện tử, balátsắt từ, 03 dây chuyền sản xuất đèn tròn
Địa chỉ của trụ sở chính: 87-89 Hạ Đình, Thanh Xuân, Hà Nội
Bảng 2.1: Danh sách các dây chuyền máy móc thiết bị tại trụ sở chính
STT
Loại dây chuyền
Số lượng (cái)
Công suất (triệu sp/năm)
1 Dây chuyền sản xuất đèn huỳnh quang 04 25
2 Dây chuyền sản xuất đèn HQ compact 07 26
4 Dây chuyền sản xuất thiết bị chiếu sáng 03 3
Nguồn:Phòng tổ chức- điều hành sản xuất
* Cơ sở 2 tại khu Công nghiệp Quế Võ được xây dựng năm 2006 với tổng diện
tích trên 62000 m2 bao gồm 04 dây truyền sản xuất phích nước, 04 dây truyền kéoống huỳnh quang, kéo ống compact, 02 dây truyền thổi vỏ bóng các loại
Địa chỉ cơ sở 2: Khu Công nghiệp Quế Võ- Bắc Ninh
Bảng 2.2: Danh sách các máy móc thiết bị tại cơ sở 2
Số lượng Công suất