Vào nửa đầu thế kỷ 15, thị trường chứng khoán đã được hình thành một các rất tự phát và sơ khai, xuất phát từ một nhu cầu đơn lẻ ban đầu.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Vào nửa đầu thế kỷ 15, thị trường chứng khoán đã được hình thành một cácrất tự phát và sơ khai, xuất phát từ một nhu cầu đơn lẻ ban đầu Đến năm 1453 thịtrường chứng khoán đã phát triển có tổ chức hơn, phiên chợ đầu tiên được diễn ratại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ), tại đó có bảng hiệu hình ba túi
da với một từ tiếng Pháp là “Bourse” tức là “Mậu dịch thị trường” hay còn gọi là
“Sở giao dịch” Kể từ đó thị trường chứng khoán liên tục phát triển, mở rộng tớinhiều quốc gia với những công nghệ ngày một hiện đại và trải qua nhiều biến độngcùng với những thăng trầm của nền kinh tế quốc gia nói riêng, nên kinh tế thế giớinói chung
Ngày này ở tất cả các quốc gia phát triển trên thế giới đều có sự hoạt độngcủa thị trường chứng khoán, ngay cả ở một số nước đang phát triển cũng quan tâmđến vấn đề thành lập thị trường chứng khoán nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triểnkinh tế xã hội ở quốc gia đó, trong đó có Việt Nam Vậy, thị trường chứng khoán cónhững ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển kinh tế của quốc gia để nó có thểluôn tồn tại và phát triển
Bằng những kiến thức tích lũy được về thị trường chứng khoán, cùng với việctìm hiểu thực tế, nhóm chúng tôi bao gồm 11 thành viên đã tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Sự phát triển của thị trường chứng khoán và ảnh hưởng của nó đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam”
Nội dung Đề tài được được trình bày thành 3 phần:
PHẦN I: Tổng quan về thị trường chứng khoán
PHẦN II: Tỏc động của thị trường chứng khoán đến tăng trưởng kinh tế
Việt Nam
PHẦN III: Nguyờn nhõn và Giải pháp ổn định, phát triển thị trường chứng
khoán Việt Nam
Trang 2Do giới hạn về khả năng thu thập thông tin và thời gian nghiên cứu, nhómchúng tôi chủ yếu thực hiện nghiên cứu đánh giá dựa trên các thông tin trên thịtrường chứng khoán chính thức của Việt Nam.
PHẦN I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Thị trường chứng khoán là hạt nhân trung tâm của thị trường tài chính Nơidiễn ra các hoạt động tài chính phức tạp, phản ánh một cách tập trung những sự biếnđộng của nền kinh tế
1.1.2 Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
- Tạo tớnh thanh khoản cho cỏc chứng khoỏn
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện cỏc chớnh sỏch vĩ mụ
1.1.3 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Trang 3Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia thànhcác nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứngkhoán.
a Nhà phỏt hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trườngchứng khoán Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thịtrường chứng khoán
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chínhphủ và trái phiếu địa phương
- Cụng ty là nhà phỏt hành cỏc cổ phiếu và trỏi phiếu cụng ty
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các tráiphiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ
b Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trườngchứng khoán Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhàđầu tư có tổ chức
- Các nhà đầu tư cá nhân
- Các nhà đầu tư có tổ chức
c Cỏc tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
- Cụng ty chứng khoỏn
- Quỹ đầu tư chứng khoán
- Cỏc trung gian tài chớnh
d Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý Nhà nước
- Sở giao dịch chứng khoỏn
- Hiệp hội cỏc nhà kinh doanh chứng khoỏn
- Tổ chức lưu ký và thanh toỏn bự trừ chứng khoỏn
Trang 4- Cụng ty dịch vụ mỏy tớnh chứng khoỏn
- Cỏc tổ chức tài trợ chứng khoỏn
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
1.1.4 Cỏc nguyờn tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
- Nguyờn tắc cụng khai
- Nguyờn tắc trung gian
- Nguyên tắc đấu giá
1.2 CẤU TRÚC VÀ PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.2.1 Căn cứ vào sự lưu chuyển các nguồn vốn: Thị trường chứng khoán được
phân thành:
- Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp (còn được gọi là thị trường cấp 1 hay thị trường phát hành)
là giai đoạn khởi đầu của TTCK Đây cũng là nơi chứng khoán được mua bán lầnđầu tiên Chính vì vậy giá cả chứng khoán là giá phát hành Việc bán chứng khoántrên thị trường sơ cấp làm tang vốn cho nhà phát hành, có thể là các doanh nghiệphay Chính phủ, nhằm tài trợ cho các dự án Với Chính phủ, việc phát hành có thểnhằm mục đích tài trợ cho ngân sách hoặc tiêu dùng tạm thời
- Thị trường thứ cấp
Thị trường thứ cấp ( còn gọi là thị trường cấp 2 hay thị trường luân chuyểnchứng khoán ) là thị trường mua đi bán lại những chứng khoán đã được phát hànhvơí giá cả khác nhau Thu nhập từ chứng khoán sẽ thuộc nhà đầu tư và các tổ chứckinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về nhà phát hành
Do đó thị trường thứ cấp mang những chức năng sau:
+ Xác định giá chứng khoán trên cơ sở đấu gía tự do
+ Thị trường làm tăng tính lỏng cho các chứng khoán đã được phát hành hay nóicách khác nó làm tăng tính thanh khoản cho chứng khoán có giá
Trang 5+ Là thị trường có tính cạnh tranh cao
+ Là thị trường hoạt động liên tục
1.2.2 Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường: Thị trường chứng
khoán được phân thành:
- Thị trường tập trung (sở giao dịch chứng khoỏn)
- Thị trường phi tập trung (OTC)
1.2.3 Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường: Thị trường chứng khoán được phân
thành:
- Thị trường cổ phiếu: Thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán
các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đói
- Thị trường trái phiếu: Thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua
bán các trái phiếu đó được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếucông ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ
- Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: Thị trường các chứng
khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chínhkhác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn
1.3 VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
TTCK là một thể chế tài chính hữu hiệu, nhằm tạo ra công cụ khuyến khíchdân chúng tiết kiệm và thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi cho đầu tư phát triển kinh tế.Bất cứ doanh nghiệp nào khi cần vốn đầu tư đều phải chọn một trong hai giải pháp,giải pháp nội lực hoặc ngoại lực Trong đó, giải pháp ngoại lực là huy động vốnthông qua các tổ chứ bên ngoài, như vay ngân hàng hoặc phát hành chứng khoán racông chúng Đối với công chúng hình thức tiết kiệm ở ngân hàng có đặc điểm ít rủi
ro, lãi suất ổn định nhưng mức lãi suất này cũng thấp và còn chịu sức ép lạm phát.Hình thức này rất thích hợp với với những người có tâm lý sợ rủi ro, không ưa mạohiểm, nhưng với các nhà đầu tư nhiều tham vọng, họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro để
bù lại một mức lợi tức cao hơn, họ sẽ không chọn cách đơn giản nhất là gửi tiết
Trang 6kiệm ngân hàng mà sẽ tìm đến TTCK với những hàng hoá đầy hấp dẫn của nó Mộtthị trường năng động với các công cụ mới và đa dạng như cổ phiếu, trái phiếu,chứng quyền, hợp đồng tương lai… đáp ứng một các phong phú và đa dạng nhu cầucủa các nhà đầu tư trong việc lựa chọn, do đó thị trường này mỗi ngày một “nóng”hơn do sự tham gia ngày một đông đảo của các nhà đầu tư cũng như những bất ngờcủa thị trường Việc các nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu không những đem lại lợinhuận, mà còn là khả năng kiểm soát công ty hay quyền biểu quyết cao…
TTCK là công cụ để Nhà nước phát hành các trái phiếu nhằm huy động vốncho quá trình phát triển kinh tế Đây là nguồn bù đắp tạm thời cho thiếu hụt ngânsách, hay là nguồn tài rợ cho các dự án phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầngcủa Nhà nước Giải pháp tín dụng ngân sách này tương đối lành mạnh, bởi nếu yêucầu ngân hàng phát hành thêm tiền cho chi tiêu sẽ gây áp lực lạm phát lên nền kinh
tế Trong khi đó Chính phủ có thể phát hành trái phiếu kho bạc để huy động vốn chongân sách hay trái phiếu công trình cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, gây dựngnhững ngành nghề quan trọng… Rất nhiều quốc gia áp dụng như một biện phápthường xuyên mang tính kỹ thuật tiên tiến bởi nguồn huy động lớn và khả năng thuhồi vốn lâu dài thì tư nhân hầu như không có khả năng đáp ứng
TTCK là công cụ Nhà nước huy động và kiểm soát các nguồn đầu tư từ nướcngoài Nguồn đầu tư từ nước ngoài là một nguồn rất quan trọng đối với công cuộcphát triển kinh tế của chúng ta hiện nay, nhưng Nhà nước cũng phải kiểm tra, giámsát chặt chẽ tránh việc các tổ chức nước ngoài sẽ nắm giữ hoặc thâu tóm nhữngngành nghề quan trọng của chúng ta Các nguồn đầu tư từ nước ngoài có thể là đầu
tư trục tiếp hoặc gián tiếp, thông qua TTCK hiệu quả càng gia tăng
TTCK tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển vốn đầu tư Việc mua đi bánlại các chứng khoán một cách dễ dàng trên TTCK khiến các chứng khoán “lỏng”hơn Đối với nhà đầu tư khi họ muốn rút vốn để đầu tư sang lĩnh vực khác, hoặcmua chứng khoán khác họ có thể bán các chứng khoán đang nắm giữ và dễ dàngchuyển sang một loại chứng khoán khác
Trang 7 TTCK tạo điều kiện thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước Việcchuyển đổi từ loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước sang tay các chủ sởhữu là các thành phần kinh tế khác không những giảm bớt sự can thiệp của Nhànước vào nền kinh tế mà còn tạo ra hàng hóa chi TTCK thông qua việc bán các cổphần Công ty cổ phần và TTCK có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau, làm tiền đềcho nhau cùng nhau phát triển Các công ty chứng khoán cung cấp hàng hoá choTTCK, ngược lại TTCK làm tăng tính hấp dẫn của các chứng khoán của công ty cổphần.
TTCK còn khiến các công ty làm ăn lành mạnh hơn, thúc đẩy sự phát triểncủa các doanh nghiệp Để chứng khoán công ty mình có thể được niêm yết thì trươchết công ty cũng phải đạt được những tiêu chuẩn nhất định như tổng tài sản trướckhi niêm yết, tỷ lệ nợ trên vốn khả dụng, số năm làm ăn có lãi, tỷ lệ cổ tức trênmệnh giá…Bên cạnh đó doanh nghiệp còn phải công khai tài chính, báo cáo tàichính hàng năm Những điều kiện này khiến các nhà đầu tư yên tâm hơn vào lĩnhvực mà họ đầu tư, và những điều kiện này khiến chứng khoán dễ dàng hấp dẫn cácnhà đầu tư hơn Cũng vì vậy mà buộc doanh nghiệp luôn phải tìm cách hoàn thiệnhơn doanh nghiệp mình, quản lý hiệu quả và không ngừng phát huy sáng tạo
Trang 8PHẦN II TÁC ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ VIỆT NAM
2.1 QUÁ TRèNH HèNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1.1 Lịch sử ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành mộtnước công nghiệp phát triển đũi hỏi trong nước phải có một nguồn vốn lớn để đápứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế Vỡ vậy, Việt Nam cần phải cú chớnhsỏch huy động tối đa mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài nước để chuyển cácnguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế thành nguồn vốn đầu tư và thị trường chứngkhoán tất yếu sẽ ra đời vỡ nú giữ vai trũ quan trọng đối với việc huy động vốn trung
và dài hạn cho hoạt động kinh tế
Nhận thức rừ việc xõy dựng thị trường chứng khoán là một nhiệm vụ chiếnlược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tiến trỡnh xõy dựng và phỏt triển đấtnước, trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các điều kiện kinh tế– chính trị và xó hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở thamkhảo cú chọn lọc cỏc kinh nghiệm và mụ hỡnh thị trường chứng khoán trên thế giới,thị trường chứng khoán Việt Nam đó ra đời
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưavào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000
và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000
Quỏ trỡnh hỡnh thành thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 9Đến tháng 2năm 1974, các ý tưởng về vấn đề thành lập TTCK lại được đềcập bởi bản phúc trỡnh về TTCK Việt Nam của Ngõn Hàng quốc gia Việt nam Vàothời gian này Tiến sỹ N.Robbins Đại học Columbia đó tỏc động với ông NguyễnBích Huệ , cố vấn của Thống đốc NHQG Việt Nam lập bản Đề án thành lập TTCKViệt Nam…
20/7/2000: Trung tâm GDCK TPHCM chính thức được khai trương; vàongày 28/07/2000 đó tổ chức phiờn giao dịch đầu tiên với 2 loại cổ phiếu được niêmyết là : REE và SAM
Ngày 8/3/2005: TTGDCK Hà Nội được khai trương
2.1.2 Quỏ trỡnh phỏt triển của TTCK ở Việt Nam:
Cũng bắt đầu như bao chỉ số thị trường khác, VN-Index đó khởi đầu với 100điểm vào ngày 28/7/ 2000, một số năm khai sinh rất đẹp Với sự lạ lẫm và nhiệt
Trang 10huyết, chỉ chưa đầy 1 năm sau nó đó tăng lên tới đỉnh tại 571 điểm (gấp gần 6 lần!).Lúc này, với 1 vài sự chỉ đạo và ban hành “chiến lược” của nhà nước, vn-index đó
bị dội 1 gỏo nước lạnh vào đầu để rồi sau đó đó bước vào 1 thời kỳ suy thoái kéodài hơn 2 năm sau, giảm xuống cũn 130.9 điểm, chỉ cách điểm khởi đầu có 30.9điểm
Vào những tháng cuối cùng của năm 2003, VN-Index đó mở ra 1 đợt tăngdựng đứng lên 279.7 điểm (100%) vào ngày 1/4/2004, một đợt tăng mang nhữngdáng dấp gen di truyền ban đầu của những đợt tăng sau này Sau đợt tăng ngoạnmục đó, 1 số người kinh nghiệm đó mường tượng 1 cách mơ hồ về 1 thời kỳ mớicủa vn-index Mặc dù họ đó đúng, nhưng đó phải đợi khá lâu cho tới tận tháng8/2005 để thấy được điều đó Từ đỉnh ngắn hạn 279.7 điểm, VN-Index đó rơi trở vềmức 213.7 vào ngày 9/8 cùng năm đó một sự hiệu chỉnh vừa phải hơn 40%, sau đóbước vào quá trỡnh hỡnh thành nờn 1 cỏi đáy lũng mỏng, 1 sự hỡnh thành tiền thõnbỏo hiệu cho 1 đợt tăng vô cùng dữ dội sau này, và trong tiếng Anh người ta gọi là
“rounding-bottom”
Và điều gỡ đến đó phải đến, vào tháng 9/2005, vn-index đó vượt qua cái đỉnhngắn hạn cũ 279.7 điểm để rồi đạt tới 1 cái đỉnh ngắn hạn mới 322.5 điểm vào ngày3/11/2005 Từ ngày 3/11/05 cho đến ngày 6/2/2006, VN-Index lại bước vào 1 giaiđoạn củng cố ngắn hạn, tạo nên 1 mô hỡnh tam giỏc “cờ đuôi nheo” đặc trưng, và
đó break-out ra khỏi mụ hỡnh đó vào ngày 7/2/06, đánh dấu cho đợt tăng phi mólịch sử sau tết õm lịch “Bớnh Tuất”, 1 đợt tăng gây được sự chú ý nhiều nhất đốivới quần chúng từ trước đến nay Và vào ngày 25/4/2006, vn-index đó đóng cửa tại632.69 điểm, đó vượt qua đỉnh 571 cũ của năm 2001
Từ ngày 26/4/06, vn-index đi vào 1 đợt hiệu chỉnh sâu không thể tránh khỏigần 3 tháng, để vào ngày 2/8/06 đóng cửa tại 399.8 điểm
Đến đầu năm 2007 mà rất nhiều người trong số các bạn đó tham gia, đó ghinhớ khú cú thể quên được Có 1 đợt hiệu chỉnh ngắn trong tháng 10 Đầu tháng 11,dựa vào tin Việt Nam gia nhập WTO, vn-index đó tăng liên tục trong 5 tháng để đạttới đỉnh tăng trưởng kỷ lục, đóng cửa tại 1170.67 điểm vào ngày 12/3/2007
Trang 11Kể từ 1170, VN-Index rơi xuống mức 905.5, sau đó mở ra 1 đợt tăng mới vàotháng 5/2007, như là để tưởng nhớ đến ngày 30/4 lịch sử Đợt tăng đó dừng lại tại1113.19, sau đó thị trường sụt giảm kéo dài cho đến tháng 8 năm 2007, tại đây vn-index đó test đáy thành công và tạo ra 1 cái đáy nhỏ, đi lên 1 lần nữa để hỡnh thànhnờn 1 cỏi “đỉnh trũn” nhỏ, mà nhiều trader lầm tưởng nó là 1 cái “cờ bull”, họ hyvọng và gọi nó với 1 cái tên khá kêu “lá cờ tung bay” Cái mà được gọi là “lá cờtung bay” đó đó gẫy, break-down vào ngày 29/10/2007, đánh dấu cho 1 đợt bántháo kèm theo sự hoảng loạn, cộng hưởng với đợt sell-off của thị trường Mỹ cùngthời điểm đó với nhưng vấn đề của thị trường tài chính, kéo dài cho đến tận ngàyhôm nay Trong mô hỡnh “cờ” đó, khối lượng giao dịch đó duy trỡ ở mức kỷ lụctrong gần 1 tháng, báo hiệu những đặc điểm của 1 giai đoạn phân phối cuối cùngcho những trader, và những trader gan lỳ nhất cũng phải lui quân khi cái ngàybreak-down xảy ra, và như để an ủi 3 ngày sau VN-Index pull-back nhẹ lại cái “cờ”
đó, cung cấp những cơ hội rút lui cuối cùng cho các trader lóo luyện! Để lại ở đónhững người mà cho đến nay có khi cũng chưa hiểu điều gỡ đó xảy ra, họ bị tờ liệttrong niềm hy vọng “vụ bờ
Kể từ đỉnh tăng trưởng đầu năm 07 cho tới ngày 14/1/08, VN-Index đó hỡnhthành nờn 1 mụ hỡnh đáy chữ W “thất bại” Vào ngày 15/1/08, vn-index đó break-down nhẹ ra khỏi đáy của “big flag” đó, giật lại nhẹ kỹ thuật trong 1 vài ngày sau,
và chính thức xác nhận mô hỡnh tạo đỉnh vào ngày 22/1/08 khi rơi mạnh xuống 1lần nữa Vào lúc này những nhà “kỹ thuật” đó nhận ra rừ ràng rằng 1 thị trườnggiảm giá mới đó chớnh thức bắt đầu “bear market” VN-Index đó đạt 1 cái đáy ngắnhạn vào ngày 24/1 tại 764.13 điểm Sau đó từ ngày 25/1/08 VN-Index đó pull-backkhỏ mạnh, lờn tới đáy của nó vào ngày 1/2/08 tại 859.62 điểm, và … nghỉ tết
Như đó được dự đoán ngay từ đầu của những trader dày dặn, sau tết là 1 đợtsell-off dốc đứng bắt đầu và cho đến ngày 29/2/08, VN-Index đó đóng cửa tại 663.3điểm, mất gần 200 điểm từ đỉnh 859.62
Trang 12Đến cuối tháng 3.2008 là một cuộc sụp đổ của TTCK, VNIndex tụt xuống mức 600 điểm, nhưng mức sụt giảm là tự nhiên và đúng quy luật, trong tỡnh trạng lạm phỏt tăng và lói suất tăng.
2.2 ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.2.1 Ảnh hưởng tích cực
Thứ nhất, thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốn tạo điều kiện
cho phát triển kinh tế Kể từ ngày TTCK khai trương phiên giao dịch đầu tiên chỉ có
2 loại cổ phiếu là REE và SAM, với giá trị niêm yết 270 tỷ đồng thì đến hết năm
2007 đã có tổng cộng 250 loại cổ phiếu, 3 loại chứng chỉ quỹ của 253 công ty chúngkhoán với giá trị niêm yết trên cả 2 thị trường (HOSE và HASTC) khoảng 55.210 tỷđồng (tính theo mệnh giá)
Bảng 1: Diễn biến niêm yết cổ phiếu qua các năm
Trang 13gia trăn trên thị trường, cơ chế giao dịch ngày càng được hoàn thiện đã tạo được sựhấp dẫn đối với các nhà đầu tư khi tham gia thị trường Các năm gần đây cũng chothấy tình hình giao dịch có biến chuyển tăng đáng kể, khối lượng giao dịch đãkhông ngừng tăng lên
Tính đến ngày 31/12/2007, SGDCK TP.HCM đã thực hiện được 248 phiêngiao dịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2 tỷ cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu
tư, tương đương với tổng giá trị giao dịch đạt trên 205 nghìn tỷ đồng, gấp 3 khốilượng và gấp 5 giá trị giao dịch so với năm 2006 Bình quân mỗi phiên giao dịch cóhơn 8 triệu chứng khoán được chuyển nhượng tương đương với 830 tỷ đồng
Còn TTGDCK Hà Nội thực hiện được 248 phiên giao dịch trong năm 2007với tổng khối lượng đạt trên 612 triệu chứng khoán tương đương với tổng giá trịgiao dịch đạt trên 63.422 tỷ đồng, gấp 6 lần về khối lượng giao dịch và 16 lần về giátrị giao dịch so với năm 2006 Bình quân mỗi phiên giao dịch có gần 2.5 triệu cổphiếu được chuyển nhượng tương đương với trên 255 tỷ đồng
B ng 2: T ng quan quy mô giao d ch c phi u to n th trảng 2: Tổng quan quy mô giao dịch cổ phiếu toàn thị trường ổng quan quy mô giao dịch cổ phiếu toàn thị trường ịch cổ phiếu toàn thị trường ổng quan quy mô giao dịch cổ phiếu toàn thị trường ếu toàn thị trường àn thị trường ịch cổ phiếu toàn thị trường ườngng
GTGD (1000VNĐ)
VNindex (31/12)
KLGD (CP)
GTGD (1000VNĐ)
Trang 14đến năm 2006 tổng giá trị thị trường chiếm 22 %GDP và năm 2007 mức vốn hóa thịtrường chứng khoán đạt gần 40% GDP vượt mục tiêu 25-30% GDP mà Thủ tướngđặt ra trong chiến lược phát triển của thị trường chứng khoán đến năm 2010
Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam đã ngày càng thể hiện rõvai trò của mình là kênh thu hút vốn đầu tư một cách hiệu quả, tạo điều kiện thuậnlợi cho sự phát triển của nền kinh tế
Thứ hai, hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam đã góp phần nâng
cao hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp tham gia trên thị trường nói riêng và hiệuquả toàn bộ nền kinh tế nói chung Nhận thức được vai trò của thị trường chứngkhoán, các công ty niêm yết trên thị trường đã tận dụng tốt việc tăng vốn bằng việcphát hành thêm cổ phiếu trả cổ tức, thưởng, huy động vốn mới từ công chúng thôngqua thị trường chứng khoán
Để huy động được vốn trên thị trường chứng khoán, các công ty cần cónhững kế hoạch rõ ràng, hiệu quả cao Vì thế đòi hỏi các nhà quả trị doanh nghiệpphải có những nghiên cứu kỹ lưỡng về bản thân doanh nghiệp, thị trường trước khiđưa ra một dự án
Qua đó các doanh nghiệp có những điều kiện thuận lợi để thực hiện đạt vàvượt những kế hoạch kinh doanh đặt ra Tiêu biểu trong số đó là những công ty sau:
CTCP KCN Tân Tạo ITA 148,772,804,993 377,555,599,649 254%
CTCP Dược Hậu Giang DHG 87,059,660,543 127,093,200,178 146%CTCP Sữa Vinamilk VNM 733,225,000,000 967,093,200,178 132%CTCP Hóa chất Dầu khí DPM 1,161,308,000,000 1,320,795,597,247 114%
Thứ ba, Mỗi công ty khi muốn tham gia niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam phải đáp ứng được một số điều kiện như:
Trang 15- Điều kiện tham gia niêm yết trên HOSE:
+ Vốn điều lệ của công ty tối thiểu là 80 tỷ đồng + Báo cáo tài chính năm phải được kiểm toán+ 2 năm liền kề có lãi theo báo cáo được kiểm toán
- Điều kiện tham gia niêm yết trên HASTC:
+ Vốn điều lệ của công ty tối thiểu là 10 tỷ đồng+ Báo cáo tài chính năm phải được kiểm toán+ Năm trước liền kề có lãi
+ Không có lỗ lũy kếNhư vậy, để có thể tham gia vào được thị trường chứng khoán các công tybuộc phải nâng cao trình độ quản trị công ty của mình Và khi đã tham gia vào thịtrường thì thị trường chứng khoán cũng không ngừng thúc đẩy trình độ quản trịcông ty thông qua cơ chế công bố thông tin thường xuyên (mỗi quý một lần) Qua
đó, thị trường chứng khoán Việt Nam đã cung cấp thông tin phản ánh tình hình về
sự phát triển nền kinh tế thông qua báo cáo kết quả hoạt động của các công ty thamgia niêm yết trên thị trường một cách minh bạch và chính xác nhất
Thứ tư, thị trường chứng khoán Việt nam còn góp phần tài trợ chi tiêu chính
phủ từ những năm đầu thập niên 90, Kho bạc Nhà nước đó thực hiện phỏt hành trỏiphiếu Chớnh phủ để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước và bổ sung nguồn vốn chođầu tư phát triển Mặc dù đó cú cố gắng cải tiến về nội dung, hỡnh thức và phươngthức quản lý, song việc phát hành trái phiếu Chính phủ trong giai đoạn đầu thể hiệnrất nhiều bất cập như: quy mô phát hành nhỏ bé; kỳ hạn trái phiếu ngắn, kỹ thuậtphát hành lạc hậu, không thuận lợi cho việc giao dịch, mua bán trái phiếu Tuynhiên, từ tháng 7 năm 2000, cùng với sự ra đời của Trung tâm Giao dịch chứngkhoán thành phố Hồ Chí Minh, công tác phát hành trái phiếu Chính phủ có sự biếnđổi về chất Cơ chế phát hành trái phiếu Chính đó được cải tiến mạnh mẽ, bên cạnhcác phương thức phát hành truyền thống là bán lẻ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
và đấu thầu tín phiếu qua Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước đó mở ra hai
Trang 16kờnh phỏt hành mới là đấu thầu qua Trung tâm Giao dịch Chứng khoán và bảo lónhphỏt hành, bảo đảm trái phiếu có đủ điều kiện niêm yết, giao dịch tại Trung tâmGiao dịch chứng khoán Thực tiễn đó chứng minh rằng khi thị trường thứ cấp pháttriển sẽ tác động tích cực trở lại khả năng huy động vốn trên thị trường sơ cấp.Thực vậy, kể từ năm 2000, khối lượng trái phiếu Chính phủ phát hành qua thịtrường chứng khoán ngày một tăng Nếu năm 2000, Kho bạc Nhà nước mới huyđộng được 1.100 tỷ đồng qua thị trường chứng khoán thỡ đến năm 2005, con sốnày lên tới hơn 12.000 tỷ đồng, tăng gấp 11 lần, và năm 2007 trên thị trườngchứng khoán đó cú 467 loại trỏi phiếu chính phủ bao gồm Trái phiếu chính phủ, tráiphiếu địa phương, trái phiếu ngân hàng thương mại với khối lượng hơn 500 triệutrái phiếu tương ứng với giá trị 50.400 tỷ đồng Cũng nhờ thị trường chứng khoán,Kho bạc Nhà nước có điều kiện kéo dài thời hạn huy động vốn Trước năm 2000,trái phiếu Chính phủ chủ yếu có kỳ hạn 2 năm trở xuống thỡ đến nay đó phỏt hànhđược các loại trái phiếu kỳ hạn 5 năm, 7 năm, 10 năm và 15 năm.
Thứ năm, thị trường chứng khoán Việt Nam đã và đang đóng vai cửa ngõ
phát triển các quan hệ tài chính quốc tế Sự phát triển của thị trường chứng khoánViệt Nam không chỉ thu hút sự quan tâm, tham gia của các nhà đầu tư trong nước
mà còn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Mốc đánh dấu của nhà đầu từ nước ngoàitham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam là ngày 2/4/2001, ông DavidAplenton – quốc tịch Anh – là nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường, đã sở hữuđược 100 cổ phiếu TMS Đến cuối năm 2007, trên thị trường có khoảng 7.900 tàikhoản của nhà đầu tư nước ngoài (trong đó có hơn 7500 là tài khoản cá nhân, vàhơn 300 là tài khoản của tổ chức), gấp 3 lần so với năm 2006, lượng cổ phiếu trênthị trường do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ chiếm khoảng 25 đến 30 % tổng sốlượng cổ phiếu của các công ty niêm yết với lượng giao dịch khoảng 18% lượnggiao dịch toàn thị trường Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, hiện tại cókhoảng 74 quỹ đầu tư nước ngoài đang đầu tư vào Việt Nam: bao gồm 22 quỹ thànhlập trong tháng 9 năm 2007, với các tên tuổi như Sumitomo Mitsui Việt Nam,
Trang 17Fulleton Việt Nam Fund, Tong Yang VGN, Maxford Growth-VN Focus, VNResource,….
Không chỉ có các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư vào thị trườngchứng khoán Việt Nam mà một số doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứngkhoán việt Nam cũng có kế hoạch phát triển để có đủ điều kiện niêm yết trên thịtrường chứng khoán quốc tế như: Ngân hàng CP ACB, CTCP Sữa Vinamilk, …
Tháng 10/2005 lần đầu tiên Chính phủ Việt Nam đã phát hành trái phiếu rathị trường quốc tế với tổng trị giá phát hành 750 triệu USD và đã được bán hết mộtcách nhanh chóng
2.2.2 Ảnh hưởng tiờu cực
Thứ nhất: Thị trường chứng khoán là thị trường tự do ở mức cao; nguy cơ phát
triển tự phát gây khó khăn cho quản lý, điều tiết theo định hướng của Nhà nước.Việt nam với một thị trường chứng khoỏn cũn khỏ non trẻ, trỡnh độ phõn tớch,quản lý đầu tư của các nhà đầu tư chưa cao, chưa chuyên nghiệp; thường mangnặng tớnh tõm lý, đầu tư theo số đông Do đó, cung cầu chứng khoán trên thị trườngmang tính tự phát, chứa đựng nhiều yếu tố tõm lý nờn khụng ổn định gây khó khăncho việc quản lý, điều tiết nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước
Thứ hai: Các hành vi Đầu cơ mua bỏn nội giỏn, thao túng thị trường … gây ra
sự biến động giả tạo, bất thường của giá cả thị trường và sau đó tác động xấu đếntoàn bộ nền kinh tế xó hội
Hành vi mua bỏn nội giỏn: là khi một tổ chức hay cỏ nhõn (Nhà đầu cơ) câu kết để nắm được những
thông tin nội bộ, những thông tin không được công bố hoặc chưa sẵn sàng để công bố đồng loạt và rộng rói cho cụng chỳng ; qua thụng tin rũ rỉ này người đầu cơ tung tiền mua cổ phiếu sắp được công ty bán ra, tạo nên tỡnh trạng khan hiếm để trục lợi Đây là hành vi mua bán nội gián cần được sớm ngăn chặn trong tỡnh hỡnh hiện nay
Hành vi thao túng thị trường: là hành vi của nhà đầu tư cá nhân hoặc nhà
đầu tư tổ chức thực hiện các giao dịch để làm cho mọi nhà đầu tư khác hiểu sai lệch
về thị trường, tạo ra cung, cầu giả tạo hay việc cấu kết, lôi kéo người khác liên tụcmua, bán để thao túng giá chứng khoán Cụ thể về các khoản giao dịch như sau: