Thực trạng về sự phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Chương Dương Hà Nội
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ và nhu cầu thanh toán quốc tế 3
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ 3
1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ 4
1.1.2.1 Vấn đề sở hữu và thành lập 4
1.1.2.2 Mô hình hoạt động 5
1.1.2.3 Về chiến lược/ mục tiêu tăng trưởng và phát triển 5
1.1.2.4 Đặc điểm tài chính chuyên biệt của DNVVN 6
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ 7
1.1.4 Nhu cầu thanh toán quốc tế của doanh nghiệp vừa và nhỏ 8
1.2 Phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các Ngân hàng thương mại 8
1.2.1 Đặc điểm của dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 8
1.2.2 Các sản phẩm dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại 9
1.2.2.1 Dịch vụ thanh toán nhập khẩu 9
1.2.2.2 Dịch vụ thanh toán xuất khẩu 10
1.2.3 Vai trò của dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doah nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại 11
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các Ngân hàng thương mại 12
1.2.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá tài chính 12
1.2.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá phi tài chính 13
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại 14
1.2.5.1 Nhân tố khách quan 14
Trang 21.2.5.2 Nhân tố chủ quan 16
1.3 Các điều kiện phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại 17
1.3.1 Điều kiện về hoạch định chiến lược phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế nói chung 17
1.3.2 Điều kiện về trang bị công nghệ hiện đại 19
1.3.3 Điều kiện về phát triển các sản phẩm và dịch vụ thanh toán quốc tế thích ứng được với thị trường, đặc biệt là phù hợp với nhu cầu của các DNVVN .20
1.3.4 Điều kiện về tổ chức mạng lưới của thanh toán quốc tế 21
1.3.5 Điều kiện về hệ thống phòng ngừa rủi ro 22
*Yêu cầu về đánh giá năng lực tài chính 24
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG KỸ THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH 25
CHƯƠNG DƯƠNG HÀ NỘI 25
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Kỹ Thương chi nhánh Chương Dương Hà Nội 25
2.1.1 Vài nét về Ngân hàng TMCP Kỹ Thương chi nhánh Chương Dương Hà Nội 25
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 25
2.1.1.2 Các hoạt động chính của Techcombank chi nhánh Chương Dương Hà Nội 27
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức 27
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Techcombank chi nhánh Chương Dương 30
2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn 30
2.1.2.2 Hoạt động tín dụng 33
2.1.2.3 Hoạt động khác 36
2.2 Thực trạng phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với DNVVN tại Techcombank Chương Dương giai đoạn 2008 - 2010 38
2.2.1 Dịch vụ thanh toán xuất khẩu 38
2.2.2 Dịch vụ thanh toán nhập khẩu 43
Trang 32.3 Đánh giá chung về sự phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với
DNVVN tại Techcombank Chương Dương giai đoạn 2008-2010 45
2.3.1 Đánh giá khả năng phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với DNVVN của Chi nhánh 45
2.3.2 Những tồn tại và những nguyên nhân của các tồn tại đó 50
2.3.2.1 Những tồn tại 50
2.3.2.2 Những nguyên nhân 51
CHƯƠNG III : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG CHI NHÁNH CHƯƠNG DƯƠNG HÀ NỘI 55
3.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng TMCP Kỹ thương chi nhánh Chương Dương trong năm 2011-2012 55
3.1.1 Định hướng phát triển chung của Ngân hàng TMCP Kỹ thương chi nhánh Chương Dương 55
3.1.2 Định hướng phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương chi nhánh Chương Dương 56
3.2 Một số giải pháp phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với DNVVN tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương chi nhánh Chương Dương 56 3.2.1 Phát triển marketing cho hoạt động TTQT đến các DNVVN 56
3.2.2 Phát triển các nguồn lực ngân hàng 59
3.2.3 Nâng cao năng lực quản lý hoạt động TTQT 64
3.2.4 Xây dựng mối quan hệ với khách hàng 68
3.2.5 Tăng cường phát triển các dịch vụ hỗ trợ 69
3.3 Một số kiến nghị 69
3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 69
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam 70
3.3.3 Kiến nghị với các doanh nghiệp 71
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
S
Ơ Đ Ồ: :
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Techcombank Chương Dương 27
Sơ đồ 3.1: Các bước trong chu trình đào tạo nhân sự 61 BẢNG:
Bảng 2.1: Tình hình tăng trưởng nguồn vốn huy động trong năm 2008-2010 tại Techcombankchi nhánh Chương Dương Hà Nội ( đơn vị: triệu đồng ) 31 Bảng 2.2 :Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn của Techcombank trong giai đoạn 2008 - 2010 32 Bảng 2.3: Tình hình hoạt động tín dụng tại Techcombank Chương Dương giai đoạn 2008-2010 34 Bảng 2.4: Cơ cấu nợ của Techcombank Chương Dương giai đoạn 2008-2010.36 Bảng 2.5: Tình hình kinh doanh ngoại tệ tại Techcombank Chi nhánh 37 Bảng2.6 Doanh số thanh toán xuất khẩu đối với DNVVN tại Techcombank Chương Dương năm 2008-2010 39 Bảng 2.7: Biểu phí dịch vụ chuyển tiền dành cho khách hàng doanh nghiệp 42 Bảng 2.8: Tình hình thanh toán nhập khẩu đối với DNVVN tại Techcombank Chương Dương giai đoạn 2008 -2010 43 BIỂU:
Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn tại Techcombank Chương Dương giai đoạn 2008-2010 33 Biểu đồ 2.2: kim ngạch xuất nhập khẩu, cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2006-2020 40 Biểu đồ 2.3 : Tỷ trọng về số món theo các phương thức thanh toán xuất khẩu năm 2008-2010 tại Techcombank Chương Dương (%) 41 Biểu 2.4: Tỷ trọng về số món theo phương thức TTQT đối với DNVVN tại Techcombank Chương Dương giai đoạn 2008-2010 44
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Techcombank hội sở Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam
chi nhánh Chương Dương Hà Nội
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, những biến động thị trường hàng hóa, thị trường tài chính thế giới
đã và đang ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới nền kinh tế đất nước trong mối quan
hệ thị trường thông qua hoạt động đầu tư, hoạt động thương mại dịch vụ giữa cácdoanh nghiệp trong và ngoài nước Đặc biệt là các doanh ngiệp vừa và nhỏ với môhình linh hoạt đã khai thác tối đa các nguồn lực về vốn, lao động, sự ưu đãi thuếquan xuất nhập khẩu… để sản xuất các sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu trongnước và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững.Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển, kimngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng, các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩuhình thành ngày càng nhiều kéo theo các dịch vụ thanh toán quốc tế ở các ngânhàng cũng phát triển mạnh Hơn thế nữa, xu hướng của các ngân hàng hiện nayđang hướng tới là gia tăng tỷ trọng doanh thu từ hoạt động dịch vụ nhằm phát triển
an toàn, bền vững và giảm thiểu rủi ro khi nền kinh tế có biến động Bên cạnh đóviệc các ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập tại Việt Nam khiến sựcạnh tranh giữa các ngân hàng nội và ngoại diễn ra quyết liệt, đòi hỏi các ngân hàngthương mại trong nước buộc phải cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứngtốt nhất nhu cầu của khách hàng mới tạo được lợi thế cạnh tranh để tồn tại và pháttriển mạnh Như vậy, có thể nhận thấy rằng sự phát triển các doanh nghiệp vừa vànhỏ trong hoạt động xuất nhập khẩu đã, đang và sẽ kéo theo nhu cầu, tạo điều kiệnphát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với loại hình doanh nghiệp này ở các ngânhàng thương mại tăng lên
Đối với Ngân hàng TMCP Kỹ thương chi nhánh Chương Dương Hà Nội, bêncạnh những kết quả đạt được đáng khích lệ, dịch vụ thanh toán quốc tế đối vớidoanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng còn tồn tại những hạn chế Cho nên việcphát triển dịch vụ này tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam chi nhánhChương Dương Hà Nội là điều hết sức cần thiết, điều đó không những góp phầnphát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng nói riêng và hệ thống cácngân hàng thương mại nói chung mà còn góp phấn thúc đầy hoạt động xuất nhập
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển.Vì những lí do đó mà đề tài " Phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam Chi nhanh Chương Dương Hà Nôi" đã được chọn.
Trang 7Nội dung bài luận bao gồm :
Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo các Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng về sự phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Chương Dương Hà Nội
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển dịch vụ thanh toán quốc
tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Chương Dương Hà Nội
Trang 8CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ và nhu cầu thanh toán quốc tế
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân được thành lập đểsản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường nhằm mục đíchtìm kiếm lợi nhuận đồng thời đáp ứng nhu cầu của xã hội Về mặt từ ngữ, khái niệmdoanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) gợi cho chúng ta tiêu chuẩn về quy mô, kíchcỡ…Có một điều phải thừa nhận rằng trên thực tế khó có thể có một định nghĩamang tính phổ quát với lý do là môi trường kinh doanh của các DNVVN thườngkhông đồng nhất và không ổn định, các tiêu chí được áp dụng khác nhau tùy theocác văn bản pháp quy liên quan đến chính sách hỗ trợ các DNVVN
Tuy nhiên, vẫn có thể chấp nhận cách phân loại truyền thống dựa vào cáctiêu chuẩn có thể định lượng được (doanh số, số nhân công, vốn) cũng như các phânloại khác dựa vào phân tích các đặc điểm liên quan đến doanh nghiệp như vấn đề sởhữu, chiến lược, mục tiêu của nhà điều hành, cấu trúc tổ chức, quan hệ với thịtrường… để từ đó, có các khái niệm rõ hơn về DNVVN.Hơn nữa, việc xác định cáctiêu chí và định mức để đánh giá quy mô của một DNNVV có sự khác biệt ở cácquốc gia trên thế giới Ngay trong cùng một quốc gia, những tiêu chí này cũng cóthể được thay đổi theo thời gian vì sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nềnkinh tế hay tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia đó Tuy nhiên, các tiêu chí phổbiến nhất được nhiều quốc gia sử dụng là: số lượng lao động bình quân mà doanhnghiệp sử dụng trong năm, tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thuhàng năm của doanh nghiệp
Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB), DNVVN là những DN cóquy mô nhỏ bé về phương diện vốn, lao động hay doanh thu DNVVN có thể chiathành ba loại cũng căn cứ vào quy mô, đó là DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa.Trong đó DN siêu nhỏ là DN có số lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng laođộng từ 10 đến 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động Trong khi đó,theo khối EU, DNVVN là những DN có dưới 250 nhân công: từ 1-9 là siêu nhỏ, 10-
49 là nhỏ và 50-249 là vừa hoặc DNVVN là những DN có doanh số dưới 50 triệuEuro hoặc tổng tài sản dưới 43 triệu Euro Hay ở Nhật Bản, trong ngành sản xuất
Trang 9chế tạo những DN có số lao động từ 100-300 người được coi là DNVVN ( Phụ lục
“Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc gia và khu vực”)
Như vậy, có thể thấy rằng, theo cách tiếp cận định lượng, đa số các nước đều
sử dụng tiêu chí số lao động bình quân để phân biệt DNVVN với DN lớn, chỉ khácđôi chút về con số đưa ra vì còn tùy thuộc vào trình độ phát triển cũng như chínhsách trợ giúp của mỗi quốc gia Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêuchí khác như doanh thu, vốn là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền
tệ Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sựtác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạnglạm phát nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp Điều này giảithích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu chínày thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tínhchất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia
Có thể khái quát như sau:" DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinhdoanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa tùytheo quy mô tổng nguồn vốn ( hoặc tổng tài sản) hoặc số lao động bình quân năm"
1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNVVN có những đặc điểm riêng biệt so với DN lớn, đặc biệt là những đặcđiểm về tài chính gồm rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh
1.1.2.1 Vấn đề sở hữu và thành lập
Các DNVVN được tạo lập khá dễ dàng, có thể quản lý theo quy mô hộ giađình, hoặc quan hệ bạn bè Đề thành lập một DNVVN chỉ cần một số vốn đầu tưban đầu không lớn, số lao động không nhiều nên việc tổ chức sản xuất cung ứngdịch vụ , quản lý tương đối gọn nhẹ Hình thức sở hữu ban đầu có thể có ảnh hướngđến cách tổ chức và sự phát triển của DN Chẳng hạn, các DNVVN mang tính cáchgia đình chắc chắn sẽ có phương cách tổ chức và quản lý khác với một công ty cổphần mà các cổ đông góp vốn không nhất thiết là những người thân thuộc Ngoài ra,với số lao động không nhiều, nhà quản lý sẽ dễ tìm hiểu tâm tư nguyện vọng củangười lao động, từ đó việc quản trị công việc diễn ra có hiệu quả hơn trong việc kếthợp mục tiêu của doanh nghiệp và mục tiêu của cá nhân, dẫn đến hiệu quả trongkinh doanh
Hơn nữa, cùng với môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, các ràocản tham gia vào thị trường hay rút lui khỏi thị trường đối với DNVVN là tương đốithấp đã góp phần khuyến khích các cá nhân tham gia kinh doanh và thành lập doanhnghiệp
1.1.2.2 Mô hình hoạt động
Trang 10Các DNVVN có mô hình hoạt động tương đối linh hoạt, đây chính là một ưuđiểm mô hình của DNVVN Ưu điểm này xuất phát từ chính khả năng, phạm vi vàlĩnh vực hoạt động của loại hình doanh nghiệp này Theo đó với quy mô vốn và laođộng có thể hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuất khác nhau của nền kinh tế: từsản xuất, kinh doanh, chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch,… trong tất cả lĩnh vựccủa nền kinh tế như: công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch… vàhoạt động cả ở khu vực thành thị cũng như nông thông miền núi, mà hoạt động củacác DNVVN rất năng động, linh hoạt phù hợp với nền kinh tế thị trường Trong đó,việc chuyển dịch, chuyển đổi cơ cấu sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thị trườngluôn là lợi thế của DNVVN.
Tuy nhiên, các DNVVN thường chỉ quan tâm đến thị trường truyền thống vànhững khách hàng thường xuyên của mình, không quan tâm đến việc củng cố và mởrộng những thị trường mới Hoạt động của DNVVN thiếu vững chắc, thiếu liên kết
và dễ bị tác động bởi những biến động vĩ mô: mặc dù với ưu thế linh hoạt, cơ cấungành nghề đa dạng, đáp ứng được nhiều nhu cầu của thị trường nhưng do khả năngtài chính hạn chế, DNVVN dễ bị tác động của môi trường vĩ mô trên thị trường nhưtình trạng suy thoái, lạm phát, giá dầu mỏ tăng cao… trong nền kinh tế, dễ gây chocác DNVVN rơi vào tình trạng bế tắc, thậm chí phá sản
1.1.2.3 Về chiến lược/ mục tiêu tăng trưởng và phát triển
Nhiều nghiên cứu cho thấy các chiến lược thực thi của các nhà lãnh đạo cácDNVVN nhằm bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách giữ tính độc lập và tự chủ chodoanh nghiệp Ngay cả khi mục tiêu lợi nhuận cũng không hẳn giống nhau giữa các
DN lớn và các DNVVN Các lý do có thể kể ra như sau: về mặt lợi nhuận, các DNlớn quan tâm đến chiến lược dài hạn, trong khi các DNVVN quan tâm đến cácchính sách ngắn hạn hơn; mục tiêu của các chủ/lãnh đạo DNVVN không phải để giatăng giá trị DN mà là gia tăng giá trị tài sản và nhận các quyền lợi cá nhân của họ
Hơn nữa, vì có sự hạn chế trong nguồn vốn,quy mô sản xuất kinh doanhkhông lớn, sản phẩm tiêu thụ không nhiều cùng với trình độ quản lý kinh doanh củacác chủ DNVVN còn yếu kém, thường dựa vào kinh nghiệm sống, sự từng trảitrong thương trường nên trong chiến lược phát triển dài hạn, DNVVN khó thu hútđược các nhà quản lý và lao động giỏi phục vụ cho công tác điều hành, quản lý
1.1.2.4 Đặc điểm tài chính chuyên biệt của DNVVN
Trang 11Các DNVVN có những đặc điểm tài chính tương đối khác biệt so với các DNlớn như tính chất khó khăn trong việc tách biệt các nguồn lực tài chính của DN vớitài chính của cá nhân chủ sở hữu doanh nghiệp; các vấn đề về thừa kế, nối nghiệp
có thể làm cho các dự đoán về sự phát triển của DN trở nên khó khăn hơn.v.v., đặcbiệt là khối lượng rủi ro mà DNVVN có thể gặp phải
Rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh có thể được định nghĩa như sự nhạy cảm của các hoạt động
DN trước những thay đổi đột ngột của môi trường, và sự thiếu khả năng của DN trongviệc cung ứng các sản phẩm có chi phí thấp hơn Rủi ro kinh doanh mà DNVVNthường gặp đó là rủi ro thương mại, rủi ro quản lý và rủi ro công nghệ/sản xuất
Rủi ro thương mại liên quan đến những nhân tố có ảnh hưởng đến việc tănggiảm doanh số của DN: quy mô của thị trường tiềm năng, khả năng đáp ứng chiếnlược cạnh tranh hiện tại và tương lai Đối với các DNVVN, loai rủi ro này được bộc
lộ qua sự phụ thuộc mạnh vào một hay một số rất ít khách hàng, thiếu đa dạng hóa,thiếu hiểu biết về nhu cầu của khách hàng v.v Với các lý do trên, các DNVVN cóthể được tài trợ với một lãi suất cao hơn bới các chủ nợ do phần bù rủi ro cao hơn(so với DN lớn) đã được đưa vào khi tính toán lãi suất
Rủi ro quản lý liên quan đến toàn bộ các hoạt động quản lý, do sự thiếu kiếnthức quản lý về quản lý nhân sự, không tổ chức quản lý và hoạch định tài chính DN,
do hệ thống tin học và kế toán yếu kém Giới chủ và những người điều hành cácDNVVN do thường chuyên trách một công việc đặc biệt nào đó trong hoạt độngcủa DN nên ít quan tâm đến các lĩnh vực hoạt động khác Điều nà cũng tạo theo lý
lẽ cho các chủ nợ khi cho rằng rủi ro của các DNVVN cao hơn của các DN lớn
Rủi ro công nghệ/sản xuất có liên hệ đặc biệt đến cấu trúc sản xuất, nhân tốxác định giá thành sản phẩm cũng như tính cạnh tranh của các sản phẩm đó Rủi rocông nghệ/sản xuất nói lên sự thiếu khả năng sản xuất ra sản phẩm với chi phí cạnhtranh; thiếu khả năng áp dụng các công nghệ thích ứng; sự thiếu hiểu biết về sự tiếntriển của công nghệ và thiết bị sản xuất, thiếu các hoạt động nghiên cứu phát triển.Loại rủi ro này có mức độ khác nhau giữa các DN, tùy theo lĩnh vực hoạt động vàcác đặc điểm liên quan đến chủ/người điều hành DN
Rủi ro về tài chính
Thông thường, các chủ nợ xác định rủi ro tài chính của một DN thông quaviệc phân tích cấu trúc tài chính của nó, để nhận diện khả năng thực hiện các camkết cho các nghĩa vụ nợ trong tương lai Khi phân tích các hồ sơ đề nghị vay vốn,các định chế tài chính quan tâm đến bản chất và số lượng của các khoản nợ thể hiệntrên các tài liệu kế toán, nhằm mục đích xác định mức độ mà họ có thể tài trợ bởi lẽ,
Trang 12giữa khối lượng nợ của DN và rủi ro tài chính của DN có mối quan hệ với nhau.Các DNVVN thường có nguồn vốn không lớn, khi sản xuất kinh doanh họ thườngphải thực hiện vay vốn từ các tổ chức tín dụng Khối lượng các khoản nợ tăng lêncùng với rủi ro kinh doanh có thể xảy ra dẫn đến rủi ro tài chính là điều không thểtránh khỏi Rủi ro kinh doanh sẽ kéo theo sự tụt giảm của lợi nhuận, do đó DN rơivào tình trạng bất khả trong việc tôn trọng các cam kết đến hạn.
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Bởi tính đặc trưng có mô hình hoạt động linh hoạt, có khả năng thành lập dễdàng ở trên mọi lĩnh vực hoạt động cũng như mọi vùng nông thôn đến thành thị, ởcác thị trường ngách mà các DN lớn không để ý tới, cũng như việc dễ dàng chuyểnđổi sang ngành nghề khác, các DNVVN đã tạo ra một khối lượng công việc đáng kểcho người lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người laođộng Các DNVVN có thể tham gia góp phần vào công việc đào tạo, nâng cao taynghề cho người lao động và phát triển nguồn nhân lưc Một bộ phận lớn lao độngtrong nông nghiệp và số lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc làm có thểđược thu hút vào các DNVVN để thích ứng với nề nếp tác phong công nghiệp vàmột số ngành dịch vụ liên quan
Đối với sự phát triển kinh tế, các DNVVN đóng góp vào tăng trưởng củatổng sản phẩm trong nước (GDP), đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhànước thông qua các khoản thuế và huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xãhội nhằm đầu tư và phát triển kinh tế Do mô hình linh hoạt nên các DNVVN dễchuyển đổi và thay đổi định hướng kinh doanh đã giúp các DNVVN và DN lớn tạomối liên kết hiệu quả trong các chuỗi giá trị Trong mối quan hệ với các DN lớn thìcác DNVVN còn mang tính chất là một vệ tinh, ngành công nghiệp phụ trợ Bêncạnh đó, các DNVVN trong quá trình luân chuyển hàng hóa, dịch vụ đã tạo ra sựcân đối nền kinh tế giữa các vùng góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơcấu lao động và phân công lao động giữa các vùng - địa phương Sự phát triển củaDNVVN có thể thu hút ngày càng nhiều lao động ở nông thôn đồng thời một sốlượng lớn lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc làm, lực lượng lao độngnày chủ yếu tập trung vào các ngành phi công nghiệp, công nghiệp và đã giúpchuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, cơ cấu ngành, cơ cấu các thành phần kinh tế,góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của quốc gia
Một số vai trò khác của DNVVN: góp phần tạo môi trường kinh doanh, tự docạnh tranh và giảm độc quyền, đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế; phát huy đượctiềm lực trong nước trong điều kiện nền kinh tế có xuất phát điểm với nguồn vốnthấp, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu, trình độ kỹ năng của lao động còn yếu Với
Trang 13sự tạo lập dễ dàng, DNVVN có thể phát triển rộng rãi ở mọi vũng lãnh thổ và tạo ranhững sản phẩm phong phú, đa dạng đồng thời góp phần tích cực trong khâu phânphối hàng hóa, đảm bảo nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội và bình ổn giá cả giữacác vùng và các địa phương Ngoài ra, các DNVVN cũng góp phần giữ gìn và pháttriển các ngành nghề truyền thống, cụ thể là những DN được thành lập để duy trìcác đặc sản vùng miền…
1.1.4 Nhu cầu thanh toán quốc tế của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tham gia vào nền kinh tế thị trường cũng đồng nghĩa với sự hội nhập kinh tếquốc tế, sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển hoạt động xuất nhập khẩu của một quốcgia dựa trên lợi thế, thế mạnh riêng của nước đó Một khi hoạt động xuất nhập khẩuphát triển sẽ kéo theo nhu cầu về thanh toán quốc tế của các DN ngày càng tăng,đặc biệt đối với các DNVVN – chủ thể có vai trò ngày càng quan trọng trong sựphát huy nội lực nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, bởi sự hạn chế về vốn, về côngnghệ, rảo cản về khoảng cách địa lý, văn hóa giữa các nước cũng như thông tin vềđối tác, uy tín của các bên tham gia sẽ gây khó khăn trong việc thực hiện thanh toángiữa các bên, các DNVVN sẽ gặp rủi ro lớn nếu không tìm hiểu kỹ Hơn nữa, đa sốcác chủ DNVVN có trình độ quản lý thấp, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bảnthân cho nên sẽ gặp khó khăn trong việc xử lý các công việc mang tính chất phứctạp, tính quốc tế từ khâu ký hợp đồng đến việc kết thúc hợp đồng, thanh toán…gâynên những sai sót trong thu tục, quy trình thanh toán quốc tế, làm chậm tiến trìnhtrong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương Điều này, đòi hỏi phải có một bêntham gia giữ vai trò trung gian giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu, giúp cho DNgiảm được những khó khăn trong thanh toán quốc tế Do đó, phát triển các dịch vụthanh toán quốc tế đối với DNVVN tại các NHTM là điều cần thiết
1.2 Phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các Ngân hàng thương mại
1.2.1 Đặc điểm của dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Dịch vụ thanh toán quốc tế đối với DNVVN cũng mang những đặc điểmchung của thanh toán quốc tế Đó là:
Thanh toán liên quan tới đồng tiền, địa điểm, phương thức và thời gian thanhtoán
Khi tiến hành hoạt động TTQT, cần phải xác định 5 vấn đề quan trọng, đó làđồng tiền, địa điểm, phương tiện, phương thức và thời gian thanh toán Lựa chọnđồng tiền nào là một vấn đề quan trọng, vì không phải bất kỳ đồng tiền nào củanước nào cũng có khả năng thục hiện TTQT, mà đồng tiền đó phải mạnh, được cácnước thừa nhận thực hiện trong hoạt động TTQT, tiếp đến lựa chọn đồng tiền nào
Trang 14để phù hợp với nội dung cụ thể của hoạt động TTQT, nhằm mang lại hiệu quả(thanh toán nhanh, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất, đáp ứng được lợi ích của cácbên…) Do vậy, khi ký kết các hợp đồng thương mại, tín dụng, hay các dịch vụ, cácbên đàm phán thường thống nhất về loại ngại tệ được dùng trong giao dịch là đồngtiền của nước nhập khẩu, nước xuất khẩu hay nước thứ ba.
Chịu ảnh hưởng của các chính sách về tỷ giá hối đoái của NHNN và sự biếnđộng về tiền tệ
Khác với thanh toán nội địa, TTQT thường gặp nhiều rủi ro do sự biến độngcủa tiền tệ, sự bất ổn chính trị của một quốc gia, do sự khác biệt về luật pháp, cơ chếchính sách, do vị trí địa lý của các bên tham gia cách nhau làm hạn chế việc tìmhiểu khả năng thanh toán của con nợ… Do vậy các nghiệp vụ đảm bảo, bảo lãnhcủa ngân hàng, hoạt động tín dụng của các tổ chức tiền tệ, tài chính ra đời như làmột yếu tố không thể thiếu để hỗ trợ cho hoạt động TTQT
TTQT chịu ảnh hưởng của luật lệ và tập quán quốc tế
Ngoài những đặc điểm chung, TTQT đối với DNVVN cũng có một số đặcđiểm riêng khác với đối tượng của TTQT là doanh nghiệp lớn như : Đối tượng cungcấp dịch vụ này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; giao dịch TTQT đối với DNVVN
là các giao dịch có quy mô nhỏ Bởi chính vì các DNVVN thường ký các hợp đồngngoại thương có giá trị nhỏ; so với doanh nghiệp lớn, thì phí của dịch vụ nàythường không lớn cho một lần giao dịch vì giá trị hợp đồng xuất khẩu hay nhậpkhẩu thường không cao; Thời gian thực hiện xong hợp đồng nhanh, do đó thì việcthanh toán cũng sẽ diễn ra sớm so với từ lúc thực hiện hợp đồng đến khi kết thúc;Thủ tục và việc ký quỹ của doanh nghiệp cũng ít hơn, nhưng thường sẽ phải ký quỹ100% giá trị hợp đồng ngoại thương Do uy tín kinh doanh của các DNVVN cònhạn chế, các NHTM ít tin tưởng vào DNVVN
1.2.2 Các sản phẩm dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Dịch vụ thanh toán nhập khẩu
Đối với hoạt động nhập khẩu, các NHTM cung cấp dịch vụ tín dụng thư làphổ biến Tín dụng thư là cam kết thanh toán của Ngân hàng, đại diện cho nhà nhậpkhẩu, sẽ thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ khi người hưởng lợi xuất trình bộchứng từ thanh toán phù hợp với những qui định của Tín Dụng thư Tín dụng thưđảm bảo người mua chỉ thanh toán khi các chứng từ giao hàng được xuất trình phùhợp với yêu cầu của tín dụng thư
Dù doanh nghiệp sử dụng hình thức tín dụng chứng từ hay nhờ thu để thanhtoán cho hàng hóa nhập khẩu, doanh nghiệp vẫn cần sự hỗ trợ tài chính từ ngân
Trang 15hàng để thực hiện cam kết thanh toán của mình Vì thế, tài trợ nhập khẩu cũng làmột sản phẩm dịch vụ phổ biến mà NHTM cung cấp cho các DN nhập khẩu.
1.2.2.2 Dịch vụ thanh toán xuất khẩu
Đối với hoạt động xuất khẩu, các NHTM có thể cung cấp các dịch vụ sau:
Nhờ thu xuất khẩu: NHTM cung cấp dịch vụ này nhằm giảm thiểu chi phícho doanh nghiệp, trong đó có 2 loại hình nhờ thu: Nhờ thu trả ngay (D/P) - chứng
từ nhận hàng sẽ được ngân hàng giao cho nhà nhập khẩu khi nhà nhập khẩu đã thựchiện thanh toán; Nhờ thu trả chậm (D/A) - chứng từ nhận hàng sẽ được ngân hànggiao cho nhà nhập khẩu khi nhà nhập khẩu chấp nhận thanh toán
Tín dụng thư: Ngân hàng có thể cung cấp các dịch vụ đa dạng về phươngthức thanh toán tín dụng chững từ sau:
- Xác nhận tín dụng thư: Với thư tín dụng xác nhận bởi Ngân hàng, doanhnghiệp có thể được giảm thiểu rùi ro phát sinh tại quốc gia người nhập khẩu và antâm về những cam kết thanh toán từ ngân hàng phát hành tín dụng thư
- Thông báo tín dụng thư: Ngân hàng có thể kiểm tra tính chân thực của tíndụng thư được mở cho doanh nghiệp hưởng, giúp DN tổ chức giao hàng nhanhchóng khi ngân hàng thông báo trước nội dung tín dụng thư cho DN bằng điện thoạihay fax DN cũng có thể đăng ký dịch vụ thông báo điện tử của Ngân hàng để nhậncác bản sao điện tử của tất cả các tín dụng thư gửi qua hệ thống SWIFT và cácthông báo khác Các dịch vụ này giúp nâng cao hiệu quả và tốc độ liên lạc
- Dịch vụ lưu trữ tín dụng thư: với dịch vụ này, các tín dụng thư gốc được bảođảm cất giữ an toàn tại bất kỳ chi nhánh nào của ngân hàng tùy theo lựa chọn của
DN, giúp tiết kiệm không gian lưu trữ và đem đến sự an toàn cho DN
- Các dịch vụ tài trợ xuất khẩu đa dạng của Ngân hàng giúp bù đắp sự thiếu hụtnguồn vốn trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm: tài trợ trước khigiao hàng - Ngân hàng cung cấp các khoản vay nhằm hỗ trợ bổ sung nguồn vốn tiềnmặt trong khi DN hoàn tất các hợp đồng giao hàng; Tài trợ sau khi giao hàng -Ngân hàng có thể chiết khấu các chứng từ sạch và trả cho DN giá trị đã được chiếtkhấu của hóa đơn giao hàng
Ngoài ra, các NHTM có thể cung cấp các dịch vụ khác cho các DNVVN nhưbảo toàn tín dụng - ngân hàng có thể bảo hiểm từ 90% đến 100% giá trị hóa đơn bánhàng khi doanh nghiệp xuất khẩu hàng tới các quốc gia khác nhau; quản lý khoảnphải thu - Ngân hàng hỗ trợ những kiến thức quản lý thiết yếu để doanh nghiệpquản lý công việc kinh doanh hiệu quả…
1.2.3 Vai trò của dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doah nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
Trang 16Cùng với sự hội nhập kinh tế thế giới, các dịch vụ ngân hàng quốc tế củaNHTM cũng phát triển Trong đó, dịch vụ TTQT ngày càng thể hiện vai trò quantrọng, đặc biệt là vai trò của dịch vụ này đối với đối tượng là DNVVN trong bốicảnh hội nhập và cạnh tranh quyết liệt.
Đối với khách hàng là DNVVN, vai trò trung gian của thanh toán trong hoạtđộng TTQT của các NHTM giúp quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàngđược tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí.Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu khách hàng không có đủ khả năng tàichính cần đến sự tài trợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ chiết khấu bộ chứng từ Quaviệc thực hiện thanh toán, ngân hàng còn có thể giám sát được tình hình kinh doanhcủa doanh nghiệp để có những tư vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến lượckhách hàng
Đối với bản thân ngân hàng, có thể nói thanh toán quốc tế đối với doanhnghiệp vừa và nhỏ là một mảng đóng góp và hỗ trợ cho sự phát triển, khả năng baophủ thị trường của các NHTM Điều đó được thể hiện ở những mặt sau:
- Dịch vụ TTQT đối với DNVVN giúp Ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đadạng của DN về các dịch vụ tài chính có liên quan đến TTQT như phát triển dịch vụtín dụng xuất nhập khẩu.v.v Trên cơ sở đó giúp ngân hàng tăng doanh thu, nângcao uy tín cho ngân hàng và tạo dựng niềm tin cho khách hàng Bởi khi khách hàngcàng nhiều thì doanh thu từ phí dịch vụ sẽ càng lớn, lợi nhuận của Ngân hàng tănglên Đồng thời, TTQT không chỉ là một hoạt động đơn thuần mà còn là hoạt động
hỗ trợ cho sự phát triển các hoạt động khác của NHTM như tăng nguồn huy độngvốn từ việc ký quỹ, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh thanh toán, tài trợ thương mại…
- Hoạt động TTQT đối với DNVVN cũng làm tăng mối quan hệ đối ngoại củangân hàng, giúp ngân hàng thu hút được một số lượng lớn khách hàng là DNVVN
Từ đó, không chỉ giúp ngân hàng mở rộng mạng lưới ngân hàng, quy mô hoạt động
mà còn là một ưu thế tạo nên sức cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường
- Với sự phát triển của dịch vụ này, tạo điều kiện hiện đại hóa công nghệ ngânhàng Các ngân hàng sẽ áp dụng công nghệ tiên tiến để hoạt động TTQT được thựchiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộngquy mô và mạng lưới ngân hàng
- Hoạt động TTQT đối với DNVVN cũng làm tăng cường khả năng cạnh tranh
và nâng cao úy tín của Ngân hàng trên trường quốc tế, trên cơ sở đó khai thácnguồn tài trợ của các Ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chínhquốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng
Trang 171.2.4 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các Ngân hàng thương mại
Có nhiều tiêu chí để đánh giá phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối vớiDNVVN của các NHTM Có thể sử dụng tiêu chí đánh giá tài chính tức là thôngqua các chỉ tiêu về doanh số, lợi nhuận, chi phí, rủi ro… để đưa ra một nhận định làhoạt động đó có phát triển hay không, phát triển có đều và ổn định hay không hoặc
có thể phản ánh phần nào sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng, sự bao phủ thịtrường của ngân hàng Ngoải ra, người ta cũng có thể đánh giá sự phát triển thôngqua tiêu chí đánh giá phi tài chính như sự phát triển của các dịch vụ hỗ trợ, thời gianthanh toán…Các chỉ tiêu này đều góp phần phản ánh sự phát triển của dịch vụ trênmột cách khá toàn diện tới mức độ đến đâu
1.2.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá tài chính
Các chỉ tiêu doanh thu và tỷ trọng:
Chỉ tiêu lợi nhuận ròng từ hoạt động TTQT
Lợi nhuận TTQT = Doanh thu TTQT – Chi phí TTQT
Chi phí là tất cả các loại phí mà ngân hàng phải bỏ ra để phục vụ phát triểnhoạt động này, bao gồm chi phí cho cán bộ công nhân viên, chi phí trang thiết bị,…
Trang 18Để dịch vụ TTQT càng phát triển, lợi nhuận thu được tăng lên các ngân hàngthường tìm cách cắt giảm chi phí hoạt động, tăng năng suất lao động trên cơ sở ápdụng công nghệ mới và nâng cao trình độ cán bộ làm công tác TTQT.
1.2.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá phi tài chính
Chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế đối với DNVVN
Đây là một tiêu chí quan trọng phản ánh được sức cạnh tranh của ngân hàngtrong thời kỳ kinh tế thị trường, cũng như phản ánh sức cạnh tranh trong việc cungcấp dịch vụ này tốt đến mức độ nào Bởi vì bất cứ ai, bất cứ khách hàng doanhnghiệp nào cũng muốn được sử dụng một dịch vụ có chất lượng tốt, phù hợp vớinhu cầu Đặc biệt với dịch vụ thanh toán quốc tế thì lại cần một dịch vụ có tính tiệních, nhanh chóng, chính xác, an toàn, đơn giản và dễ thực hiện Sự cải tiến chấtlượng ở đây có thể được đo bằng:
Thời gian xử lý một hợp đồng (hay một giao dịch) TTQT cần phải nhanh vàtránh cho khách hàng sự chờ đợi khi tham gia giao dịch Mặt khác dịch vụ TTQT làmột dịch vụ trung gian có liên quan đến khâu luân chuyển hàng hóa quốc tế nêncàng đòi hỏi tính gấp rút về thời gian
Tính chính xác trong khâu luân chuyển và xử lý hợp đồng nhằm tránh sựtranh chấp, kiện tụng cho các bên liên quan Nhất là khi trách nhiệm của NHTMngày một cao hơn trong mỗi phương thức TTQT lại càng đòi hỏi NHTM phải xử lýhợp đồng, giao dịch một cách đúng đắn, rõ ràng và chính xác
Phí dịch vụ cũng là một tiêu chí để đánh giá sự phát triển của dịch vụ TTQTđối với DNVVN tại NHTM Một mức phí phù hợp với từng đối tượng khách hàng
là một câu hỏi khó cho không ít các NHTM Mức phí phù hợp phải nằm trong giớihạn chi trả của khách hàng va phải mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng
Tính thuận tiện đem lại cho khách hàng có thể được đánh giá qua sự hài lòngcủa khách hàng về chất lượng dịch vụ TTQT tại NHTM Có thể hiểu chất lượngdịch vụ bao hàm một sự so sánh giữa sự mong đợi và thực hiện Đó là sự đo lườngphân phối dịch vụ phù hợp với nghĩa là thực hiện sự chuyển giao dịch vụ sao chophù hợp với sự mong đợi của khách hàng tốt đến mức nào Phân phối dịch vụ cónghĩa là sự thực hiện sự chuyển giao dịch vụ sao cho phù hợp với những mong đợicủa khách hàng trên một nền tảng tương thích với mức độ mong đợi Sự hài lòngcủa khách hàng có liên quan tới chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ cao, mức độthoả mãn đạt được sự mong đợi, khách hàng sẽ vui vẻ hài lòng Ngược lại nếu chấtlượng dịch vụ thấp, mức độ thoả mãn thấp hơn giá trị mong đợi, sẽ làm khách hàngthất vọng Chính vì vậy, tính thuận tiện đem lại cho khách hàng là một tiêu chí đánhgiá quan trọng nhưng lại khó đo lường và chỉ ra cụ thể
Trang 19Sự phát triển của các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động thanh toán quốc tế
Bởi các dịch vụ như kinh doanh ngoại tệ, quản trị rủi ro, tín dụng xuất nhậpkhẩu, ký quỹ… có ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng Như
sự phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ là đề cập đến mối quan hệ lượng hóagiữa doanh số TTQT và doanh số kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mạiqua các mốc thời gian vì trong quá trình thực hiện nghiệp vụ TTQT, khi khách hàng
có nhu cầu mua ngoại tệ để thanh toán tiền hàng NK thì ngân hàng sẽ tiến hành bánngoại tệ và sẽ tiến hành mua lại ngoại tệ đối với các khách hàng có nguồn ngoại tệthu về do hoạt động XK hàng hóa Khi nghiệp vụ thanh toán hàng XNK qua ngânhàng càng nhiều thì sẽ càng tạo điều kiện cho NH phát triển hoạt động thanh toánquốc tế, tăng doanh thu dịch vụ và nâng cao hiệu quả kinh doanh của NH
Sự gia tăng về số lượng DNVVN sử dụng dịch vụ này
Đây là chỉ tiêu phản ánh được sức hút của ngân hàng trong việc phát triểndịch vụ thanh toán quốc tế đối với DNVVN Và thể hiện được phần nào nhu cầunày trên thị trường cũng như sự phát triển về xuất nhập khẩu trong giai đoạn, thời
kỳ đó
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại
1.2.5.1 Nhân tố khách quan
a Chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước
Chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi nước đề ra nhằm mục đích điều tiết, địnhhướng phát triển nền kinh tế Một số chính sách có ảnh hưởng trực tiếp hoặc giántiếp đến hoạt động Thanh toán quốc tế của các Ngân hàng thương mại như: Chínhsách kinh tế đối ngoại, Chính sách quản lý ngoại hối, Chính sách tỷ giá, Chính sáchthuế, Chính sách quản lý xuất nhập khẩu …
Chính sách kinh tế đối ngoại
Kinh tế đối ngoại là một lĩnh vực rộng lớn bao gồm hoạt động ngoại thương,đầu tư tài chính, dịch vụ quốc tế, chuyển giao công nghệ và nhiều hoạt động kinh tếkhác, trong đó ngoại thương là hoạt động trọng tâm Thanh toán quốc tế giữa cácDNVVN về bản chất chính là việc thanh toán những khoản nợ giữa các DN của cácquốc gia trong các quan hệ: kinh tế, văn hoá, chính trị …Chính sách kinh tế đốingoại có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của hoạt động ngoại thương
Vì vậy, chính sách kinh tế đối ngoại là cơ sở và nền tảng có tác động trực tiếp đếnhoạt động thanh toán quốc tế
Chính sách ngoại hối
Trang 20Chính sách ngoại hối là những quy định pháp lý, thể lệ của ngân hàng nhànước trong vấn đề quản lý ngoại tệ, quản lý vàng bạc, đá quý và các giấy tờ có giátrị bằng ngoại tệ trong quan hệ thanh toán, tín dụng với nước ngoài Là trung giantài chính, khi thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế Ngân hàng thương mại đóngvai trò kiểm soát dòng tiền ra vào của một quốc gia Vì vậy, các ngân hàng thươngmại được phép tham gia hoạt động thanh toán quốc tế phải tuân thủ nghiêm ngặt cácquy định về quản lý ngoại hối do ngân hàng nhà nước ban hành Chính sách ngoạihối của nhà nước có tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán và ảnh hưởng đếnkhả năng cân đối ngoại tệ phục vụ cho thanh toán quốc tế
Chính sách thuế và quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu
Thanh toán quốc tế về bản chất là một dịch vụ do ngân hàng cung cấp đểthực hiện các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh giữa các quốc gia Nó là khâu trung giangiúp hoạt động xuất nhập khẩu được diễn ra thuận lợi hơn
Chính sách thuế và chính sách quản lý hàng xuất nhập khẩu có tác dụngkhuyến khích hoặc thu hẹp hoạt động xuất nhập khẩu Chẳng hạn, khi Chính phủquyết định tăng thuế đầu vào đối với hàng nhập khẩu Giá của hàng nhập khẩu trởnên đắt hơn ở thị trường nội địa, làm giảm nhập khẩu và ngược lại Tương tự, khiChính phủ quyết định tăng hoặc giảm thuế xuất khẩu có thể giúp mở rộng hay thuhẹp hoạt động xuất khẩu
Như vậy, một chính sách thuế và quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu hợp lý sẽ
có tác dụng trực tiếp tới việc mở rộng hay thu hẹp hoạt động xuất nhập khẩu củacác DNVVN tại một quốc gia và cũng là điều kiện gián tiếp để ngân hàng thươngmại mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế đối với loại hình DN này
b Sự phát triển của hoạt động ngoại thương
Như đã nói ở trên, hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoạithương (xuất nhập khẩu) nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thanh toánquốc tế của các ngân hàng thương mại Hoạt động ngoại thương phát triển làm phátsinh nhiều nhu cầu thực hiện nghĩa vụ tiền tệ của quốc gia này đối với quốc giakhác Khi hoạt động ngoại thương càng phát triển trên phạm vi toàn cầu cả về chiềurộng và chiều sâu giữa các chủ thể khác nhau của các quốc gia khác nhau Điều này,càng làm tăng tính phức tạp của hoạt động ngoại thương, làm phát sinh những nhucầu đảm bảo an toàn, chính xác và hiệu quả trong thực hiện các nghĩa vụ tiền tệgiữa các chủ thể tham gia Trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, các ngân hàngthương mại là cầu nối thanh toán tham gia mạnh mẽ vào các quan hệ thương mạigiữa các DN trong nước với các tổ chức và cá nhân nước ngoài, giúp các nhà kinh
Trang 21doanh xuất nhập khẩu đạt được các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh, thực hiện đượcyêu cầu của chính sách kinh tế đối ngoại
c Môi trường pháp lý
Để hội nhập vào cộng đồng quốc tế, khung pháp lý của mỗi quốc gia cầnphải được bổ sung, hoàn thiện theo hướng gần với thông lệ quốc tế Các văn bảnpháp luật liên quan đến thanh toán quốc tế được ban hành nhằm hướng dẫn và điềuchỉnh cho các hoạt động liên quan đến thanh toán quốc tế được thống nhất và diễn
ra thuận lợi giữa các chủ thể Tuy nhiên hoạt động thanh toán quốc tế có tính chấtphức tạp hơn so với thanh toán trong nước, nó không chỉ chịu sự điều chỉnh củapháp luật quốc gia mà còn chịu tác động của luật quốc tế và pháp luật của các quốcgia khác có liên quan Do vậy, nếu các văn bản pháp luật được ban hành chồngchéo, mâu thuẫn với thông lệ quốc tế sẽ gây khó khăn cho các ngân hàng thươngmại cũng như các chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế
sự thuận lợi cho khách hàng, dễ thực hiện đối với cán bộ thanh toán quốc tế nhưngvẫn đảm bảo được độ an toàn cho ngân hàng Việc tổ chức thực hiện tốt sẽ giúphoạt động thanh toán quốc tế diễn ra nhanh chóng và an toàn đáp ứng tốt nhu cầucủa khách hàng
b Mạng lưới thanh toán quốc tế
Mạng lưới thanh toán quốc tế là cách thức tổ chức các chi nhánh, các điểmgiao dịch thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế Mạng lưới thanh toán quốc tế ảnhhưởng trực tiếp đến việc thu hút khách hàng, đối tượng khách hàng mà ngân hànghướng tới
Mặc dù, việc tổ chức thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế của mỗi ngânhàng là khác nhau song thường tập trung ở các thành phố lớn nơi có sự tập trungđông các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và phát sinh nhiều nhu cầu thanh toán quốc
tế Tuy nhiên đây cũng là nơi diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàngthương mại trong thu hút khách hàng
c Nguồn nhân lực của ngân hàng thương mại
Trang 22Nguồn nhân lực của ngân hàng cũng là một trong những yếu tố quan trọngtrong phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng bởi con người chính làyếu tố quyết định trong mọi hoạt động kinh tế Thanh toán quốc tế đòi hỏi đội ngũcán bộ phải am hiểu về luật pháp, các thông lệ quốc tế, tập quán thương mại cácnước và có khả năng nắm bắt kịp thời các thay đổi trong thương mại, các sản phẩmdịch vụ trong hoạt động thanh toán quốc tế.Nếu cán bộ nhân viên chưa thành thạonghiệp vụ sẽ làm chậm quá trình thanh toán và tạo ra những sai sót không mongmuốn ( qua đó gián tiếp tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của kháchhàng khi thực hiện hợp đồng ngoại thương tại ngân hàng ) Trình độ của đội ngũnhân viên thanh toán có đồng bộ thì công tác thực hiện mới diễn ra nhanh chóng,không bị gián đoạn và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng Bên cạnh đó phongcách của mỗi cán bộ nhân viên trong khi thực hiện các giao dịch cũng ảnh hưởngkhá lớn tới kết quả của hoạt động TTQT của mỗi ngân hàng.
d Uy tín của Ngân hàng thương mại trong thanh toán quốc tế
Uy tín của ngân hàng trong nước và trên thị trường quốc tế là tiêu chí tổnghợp từ rất nhiều yếu tố: chất lượng dịch vụ, kỹ thuật xử lý nghiệp vụ, khả năngthanh toán … Một ngân hàng có uy tín sẽ là điều kiện để khách hàng (hoặc bên đốitác của họ) lựa chọn giao dịch Nhờ đó, uy tín của khách hàng cũng được nâng lên,
độ rủi ro giảm, khách hàng cũng giảm được chi phí phát sinh từ việc giao dịch vớingân hàng có uy tín không cao Đây là điều kiện quan trọng để ngân hàng thu hútthêm khách hàng và mở rộng thị phần thanh toán quốc tế Tuy nhiên, uy tín của mỗingân hàng không chỉ phụ thuộc vào ngân hàng trung ương của nó mà còn do bảnthân mỗi chi nhánh của nó quyết định
1.3 Các điều kiện phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
Kinh tế càng phát triển, càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, thanhtoán quốc tế trong các ngân hàng thương mại càng cần được xem xét, hoàn thiện vàphát triển để đáp ứng nhu cầu của các chủ thể tham gia vào quá trình thanh toán,đặc biệt là đối với các DNVVN Tuy nhiên, việc mở rộng và phát triển các dịch vụthanh toán quốc tế trong các ngân hàng thương mại cần đáp ứng các điều kiện mớinhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng
1.3.1 Điều kiện về hoạch định chiến lược phát triển các dịch vụ thanh toán quốc
tế nói chung
Để ngân hàng hay bất cứ một tổ chức, một hoạt động kinh tế nào có thể tồntại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiệu nay đều phải xây dựngmột chiến lược kinh doanh Từ chiến lược kinh doanh đó, ngân hàng tiến hành
Trang 23hoạch định các chiến lược cụ thể cho các hoạt động của ngân hàng, trong đó khôngthể thiếu chiến lược cung ứng các dịch vụ thanh toán quốc tế Việc xây dựng chiếnlược phát triển chung cho hoạt động của ngân hàng hay xây dựng chiến lược pháttriển dịch vụ thanh toán quốc tế đối với DNVVN phải được tiến hành theo các nộidung sau:
Phân tích môi trường kinh doanh
Bởi môi trường kinh doanh là nơi mà mọi hoạt động của ngân hàng trong đó
có hoạt động thanh toán quốc tế tồn tại và phát triển Sự thay đổi của môi trườngkinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàngthương mại nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng Việc xây dựngchiến lược kinh doanh đòi hỏi phải có sự phân tích, nghiên cứu kỹ môi trường kinhdoanh Môi trường kinh doanh bao gồm: thứ nhất, môi trường kinh tế bởi hoạt độngthanh toán quốc tế không chỉ có các đối tác là các DNVVN trong nước mà còn cócác đối tác nước ngoài, vì thế, phải phân tích thực trạng và xu hướng phát triển củakinh tế quốc tế và khu vực trong tương lai (thường là mười năm trở lên); thứ hai,phân tích môi trường pháp lý: bất cứ một hoạt động kinh tế nào cũng chịu sự điềuchỉnh của hệ thống luật pháp, đặc biệt hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàngcòn liên quan đến hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia đối tác
Vì vậy phải nghiên cứu kỹ các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toánquốc tế của các ngân hàng thương mại
Xác định vị thế của Ngân hàng Việc xác định tiềm lực của ngân hàng phải
được đặt trong sự xem xét đánh giá với khả năng nội tại của chúng để tìm ra hướngkhai thác và phát triển Do vậy nhiệm vụ quan trọng trong xác định tiềm lực củangân hàng là phải phân tích chính xác tình hình hiện tại về các yếu tố kinh doanh, từ
đó thấy được khả năng sử dụng và khai thác các yếu tố đó Ngoài ra, để xác địnhđược vị thế của mình, ngân hàng còn phải biết được tiềm lực của các đối thủ cạnhtranh Phân tích được ưu nhược điểm của mỗi hoạt động của mình (trong đó có hoạtđộng thanh toán quốc tế) với hoạt động đó của các ngân hàng thương mại khác
Xác định nhu cầu của thị trường Ngân hàng Muốn xác định được thị phần
phù hợp với mục tiêu phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng, trướchết ngân hàng cần hiểu rõ về thị trường, nhu cầu của thị trường Đặc biệt đối vớikhách hàng là các DNVVN, ngân hàng càng cần hiểu rõ, nắm bắt hơn về nhu cầuthanh toán quốc tế trong hoạt động xuất nhập khẩu của họ để có thể đáp ứng kịpthời, chính xác
Xác định sản phẩm và dịch vụ thanh toán quốc tế Từ các bước phân tích ở
trên, Ngân hàng hoàn toàn có thể đưa ra ý tưởng về sản phẩm và dịch vụ thanh toán
Trang 24quốc tế mà ngân hàng hướng đến phục vụ Tuy nhiên, việc xác định thị phần củahoạt động thanh toán quốc tế phải đảm bảo sự cân đối với các hoạt động khác củangân hàng và nằm trong chiến lược phát triển chung của toàn ngân hàng Hơn nữa,việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ cũng cần dựa trên khả năng hiện có của đơn vị.
Quyết định chiến lược phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế
Thông qua các phân tích ở trên, có thể cho phép các nhà lãnh đạo ngân hàngđưa ra chiến lược phát triển cho dịch vụ thanh toán quốc tế của mình Trong chiếnlược này, cần chỉ ra được: Thị trường chủ yếu, các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu,cách thức chính để thực hiện chiến lược phát triển đã đề ra Tuy nhiên, trong quátrình quyết định chiến lược phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế cần chú ý đến sựphù hợp phát triển dịch vụ TTQT với sự phát triển hoạt động khác của Ngân hàng;
sự bảo mật thông tin về chiến lược phát triển: có nội dung cần công khai, có nộidung cần bảo mật với mức độ khác nhau
1.3.2 Điều kiện về trang bị công nghệ hiện đại
Công nghệ thông tin là một công cụ quan trọng trong quản lý, kinh doanhbảo đảm an toàn và hiệu quả, thông qua việc tập trung hoá tài khoản khách hàng,kiểm soát tốt nguồn vốn, mở rộng và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ hiện đại.Những đổi mới về công nghệ thông tin sẽ tạo nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật thúcđẩy sự phát triển của ngân hàng nói chung và dịch vụ thanh toán quốc tế của cácngân hàng thương mại nói riêng trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới Cónhiều cách hiểu về công nghệ:
Theo Uỷ ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP):Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vậtliệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và hệ thốngdùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ
Hay một cách hiểu khác, công nghệ là tập hợp các quy trình, kỹ năng và bíquyết, công cụ và phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm
Như vậy công nghệ không phải chỉ là máy móc thiết bị, cũng không chỉ là hệthống máy tính hay hệ thống thanh toán của ngân hàng, dù đó có thể là một phầnlớn trong công nghệ thực hiện dịch vụ của ngân hàng Công nghệ ngoài phần kỹthuật còn bao gồm: phần con người (thể hiện ở kiến thức, kỹ năng sử dụng côngnghệ); phần tổ chức (sự kết hợp bố trí các thiết bị, kết hợp các cá nhân trong sửdụng công nghệ để đạt được hiệu quả cao nhất)
Để trang bị khoa học công nghệ ngân hàng một cách có hiệu quả phải xuấtphát từ đòi hỏi của thị trường và khả năng nội tại của ngân hàng trong việc đáp ứngnhu cầu của thị trường Như vậy, chúng ta không thể phủ nhận vai trò to lớn của
Trang 25khoa học kỹ thuật hiện đại trong hoạt động của ngân hàng nói chung và dịch vụthanh toán quốc tế đối với DNVVN nói riêng Song vấn đề trang bị khoa học vàcông nghệ phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường Thị trường là tấm gương chongân hàng soi rọi hoạt động của mình vào đó, nó cũng là định hướng cho ngân hàngtrang bị công nghệ thích ứng Từ yêu cầu của thị trường ở hiện tại và trong tươnglai, nắm bắt các xu hướng phát triển của khoa học công nghệ kết hợp với khả năngtài chính có ưu tiên của ngân hàng để lựa chọn trang bị công nghệ cho hoạt độngkinh doanh của ngân hàng.
1.3.3 Điều kiện về phát triển các sản phẩm và dịch vụ thanh toán quốc tế thích ứng được với thị trường, đặc biệt là phù hợp với nhu cầu của các DNVVN
Theo cách nhìn của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại thì dịch vụ nóichung hay dịch vụ thanh toán quốc tế đối với DNVVN nói riêng là hàng hoá gắnliền với mong muốn và nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường, nó vừa mangyếu tố vật chất: khối lượng, giá trị … vừa mang yếu tố phi vật chất: tiện lợi, thóiquen, sở thích, thị hiếu và tập quán tiêu dùng …Theo đó, các sản phẩm và dịch vụngân hàng vừa là cái đã có, đang có và tiếp tục phát sinh trong trạng thái biến đổikhông ngừng của sở thích, thị hiếu, nhu cầu của người tiêu dùng
Ngày nay với sự phát triển năng động của nền kinh tế, sự phát triển khôngngừng của hoạt động kinh tế đối ngoại, nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ thanh toánquốc tế của khách hàng, đặc biệt là các DNVVN ngày càng tăng Đây là điều kiện
để các ngân hàng thương mại phát triển sản phẩm và dịch vụ thanh toán quốc tế củamình Song vấn đề đặt ra là phát triển dịch vụ đó theo hướng nào để các sản phẩm
và dịch vụ mà ngân hàng tạo ra nhận được sự đồng tình và ủng hộ của khách hàng
Sản phẩm của ngân hàng được hiểu là toàn bộ những dịch vụ mà ngân hàngtạo ra để cung cấp theo nhu cầu của khách hàng Nhu cầu của khách hàng ngày càngphát triển, nó không chỉ bó hẹp trong các dịch vụ truyền thống mà còn có nhu cầu
về các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hiện đại, các dịch vụ có kèm theo các sảnphẩm tiện ích như tư vấn, môi giới … Điều này mở ra điều kiện để các ngân hàngđổi mới, khai thác và phát triển các sản phẩm dịch vụ kinh doanh của mình nhằmđáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
Ngoài việc phát triển sản phẩm và dịch vụ thanh toán quốc tế thích ứng vớiyêu cầu thị trường như trên thì trong chiến lược phát triển sản phẩm thanh toán quốc
tế cần phải được đặt trong chiến lược phát triển chung của toàn ngân hàng Sự pháttriển sản phẩm và dịch vụ thanh toán quốc tế cần phải được đặt trong sự gắn kết vớicác sản phẩm và dịch vụ khác của ngân hàng như: tín dụng, thanh toán qua thẻ, giaodịch thanh toán … Bởi lẽ một doanh nghiệp khi đến giao dịch với ngân hàng không
Trang 26chỉ có nhu cầu về thanh toán quốc tế mà còn có rất nhiều các nhu cầu khác Do vậy,phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế phải được kết hợp với phát triển đa dạngcác sản phẩm khác của ngân hàng Đặc biệt là các sản phẩm ngân hàng hiện đại đápứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường
1.3.4 Điều kiện về tổ chức mạng lưới của thanh toán quốc tế
Phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tếquốc tế hiện nay không chỉ đòi hỏi phải có một chiến lược phát triển tốt mà còn đòihỏi việc tổ chức mạng lưới hoạt động thanh toán quốc tế hợp lý để cung cấp cácdịch vụ đó một cách thuận lợi nhất cho khách hàng đồng thời thoả mãn tối ưu trongquản lý và điều hành hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng
Chính sách mạng lưới thanh toán quốc tế có vai trò quan trọng đối với sựphát triển của mỗi ngân hàng Một chính sách hợp lý sẽ giúp ngân hàng nâng caochất lượng dịch vụ, an toàn trong kinh doanh, thu hút thêm khách hàng Từ đó,khẳng định uy tín và thương hiệu của ngân hàng trong quá trình kinh doanh, đồngthời khẳng định được sự phát triển bền vững của ngân hàng Tuy nhiên, việc xâydựng mạng lưới thanh toán quốc tế có liên quan đến các yếu tố cơ bản như: kháchhàng, trung gian môi giới, hệ thống tài sản cố định hiện có (hệ thống kho tàng, trụ
sở làm việc, trang thiết bị công nghệ và hệ thống thông tin quản lý …) Do vậy, việcxây dựng mạng lưới thanh toán quốc tế phải lưu ý các vấn đề sau:
Thứ nhất: Trong việc tổ chức mạng lưới hoạt động thanh toán quốc tế, mỗi
ngân hàng đều có cách thức tổ chức riêng phù hợp với trình độ nghiệp vụ của nhânviên ngân hàng, trang thiết bị công nghệ hiện có, các yếu tố tập quán, truyền thống
Thứ hai: Để quyết định chính sách mạng lưới thanh toán quốc tế nào tốt hơn
là rất khó, chỉ có thị trường là tấm gương phản chiếu tốt nhất cho các nhà quản lýngân hàng
Thứ ba: Một chính sách mạng lưới thanh toán quốc tế tốt phải nhằm đạt được
tính tối ưu về các dịch vụ mà họ cung cấp, sử dụng một cách tốt nhất vốn trong kinhdoanh và đảm bảo được việc kiểm soát, giám sát hoạt động thanh toán quốc tế
Thứ tư: Kinh nghiệm của một số ngân hàng lớn trên thế giới thường tổ chức
cung ứng các dịch vụ thanh toán quốc tế tập trung tại một số trung tâm Việc tậptrung thanh toán của các ngân hàng lớn trên thế giới chỉ tập trung về mặt nghiệp vụ,các hoạt động khác vẫn thể hiện là một chi nhánh độc lập chịu tránh nhiệm tronghoạt động thanh toán quốc tế của mình Việc tập trung thanh toán tại một số trungtâm giúp ngân hàng: cung cấp được chất lượng dịch vụ tốt hơn, xoá bỏ được chênhlệch dịch vụ giữa các chi nhánh tại các quốc gia đang phát triển và các quốc gia phát
Trang 27triển, giúp ngân hàng quản lý, kiểm soát tốt hơn hoạt động thanh toán quốc tế tạingân hàng mình.
1.3.5 Điều kiện về hệ thống phòng ngừa rủi ro
Kinh doanh ngân hàng là hoạt động rất nhạy cảm đối với bất cứ sự thay đổinào nằm ngoài dự đoán Do đó, hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn chứa nhữngrủi ro có thể dẫn đến phá sản Những rủi ro này có thể do các nguyên nhân sau: Cácđối thủ cạnh tranh luôn thay đổi chiến lược cạnh tranh để giành giật thị phần ,tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng thay đổi ảnh hưởng đến khả năngthanh toán với ngân hang, môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế có thể thayđổi ngoài dự đoán, những sai sót trong phát triển sản phẩm dịch vụ của ngân hàng …
Vì thế, việc xây dựng và thiết kế một hệ thống phòng ngừa rủi ro cho hoạt độngkinh doanh của ngân hàng để có những biện pháp tháo gỡ kịp thời là một trongnhững điều kiện quan trọng để ngân hang phát triển dịch vụ TTQT Khi xây dựng
hệ thống phòng ngừa rủi ro, ngân hàng cần lưu ý các điểm sau:
Thứ nhất: Cần xây dựng hệ thống nắm bắt thông tin ở cả tổng thể và chi tiết
trong hoạt động kinh doanh của ngân hang
Thứ hai: Yêu cầu nhân viên lấy thông tin về tình hình kinh doanh của khách
hàng, đối tác của khách hàng và tình hình kinh tế, luật pháp của các nước có liênquan
Thứ ba: Phải lưu trữ thông tin và phân loại khách hàng nhằm đưa ra chính
sách khách hàng một cách hợp lý để tạo điều kiện cho hoạt động quản lý, giám sáthoạt động thanh toán quốc tế có hiệu quả
Ngoài các điều kiện trên,để phát triển dịch vụ TTQT đối với DNVVN thì cácngân hàng cũng cần đạt được những yêu cầu như:
* Yêu cầu về công tác Marketing
Để hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế DNVVNnói riêng phát triển hiệu quả trong môi trường cạnh tranh ngày càng cao, cần thiếtphải có hệ thống Marketing đủ mạnh để hỗ trợ Tuy nhiên, vấn đề phát triểnmarketing ngân hàng là một vấn đề rất rộng lớn Trong phạm vi nghiên cứu của đềtài, có một số nội dung cần thực hiện để có được một hệ thống hỗ trợ marketinghiệu quả
Thứ nhất: Marketing là khuyếch trương, quảng cáo, khuyến mại, tuyên truyền
Giao tiếp, khuyếch trương, quảng cáo luôn là công cụ quan trọng trong quátrình thực hiện tốt chiến lược phát triển của ngân hàng Nhu cầu của người tiêudùng trên thị trường luôn thay đổi trong khi nguồn cung trên thị trường lại rất phong
Trang 28phú, không phải lúc nào cung cũng gặp được cầu, Vì thế, giao tiếp, quảng cáo,khuyếch trương có nhiệm vụ làm cho cung gặp được cầu Hơn thế, giao tiếp, quảngcáo và khuyếch trương còn có vai trò quan trọng trong xây dựng chiến lược pháttriển của ngân hàng Bởi lẽ, thông qua quá trình quảng cáo, khuyếch trương đó ngânhàng mới nắm bắt được nhu cầu của khách hàng và từ đó quyết định các sản phẩmkinh doanh phù hợp với thị trường
Giao tiếp, khuyếch trương, quảng cáo tạo điều kiện thực hiện thực hiện dịch
vụ tốt hơn, làm cho việc đưa dịch vụ vào kênh phân phối hợp lý hơn, giảm bớt cácchi phí không cần thiết trong quá trình thực hiện dịch vụ Đây không chỉ là các biệnpháp hỗ trợ chính sách dịch vụ, giá cả và phân phối mà nó còn tăng cường hiệu quảcủa các chính sách đó
Thứ hai: Marketing là nghệ thuật giao tiếp và tranh thủ khách hàng
Mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng trong thực hiện sản phẩm thựcchất là mối quan hệ giữa con người với con người nên nó mang đầy đủ các yếu tố
xã hội gắn kết với tâm sinh lý cụ thể Trong quan hệ này có những quy luật riêng có
mà sự nắm bắt và sử dụng nó chính là nghệ thuật giao tiếp Đây là yếu tố quan trọng
để ngân hàng có thể tranh thủ khách hàng Làm sao để khách hàng đến với ngânhàng thực hiện giao dịch mà không phải đến với ngân hàng khác Việc giao tiếpgiữa cán bộ ngân hàng và khách hàng phải được xem như một chính sách bắt buộctrong chính sách xúc tiến và khuyếch trương của ngân hàng Việc kết hợp hài hoàgiữa các công cụ khác và sử dụng tốt lợi thế giao tiếp của ngân hàng sẽ tạo ra mộtkết quả tối ưu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Thứ ba: Marketing là việc xây dựng và quản lý thương hiệu của ngân hàng
Thương hiệu nói một cách giản dị đó là hình ảnh của ngân hàng Hình ảnh và
uy tín của ngân hàng trong nước cũng như trên thế giới là yếu tố quan trọng đểkhách hàng lựa chọn đến với ngân hàng Vì vậy, xây dựng và quản lý hình ảnh ngânhàng là yếu tố sống còn đối với hoạt động của ngân hàng Muốn quản lý được hìnhảnh của ngân hàng điều đầu tiên cần giáo dục cho cán bộ ngân hàng thấy được uytín và thương hiệu của ngân hàng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của ngânhàng Sự giáo dục ở đây không chỉ mang tính chung chung mà phải cụ thể, yêu cầucán bộ ngân hàng phải có thái độ niềm nở với khách hàng, làm cho họ thấy đượcmình đang mang một phần hình ảnh của ngân hàng và cùng tập trung duy trì hìnhảnh ngân hàng trong giao tiếp với khách hàng
Hơn thế, uy tín và thương hiệu của ngân hàng không phải ở trụ sở làm việcđẹp, trang thiết bị tiện nghi mà nó là sự tổng hợp của nhiều yếu tố như: chất lượngdịch vụ, kỹ thuật xử lý nghiệp vụ, khả năng thanh toán … Vì vậy, để xây dựng và
Trang 29nâng cao hình ảnh của ngân hàng trong nước và trên thế giới cần có chiến lược pháttriển và nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng.
*Yêu cầu về đánh giá năng lực tài chính
Năng lực tài chính của ngân hàng quyết định trực tiếp hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng bởi:
Năng lực tài chính tạo ra khách hàng và uy tín của ngân hàng: Trong quan
hệ với khách hàng, khách hàng luôn quan tâm tới khả năng thanh toán của ngânhàng Do đó, tiềm lực tài chính tốt, ngân hàng sẽ có khả năng chi trả cao Giảm rủi
ro cho khách hàng Tiềm lực tài chính mạnh giúp ngân hàng thu hút thêm kháchhàng, từ đó lại củng cố thêm uy tín cho ngân hàng Đặc biệt trong hoạt động thanhtoán quốc tế, có độ rủi ro cao, nên khách hàng hoặc các đối tác của họ thường tìmcác ngân hàng có uy tín lớn nhằm giảm các chi phí không cần thiết khi quan hệ vớicác ngân hàng có uy tín không cao
Năng lực tài chính ảnh hưởng đến kỹ thuật nghiệp vụ của ngân hàng: Sự phát
triển của thương mại quốc tế đòi hỏi nghiệp vụ ngân hàng quốc tế phải thường xuyênthay đổi để đáp ứng nhu cầu của thị trường Do đó, vấn đề hiện đại hoá công nghệ ngânhàng được xem là sự sống còn của ngân hàng Song hiện đại hoá đến đâu phải dựa vàonăng lực tài chính thực tại của ngân hàng để đề ra chiến lược cho phù hợp
Năng lực tài chính ảnh hưởng tới quá trình ra quyết định phát triển của ngânhàng Tuy nhiên, sự phát triển của ngân hàng phải được dựa trên các nguồn lực hiện
có của ngân hàng, trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong thực tại và tìmhướng khai thác, phát triển và sử dụng chúng trong tương lai Vì vậy, để phát triểnbền vững mọi dịch vụ ngân hàng trong điều kiện hiện nay của ngân hàng thươngmại, chúng ta cần biết năng lực tài chính hiện tại của ngân hàng và đề ra chiến lượckinh doanh dài hạn cho ngân hàng Yêu cầu đánh giá năng lực tài chính ngân hàngtập trung vào các vấn đề cơ bản sau: Vốn tự có, khả năng sinh lời, hiệu quả hoạtđộng, chất lượng tài sản, khả năng đảm bảo thanh toán của ngân hàng
Tóm lại, để dịch vụ thanh toán quốc tế đối với DNVVN tại Ngân hàng pháttriển cần nhiều điều kiện Các điều kiện và yêu cầu này có mối quan hệ, tác độnglẫn nhau, muốn đạt được điều kiện này cũng cần phải có sự phát triển điều kiện kia.Chính vì vậy, trong chính sách phát triển dịch vụ TTQT đòi hỏi các Ngân hàng phải
có sự gắn kết các điều kiện này một cách hài hòa, hợp lí
Trang 30CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI
NGÂN HÀNG KỸ THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH
CHƯƠNG DƯƠNG HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Kỹ Thương chi nhánh Chương Dương Hà Nội
2.1.1 Vài nét về Ngân hàng TMCP Kỹ Thương chi nhánh Chương Dương Hà Nội
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Là một trong những ngân hàng được thành lập vào những năm đầu của thập
kỷ 90 của thế kỷ 20, thời kì đất nước bước đầu bước vào nền kinh tế thị trường, trảiqua hơn 16 năm hoạt động Techcombank đã và đang tiếp tục khẳng định được vịthế là một trong những định chế tài chính hàng đầu trong nước, góp phần vào việcthực thi các chính sách của Nhà nước về cả lĩnh vực kinh tế và an sinh xã hội
Theo giấy phép hoạt động số 0400/NH-GP do thống đốc NHNN Việt Namcấp vào ngày 06/08/1993, giấy phép thành lập số 1534/QĐ-UB do Ủy ban Nhân dân
TP Hà Nội cấp 04/09/1993, giấy phép kinh doanh số 055697 do Trọng tài kinh tếnay là Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp ngày 07/09/1993, ngày 27/09/1993Techcombank chính thức được thành lập với số vốn ban đầu là 20 tỷ đồng, sangnăm 1994- 1995 số vốn điều lệ đã tăng lên 51,495 tỷ đồng cùng với việc thành lậpchi nhánh Techcombank Hồ Chí Minh đã khởi đầu cho quá trình phát triển nhanhchóng của Techcombank tại các đô thị lớn Với việc nhận biết vốn điều lệ là cơ sở
để ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh, phát triển và cung cấp các dịch vụmới, giúp ngân hàng nâng cao năng lực tài chính, tăng khả năng sinh lời, tạo niềmtin đối với khách hàng, trong những năm qua Techcombank đã không ngừng tăngvốn điều lệ của mình, cụ thể: từ năm 1996 với số vốn điều lệ là 70 tỷ đồng thì 10năm sau năm 2006 con số này đã là 1500 tỷ đồng và tính đến tháng 6/2010,Techcombank đã chính thức tăng vốn điều lệ lên 6932 tỷ đồng Đây có thể được coi làmột trong những thành công lớn của Techcombank trong năm 2010, cũng trong nămnày Techcombank đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng như giải thưởng " Ngânhàng tốt nhất Việt Nam 2010" do tạp trí Euromoney trao tặng, giải thưởng " Sao VàngĐất Việt 2010", giải thưởng " Ngân hàng thanh toán quốc tế xuất sắc năm 2009"
Từ khi được thành lập đến nay Techcombank đã không ngừng mở rộngmạng lưới hoạt động với việc thành lập thêm các chi nhánh và mở thêm các phònggiao dịch trên khắp cả nước Việc thành lập chi nhánh Techcombank Hồ Chí Minh
Trang 31năm 1995 là sự khởi đầu cho quá trình mở rộng thị trường hoạt động đến các đô thịlớn Năm 2006, thành lập Chi nhánh Techcombank Thăng Long cùng phòng giaodịch Nguyễn Chí Thanh tại Hà Nội; năm 2002, thành lập thêm các chi nhánh ở HảiPhòng, Đà Nẵng, Techcombank trở thành ngân hàng cổ phần có mạng lưới giaodịch rộng nhất tại thủ đô Hà Nội bao gồm Hội sở chính và 8 chi nhánh cùng 4phòng giao dịch tại các thành phố lớn trong cả nước Tính đến năm 2010,Techcombank đã có trên 230 chi nhánh, phòng giao dịch trên hơn 40 tỉnh và thànhphố trong cả nước với đội ngũ nhân viên lên tới trên 5000 người luôn sẵn sàng đápứng mọi yêu cầu dịch vụ dành cho khách hàng; hiện Techcombank phục vụ trên 1triệu khách hàng cá nhân và gần 42000 khách hàng doanh nghiệp.
Để có thể đáp ứng kịp thời đầy đủ mọi nhu cầu của khách hàng, hệ thốngcông nghệ ngân hàng của Techcombank đã được phát triển mạnh mẽ cùng với sự rađời của nhiều sản phẩm dịch vụ Năm 2001, ký kết hợp đồng với nhà cung cấp phầnmềm hệ thống ngân hàng hàng đầu thế giới Temenos Holding NV về việc triển khai
hệ thống phần mềm Ngân hàng GLOBUS cho toàn hệ thống Techcombank nhằmđáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và việc triển khai này đã thànhcông vào ngày 16/12/2003 cùng với đó là việc tiến hành xây dựng một biểu tượngmới cho ngân hàng Trong những năm tiếp theo, Techcombank tiếp tục kí hợp đồngmua phần mềm chuyển mạch và quản lý thẻ với Compass Plus; đồng thời nâng cấp
hệ thống phần mềm Globus sang phiên bản mới nhất Tenemos T24 R5,corebankingT24 R06 và triển khai hàng loạt dự án hiện đại hóa công nghệ như nâng cấp hệthống phần mềm ngân hàng lõi lên phiên bản T24 R7, là thành viên của cả hai liênminh thẻ lớn nhất Smartlink và BankNet Cùng việc cải tiến, nâng cao hệ thốngcông nghệ Ngân hàng, Techcombank cũng cho ra mắt nhiều sản phẩm hữu ích phục
vụ nhu cầu của khách hàng như các chương trình Tiết kiệm dự thưởng " GửiTechcombank, trúng Mercedes", Tiết kiệm tích lũy bảo gia, Tín dụng tiêu dùng; cácsản phẩm dành cho doanh nghiệp như Tài trợ nhà cung cấp; các sản phẩm dựa trênnền tảng công nghệ cao như F@st i-Bank, sản phẩm quản lý tài khoản tiền của nhàđầu tư chứng khoán F@st S-Bank và Cổng thanh toán điện tử cung cấp giải phápthanh toán trực tuyến cho các trang web thương mại điện tử v.v Năm 2007 là nămphát triển vượt bậc của dịch vụ thẻ với tổng số lượng phát hành đạt trên 200.000 thẻcác loại, Techcombank trở thành ngân hàng Việt Nam đầu tiên và duy nhất đượcFinancial Insights công nhận thành tựu về ứng dụng công nghệ đi đầu trong giảipháp phát triển thị trường
Techcombank chi nhánh Chương Dương Hà Nội là chi nhánh củaTechcombank được thành lập vào năm 2002 nhằm mở rộng mạng lưới hoạt động
Trang 32của Techcombank và bắt kịp nhu cầu của khách hàng ở khu vực này Chi nhánh
chịu sự quản lý trực tiếp của Techcombank,nằm trong khu vực đông dân cư, phù
hợp với mục tiêu phát triển ngân hàng đô thị, có tiềm năng phát triển mạnh mẽ và
thực tế đã chứng minh được điều đó với lượng khách hàng đông đảo Khách hàng
của chi nhánh chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cá nhân có nhu cầu lớn
về gửi tiền, tín dụng, thanh toán… Chi nhánh đang ngày càng phát triển nhiều dịch
vụ có thể thu hút được lượng khách hàng đông đảo nhất và đáp ứng được những
nhu cầu mới nhất của khách hàng
2.1.1.2 Các hoạt động chính của Techcombank chi nhánh Chương Dương Hà Nội
- Huy động vốn ngắn, trung và dài hạn từ dân cư và các tổ chức kinh tế dưới
các hình thức như tiền gửi không kì hạn, có kì hạn cả VNĐ và ngoại tệ
- Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng VNĐ và ngoại tế đối với dân cư vsf
doanh nghiệp
- Bảo lãnh, tư vấn, ủy thác đầu tư cho khách hàng theo quy định hiện hành
- Mua bán, trao đổi ngoại tệ, vàng bạc đá quý, VNĐ, chiết khấu giấy tờ có giá
- Thanh toán trong nước với các phương thức chuyển tiền điện tử, nhờ thu,
lệnh chi và thanh toán quốc tế với các phương thức chuyển tiền điện tử đi, nhờ thu,
tín dụng chứng từ
- Phát triển các dịch vụ mới và tìm kiếm khách hàng Đồng thời, tổ chức hoạt
động của chi nhánh theo sự chỉ đạo của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam,
lập kế hoạch kinh doanh, thực hiện báo cáo và kiểm tra, kiểm soát theo quy định
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức
a) Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Techcombank Chương Dương
PHÒNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN
PHÒNG HỖ TRỢ, BAN THẨM ĐỊNH
VĂN PHÒNG PHÓ GIÁM ĐỐC
Trang 33b) Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận
Ban giám đốc
Ban giám đốc là bộ phận lãnh đạo cao nhất trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt độngcủa ngân hàng nói chung và các phòng ban nói riêng, bao gồm giám đốc và phógiám đốc
Giám đốc là người đứng đàu bộ máy quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm
về kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Giám đốc có thể ủy quyền cho cácPhó giám đốc thực hiện những công việc trong phạm vi quyền hạn của họ, đồngthời trực tiếp chỉ đạo các phòng ban trực thuộc Ngân hàng
Các Phó giám đốc có nhiệm vụ hỗ trờ, giúp đỡ cho Giám đốc và chỉ đạo vềmặt nghiệp vụ cho các phòng chức năng của Ngân hàng.
Phòng kế toán, giao dịch kho quỹ
Phòng kế toán, giao dịch kho quỹ bao gồm các bộ phận kế toán, bộ phận giaodịch, bộ phận kho quỹ Trong đó :
Bộ phận kế toán có nhiệm vụ hạch toán kế toán các nghiệp vụ phát sinh vàbáo cáo tài chính, kế toán theo chuẩn mực kế toán Việt Nam do Bộ Tài chính banhành; hậu kiểm các chứng từ thanh toán của các phòng trong chi nhánh; phân tíchtình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của chi nhánh để nâng cao hiệu quả hoạtđộng; trích nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, các loại thuế khác; cung cấp thông tin
về tình hình tài chính và các chỉ tiêu thanh khoản của Chi nhánh; xây dưng đónggóp ý kiến về thực hiện chế độ tài chính , kế toán
Bộ phận giao dịch có nhiệm vụ trực tiếp tiếp xúc với khách hàng và xử lý cácgiao dịch phát sinh; mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng, thực hiện rút tiền gửibằng nội tệ, ngoại tệ; thực hiện thanh toán trong nước với các phương thức: chuyểntiền điện tử, nhờ thu, lệnh chi, séc…; thực hiện mua bán, trao đổi ngoại tệ; tư vấncho khách hàng các thông tin cần thiết về sử dụng các dịch vụ của ngân hàng…
Bộ phận kho quỹ có nhiệm vụ quản lý ngoại tệ, vàng bạc, kim loại quý, đá quý.giấy tờ có giá; thực hiện nhập xuất tiền, bảo quản, vận chuyển tiền, đảm bảo tính thanhkhoản của chi nhánh; thực hiện các nghiệp vụ thu chi, kiếm đếm tiền mặt
Phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp
Phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp thực hiện :
Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ đối với khách hàngdoang nghiệp; tư vấn, tiếp nhận, phân tích hồ sơ xin vay của doanh nghiệp, quản lýtài sản thế chấp, giải ngân vốn vay nếu hồ sơ có được xét duyệt của giám đốc chinhánh, sau đó theo dõi giám sát vệc sử dụng vốn, tình hình tài chính doanh nghiệp,thu hồi nợ gốc và lãi, chuyển nợ quá hạn
Trang 34Bảo lãnh cho doanh nghiệp sau khi đã thẩm định và được duyệt của ban lãnhđạo với phí hợp lý theo mức độ rủi ro với các loại hình như bảo lãnh vay vốn, bảolãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảochất lượng sản phẩm dịch vụ, đồng bảo lãnh.
Tiếp thị các sản phẩm của ngân hàng cho doanh nghiệp như thẻ thanh toán,trả lương cho cán bộ nhân viên qua tài khoản, cho vay cổ phần hóa doanh nghiệp,bao thanh toán, bảo quản tài sản hộ…
Thanh toán quốc tế với các phương thức chuyển tiền đi, nhờ thu, tín dụngchứng từ mới mức chi phí theo quy định và tùy thuộc mức độ rủi ro mình chấpnhận
Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân
Nhiệm vụ của phòng là phân tích chấm điểm khách hàng cá nhân, để tạo cơ
sở thực hiện cho vay ngắn, trung và dài hạn, tiêu dùng hoặc kinh doanh Tư vấn,hướng dẫn khác hàng cá nhân lập hồ sơ, phân tích hồ sơ và giải ngân vay vốn, quản
lý tài sản thế chấp nếu được giám đốc duyệt đồng ý Theo dõi tình hình sử dụng vốnvay, khả năng trả nợ, đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn, chuyển nợ quá hạn, thựchiện các biện pháp thu nợ
Ngoài ra, cán bộ nhân viên thuộc phòng dịch vụ khách hàng cá nhân còn cónhiệm vụ tư vấn giới thiệu khách hàng sử dụng các sản phẩm cá nhân như thẻ thanhtoán (thẻ thanh toán nội địa F@stAccess, thẻ thanh toán quốc tế Techcombank Visa,thẻ tín dụng quốc tê Techcombank Visa ), sản phẩm bảo hiểm: bảo hiểm tài sản,bảo hiểm con người.v.v.Cùng với việc duy trì các mối quan hệ với khách hàng cánhân cũ còn phải thiết lập, mở rộng và tìm kiếm khách hàng mới
Phòng hỗ trợ và ban thẩm định
Chức năng của phòng hỗ trợ là hỗ trợ cho phòng dịch vụ khách hàng doanhnghiệp và phòng dịch vụ khách hàng cá nhân đề phòng rủi ro tín dụng Ngoài raphòng hỗ trợ còn có nhiệm vụ quản lý dữ liệu, hồ sơ cả giấy tờ và trên phần mềmứng dụng, theo dõi tình hình tài chính của tất cả khách hàng doanh nghiệp và cánhân của hai phòng dịch vụ khách hàng
Ban thẩm định có trách nhiệm thẩm định các hồ sơ xin vay, hồ sơ xin bảolãnh, hồ sơ mở thư tín dụng; thẩm định hạn mức tín dụng, thẩm dịnh đánh giá tàisản đảm bảo, giám sát chất lượng khách hàng, đánh giá phân loại xếp hạng, đánhgiá mức độ rủi ro của tùng khách hàng xin vay, bảo lãnh, mở L/C; theo dõi tổng hợphoạt động tín dụng tại chi nhánh; tập hợp các thông tin và thực hienj báo cáo tíndụng của chi nhánh
Trang 35 Văn phòng
Bộ phận văn phòng thực hiện các công việc hành chính, nhân sự, tổ chứccủa chi nhánh; quản lý theo dõi, bảo mật hồ sơ cán bộ nhân viên, chế độ tiền lương,chế độ bảo hiểm của cán bộ nhân viên; xây dựng và tổ chức thực hiện bố trí,đào tạonâng cao nghiệp vụ cán bộ nhân viện với đòi hỏi của công việc
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Techcombank chi nhánh Chương Dương
Trong những năm gần đây, Techcombank Chương Dương đã không ngừngphát triển, trở thành một trong những chi nhánh đạt hiệu quả cao trong hệt thốngTechcombank Với mục tiêu " phát triển, tăng quy mô gắn liền với nâng cao chấtlượng và hiệu quả kinh doanh", Techcombank Chương Dương đã tiến hàng đa dạnghóa hoạt động kinh doanh theo hướng đa năng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt chútrọng đổi mới công nghệ ngân hàng, thu hút nhân lực chất lượng cao, chi nhánh đã
có những bước tăng trưởng vượt bậc, góp phần vào sự phát triển kinh tế của đấtnước
2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Điểm sáng trong công tác huy động vốn cho thấy Techcombank đã tạo lậpđược uy tín và vị thế đáng tự hào trong cộng đồng khách hàng, đặc biệt là kháchhàng doanh nghiệp, là địa chỉ tin cậy để tổ chức kinh tế đặt niềm tin Qua đó, khôngchỉ duy trì mà ngày một chuyển nhiều hơn vào các khoản huy động, doanh thu củamình về với Ngân hàng Đây cũng là một trong các lý do giúp cho Techcombankluôn duy trì được trạng thái thanh khoản tốt, từ đó sẵn sàng đáp ứng các nhu cầuvay vốn của khách hàng, ngay cả trong những thời điểm thị trường có những khókhăn về thanh khoản, khi hầu hết các ngân hàng thương mại( bao gồm cả hệ thốngngân hàng quốc doanh) phải tạm thời ngừng giải ngân vốn cho khách hàng, cụ thể:năm 2009, tổng huy động vốn đạt 364,89 tỷ đồng, tăng 61% so với cùng kỳ năm
2008 Trong năm 2010, mức huy động vốn đạt 467,239 tỷ đồng, đạt mức tăngkhoảng 28% so với cả năm 2009
Huy động vốn theo nguồn huy động
Sự phát triển thị trường vốn tại Việt Nam trong những năm gần đây đã tạonhiều sức ép lên họa động huy động vốn của ngành ngân hàng Ngay trong nội bộngành thì việc cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn giữa các ngân hàng cũngdiễn ra ngày càng gay gắt cả về qui mô lẫn hình thức Đứng trước tình hình này,Techcombank chi nhánh Chương Dương đã có những nỗ lực nhằm đẩy mạnh hoạtđộng huy động vốn của mình
Trang 36B ng 2.1: Tình hình t ng tr ăng trưởng nguồn vốn huy động trong năm 2008- ưởng nguồn vốn huy động trong năm 2008- ng ngu n v n huy ồn vốn huy động trong năm 2008- ốn huy động trong năm 2008- động trong năm 2008- ng trong n m 2008- ăng trưởng nguồn vốn huy động trong năm
2008-2010 t i Techcombankchi nhánh Ch ại Techcombankchi nhánh Chương Dương Hà Nội ( đơn vị: triệu ương Dương Hà Nội ( đơn vị: triệu ng D ương Dương Hà Nội ( đơn vị: triệu ng H N i ( à Nội ( đơn vị: triệu ộng trong năm 2008- đơng Dương Hà Nội ( đơn vị: triệu n v : tri u ị: triệu ệu
ng ) đồn vốn huy động trong năm 2008-
Khoản mục
Năm 2010
Số dư(triệu đồng) Tỷ trọng
Số dư(triệu đồng) Tỷ trọng
Số dư(triệu đồng) Tỷ trọngCác khoản nợ
và 64,2% năm 2010) Nguồn tiền gửi khách hàng tuy có sự sụt giảm về mặt tỷ trọng(do có sự tăng trưởng từ nguồn tiền gửi của các tổ chức tín dụng) nhưng giá trị huyđộng của nguồn tiền này vẫn được đảm bảo ở mức tăng trưởng cao, gần 50% từnăm 2008 đến 2009 và đạt giá trị 299,921 tỷ đồng năm 2010, tăng nhẹ so với thờiđiểm cuối năm 2009 Sở dĩ có sự tăng trưởng này là do chi nhánh đã tăng cường cáchình thức ưu đãi, khuyến mãi khác nhau, mở rộng mạng lưới khách hàng, quan hệrộng khắp với khách hàng, địa bàn hoạt động của chi nhánh ngày càng đông dân cư
Trang 37và quan tâm tới các dịch vụ của chi nhánh Đồng thời những dịch vụ thanh toán chocác doanh nghiệp cũng như cá nhân bằng séc và bằng thẻ phát triển làm cho lượngtiền gửi thanh toán tăng như thẻ thanh toán nội địa F@stAccess, thẻ thanh toán quốc
tế Techcombank Visa v.v…
Huy động vốn theo kỳ hạn
Bảng 2.2 :Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn của Techcombank trong giai
đoạn 2008 - 2010Khoản mục Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số dư( triệu đồng)
Tỷ trọng
Số dư( triệu đồng)
Từ bảng số liệu trên có thể nhận thấy rằng trong tổng nguồn vốn huy động theo
kỳ hạn thì nguồn vốn ngắn hạn luôn có tỷ trọng lớn hơn do nguồn vốn ngắn hạn baogồm nguồn tiền gửi không kỳ hạn, nguồn tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở xuống, nhờ đó khách hàng có thể rút nhanh khi họ có việc đột xuất Nguồn vốn trung và dàihạn khó huy động hơn vì khách hàng cũng biết rằng dài hạn thì rủi ro lớn hơn và không linh hoạt bằng tiền gửi ngắn hạn hoặc không kỳ hạn Hơn nữa, cũng nhận thấy rằng tỷ trọng của nguồn vốn trung và dài hạn đang giảm dần trong tổng nguồn vốn, trong khi tỷ trọng của nguồn vốn ngắn hạn lại tăng lên Điều này có thể được lý giải
là do sự chênh lệch lãi suất huy động của các kỳ hạn không nhiều, dường như xấp xỉ hay bằng nhau, nên khách hàng thường ưu tiên gửi tiền theo các kỳ hạn ngắn vừa có thể rút tiền trong ngắn hạn mà vẫn được hưởng lãi suất cao
Trang 38Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn tại Techcombank Chương Dương giai
Trong bối cảnh biến động của nền kinh tế xã hôi, thị trường vốn và thịtrường trong nước, Techcombank chi nhánh Chương Dương nói riêng vàTechcombank nói chung đã không ngừng nâng cao năng lực tái cơ cấu và hoànthiện bộ máy hoạt động, sửa đổi quy trình nghiệp vụ tín dụng nhằm đưa các sảnphẩm dịch vụ cho vay hấp dẫn linh hoạt đến nhiều đối tượng khách hàng Cụ thể,đối với khách hàng cá nhân:
Cho vay mua bất động sản: với thời hạn tối đa lên đến 25 năm, hạn mức chovay tối đa lên đến 70% tổng nhu cầu vốn của khách hàng, lãi suất cạnh tranh vàkhông có phí phát sinh trong suốt thời hạn vay, thanh toán hoàn trả linh hoạt…
Trang 39Cho vay mua ô tô: đây là sản phẩm đáp ứng nhu cầu mua xe hơi của khách hàng cánhân, hộ gia đình thông qua hỗ trợ nguồn vốn với mức vay lên đến 90% giá trị xemua và thời hạn cho vay tối đa là 60 tháng.
Cho vay kinh doanh cá nhân, hộ gia đình: đáp ứng tối đa nhu cầu vốn và mụcđích của khách hàng là bổ sung vốn lưu động, đầu tư sản xuất kinh doanh
Cho vay tiêu dùng: bao gồm các hình thức cho vay tiêu dùng trả góp không
có tài sản đảm bảo, ứng trước tài khoản cá nhân có tài sản đảm bảo và không có tàisản đảm bảo, vay nhanh bằng cầm cố chứng từ có giá, cho vay du học
Đối với khách hàng là doanh nghiệp thì chi nhánh cung cấp các sản phẩm tíndụng như:
Cho vay vốn lưu động theo món: là sản phẩm đáp ứng nhu cầu vay vốn ngắnhạn phát sinh ngoài hạn mức của doanh nghiệp như các cơ hội kinh doanh ngoài kếhoạch hoặc các nhu cầu bổ sung vốn lưu động không thường xuyên để mua nguyênvật liệu hoặc hàng hóa, nhờ đó giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ hội kinh doanh với lãisuất hợp lý, đơn giản, linh hoạt
Cho vay vốn lưu động theo hạn mức: là giải pháp tín dụng đáp ứng nhu cầuvay vốn thường xuyên nhằm ổn định nguồn tài chính và tăng tính chủ động trongviệc lập kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp
Thấu chi doanh nghiệp: đây là giải pháp tín dụng tối ưu đáp ứng nhu cầu vayvốn đột xuất để tận dụng cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp mà không phải thựchiện hồ sơ vay vốn thông thường Doanh nghiệp có thể chi vượt số sư thực tế trêntài khoản tiền gửi trong thời gian ngắn hạn
Bảng 2.3: Tình hình hoạt động tín dụng tại Techcombank Chương Dương giai
đoạn 2008-2010
Đơn vị : Triệu đồng
Khoản mục Năm 2008 Năm 2009
Năm 2010
Số dư(triệu đồng)
Tỷ trọng(%)
Số dư(triệu đồng)
Tỷ trọng(%)
Số dư(triệu đồng)
Tỷ trọng(%)Cho vay ngắn hạn 74.328 64,90 123.087 67,26 116.018 58,26Cho vay trung hạn 25.170 22,07 36.178 19,77 18.984 9,53Cho vay dài hạn 15.036 13,03 23.747 12,97 64.137 32,21
Trang 40Dự phòng rủi ro tín
( Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của Techcombank Chương Dương
năm 2008-2010 )
Trên đây là bảng tổng dư nợ tín dụng tại thời điểm cuối năm ba năm vừa qua,
ta thấy sự tăng lên của dư nợ tín dụng Đáng chú ý, dư nợ tín dụng năm 2009 tăng
so với năm 2008 khoảng 59,79%, điều này một phần là do thực hiện chính sách góikích cầu hỗ trợ lãi suất của chính phủ, một phần khác là nhờ có việc triển khai chínhsách tín dụng, quy chế cho vay với lãi suất hấp dẫn khách hàng mà vẫn đảm bảo sự
an toàn ổn định Tuy nhiên, sang năm 2010 thì tốc độ tăng trưởng tín dụng so vớinăm 2009 chỉ xấp xỉ 8,81% Tỷ lệ tăng này không cao do việc chi nhánh thực hiệnquản lý rủi ro tín dụng chặt chẽ hơn, tức là thẩm định, phân tích hồ sơ xin vay thậntrọng hơn cũng như chịu sự điểu chỉnh ngày càng nhìu của các quy định an toàn tíndụng của Ngân hàng Nhà nước Cùng với tốc độ tăng trưởng tỉn dụng, dự phòng rủi
ro của Chi nhánh cũng tăng cao tương ứng, số dư dự phòng rủi ro tín dụng đạt mứckhoảng 3917 triệu đồng vào năm 2010, tăng 75% so với năm 2009
Xét cơ cấu cho vay theo kỳ hạn, cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong tổng dư nợ cho vay, với trên 58,26% ( năm 2010) Điều này có thể được lýgiải như sau: cho vay ngắn hạn có độ rủi ro thấp hơn, do đó có nhiều hồ sơ vay ngắnhạn sẽ được giải quyết nhanh hơn, với lại ngân hàng có sẵn các nguồn ngắn hạn đẻcho vay hơn, nguồn cho vay trung và dài hạn ít hơn và không được dùng ,quá 40%nguồn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn Ngoài ra, khoản cho vay ngắn hạn làmtăng tính thanh khaorn cho tài sản của ngân hàng nhiều hơn là khoản cho vay trungdài hạn Một đặc thù nữa của chi nhánh đó là với những khoản vay trung dài hạn cókhối lượng lớn thì thẩm quyền quyết định không phải Giám đốc chi nhanh mà củaHội đồng tín dụng quản lý rủi ro trên Hội sở Do vậy, những khoản cho vay trungdài hạn thường thấp hơn cho vay ngắn hạn Tuy nhiên cơ cấu vay theo kỳ hạn đã có
sự chuyển dịch qua các năm với sự tăng lên của các khoản cho vay dài hạn (tăng từ13,02% năm 2008, lên 32,21% năm 2010) và sự tụt giảm tương ứng của khoản chovay ngắn hạn (từ 64,9% năm 2008 xuống 58,26% năm 2010) và vay trung hạn (từ22,07% năm 2008 xuống 9,53% năm 2010) Điều này thể hiện nhu cầu vay trungdài hạn cho các dự án đầu tư có giá trị lớn gia tăng và chi nhánh cũng đã đáp ứng tốtnhu cầu đó của khách hàng tất nhiên là sau khi đã thẩm định hiệu quả của dự án vànguồn trả nợ cùng nhiều yếu tố khác