1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những động cơ thúc đẩy Tổng công ty xăng dầu Việt Nam Petrolimex vươn ra thị trường nước ngoài

33 484 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những động cơ thúc đẩy Tổng công ty xăng dầu Việt Nam Petrolimex vươn ra thị trường nước ngoài
Tác giả Lê Quang Dũng
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Hường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), tiền thân là Tổng Công ty Xăng dầu mỡ, được thành lập ngày 12/01/1956 và được được thành lập lại theo Quyết định số 224/TTg ngày 17/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ. Đến ngày 12/01/2006, Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam tròn nửa thế kỷ hình thành, xây dựng và phát triển

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời đại ngày nay , xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thếgiới là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thế giới, Việt Nam cũng không làmột ngoại lệ Sau hơn hai mươi năm chuyển mình trong cơ chế kinh tế thịtrường định hướng XHCN, Việt Nam đã và đang gặt hái thành công trên conđường công nghiệp hoá hiện đại hoá nước nhà Để đạt được những thành tựukinh tế rực rỡ đó việc mở cửa, hội nhập nền kinh tế nước nhà với nền kinh tếkhu vực và nền kinh tế thế giới đóng một vai trò hết sức quan trọng

Việt Nam đã gia nhập những sân chơi quốc tế và khu vực như: ATFA,AESM, WTO, điều này đồng nghĩa với việc ngày càng nhiều các tổ chức, doanhnghiệp nước ngoài đầu tư kinh doanh trong nền kinh tế nước ta, vươn ra kinhdoanh trên thị trường nước ngoài không chỉ tạo ra “chiếc bánh thứ hai” cho nềnkinh tế mà còn giúp cho các doanh nghiệp tự hoàn thiện, nâng cao năng lực cạnhtranh, mở rộng thị trường Vì vậy không có lý do gì mà các doanh nghiệp ViệtNam lại không tiến hành đầu tư ra nước ngoài Đầu tư ra nước ngoài là phươngthức quan trọng để “giành quyền chủ động trong quá trình hội nhập kinh tế”,chuyển các nguồn lực có lợi thế so sánh ở trong nước ra bên ngoài, nâng caonăng lực sản xuất, tìm kiếm những nguồn lực mới Tính đến hết tháng 7/2008,

có 317 dự án đầu tư ra nước ngoài với số vốn hơn 2,5 tỷ USD Nếu so với sốvốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đến nay đã vượt trên 130 tỷ USD thì đầu

tư ra nước ngoài của Việt Nam rất nhỏ bé, chỉ bằng 2% tổng vốn đăng ký củacác dự án FDI Tuy con số còn khiêm tốn nhưng so với GDP và thực lực củadoanh nghiệp Việt Nam thì chúng ta phải ghi nhận sự bươn chải của doanhnghiệp trong việc tìm đường đầu tư ra nước ngoài

Để có cái nhìn rõ hơn về các doanh nghiệp đã và đang vươn ra thị trườngnước ngoài, em xin xây dựng đề án : “ Những động cơ thúc đẩy Tổng công tyxăng dầu Việt Nam Petrolimex vươn ra thị trường nước ngoài ” Lý do em lựachọn Petrolimex để phân tích nghững động cơ thúc đẩy Doanh nghiệp này vươn

ra kinh doanh ở nước ngoài bởi vì : đây là một doanh nghiệp điển hình trong nềnkinh tế nước ta, Petrolimex đã và đang có các hoạt động đa dạng nhằm mục tiêuhướng ra thị trường nước ngoài Cơ cấu đề án gồm có ba chương:

- Chương I Động cơ thúc đẩy tổng công ty xăng dầu Việt Nam

Petrolimex vươn ra kinh doanh trên thị trường nước ngoài

- Chương II Phân tích động cơ thúc đẩy Petrolimex vươn ra kinh

doanh trên thị trường quốc tế

Trang 2

- Chương III Bài học kinh nghiệm và một số khuyến nghị cho

hướng kinh doanh quốc tế của Petrolimex

Em xin trân trọng cảm ơn: PGS TS Nguyễn Thị Hường, giảng viên khoakinh tế và kinh doanh quốc tế, chủ nhiệm bộ môn Quản Trị Kinh Doanh Quốc

Tế, đã chỉ đạo và tận tình hướng dẫn em trong quá trình làm bài Tuy nhiên, đây

là lần đầu em làm đề án, cùng với những hạn chế về thời gian, trình độ và số liệutham khảo nên đề án không tránh khỏi khiếm khuyết nhất định Em kính mong

cô Nguyễn Thị Hường và các thầy cô trong khoa chỉ bảo thêm để hoàn thiện hơn

Trang 3

CHƯƠNG I

ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM PETROLIMEX VƯƠN RA KINH DOANH TRÊN THỊ TRƯỜNG NƯỚC

NGOÀI 1.1 Giới thiệu chung về tổng công ty xăng dầu Việt Nam Petrolimex

1.1.1 Thông điệp của doanh nghiệp

Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), tiền thân là Tổng Công tyXăng dầu mỡ, được thành lập ngày 12/01/1956 và được được thành lập lại theo Quyết định số 224/TTg ngày 17/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ Đến ngày 12/01/2006, Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam tròn nửa thế kỷ hình thành, xây dựng và phát triển

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển:

Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam - tiền thân

là Tổng Công ty Xăng dầu mỡ được thành lập theo

Nghị định số 09/BTN ngày 12/01/1956 của Bộ

Thư-ơng nghiệp và được thành lập lại theo Quyết định số

224/TTg ngày 17/04/1995 của Thủ tướng Chính

phủ Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam là doanh

nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt trực thuộc Bộ

Thương mại, giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực kinh

doanh xăng dầu, có nhiệm vụ đáp ứng mọi nhu cầu

về xăng dầu và các sản phẩm hoá dầu cho sự phát

triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng và phục vụ

đời sống nhân dân trên phạm vi cả nước Chặng

đường 50 năm xây dựng và phát triển của

Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam luôn gắn

liền với các sự kiện lịch sử trong công cuộc xây

dựng và bảo vệ đất nước:

Giai đoạn 1956 - 1975: Tổng Công ty Xăng

dầu Việt Nam có nhiệm vụ đảm bảo nhu cầu xăng

dầu cho sự nghiệp khôi phục, phát triển kinh tế để

xây dựng CNXH và chống chiến tranh phá hoại của

đế quốc Mỹ ở miền Bắc; Cung cấp đầy đủ, kịp thời

xăng dầu cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam

thống nhất Tổ quốc

Giai đoạn 1976 - 1986: Tổng Công ty Xăng

dầu Việt Nam bắt tay khôi phục các cơ sở xăng dầu

bị tàn phá ở miền Bắc, tiếp quản các cơ sở xăng dầu

và tổ chức mạng lưới cung ứng xăng dầu ở các tỉnh

Trang 4

phía Nam, thực hiện cung cấp đầy đủ, kịp thời nhu cầu xăng dầu cho sản xuất, quốc phòng và đời sống nhân dân đáp ứng yêu cầu hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước

Giai đoạn 1986- đến nay: Tổng

Công ty Xăng dầu Việt Nam thực hiện

chiến lược đổi mới và phát triển theo chủ

trương đường lối của Đảng và Nhà nước,

chuyển hoạt động sản xuất kinh doanh

sang cơ chế thị trường có định hướng

XHCN, từng bước xây dựng TCTy trở thành hãng xăng dầu quốc gia mạnh và năng động để tham gia hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới

1.2 Quá trình vươn ra nước ngoài của Petrolimex:

Lịch sử thành lập từ năm 1956, song giai đoạn 1956 – 1975 Petrolimex

chỉ là một cơ sở đảm bảo các nhiệm vụ về: cung cấp, đảm bảo nhu cầu về xăng dầu cho công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế để xây dựng CNXH ở miền bắc, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc mỹ, cung cấp đầy đủ xăng dầu cho cuộc đấu tranh giải phóng miền nam thống nhất đất nước – Đây là giai đoạn Petrolimex không có tính chất của một doanh nghiệp, không có hoạt động vươn

ra thị trường nước ngoài

Giai đoạn 1976 – 1986, là giai đoạn không mấy nổi bật khi nhiệm vụ của

Petrolimex lúc này cũng chỉ gói gọn trong công tác đảm bảo đáp ứng nhu cầu xăng dầu trong nước và một phần cung cấp cho nước bạn Lào

Giai đoạn 1986 – đến nay (2008), là thời kỳ đánh dấu những thay đổi lớn

lao cả về chất và về lượng của Petrolimex Tổng công ty đã chuyển sang kinh doanh, hạch toán độc lập theo cơ chế thị trường có sự quảng lý điều tiết của nhà nước Đây cũng là giai đoạn mà Petrolimex vươn ra thị trường nước ngoài theo đúng nghĩa của một doanh nghiệp Cụ thể như sau:

Tổng công ty vẫn là đầu mối chính

trong việc đáp ứng nhu cầu xăng dầu cho

nước ban Lào thông qua các doanh nghiệp

Trang 5

Số điện thoại : (84.8) 8383 400

Fax: (84.8) 8383 500

E-mail:pitco@pitco.com.vn

Website: www.pitco.com.vn

Công ty cổ phần thương mại và vận tải Petrolimex Đà Nẵng Trụ sở chính:

500 Ông Ích Khiêm, Quận Hải Châu, Thành phố Đà nẵng

Các chi nhánh tại: Quảng nam, Quảng ngãi, Huế, Quảng Trị, Kon Tum, Khu Kinh tế Lao Bảo

Động thái vươn ra thị trường nước ngoài của Petrolimex càng ro rệt ở những lĩnh vực :

Vận tải

Tổng công ty đã đầu tư phương tiện hiện đại và đủ

điều kiện để vươn ra thị trường vận tải xăng dầu quốc tế

Tổng công ty hiện có đội tàu viễn dương có tổng trọng tải

140.000 DWT, gần gấp đôi năm 2000, đội tầu sông, ven

biển có tổng trọng tải gần 10 vạn tấn, tuyến ống xăng dầu

500km và hơn 1.200 xe xitec với tổng dung tích trên

9.000 m3 trực thuộc sự quản lý các công ty thành viên

đảm bảo vận chuyển xăng dầu từ nước ngoài về Việt Nam

và từ các kho đầu mối nhập khẩu đến các cảng và đại lý tiêu thụ trong cả nước.Đội ngũ cán bộ nhân viên, sỹ quan, thuyền viên của Petrolimex có nhiều kinhnghiệm và trình độ cao, được đào tạo và huấn luyện chuyên nghiệp cùng với độitàu hiện đại, luôn đáp ứng yêu cầu của các tổ chức phân cấp tàu trong nước vàquốc tế, các yêu cầu của Bộ luật Quốc tế về An ninh Tàu và Bến cảng (IPPSCode) và được các tập đoàn dầu lớn trên thế giới công nhận Nhờ vậy, ngành

Trang 6

vận tải xăng dầu đã góp phần xây dựng và khẳng định sức mạnh và uy tín củathương hiệu Petrolimex hôm nay

Trang 7

Bảo hiểm

Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) hiện

đã triển khai trên 50 sản phẩm bảo hiểm và đang chiếm

lĩnh thị trường trong các lĩnh vực: giao thông vận tải, xây

dựng và lắp đặt công trình, xăng dầu, hàng hóa xuất nhập

khẩu và bảo hiểm xe cơ giới

Khả năng tài chính:

Tổng tài sản: 600 tỷ

Quỹ dự phòng nghiệp vụ: 393,3 tỷ

Tổng doanh thu kinh doanh năm 2005: 850 tỷ

Lĩnh vực kinh doanh: Bảo hiểm phi nhân thọ, nhận

và nhượng Tái bảo hiểm, hoạt động đầu tư vốn, kinh

doanh tài chính, phát triển nhà và các hoạt động liên quan đến bất động sản vvv…

Tại thị trường quốc tế Công ty đã mở rộng và quan hệ với nhiều nhà Táibảo hiểm quốc tế như Munich Re, Cologne Re, Hartford Re, Hannover Re,Willis Faber, LLoy'd tại các nước như Anh, Đức, Pháp, Singapore vv

Số lượng khách hàng của Công ty ngày càng nhiều, có hàng trăm nghìn cáckhách hàng lớn nhỏ thuộc tất cả các ngành nghề, lĩnh vực, tổ chức, cá nhân trongnước cũng như nước ngoài Nhiều khách hàng lớn, nhiều dịch vụ công trình lớnthuộc nhiều lĩnh vực đã được bảo hiểm tại PJICO như: Các đội tàu chở dầu lớncủa các hãng tàu Việt Nam, nhà máy điện Sông Hinh, Đại Ninh, Sê San 3, TuyênQuang, Cao Ngạn, đường dây tải điện Hàm Thuận-Đami, 500KV Hà Tĩnh-Thường Tín; Đường 1, Đường 5, Đường Hồ Chí Minh, cầu Thanh Trì, cầu BãiCháy, cầu Hàm Rồng, Phú Lương, Cẩm Phả, Đường Xuyên Á, Khách sạnDAEWOO, khách sạn Hanoi Sheraton, Toà nhà HITC, các nhà máy xi măng BútSơn, Hoàng Mai, Tam Điệp, Hải Phòng thuộc Tổng Công ty xi măng Việt Nam

Tái bảo hiểm là một nghiệp vụ kinh doanh hết sức quan trọng đối với mộtcông ty bảo hiểm, Tính đến nay trung bình hàng năm Công ty nhận trách nhiệmbảo hiểm tổng trị giá tài sản hàng trăm nghìn tỷ đồng Nhiều công trình có giá trịđến 200-300 triệu USD được khách hàng tham gia bảo hiểm với PJICO là nhờvào mạng lưới quan hệ quốc tế và các nhà tái bảo hiểm có uy tín trên Thế giớiđứng sau hỗ trợ Từ khi thành lập đến nay Công ty đã chủ động xây dựng đượcphương án tái bảo hiểm hàng năm, mở rộng quan hệ tái bảo hiểm trực tiếp vớihàng chục công ty tái bảo hiểm lớn trên thế giới như: Munich Re, Swiss Re,Cologne Re, Hannover Re, ERC, Willis Faber, LLoy'd Các nhà tái bảo hiểmquốc tế đánh giá cao về tính chuyên nghiệp của PJICO và thực sự ấn tượng vềthành tích trong thời gian gần đây của PJICO Những nhà tái bảo hiểm hàng đầuthế giới như: Munich Re, Swiss Re, Hannover Re, ERC đã quyết định đầu tư

Trang 8

thêm 40% năng lực nhận tái cho PJICO so với năm 2004 để năm 2005 PJICO cóđiều kiện phục vụ khách hàng trong nước tốt hơn.Trong mấy năm vừa qua, bảohiểm Petrolimex có mức tăng trưởng cao nhất trên thị trường bảo hiểm Việt

Nam Năm 2004 là năm đầu tiên Bảo hiểm Petrolimex hướng sự hoạt động

ra thị trường quốc tế và đã thu được khoản lợi nhuận trên 1 triệu USD.

Chiến lược của Bảo hiểm Petrolimex trong thời gian tới là phát triển thành tập đoàn tài chính hàng đầu tại Việt Nam, đồng thời mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế.

Thiết kế và xây dựng

Nhằm phát triển và hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng,Petrolimex có một đội ngũ chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm chuyên tư vấn,thiết kế và xây dựng các công trình xăng dầu và dầu khí như kho cảng xăng dầu,kho cảng LPG, kho nhựa đường lỏng, nhà máy pha chế dầu nhờn, tuyến ống dẫndầu… nồng cốt là Cty CP Xây lắp I

Đơn vị : công ty cổ phần xây lắp I - petrolimex

Tên giao dịch quốc tế : Petrolimex construction joint stock company I Tên viết tắt : PCC-1

Địa chỉ : số 550 nguyễn văn cừ - phường gia thuỵ - quận long biên - tp Hà nội Tel : 04.8773069 - 04.8271801 - 04.8770090

Fax : 04.8273860

Email: congtycpxaylap1@hn.vnn.vn

Là Doanh nghiệp Nhà nước ra đời ngày 17-3-1969, đến ngày 26-12-2001Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 1519/QĐ-TTg chuyển Công ty xây lắp Ithành Công ty cổ phần Trong quá trình 36 năm hoạt động và phát triển, Công ty

đã tham gia xây dựng hàng ngàn công trình lớn nhỏ trên phạm vi toàn quốc vànước ngoài tại Lào và Campuchia gồm: cảng chuyên dụng xuất nhập xăng dầu,

hệ thống đường ống xăng dầu quốc gia, bồn bể chứa xăng dầu với dung tíchhàng vạn m3, sản phẩm hoá dầu (ngoài trời, trong hang hầm), trạm xuất nhập ôtô-wagon, trạm bán lẻ, kho gas, kho nhựa đường của PETROLIMEX,VINAPCO, PETEC, Bộ quốc phòng, PROSIMEX, các khu công nghiệp chếbiến sản phẩm, lọc hoá dầu ; Sản xuất cơ khí và thiết bị xăng dầu, đóng xi-téc , xây dựng khu công nghiệp, công trình kiến trúc của Nhà nước và cácthành phần kinh tế đưa vào sử dụng đạt chất lượng

cao

Xuất nhập khẩu

Không chỉ tập trung kinh doanh trong lĩnh vực

xăng dầu, Tổng công ty Xăng dầu còn có riêng một

Trang 9

công ty tham gia vào các hoạt động xuất nhập khẩu tổng hợp khác là công ty cổphần xuất nhập khẩu Petrolimex thực hiện:

- Mặt hàng xuất khẩu chủ lực là: Hạt tiêu, Cà phê, Cao su thiên

nhiên, Thiếc thỏi, Antimony thỏi Trong đó, riêng sản lượng hạt tiêu xuất khẩu trung bình 6000T/năm – là một trong 3 doanh nghiệp xuất khẩu hạt tiêu hàng đầu của Việt Nam.

- Mặt hàng nhập khẩu chủ lực: Sắt thép, Hạt nhựa v.v…

- Công ty có quan hệ bán hàng với các đối tác thuộc nhiều nứơc trênthế giới như: Mỹ, Đức, Pháp, Nga, Ucraina, Trung Quốc, Dubai, Singapore,Indonesia, Thái lan v.v…

Tóm lại, tính từ mốc năm 1986 Petrolimex đã có hơn 20 năm vươn ra kinh doanh trên thị trường nước ngoài, song thị trường trọng điểm mới chỉ có quy mô nhỏ giới hạn cả ở phạm vi thị trường và doanh số (Thị trường Lào, Angieria, và các nước châu phi,…) Hình thức kinh doanh mới chỉ dừng lại ở hoạt động Xuất khẩu, tư vấn thiết kế ( xây dựng), bước đầu tiến hành thăm dò khai thác dầu khí ở Angieria Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông lâm, khoáng sản thô (hồ tiêu, cà phê, gạo, cao su sơ chế, thiếc sơ chế,…)_ có giá trị thấp Hiện tại Petrolimex có nhiều lợi thế để vươn ra thị trường nước ngoài.

Ngoài ra, để thực hiện mục tiêu vươn ra nước ngoài Tổng công ty rất chútrọng vào tăng cường hợp tác quốc tế, thực hiện liên doanh liên kết quốc tế:

Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế : Trong xu

thế đổi mới và mở cửa của đất nước,Petrolimex đã

không ngừng tăng cường và mở rộng mối quan hệ hợp

tác quốc tế Đến nay, Petrolimex đã có quan hệ giao

dịch với hầu hết các tập đoàn dầu khí lớn trên thế giới

và khu vực

Mỗi năm Petrolimex nhập mua gần 8 triệu m3 sản phẩm xăng dầu vớinguồn cung cấp từ nhiều hãng, công ty xăng dầu của Singapore, Hàn Quốc, ĐàiLoan, Nhật, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan và các nước Trung Đông Việc mởrộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn kỹthuật… cũng đang được mở rộng Phù hợp với xu hướng khu vực hóa và toàncầu hóa hiện nay, Petrolimex đang xúc tiến những bước đi vững chắc vì lợi íchcủa Tổng công ty và lợi ích của cộng đồng kinh doanh nói chung

Liên doanh:

Petrolimex và SK Networks trao đổi hợp tác : Ngày 01/11/2006, ông ManWon Jung, chủ tịch tập đoàn SK Networks, một công ty trực thuộc tập đoàn SKGroup cùng các ông Sung Soo Park, phó chủ tịch SK Networks_phụ trách vềNguồn lực và Năng lượng, ông Steve Choi_trưởng đại diên của SK Networks tại

Trang 10

Việt Nam hội đàm tại trụ sở của Petrolimex(Khâm Thiên_Hà Nội), trao đổi vềkhả năng hợp tác

Chiều 25/2/2005, tại Hà Nội đã diễn ra lễ ký kết hợp đồng liên doanhthành lập công ty liên doanh TNHH kho xăng dầu ngoại quan Vân Phong Mụctiêu chính của liên doanh là xây dựng một bể chứa xăng dầu tại đảo Mỹ Giang(nằm trong vịnh Vân Phong_Khanh Hòa) có quy mô lớn nhất Việt Nam:500.000 mét khối (giai đoạn 1) và 1 triệu met khối ( giai đoạn 2), khối lượngxăng, dầu thông qua kho khoảng 5 – 6 triệu mét khối/ năm Số vốn đăng ký cho

cả hai giai đoạn là 100 triệu USD Liên doanh gồm 3 đối tác : Tổng công tyxăng dầu Việt Nam (giữ 55% vốn góp); công ty PB Tankes Limited – Singapore(30% vốn góp); công ty CP bảo hiểm Petrolime – PJICO (15% vốn góp) Liêndoanh sẽ xây dựng 1 cầu cảng có khả năng tiếp nhận tàu 150 000DWT và cáccầu cảng xuất hàng cho tàu 500DWT – 60 000WDT Xây dựng 1 đường bộ nốidảo Mỹ Giang với đất liền và các công trình phụ trợ khác

Mở rộng cửa và hội nhập là một trong những phương châm hành độngcủa Petrolimex Hai liên doanh của Petrolimex trong lĩnh vực sản xuất chế biếncác loại dầu mỡ nhờn (Công ty Liên doanh BP-Petco, liên doanh với Tập đoànBP) và chất tẩy rửa bề mặt (Công ty Liên doanh PTN, liên doanh với Tập đoànSojitz và Tayca của Nhật) đang hoạt động rất hiệu quả, đóng góp tích cực cho sựphát triển của kinh tế Việt Nam Liên doanh xây dựng và kinh doanh kho xăngdầu ngoại quan với Công ty Kuo Oil của Singapore là một hướng phát triển mớicủa Petrolimex, hứa hẹn một tiềm năng lớn Ngoài ra, Petrolimex cũng đã ký

hợp đồng thăm dò, khai thác dầu mỏvới các đối tác tại Angieria, NamPhi,chuyển giao công nghệ với nhiều hãngnước ngoài và đang tiếp tục tìm kiếmđối tác mới để thu hút nguồn vốn, côngnghệ hiện đại của nước ngoài nhằmphát triển Petrolimex ngày một lớnmạnh hơn

Đầu tư

Dự án thăm dò dầu khí lô 433a &

416b tại Angiêria và lô SK305 ở Malaysia

của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam với

vốn đầu tư thực hiện khoảng 150 triệu

USD Hiện nay, Tổng Công ty Dầu khí

Việt Nam đã cùng các đối tác phát hiện

dầu khí mới tại lô 433a & 416b ở Angiêri (giếng MOM-2 có phát hiện dầu khí,

Trang 11

giếng MOM-6 bis cho dòng dầu 5.100 thùng/ngày) và lô hợp đồng SK305 ởMalaysia (giếng DANA-1X cho dòng dầu 3.100 thùng/ngày).

Dự án đầu tư sang Singapore của Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí(PTSC) đã góp vốn thực hiện 22,7 triệu USD

1.3 Động cơ vươn ra nước ngoài của Petrolimex:

- Tìm kiếm những nguồn lực mới Đây có thể coi là một kênh thu húthiệu quả các nguồn lực quốc tế về: tài chính, nhân lực, công nghệ, vật tư kỹthuật, nguyên vật liệu sản xuất

- Tìm kiếm những thị trường mới cho bài toán phát triển Vươn ra thịtrường nước ngoài Petrolimex có thể tiếp cận những thị trường đầu vào và đầu

ra mới ổn định hơn, chất lượng hơn, quy mô lớn hơn

- Kinh doanh trên nhiều thị trường khác nhau có thể giúp doanh nghiệpphân tán rủi ro kinh doanh, tìm kiếm một tỷ xuất lợi nhuận hợp lý hơn

- Vươn tới các thị trường mới doanh nghiệp còn tận dụng được những ưuđãi, khuyến khích từ phía chính phủ như: miễn thuế xuất khẩu, giảm thuế thunhập doanh nghiệp, các ưu đãi về tài chính, …

Trang 12

CHƯƠNG II

PHÂN TÍCH ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY PETROLIMEX VƯƠN RA KINH DOANH TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

2.1 Phân tích động cơ vươn ra nước ngoài của Petrolimex:

2.1.1 Petrolimxex vươn ra nước ngoài nhằm mở rộng thị trường

Tại sao có thể nói Petrolimex vươn ra thị trường nước ngoài là vì lý do thịtrường?

Hiện tại , lĩnh vực kinh doanh chủ đạo của

Petrolimex là cung cấp các sản phẩm xăng, dầu và chế

phẩm dầu mỏ Petrolimex là doanh nghiệp hàng đầu trong

lĩnh vực thăm dò, khai thác, xuất nhập khẩu và kinh

doanh các sản phẩm xăng dầu, khí hóa lỏng, phụ phẩm

dầu mỏ Tại thời điểm hiên tại, Petrolimex chiếm khoảng

60% thị phần thị trường xăng dầu trong nước ( số liệu

tổng cục thống kê ngày 22/7/2008 _ …… ) Tổng công ty

nhập khẩu khoảng 7 – 8 triệu mét khối xăng dầu/ năm, doanh thu từ kinh doanhxăng dầu khoảng 25 000 tỷ VNĐ_chiếm 80% doanh thu toàn nghành.Petrolimex có hệ thống kho bể với sức chứa trên 1.200.000 m3 được phân bổdọc theo chiều dài đất nước đảm bảo cho dự trữ và cung ứng xăng dầu theo nhucầu của thị trường như: Tổng kho Xăng dầu Đức Giang (Hà Nội), Thượng Lý(Hải Phòng), Tổng kho Xăng dầu Nhà Bè (thành phố Hồ Chí Minh), Cụm khoXăng dầu miền Trung (Phú Khánh - Bình Định - Đà Nẵng - Nghệ An), miềnTây Nam bộ, Cụm kho xăng dầu B12 (Quảng Ninh),… Thông qua hệ thốngphân phối gần 1.500 cửa hàng bán lẻ và hệ thống đại lý 6.000 điểm bán trên toànquốc, Petrolimex hiện nay là đơn vị lớn nhất cung cấp các chủng loại xăng dầutốt nhất phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế

Có thể thấy rằng , thị trường xăng dầu trong nước đã bão hòa , các doanhnghiệp trên thị trường đã hài lòng với miếng bánh thị phần nội địa của mình, vìvậy muốn phát triển tăng them doanh số thì vươn ra nước ngoài sẽ là ưu tiên sốmột

Trên thị trường bảo hiểm và vận tải tình trạng cũng diễn ra tương tự.Petrolimex chiếm lĩnh thị phần áp đảo so với các đối thủ khác, nên Tổng công ty

sẽ phải hướng hoạt động ra thị trường quốc tế nếu muốn phát triển

Hơn nữa, hiện tại Petrolimex và đối tác chiến lược PVN chuẩn bị đưa vàovận hành cụm công nghiệp lọc hóa dầu Dung Quất (Đi vào vận hành trong quý Inăm 2009) và đang tiến hành chuẩn bị xây dựng cụm công nghiệp lọc hóa dầuthứ hai tại Nghi Sơn _Khu kinh tế Nghi Sơn_Thanh Hóa (Đi vào vận hành năm2013) Tổng công suất của hai cụm công nghiệp này vào khoảng 40 tấn dầu thô/năm, bởi thế nhu cầu về dầu thô là rất lớn trong khi chính phủ không cho phép

Trang 13

tăng sản lượng khai thác ở thềm lục địa nước ta, vì thế Petrolimex và PVN phảikhăn gói quả mướp đi tìm nguồn cuung cấp dầu thô ở nước ngoài Khi cả haicụm lọc hóa dầu đều đi vào vận hành không những đáp ứng đủ cho nhu cầutrong nước mà còn định hướng cho xuất khẩu ra các nước trong khu vực nhất làthị trường Trung Quốc, Petrolimẽ với lịch sử khá lâu trong kinh doanh xăng dầuquốc tế được chính phủ giao cho trọng trách này Đó là lý do Liên doanhTNHH kho xăng dầu ngoại quan Vân Phong được thành lập Kho xăng dầu VânPhong có nhiệm vụ là trung gian trung chuyển dầu thô từ trung đông về phục vụcác cụm lọc hóa trong nước và các chế phẩm dầu mỏ ra thị trường nước ngoài

2.1.2 Phân tán rủi ro bằng cách đa dạng các thị trường :

Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt, với mộttập đoàn lớn như Petrolimex cũng không thể nằm ngoài vòng xoáy đó Việt Nam

đã ra nhập những sân chơi quốc tế ( WTO, APEC, …), các doanh nghiệp Việtkhông những phải đương đầu với cạnh tranh nội địa mà còn chịu áp lực lớn từnhững tập đoàn quốc tế đầy tiềm lực Bản thân Petrolimex hoạt động trong 11lĩnh vực kinh doanh trong chiến lược đa dạng hóa kinh doanh để giảm thiểu rủi

ro toàn phần, tuy nhiên hoạt động còn có nhiều hạn chế như:

Chưa hề có vị thế so sánh trên thị trường quốc tế

Hoạt động ở thị trường nội địa vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấudoanh thu ( >90% / 2006 )

Tiềm lực kinh tế, công nghệ, quan hệ hợp tác quốc tế còn hạn chế

Rủi ro bị thôn tính, rủi ro bị mất vị thế khi các đối thủ quốc tế tham giakinh doanh trên thị trường chủ đạo của tổng công ty

Khi vươn ra nhiều thị trường quốc tế khác nhau, tổng công ty năng cao hệ

số an toàn bởi thất bại ở một thị trường có thể được bù đắp từ lợi tức từ thịtrường khác

Bởi thế, thay vì thụ động đối phó Petrolimex sẽ chủ động hội nhập, chủ động vươn ra thị trường nước ngoài để đón bắt xu thế của nền kinh tế thế giới.

2.1.3 Động cơ tìm kiếm nguồn lực:

Đây cũng là một động cơ không thể không nói tới khi Petrolimex vươn rathị trường nước ngoài bởi vì các nguyên nhân sau:

Hiên nay, Việt Nam đang tăng cường thu hút vốn FDI ước đạt khoảng

130 tỷ USD năm 2008 Petrolimex trong chiến lược đa dạng hóa lĩnh vực kinhdoanh, mở rộng quy mô và pham vi hoạt động đang có nhu cầu rất lớn về vốn,song việc huy động vốn trong nước bị hạn chế do thị trường chứng khoán giảmphát, những quản lý khắt khe từ phía nhà nước khi huy động vốn từ hệ thốngngân hàng nên huy động vốn từ thị trường quốc tế ( nhất là khi nước ta đã làthành viên thứ 150 của WTO, ) là một hướng đi mới Petrolimex xác định gọivốn dựa vào các hình thức: góp vốn liên doanh, góp vốn bằng thành phẩm

Trang 14

Nguồn nhân lực đào tạo trong nước đa phần chưa đáp ứng được yêu cầutrong khi đặc thù lĩnhvực kinh doanh đòi hỏi đội ngũ nhân lực chất lượng cao

Công nghệ sản xuất, khai thác lạc hậu, khả năng quản lý còn yếu khi màcông nghiệp bổ trợ và nghiên cứu trong nước không có khả năng đáp ứng thìhướng tiếp cận tối ưu là thị trường cung ứng từ nước ngoài

2.1.4 Tận dụng những ưu đãi từ phía chính phủ:

Cơ chế ưu đãi, khuyến khích của chính phủ:

Nhà nước đang khẩn trương xây dựng đề án về cơ chế hỗ trợ, khuyến khích để thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp trong nước theo chỉ đạo của Thủ tướng Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư ngay trong năm 2008 và những năm tới tại những thị trường trọng điểm mà Việt Nam

có lợi thế như Lào, Liên bang Nga, Hoa Kỳ, Campuchia

Theo đó, phải tiến hành ngay các chương trình xúc tiến đầu tư và nghiêncứu thị trường, luật pháp, chính sách, tìm hiểu môi trường và cơ hội đầu tư đểhướng các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư có hiệu quả tại những thị trường này.Trong thời gian tới các cơ quan chuyên môn sẽ trình Chính phủ việc phân cấpquản lý đầu tư ra nước ngoài để các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài dễ hoạtđộng Đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo thống kêđịnh kỳ làm cơ sở đánh giá tình hình thực hiện các dự án đầu tư ra nước ngoài

dự án đầu tư cụ thể đã được Chính phủ Việt Nam ký với nước ngoài

Nhà nước sẽ hỗ trợ nguồn vốn đầu tư cho những dự án thực hiện tại nướcngoài mà có tác động tới sự phát triển kinh tế của nước ta như: dự án điện đểxuất khẩu điện về Việt Nam, dự án khai thác khoáng sản để thay thế nhập khẩuphục vụ sản xuất chế biến trong nước

Theo đó những dự án này sẽ được vay vốn của Nhà nước thông qua Ngânhàng Đầu tư phát triển Việt Nam (BIDV) với mức vay tối thiểu 30% tổng vốnđầu tư của dự án với lãi suất ưu đãi và được miễn hình thức đảm bảo tiền vaybằng tài sản

Ngoài ra các dự án này nếu đầu tư tại Nga, Lào, Campuchia sẽ đượcChính phủ bảo lãnh vốn vay của doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại

Trang 15

trong nước với mức vay được vượt quá 15% vốn điều lệ của ngân hàng thươngmại cho vay

Tại một số dự án đặc biệt doanh nghiệp còn có thể đề nghị Nhà nước gópvốn đầu tư Những dự án này còn được miễn nộp thuế thu nhập doanh nghiệpđối với phần lợi nhuận chuyển về nước đã được nộp thuế thu nhập doanh nghiệptại nước mà doanh nghiệp đầu tư

Hiện Chính phủ đang đi đến thống nhất nội dung của hiệp định khuyếnkhích và bảo hộ đầu tư, hiệp định tránh đánh thuế trùng của Việt Nam với một

số nước đã ký thoả thuận, đây sẽ là cơ sở cho hoạt động đầu tư của doanhnghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đang xem xét đưa ra cơ chế, chính sách để

hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước đầu tư sang thị trường Lào và Campuchia đểđào tạo các lao động do lao động tại hai thị trường này không thể đáp ứng được

về số lượng và chất lượng theo yêu cầu

* Tính từ thời điểm Nghị định số 22/1999/NĐ-CP quy định đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam đến hết năm 2007, các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp với hơn

100 dự án có tổng vốn đầu tư là 893,6 triệu USD, chiếm 40,16% về số dự án và 64,3% tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Việt Nam đã và đang thành công trong thu hút và sử dụng có hiệu quả vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) từ năm 1987 đến nay và có thể nhận thấy

xu hướng mới đang trỗi dậy trong vài năm trở lại đây, đó là sự gia tăng dòngvốn đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) của các doanh nghiệp Việt Nam

ĐTRNN là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế của các quốc giatrong khu vực và trên thế giới nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh, tiếp cận gần khách hàng hơn, tận dụng nguồn tài nguyên,nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hóa, tránh được chế độgiấy phép xuất khẩu trong nước và tận dụng được quota xuất khẩu của nước sởtại để mở rộng thị trường, đồng thời, tăng cường khoa học kỹ thuật, nâng caonâng lực quản lý và trình độ tiếp thị với các nước trong khu vực và trên thế giới.Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào nhu cầu và điều kiện của mỗi nước mà ĐTRNN cânbằng và đồng hành với đầu tư nước ngoài Vì vậy, dòng vốn đầu tư giữa cácnước phát triển sang các nước đang phát triển biến động từng năm tùy thuộc nhucầu và điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước, như Hàn Quốc là mộtnước có chính sách thúc đẩy và hỗ trợ đầu tư nước ngoài vào, đồng thời cũngkhuyến khích các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư ra nước ngoài Việt Nam đilên từ một nền kinh tế kém, tiến hành thu hút đầu tư nước ngoài chậm hơn sovới các nước khu vực và thế giới nhưng 20 năm qua đã đạt được nhiều thành tựtrong thu hút và sử dụng vốn ĐTNN, đồng thời, do nhận thức được vai trò của

Trang 16

ĐTRNN nên sớm đã có chính sách khuyến khích doanh nghiệp Việt NamĐTRNN.

Hệ thống văn bản pháp luật về đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam dầnhoàn thiện theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp:

Những năm đầu thập niên 90, lượng vốn ĐTNN vào Việt Nam tăng mỗinăm, số các doanh nghiệp ĐTNN trong sản xuất hàng dệt-may tăng cao nên sốlượng quota xuất khẩu hàng năm không đáp ứng đủ năng lực sản xuất Bên cạnh

đó, chính sách “đóng cửa rừng”, cấm khai thác đánh bắt gần bờ để bảo vệ tàinguyên, môi trường cũng tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một

số doanh nghiệp trong công nghiệp chế biến sản xuất hàng tiêu dùng Vì vậy,nhằm bù đắp các “thiếu hụt trên” đã có một số doanh nghiệp ĐTNN chuyển mụctiêu hoạt động hoặc tìm kiếm cơ hội đầu tư tại một số nước láng giềng trong khuvực Trong số các doanh nghiệp đi tiên phong trong ĐTRNN còn phải kể tớimột số doanh nghiệp tư nhân của một số địa phương tại vùng biên giới với một

số nước bạn (Lào, Campuchia) đã thực hiện dự án đầu tư tại nước bạn theo thỏathuận hợp tác song phương giữa chính quyền địa phương hai nước

Trước thực tế đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CPngày 14/4/1999 quy định ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam để hướng dẫn vàquản lý hoạt động ĐTRNN Như vậy, có thể nói sau hơn 10 năm thực thi LuậtĐầu tư nước ngoài tại Việt Nam pháp luật về ĐTRNN tại Việt Nam bắt đầuhình thành, mở đường cho các hoạt động ĐTRNN sau này Mặc dù hành langpháp lý cho ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam mới được ban hành đầu năm

1999, nhưng trước thời điểm này một số doanh nghiệp Việt Nam đã tiến hànhhoạt động ĐTRNN

Để triển khai Nghị định 22/1999/NĐ-CP nói trên, các Bộ, ngành liên quan

đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệpViệt Nam (Thông tư số 05/2001/TT-BKH ngày 30/8/2001 của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 01/2001/TT-NHNN ngày 19/01/2001 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với ĐTRNN củadoanh nghiệp Việt Nam) Những văn bản nêu trên cùng với các văn bản phápluật khác đã tạo nên một khung pháp lý cần thiết cho hoạt động ĐTRNN Tronghơn 16 năm qua, đã có 249 dự án ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam với tổngvốn đầu tư đăng ký 1,39 tỷ USD

Việc ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn

đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt độngĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho việc ra đời nhiều dự ánĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động đạt hiệu quả nhất định Đồngthời là minh chứng cho sự trưởng thành về nhiều mặt của các doanh nghiệp ViệtNam từng bước hội nhập đời sống kinh tế khu vực và thế giới Tuy nhiên, quathực tế cho thấy hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam còn lúng túng,gặp nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện, bộc lộ một số hạn chế đòi hởi cần

Ngày đăng: 19/07/2013, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w