1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển bền vững các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh : thực trạng và giải pháp

75 1,2K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Bền Vững Các Làng Nghề Truyền Thống Trên Địa Bàn Tỉnh Bắc Ninh : Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả Nguyễn Văn Đăng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Chuyên đề thực tập
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 611,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển bền vững các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh : thực trạng và giải pháp

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU 1.lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây,kinh tế nước ta bước sang giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế,mọilĩnh vực hoạt động đều phát triển mạnh mẽ và đóng góp tích cực vào tăng trưởng của nền kinhtế.Hòa chung vào dòng chảy đó là sự phát triển mạnh mẽ các làng nghề ở khu vực nông thôn,nơi

có gần 80% dân số đang sinh sống Hiện nay Việt Nam đang bước vào thời kì CNH-HĐH đấtnước, thực trạng dư thừa lao động nông thôn và xu hướng chuyển dịch lao động ra thành thị giatăng nhanh chóng gây sức ép về cơ sở hạ tầng và các vấn đề xã hội nghiêm trọng Vì thế, pháttriển ngành nghề nông thôn không chỉ ngày càng quan trọng đối với khu vực nông thôn mà cònảnh hưởng đến nhịp độ phát triển chung của toàn xã hội.Với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam

cơ bản trở thành một nước công nghiệp thì việc phát triển các làng nghề nông thôn là một nộidung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội

Làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử tồn tại từ hàng trăm năm nay, được phân bố rộng khắp trênđịa bàn tỉnh và hoạt động hầu hết ở các ngành kinh tế chủ yếu.Với mật độ dân số đứng thứ 3 cảnước và nghèo về tài nguyên khoáng sản như Bắc Ninh thì việc phát triển các làng nghề truyềnthống càng là 1 nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh.Làng nghề lànơi lưu giữ các giá trị truyền thống của dân tộc ,các làng nghề thu hút 1 số lượng lớn laođộng,đóng góp đáng kể vào giá trị sản xuất của tỉnh.Song thách thức đặt ra đối với sự phát triểnbền vững các làng nghề cũng là vấn đề cấp thiết chi phối 1 bộ phận dân cư rất lớn trong tỉnh.Ônhiễm môi trường đang là vấn đề đáng báo động,cần có quy hoạch tổng thể,đồng bộ cho cáclàng nghề.Năng suất lao động và chất lượng sản phẩm chưa tương xứng với tiềm năng phát triểncủa tỉnh.Với 1 tỉnh có số lượng làng nghề lớn và có vị trí chiến lược trong phát triển vùng kinh tếtrọng điểm cần được quy hoạch như Bắc Ninh thì việc phát triển các làng nghề trong tỉnh BắcNinh càng trở nên cấp thiết

Nhận thấy đề tài phù hợp với chuyên ngành kinh tế phát triển,vì vậy trong quá trình thực tập tại

sở kế hoạch và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh em quyết định chọn đề tài: Phát triển bền vững các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh : thực trạng và giải pháp làm

đề tài thực tập với hi vọng sẽ đưa ra được những hướng giải quyết cho sự phát triển bền vữngcác làng nghề trong địa bàn tỉnh

Trang 2

2.Mục Tiêu nghiên cứu

Đưa ra những hướng giải quyết hợp lý và phù hợp với sự phát triển các làng nghề trên địa bàntỉnh Bắc Ninh,giúp các làng nghề phát triển theo hướng bền vững.từ đó góp phần tạo việclàm,nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu : các vấn đề về kinh tế,xã hội và môi trường của các làng nghề

-Phạm vi nghiên cứu : nghiên cứu thực trạng phát triển các làng nghê trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

4.Nội dung nghiên cứu

-Đánh giá thực trạng phát triển các làng nghề tỉnh Bắc Ninh

-Phân tích đánh giá các đánh giá tác động đến sự phát triển bền vững các làng nghề

-xác định phương hướng phát triển của các làng nghề đảm bảo sự phát triển bền vững

-Đề xuất các giải pháp phát triển bền vững các làng nghề

5.Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp phân tích,tổng hợp

-Thống kê kinh tế

-Phương pháp phân tích định lượng,định tính tính

6.Kết Quả nghiên cứu dự kiến đạt được

-Làm rõ cơ sở lý luận chung về làng nghề

-Tìm thấy thực trạng các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh : các mặt được và hạn chế

-Từ đó đưa ra được phương hướng và giai pháp cho sự phát triển bền vững các làng nghề trênđịa bàn tỉnh Bắc Ninh

Trang 3

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA LÀNG NGHỀ I.Khái niệm và đặc điểm của làng nghề

1.Khái niệm làng nghề và phân loại làng nghề

1.1.Phái niệm làng nghề

Lâu nay khái niệm làng nghề thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau Có nhànghiên cứu cho rằng "Làng nghề là một thiết chế kinh tế- xã hội ở nông thôn, đượccấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất địnhtrong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ

có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa" (Trần Minh Yến, 2004) Có nhànghiêu cứu định nghĩa "Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghềthủ công Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Ngườithợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông Nhưng yêu cầuchuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thốngngay tại làng quê của mình" (Bùi Văn Vượng, 2002)

Thế nhưng, trải qua nhiều bước phát triển, có thể thấy cho đến nay, làng nghềkhông còn bó hẹp trong khuôn khổ công nghệ thủ công, tuy thủ công vẫn là chính,

mà một số công đoạn đã được cơ khí hóa hoặc bán cơ khí hóa và trong các làngnghề, không chỉ có các cơ sở sản xuất hàng thủ công, mà đã có những có sở dịch vụ

và ngành nghề phục vụ cho sản xuất, như các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụphân phối hàng hóa, cung ứng đầu vào và đầu ra cho sản phẩm làng nghề

Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chícông nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống.Theo đó:

- Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm

độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy

cơ bị mai một, thất truyền

- Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum,

sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt độngngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau

Trang 4

- Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ

lâu đời

Cũng theo Thông tư nói trên, các tiêu chí dùng để công nhận nghề truyền thống,làng nghề và làng nghề truyền thống được quy định như sau:

- Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau:

(a) nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghịcông nhận;

(b) nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc;

(c) nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

- Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:

(a) có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghềnông thôn;

(b) hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đềnghị công nhận;

(c) chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

- Làng nghề truyền thống được công nhận phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất

một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này Đối với những làng chưa đạttiêu chí công nhận làng nghề (theo tiêu chí (a) và (b) trên đây) nhưng có ít nhất mộtnghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư này thì cũng đượccông nhận là làng nghề truyền thống

1.2.Phân loại làng nghề

1.2.1.Phân loại theo tính chất sản xuất

-Làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm, sứ, dệt tơtằm, trạm khắc…

-Làng nghề chyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho sản xuất và đời sống nhưrèn, mộc, đúc, hàn, gang…

-Làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng thôngthường như dệt vải, dệt chiếu cói, làm nón…

Trang 5

-Làng nghề chuyên chế biến lương thực, thực phẩm như xay xát, làm bún bánh,chế biến hải sản…

-Làng nghề chuyên làm các nghề như xây dựng, trồng hoa, cây cảnh…

1.2.2.Phân loại theo lịch sử phát triển

Làng nghề truyền thống: là làng nghề đã được tồn tại và phát triển lâu đời trong

lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụcác nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làmnghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trogn sản xuất và tiêuthụ sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn có ý thức tuânthủ những chế ước xã hội, dân tộc

Làng nghề mới là làng nghề được hình thành do yêu cầu phát triển sản xuất và đời

sống của nhân dân địa phương, ảnh hưởng lan tỏa từ các làng nghề truyền thống.Một số làng nghề mới được hình thành do chủ trương của địa phương nhằm tạocông ăn việc làm cho người dân, cho thợ đi học nghề ở nơi khác rồi về dạy chongười dân ở địa phương mình

2.Đặc điểm chung của làng nghề truyền thống

2.1.Làng nghề luôn gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp

Xuất phát từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người nông dân,các làng nghề xuấthiện trong các làng xã ở nông thôn với vai trò là các nghề phụ trong các gia đìnhnông thôn.Sau đó các nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏinông thôn mà gắn liền với sản xuất nông nghiệp.Các làng nghề tồn tại song songcùng với hoạt động sản xuất nông nghiệp,nó đáp ứng các nhu cầu cơ bản và nhucầu thiết yếu của người dân,tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp.Bên cạnhđó,hoạt động sản xuất nông nghiệp lại cung cấp nguồn nguyên liệu phục vụ cho cácngành nghề nông thôn.Vì vậy làng nghề là một yếu tố không thể tách rời với làngquê và hoạt động sản xuất nông nghiệp

Trang 6

2.2.kỹ thuật sản xuất dựa trên bí quyết gia truyền,lạc hậu thô sơ

Công cụ sản xuất trong làng nghề chủ yếu là công cụ thủ công,công nghệ sản xuấtmang tính đơn chiếc.Lý do vốn ít,mặt bằng sản xuất chật hẹp,bên cạnh đó là thóiquen sản xuất của người dân cũng như đặc điểm của sản phẩm.Nhiều loại sản phẩm

có công nghệ-kỹ thuật phải hoàn toàn dựa vào bàn tay khéo léo của nghệ nhân.Hiệnnay với sự phát triển của cơ khí hóa,điện khí hóa trong các hoạt động sản xuất,songcũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hóa được một số côngđoạn trong hoạt động sản xuất sản phẩm

2.3.Sản phẩm mang tính chất đặc trưng,mang bản sắc dân tộc

Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trịthẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vậttrang trí trong nhà, đền chùa, công sở Nhà nước.Các sản phẩm thủ công mỹ nghệViệt Nam có những nét riêng độc đáo tới mức tên của sản phẩm luôn gắn liền vớivới tên địa danh làm gia nó như lụa Hà Đông,đồ gỗ Đồng Kỵ…

Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sựsáng tạo nghệ thuật Từ những con rồng chạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên cáctrống đồng và các hoạ tiết trên đồ gốm sứ đến những nét chấm phá trên các bứcthêu tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về vănhoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc

2.4 Lao động chủ yếu là lao động thủ công

Đặc điểm nổi bật của các làng nghề truyền thống là sử dụng lao động thủ công làchính.Sản phẩm chủ yếu nhờ vào sự khéo léo,tinh xảo của đôi bàn tay cũng như đầu

óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ.Trước kia do trình độ khoa học và công nghệchưa được phát triển thì hầu hết các công đoạn đều là các quy trình thủ công,giảnđơn.Ngày nay,cùng với sự phát triển của khoa học-công nghệ,việc ứng dụng khoahọc,công nghệ vào một số công đoạn sản xuất đã giảm bớt được lượng lao động thủcông,đơn giản.Tuy nhiên,một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duytrì kỹ thuật thủ công tính xảo

Trang 7

2.5.Quy mô sản xuất nhỏ,thường gắn với sản xuất hộ gia đình

Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề phần lớn là quy mô hộ giađình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân

2.6 Nguyên liệu thường là tại chỗ

Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn có củanguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương Cũng có thể có một sốnguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như một số loại chỉ thêu,thuốc nhuộm song không nhiều

II,Vai trò của làng nghề đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

1.Đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa

Là một bộ phận của nền kinh tế tỉnh,thu nhập của các làng nghề đóng góp vàoGDP của cả nước nói chung cũng như của tỉnh nói riêng.Tuy quy mô nhỏ bé nhưngvới số lượng lớn được phân bố khắp các vùng nông thôn nên mỗi năm các làngnghề đã tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn,đóng góp vào GDP của tỉnh cũng nhưcủa cả nước.Tỉnh Bắc Ninh, Các làng nghề đã tạo ra nhiều loại sản phẩm hàng hóađược tiêu thụ khắp thị trường trong nước và tham gia xuất khẩu, tập trung vào cácmặt hàng: đồ gỗ mỹ nghệ, gốm, tre trúc, tơ tằm, giấy, thép, đồng, nhôm… Giá trịsản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh năm 2009 đạt hơn 9.400 tỷ đồng, chiếmkhoảng 48,9% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.Năm 2009,giá trị sảnphẩm của các làng nghề trong tỉnh đạt 260 tỷ đồng,chiếm gần 3/4 tổng giá trị sảnxuất công nghiệp ngoài quốc doanh.Riêng làng Đồng Kỵ đạt 30 tỷ đồng/năm,làngsắt Đa Hội đạt trên 36 tỷ đồng/năm

Hoạt động của các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng và phongphú, phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp cho nền kinh tế quốcdân nói chung và cho địa phương nói riêng, là nhân tố quan trọng thúc đẩy pháttriển hàng hoá ở nông thôn

Trang 8

Bên cạnh đó,việc phát triển các làng nghề còn góp phần không nhỏ vào chuyểndịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa,việc đóthể hiện ở việc thay đổi về chất trong kinh tế khu vực nông thôn: tăng tỷ trọng tiểuthủ công nghiệp,giảm tỷ trọng nông nghiệp,chuyển dịch cơ cấu lao động Trong quátrình vận động và phát triển các làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc tăngtrưởng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch dịch vụ, thu hẹp tỷtrọng của nông nghiệp.Sự phát triển lan toả của làng nghề đã mở rộng quy mô vàđịa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động đồng thời nó còn đóng vai trò tích cựctrong việc thay đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nhỏ, độc canh, mang tính tự túc, tựcấp sang sản xuất hàng hoá, hoặc tiếp nhận công nghệ mới làng thuần nông.

-Sự phát triển của các làng nghề trong những năm qua đã thực sự góp phần thúcđẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng cơ cấu ngànhcông nghiệp dịch vụ, giảm cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp, góp phần bố trí lựclượng lao động hợp lý theo hướng "ly nông bất ly hương" Đặc biệt sự phát triểncủa những làng nghề mới đã phá thế thuần nông, tạo đà cho công nghiệp phát triển,thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển kinh tế ở nông thôn -Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nông nghiệp phitập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp hiện đại ở nông thôn, là bước trunggian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ phân tán lên công nghiệp lớn Làngnghề sẽ là điểm thực hiện tốt phân công lao động tại chỗ, là nơi tạo ra sự liên kếtcông nông nghiệp có hiệu quả

Tỉnh Bắc Ninh hiện nay,cơ cấu kinh tế nhiều làng nghề đạt 60-80% lao động chocông nghiệp và dịch vụ,20-40% lao động cho nông nghiệp

2.Giải quyết việc làm

Việc phát triển làng nghề góp phần rất lớn trong việc tạo việc làm cho người dânđịa phương,trung bình 1 làng nghề thu hút tới 70% lao động trong vùng.Do đó pháttriển làng nghề góp phần giải quyết bài toán thất nghiệp ở nông thôn,giảm bớt gánhnặng gia tăng dân số

Trang 9

-Phát triển làng nghề giải quyết được việc làm tại chỗ cho người lao động, thểhiện được chủ trương lớn của đảng và nhà nước ta là xoá đói giảm nghèo, tạo cơ hộilàm giàu ngay tại địa phương.

-Phát triển làng nghề sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động dôi dư và laođộng thời vụ tại các địa phương, góp phần làm giảm bớt thời gian lao động nôngnhàn không những ở gia đình mình làng xóm mình mà còn thu hút lao động ở cácđịa phương khác, do đó góp phần giải quyết lao động dư thừa trên diện rộng

-Làng nghề thủ công truyền thống ngoài việc tạo việc làm cho người tại chỗ, còncung cấp việc làm cho một số người làm dịch vụ cung cấp nguyên liệu, dịch vụhoàn chỉnh và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm

Đối với tỉnh Bắc Ninh,dân số nông thôn chiếm tới 80% dân số toàn tỉnh,và laođộng nông thôn chiếm 74%.Gánh nặng việc làm đang là thách thức lớn đối với sựphát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn.Việc phát triển các làng nghề sẽ tạo cơhội việc làm cho một số lượng lớn lực lượng lao động tại nông thôn đặc biệt làthanh thiếu niên.Ngoài ra làng nghề còn tận dụng được triệt để lao động ở ngoài độtuổi lao động như người già,trẻ em có thể tham gia vào các công việc nhẹ mà nhữngngành kinh tế khác không sử dụng lực lượng lao động này.Hơn nữa,việc phát triểncác làng nghề tận dụng được lao động trong thời gian nông vụ nhàn rỗi

Như vậy,làng nghề thủ công truyền thống đã góp phần giải quyết việc làm chongười lao động một cách hiệu quả,làm giảm dòng di dân từ nông thôn ra thành thị

3.Nâng cao thu nhập của người dân,góp phần xóa đói giảm nghèo

Mục tiêu giảm khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thànhthị là một định hướng quan trọng trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội củaĐảng và Nhà nước Theo Tổng cục Thống kê, với mức chuẩn được lựa chọn, dựkiến số hộ nghèo của cả nước tăng từ 2 triệu (10%) như hiện nay lên 3,3 triệu(15%) vào năm 2011 Trước đó, chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2006-2010 là

từ 200.000 và 260.000 đồng một người một tháng trở xuống tương ứng với khu vựcnông thôn và thành thị Với chuẩn này, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 20% của năm

2006 xuống còn 10,9% năm 2010 và khoảng 10% vào năm nay.Với mục tiêu xóa

Trang 10

đói giảm nghèo,nâng cao thu nhập cho người dân,nhà nước ta chủ trương pháttriển và khôi phục phát triển các làng nghề.

Lao động trong làng nghề có thu nhập trung bình cao hơn khá nhiều so với laođộng nông nghiệp thuần túy.Thực tế cho thấy,thu nhập của người dân ở các làngnghề thường phổ biến ở mức 1.000.000-2.500.000 đồng/tháng,cao hơnnhiều(khoảng 2 đến 4 lần) so với lợi nhuận từ sản xuất nông nghiệp thuần túy Làng nghề phát triển đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhân dân,góp phầntích cực trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn

4.Bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống,bản sắc của địa phương.

Giá trị văn hóa của làng nghề truyền thống thể hiện qua sản phẩm, cơ cấu củalàng, lối sống, phong tục tập quán của cộng đồng Những sản phẩm thủ công truyềnthống hầu hết là những sản phẩm hàng hóa mang tính nghệ thuật, nó là sản phẩmvăn hóa vật thể vừa chứa đựng những giá trị văn hóa phi vật thể Những sản phẩmthủ công thể hiện sự ứng xử của con người trước nguyên liệu, trước thiên nhiên Từnguyên liệu thô sơ, qua bàn tay tài hoa, tâm huyết của người thợ đã trở thành nhữngsản phẩm xinh xắn, duyên dáng vì sản phẩm là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, thểhiện khiếu thẩm mỹ lao động, sự thông minh sự sáng tạo, tinh thần lao động củangười thợ – nghệ nhân Mỗi làng nghề thực sự là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nétvăn hóa độc đáo của từng địa phương, từng vùng Làng nghề truyền thống từ lâu đãtrở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu của văn hóa dân gian Những giá trịvăn hóa chứa đựng trong các làng nghề truyền thống đã tạo nên những nét riêng độcđáo đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hóa dân tộc Việt Nam Làngnghề là cả một môi trường kinh tế, văn hoá xã hội Làng nghề là nơi cộng đồng dân

cư có lối sống văn hóa: sống yêu lao động; sống cần cù, giản dị, tiết kiệm; sốngđùm bọc, giúp nhau cùng rèn luyện tay nghề Làng nghề là nơi không có đất để vănhóa phẩm độc hại, các tệ nạn: ma túy, cờ bạc, rượu chè, đua xe… nẩy nở Phảichăng chính vì lẽ đó mà nảy sinh nhận thức: làng nghề thủ công truyền thống chắcchắn sẽ đóng góp tích cực, thiết thực vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

Trang 11

5.Tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương

Nguyên liệu các làng nghề sử dụng chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp của địaphương.Điều đó không những tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương

mà còn góp phần tạo thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến

II,Phát triển bền vững làng nghề

1.Khái niệm phát triển bền vững làng nghề

Trong những thập kỷ 70,80 của thế kỷ 20, tăng trưởng kinh tế của một số nướcđạt tốc độ khá cao,tuy nhiên nó cũng có những ảnh hưởng tiêu cực của sự tăngtrưởng đó đến tương lai con người,và vấn đề tăng trưởng bền vững đã được đặt ra

Là một khái niệm tương đối rộng và có thể có nhiều cách hiểu khác nhau Tuynhiên, một định nghĩa chung nhất đã được đưa ra cho khái niệm phát triển bền vữngtrong Báo cáo của ngân hàng thế giới đề cập lần đầu tiên năm 1987 như sau:

“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế hệ tương lai”

Định nghĩa này mặc dù còn chung chung nhưng đã nhấn mạnh được hai yếu tố

quan trọng nhất của phát triển bền vững Đó là vấn nạn môi trường và mối tương

quan của nó với sự phát triển kinh tế; và nhu cầu của sự phát triển đó đối với mục tiêu xóa đói giảm nghèo.

Ở Việt Nam,khái niệm phát triển bền vững được hiểu theo một cách toàn diện

hơn:” “ Phát triển bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội với, nghĩa là

phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn

và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị- xã hôi, đảm bảo quốc phòng an ninh quốc gia”.

Nếu như không tính đến khái cạnh an ninh quốc phòng thì khái niệm Phát triển

bền vững, về cơ bản bao hàm 3 phương diện: Môi trường bền vững, kinh tế bền

vững và xã hội bền vững

Phát triển bền vững làng nghề là phát triển làng nghề đảm bảo tính ổn định,lâu dài

và việc phát triển không làm ảnh hưởng đến lợi ích cho các thế hệ tương lai.Đó là

sự phát triển dựa trên mức tăng trưởng cao và ổn định,hướng tới mục tiêu tiến bộ và

Trang 12

công bằng xã hội nông thôn,khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên thiênnhiên và bảo vệ môi trường.

2.Các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững của làng nghề

2.1.Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng lên về quy mô sản lượng nền kinh tế trong 1

thời kỳ nhất định.Để đánh giá sự phát triển bền vững của làng nghề ko thể nói đếnvấn đề tăng trưởng bền vững.Để đánh giá tăng trưởng tại các làng nghề theo tiêu chíbền vững có thể sử dụng một số tiêu chí sau:

Giá trị sản xuất tại các làng nghề : là sự gia tăng về số lượng sản phẩm,thể hiện

ở quy mô sản xuất,năng suất lao động tạo ra giá trị sản xuất ngày càng tăng.Đây làtiêu chí biển hiện về mặt số lượng của tăng trưởng

Thị trường và chất lượng sản phẩm: đây là một tiêu chí quan trọng đảm bảo tính

bền vững cho việc tăng trưởng của các làng nghề.Với vai trò là khâu cuối cùngtrong quá trình sản xuất,nó quyết định đến quy mô sản xuất và doanh thu.Để đảmbảo tốc độ tăng trưởng cao và ổn định thì cần có chất lượng sản phẩm tốt,ngày càngđược cải thiện cùng với thị trường tiêu thụ lớn và ổn định.Do đó thị trường và chấtlượng sản phẩm chính là chìa khóa cho sự thành công của các làng nghề

Vốn: là yếu tố không thể thiếu trong bất kỳ quá trình sản xuất nào.Đối với sự phát

triển của làng nghề.Vốn đối với sản xuất tại các làng nghề thường là vốn tự có củacác gia đình hoặc các cơ sở sản xuất nhỏ,nên vấn đề vốn đối với phát triển làngnghề càng quan trọng hơn trong quá trình mở rộng quy mô sản xuất và chất lượngsản phẩm

Lực lượng lao động có tay nghề ổn định: là một yếu tố trong quá trình sản

xuất,lực lượng lao động tại các làng nghề tác động rất nhiều đến chất lượng sảnphẩm.Làng nghề chủ yếu là lao động thủ công nên trình độ tay nghề của lao độngcàng đóng vai trò quan trọng hơn.Vì vậy cần đảm bảo ổn định lực lượng lao độnglàng nghề cả về số lượng và chất lượng để góp phần nâng cao chất lượng sảnphẩm.Từ đó tác động đến sự phát triển bền vững làng nghề

Trang 13

Gắn kết làng nghề với du lịch: Du lịch tạo cơ hội để mở rộng thị trường, xúc tiến

thương mại cho sản phẩm làng nghề Đồng thời, hoạt động cung ứng các dịch vụ dulịch cũng mang lại nguồn doanh thu đáng kể, đóng góp không nhỏ vào giá trị sảnxuất tại các làng nghề

2.2.Đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội

Việc phát triển các làng nghề phải đi đôi với các dịch vụ xã hội nhằm nâng caomức sống dân cư,cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân địa phương.Tiến bộ

xã hội mà trung tâm là vấn đề phát triển và cải thiện chất lượng cuộc sống con người làmột trong những nhân tố cơ bản của phát triển,là mục tiêu phát triển cuối cùng của đảng vànhà nước ta.Sự phát triển của xã hội được xem xét trên nhiều khía cạnh,song đối với làngnghề nông thôn có thể đánh giá theo một số tiêu chí cơ bản sau:

Giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân: Đây là tiêu chí cơ bản

đối với sự phát triển xã hội nông thôn.Thu nhập bình quân thể hiện sự tác động của kinh tếđối với người lao động,là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá và là tiền đề để nâng cao mứcsống của người dân.Chỉ khi có việc làm, con người mới có cơ hội để phát triển toàn diện,

tự đáp ứng những nhu cầu cơ bản và những nhu cầu chất lượng cao

Thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn: Đây là mục tiêu của tiến bộ

và công bằng xã hội.Là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước.Mức thu nhập khácao và thu hút một lực lượng lao động lớn tại làng nghề là yếu tố quan trọng thúcđẩy sự phát triển của khu vực nông thôn,giảm thiểu sự tụt hậu giữa khu vựcthành thị và nông thôn

Giữ gìn phong tục tập quán,bản sắc văn hóa dân tộc: Sự phát triển của làng

nghề gắn liền với sự phát triển văn hóa dân tộc.Vì vậy việc phát triển làng nghềphải đi đôi với việc bảo tồn và nâng cao đời sống văn hóa,tinh thần của dâncư.Đảm bảo gìn giữ được phong tục tập quán và bản sắc dân tộc

Trang 14

2.3.Bảo vệ môi trường

Phát triển làng nghề không những chỉ đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định màcòn cần quan tâm đến vấn đề môi trường tại các làng nghề,hướng tới việc phát triểnbền vững và ổn định cho các thế hệ tương lai

Môi trường với chức năng là không gian sinh tồn của con người,là nơi cung cấptài nguyên, là nơi chứa đựng , xử lý, tái chế các phế thải của con người.Với nhữngchức năng đó,môi trường đóng vai trò vô cùng quan trọng tác động đến cuộc sốngcủa chúng ta.Mặt khác,môi trường cũng chịu sự tác động của hoạt động sản xuất vàsinh hoạt của con người.Tuy vậy,vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề đangdiễn ra một cách khá phổ biến.Có thể kể đến 4 loại ô nhiễm cơ bản sau:

-Môi trường không khí

Để tính mức độ ô nhiễm không khí tại các làng nghề,ta có thể đo nồng độ bụi

trong không khí,các loại khí độc hại như CO, NO2, SO2, H2S, NH3…

-Môi trường nước

Mức độ ô nhiễm môi trường nước tại các làng nghề ta thường phân tích các thông

số nồng độ PH (mg/l), BOD5(mg/l), SS (mg/l), tổng khí Nitơ (mg/l), tổng Phốt pho

-Các chất thải rắn

Các làng nghề thủ công mỹ nghệ, chất thải rắn thường là các đầu mẩu mây, tre,

nứa Còn ở các làng nghề sản xuất công nghiệp thì chủ yếu là xỉ than, các sản phẩm

bị hỏng và rơi vai xtrong quá trình sản xuất Ngoài ra, các làng nghề sản xuất đúcđồng, trạm khảm rác thải sản xuất thường là mạ sắt, sắt vụn cũng gây ảnh hưởngkhông nhỏ đến môi trường

-Ô nhiễm tiếng ồn

Sản xuất thường gây ra tiếng ồn lớn do trình độ khoa học kĩ thuật ở các làng

nghề còn khá lạc hậu Hiện nay, phần lớn các làng nghề nằm xen kẽ trong khu dân

cư nên tiếng ồn gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Người tathường đo chỉ tiêu mức ồn tương đương(đơn vị dBA- đề xi ben A)

Trang 15

2.4.Liên hệ với các địa phương khác

2.4.1.Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở Hà Nội

Hà Nội với vị trí là trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội của cả nước, vốn được lưudanh là “mảnh đất trăm nghề”, có nhiều làng nghề mang đậm giá trị văn hóa, lịch sửvới tuổi đời hàng trăm năm như đúc đồng Ngũ Xá, gốm sứ Bát Tràng, lụa VạnPhúc, thêu Quất Động, mây tre đan Phú Vinh Mỗi làng nghề ở Hà Nội đều có nétđộc đáo riêng.Nói đến các sản phẩm thủ công truyền thống của Hà Nội thì khôngriêng người Việt Nam mà còn rất nhiều du khách nước ngoài biết đến

Để tạo điều kiện cho làng nghề phát triển theo hướng bền vững,thành phố Hà Nội

đã có những chính sách được thực hiện tốt như:

-Cố gắng để các làng nghề tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi một cách thuận lợinhất,qua đó giúp người dân đầu tư vào mở rộng sản xuất,mua sắm trang thiếtbị,nâng cao năng suất lao động,giảm giá thành sản phẩm

-Thị trường tiêu thụ sản phẩm khá phong phú.Sản phẩm làm ra không những đượctiêu thụ trong vùng,trong nước mà còn hướng đến xuất khẩu.Với vị trí trung tâmnên sản phẩm thường xuyên được tiếp cận với thông tin về thị trường,quảng cáomặt hàng,triển lãm và hội chợ

-Thành phố cũng có nhiều chính sách mang lại hiệu quả cao như : quy hoạch pháttriển làng nghề,xây dựng các điểm nông nghiệp làng nghề, Nhờ đó,các làng nghềtruyền thống đã được bảo tồn và ngày càng phát triển mạnh mẽ.Ngoài ra,các cấplãnh đạo cũng thường xuyên tổ chức hội chợ,triển lãm nhằm quảng bá sản phẩmtrong và ngoài nước

-Có chính sách phát triển du lịch làng nghề tốt.Du lịch làng nghề là một thế mạnhđặc trưng của làng nghề Hà Nội.Du lịch làng nghề đã đóng góp không nhỏ vào thunhập của các làng nghề trên địa bàn Hà Nội.Với thế mạnh là vị trí trung tâm của đấtnước,có nhiều làng nghề nổi tiếng,thành phố Hà Nội đã tận dụng và phát triển tốtcác dịch vụ du lịch làng nghề,tạo thêm việc làm cho người dân tại làng nghề vàmang về thu nhập không nhỏ

Trang 16

2.4.2Kinh nghiệm phát triển của làng nghề ở tỉnh Hà Nam.

III,Một số mô hình làng nghề trên thế giới

1.Mô hình của Nhật

Phong trào “mỗi làng một sản phẩm” ở tỉnh Oita của Nhật Bản đã thực sự thu hútđược sự quan tâm, học hỏi và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó cóThái Lan, Trung Quốc, Cam puchia, Indonesia…Đây là một điển hình về mô hìnhphát triển nông thôn của Nhật Bản đem lại hiệu quả cao trong sản xuất và đem lạilợi thế cho sản phẩm của các làng nghề trong thời kỳ hội nhập

Là một tỉnh nằm ở phía Tây Nam Nhật Bản, Oita cách thủ đô Tokyo khoảng 500

km Cuối những năm 70, khi Nhật Bản đã cơ bản thực hiện xong công cuộc Côngnghiệp hóa đất nước, các ngành công nghiệp đã được hình thành và phát triển ở khuvực thành phố tạo nên sự thu hút mạnh mẽ về lao động từ các vùng nông thôn, trong

đó có Oita Thế hệ trẻ sau khi tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề đềukhông muốn trở về vùng nông thôn nơi họ đã được sinh ra và lớn lên mà muốn ở lạicác thành phố và trung tâm công nghiệp Điều này đã dẫn đến tình trạng hoang tàn

và giảm dân số nghiêm trọng ở vùng nông thôn nói chung và Oita nói riêng – hầunhư chỉ còn người già và con trẻ ở những khu vực này Đứng trước tình hình đó,ngay sau khi được bổ nhiệm làm người đứng đầu tỉnh Oita, Ngài MorihikoHiramatsu đã đề xuất một loạt sáng kiến để khôi phục lại kinh tế của Oita, trong đó

có phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”

Theo ngài Tadashi Ando, Giám đốc điều hành của “Ủy ban xúc tiến phát triểnquốc tế của phong trào mỗi làng một sản phẩm” tỉnh Oita, có 3 nguyên tắc cơ bản

để phát triển phong trào, đó là: thứ nhất: Hành động địa phương nhưng suy nghĩtoàn cầu; thứ hai: tự tin và sáng tạo và cuối cùng là phát triển nguồn nhân lực Mỗiđịa phương, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình lựa chọn ra những sảnphẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển Trong phongtrào ở Oita, người ta có thể tìm ra những sản phẩm rất bình dị trong cuộc sống nhưnấm Shitake và các sản phẩm từ sữa bò, hàng gỗ mỹ nghệ ở thị trấn Yufuin, cam, cákhô ở làng Yonouzu, chè và măng tre ở làng Natkatsu…Trong 20 năm kể từ năm

Trang 17

1979-1999, phong trào mỗi làng một sản phẩm đã tạo ra được 329 sản phẩm vớitổng doanh thu là 141 tỷ yên/năm (trên 1.1 tỷ USD hay 19.000 tỷ đồng Việt Nam) Yếu tố thành công đầu tiên của mô hình có lẽ là chất lượng sản phẩm Yếu tố nàykhông chỉ thể hiện ở bản thân chất lượng của hàng hóa được kết tinh ở công nghệchế biến và bảo quản đã được giám định kỹ lưỡng bởi các cơ quan chức năng cũngnhư bởi ý thức sản xuất hàng hóa chất lượng cao trong hành vi của người Nhật Bản

mà còn thể hiện rất rõ ở nghệ thuật bao bì, đóng gói, luôn bắt mắt và thuận tiện choviệc vận chuyển, sử dụng của người tiêu dùng.Tại đây các sản phẩm của phong tràomỗi làng một sản phẩm của Hợp tác xã nông nghiệp Oyama đã được trưng bàyriêng một khu vực gọi là “Konohana Garten” và bán với hình thức các hợp tác xãđưa hàng đến giao cho siêu thị hàng ngày Với các mặt hàng tươi sống (như rauchẳng hạn), nếu không bán hết và chất lượng có sự suy giảm sẽ được các Hợp tác xãthu lại trong những lần đến giao hàng tiếp theo

Ngoài ra,phương thức bán hàng cũng rất ấn tượng.Ban lãnh đạo các hợp tác xãthay mặt các thành viên của mình tìm thị trường,giao hàng đến các địa điểm tiêuthụ.giá bán do HTX quyết định, trong cơ cấu giá bán đó HTX trả siêu thị 8% về chiphí thuê địa điểm bán hàng…, hợp tác xã hưởng 12% chi phí giao nhận, tìm kiếmthị trường, còn lại 80% trả lại ngýời sản xuất Việc bán hàng còn được tiến hành có

tổ chức rất tốt thông qua hệ thống 16 trạm dừng chân bên đường ở tỉnh Oita

Song hành với việc phát triển mỗi làng một nghề chính là việc phát triển các trungtâm nghiên cứu và đào tạo trên địa bàn toàn tỉnh để có thể tạo ra các sản phẩm chấtlượng đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Các chuyên gia đào tạo tại Trungtâm nói rằng, nguồn tài nguyên của bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ địa phương nàocũng có hạn, vì vậy nhiệm vụ của chúng ta là sử dụng nguồn tài nguyên đó mộtcách hiệu quả nhất để đem lại những giá trị tốt nhất cho cuộc sống

Mô hình “ mỗi làng một sản phẩm” của Nhật Bản là một bài học kinh nghiệm quýbáu về việc sáng tạo trong phương thức sản xuất.Mô hình giúp cho các làng nghềtrên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng cũng như trên cả nước nói chung một hướng đi

Trang 18

mới trong phát triển làng nghề,từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sảnphẩm nhằm phát triển bền vững các làng nghề.

2.Mô hình của Thái Lan

Thái Lan là một nước có nhiều làng nghề truyền thống,Các sản phẩm có giá trịnghệ thuật cao phục vụ cho mục đích du lịch và xuất khẩu.Sự kết hợp giữa bàn taytài hoa của các nghệ nhân cùng với công nghệ kỹ thuật tiên tiến đã tạo ra các sảnphẩm có giá trị nghệ thuật cao,phù hợp với thẩm mỹ và thị hiếu người tiêu dùng.Vìvậy,các sản phẩm của Thái Lan có sức cạnh tranh tốt trên thị trường thế giới

Điểm đáng ghi nhận trong việc phát triển các làng nghề truyền thống ở Thái Lan

là chính sách tạo tạo tay nghề rất được chính phủ coi trọng,hoạt động tín dụng cũngphát triển rất đa dạng nhằm tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất về mặt tàichính,thúc đẩy các hoạt động kinnh doanh và âp dụng công nghệ mới vào sản xuất Ngoài ra Thái Lan còn có rất nhiều chính sách hỗ trợ cho các làng nghề như cácchính sách giảm thuế hàng loạt cho các linh kiện, phụ kiện liên quan đến các sảnphẩm trung gian, các nguyên liệu thô của làng nghề, đồng thời có luật khuyến khíchcác làng nghề hiện đại hóa sản xuất phù hợp với các điều kiện kinh tế, tự nhiên củamôi trường

Bài học của Thái Lan đó là việc áp dụng tốt các chính sách đồng bộ cho việc pháttriển các làng nghề.Tận dụng các thế mạnh sẵn có,kết hợp giữa tay nghề truyềnthống với công nghệ khoa học tiên tiến,từ đó làm tăng năng suất lao động và chấtlượng sản phẩm.Có thể nói chính phủ đóng vai trò rất quan trọng đối với sự pháttriển làng nghề ở Thái Lan

Trang 19

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH BẮC NINH I.Tổng quan về làng nghề ở Bắc Ninh

Làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử tồn tại và phát triển lâu đời,phân bố rộng khắp

trên địa bàn toàn tỉnh và hoạt động ở hầu hết các ngành kinh tế.Làng nghề Bắc Ninhđược coi là một thế mạnh của tỉnh,tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân,gópphần tích cực vào phát triển kinh tế của tỉnh.Giá trị sản xuất của các làng nghềthường chiếm tới 80% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh và chiếmkhoảng 35% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh

Bắc Ninh có 62 làng nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực như đồ gỗ mỹ nghệ xuấtkhẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng ; trong đó có 31 làng nghềtruyền thống và 31 làng nghề mới, chiếm khoảng 10% tổng số làng nghề truyềnthống của cả nước

Trong số 62 làng nghề có thể phân thành 3 nhóm như sau: (i) Số làng nghề pháttriển tốt: có 20 làng nghề, chiếm 32% (ii) Số làng nghề hoạt động cầm chừngkhông phát triển được: 26 làng nghề, chiếm 42%.iii) Số làng nghề hoạt động kém,

có nguy cơ mai một, mất nghề: 16 làng nghề, chiếm 26%

Bảng 1: Thống kê cơ cấu làng nghề phân theo vùng và ngành nghề

CN CB

Xây dựng

(nguồn:sở nông nghiệp và phát triển nông thông tỉnh Bắc Ninh)

Theo bảng 2.1 ta thấy: tất cả các huyện,thị xã,thành phố trong tỉnh đều cố làng

nghề,tuy nhiên sự phân bố các làng nghề không đều giữa các vùng trong tỉnh.TừSơn và Yên Phong là 2 huyện tâp trung nhiều làng nghề nhất (với 18 làng nghề và

14 làng nghề)

Trang 20

Trong các làng nghề thì công nghiệp chế biến chiếm đa số: 53 làng nghề,chiếm

85,48%.Các làng nghề còn lại chỉ chiếm 14,52%

Trong số các làng nghề,có nhiều làng nghề phát triển tốt,có khả năng nhân rộngtrong toàn tỉnh như:

Làng sản xuất thép Đa Hội: Sản xuất hơn 33 loại mặt hàng sắt thép như thép xây

dựng,thép vuông,thép xoắn…với sản lượng hơn 40.000 Tấn mỗi năm,tao ra giá trịsản xuất 230 tỷ đồng một năm

Làng sản xuất đồ gỗ đồng kỵ: Sản xuất các loại mặt hàng bàn ghế,giường tủ,tranh

tượng.Các sản phẩm không những được ưa chuộng ở thị trường trong nước mà còn

có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới.Hàng năm,làng nghề tạo ra giá trị sản xuấtcông nhiệp trên 120 tỷ đồng,trong đó 40% sản phẩm phục vụ trong nước và 60%sản phẩm phục vụ cho xuất khẩu

Các làng sản xuất giấy xã Phong Khê: làng nghề có truyền thống từ hàng trăm

năm trước.Trên toàn xã hiện nay có khoảng gần 250 dây chuyền sản xuất giấy cócông suất 300 tấn/năm đến 2000 tấn/năm.Năm 2008,sản lượng giấy đạt 258.450 tấn/năm,giá trị sản xuất công nghiệp đạt 290 tỷ đồng.Thu nhập bình quân toàn xã là 12triệu đồng/người/năm Giải quyết việc làm cho 4.500 lao động trong xã và thu hútnhiều lao động bên ngoài Ngoài ra còn tạo việc làm cho lao động các khâu dịchvụ,cung ứng nguyên vật liệ cho sản xuất

II.Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững làng nghề ở Bắc Ninh

Trang 21

Tuy nhiên,cơ sở hạ tầng các làng nghề trong tỉnh vẫn còn rất nhiều khó khănchung của các làng nghề như nhà xưởng,mặt bằng sản xuất chưa đáp ứng được nhucầu do vốn đầu tư ít.

Bảng 2: Thống kê về thực trạng mặt bằng sản xuất của các chủ hộ sản xuất

Loại nghề

Bình quân diện tích nhà

xưởng (m2)

Thuộc loại (%)

Cùng với nơi ở (%)

Tách biệt nơi ở (%)

Đất do nhà nước cấp (%)

Đi thuê (%)

Nhà tạm

Bán kiên cố

Kiên cố

Nguồn:Sở công thương tỉnh Bắc Ninh

Biểu thống kê cho thấy,nhìn chung các cơ sở nghề có diện tích sản xuấthạn chế,số nhà xưởng được xây dựng kiên cố thấp,chủ yếu là nhà tạm và bán kiêncố.Các cơ sở sản xuất vẫn chưa được tách biệt với nơi ở Nguyên nhân chủ yếu là

do các hộ sản xuất thường hình thành một cách tự phát, tập quán làng nghề thủ công

là sản xuất nhỏ và ngay tại nhà để tận dụng thời gian và nhân lực nhàn rỗi cũng nhưtận dụng mặt bằng nên khu sản xuất xen lẫn với khu vực sống của người dân gâyảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và gây ô nhiêm môi trường Nghề phát triểncũng kéo theo việc quá tải của cơ sở hạ tầng như cấp, thoát nước, rác thải, khí thải,tiếng ồn và đường sá chật hẹp, xuống cấp nhanh Những vấn đề trên dần trở thànhsức cản nghề và làng nghề phát triển Thực tiễn phát triển đòi hỏi cần có địa điểm

Trang 22

sản xuất mới để giải phóng sức sản xuất, mở rộng quy mô và giải quyết các vấn đềbức súc về hạ tầng.

Nhìn chung, việc quy hoạch và xây dựng các khu công nghiệp làng nghề, cụmcông nghiệp vừa và nhỏ đã phần nào đáp ứng được nhu cầu về cơ sở hạ tầng cho sựphát triển của các cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh, nhất là trong các làng nghề như :Đình Bảng, Đại Bái, Phong Khê, Đồng Quang… đồng thời cũng tạo điều kiện choviệc thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư vào phát triển công nghiệp trênđịa bàn tỉnh Các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất trong các khu công nghiệp đãphát huy khá tốt năng lực đầu tư, góp phần vào sự tăng trưởng giá trị sản xuất trênđịa bàn tỉnh

2.Vốn đầu tư

Để phát triển và nhân rộng các làng nghề cần có sự đầu tư của các doanh nghiệp.Trước đây,việc vay vốn của các cơ sở sản xuất gặp rất nhiều khó khăn, nguồn vốncủa các doing nghiệp chủ yếu là vốn tự có hoặc vay của an hem trong gia đình.Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại,việc huy độngvốn cho các cơ sở sản xuất đã được cải thiện một cách đáng kể Hiện nay trên địabàn tỉnh có rất nhiều ngân hàng và tổ chức tín dụng cho vay và tạo vốn cho pháttriển làng nghề Tính riêng trên địa bàn huyện Từ Sơn đã có đến 15 chi nhánh ngânhàng hoạt động Năm 2009 huy động được tới hơn 1.500 tỷ đồng và cho các cơ sởsản xuất kinh doanh vay hơn 1.800 tỷ đồng Đáp ứng được nhu cầu về vốn đầu tư

cơ sở hạ tầng,thiết bị sản xuất, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sảnphẩm cho các làng nghề Trên toàn tỉnh, mạng lưới ngân hàng phát triển rất mạnh

mẽ đáp ứng được nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất hộ giađình trên địa bàn tỉnh

Tỉnh Bắc Ninh hiện đang hoàn tất đề án “Bảo tồn và phát triển nghề, làng nghềBắc Ninh” giai đoạn 2010-2020 có nguồn vốn đầu tư 2.230 tỉ đồng, với 3 nhiệm vụchính: Bảo tồn làng nghề truyền thống; phát triển làng nghề kết hợp du lịch; xâydựng làng nghề mới đồng thời với xử lý ô nhiễm làng nghề

Trang 23

Ngoài ra chính phủ cũng có các chinh sách hỗ trợ nhằm tăng vốn đầu tư cho các

cơ sở sản xuất như :

Chính sách hỗ trợ lãi suất 4%/năm cho các doanh nghiệp, cá nhân vay vốn lưuđộng từ ngân hàng được kỳ vọng là động lực thúc đẩy khôi phục sản xuất các làngnghề truyền thống Tuy nhiên trên thực tế, rất ít rất ít doanh nghiệp làng nghề tiếpcận được được nguồn vốn này, đặc biệt đối với những doanh nghiệp nhỏ và những

hộ sản xuất cá thể Sở dĩ các doanh nghiệp chưa mặn mà với nguồn vốn này do gặpnhiều vưỡng mắc trong thủ tục vay Hơn nữa, người dân nông thôn thường ít người

có thể tự viết được một dự án sản xuất kinh doanh đáp ứng yêu cầu cơ quan chứcnăng đề ra Họ cần sự tư vấn, hỗ trợ của ngân hàng

Nghị định số 41/2010/NĐ- CP ngày 12/04/2010 về chính sách tín dụng phục vụ pháttriển nông nghiệp, nông thôn đã tạo một bước đột biến đối với dòng vốn cho vay của các

cơ sở tín dụng đối với khu vực nông thôn và làng nghề

3.Lao động

Lao động luôn là nhân tố đóng vai trò chủ chốt của mọi hoạt động sản xuất Trình

độ của người lao động càng cao thì khả năng áp dụng khoa học,công nghệ mới vàosản xuất càng tốt, từ đó dẫn đến tăng năng suất lao động

Năm 2010,dân số Bắc Ninh là 1.043.700 người, tỷ lệ tăng tự nhiên 1,06% Cơ cấudân số : nhóm 0-14 tuổi chiếm tới 26,8%, nhóm từ 15-64 tuổi chiếm 67,4% Phân

bố dân cư chủ yếu ở khu vực nông thôn với tỷ lệ 85,9% dân số

Dân số trong độ tuổi lao động chiếm tới 67% dân số tỉnh Bắc Ninh với tốc độ tăngbình quân là 1,37% Trong tổng dân số của tỉnh, số người trong độ tuổi lao động cókhả năng lao động ở độ tuổi 15-29 tuổi chiếm 32,1%, từ 30-39 tuổi chiếm 28,7%, từ

40 tuổi trở lên chiếm 41,0%

Với cơ cấu lao động như trên, đây thực sự là một thế mạnh đối với sự phát triểncủa các làng nghề Trên địa bàn toàn tỉnh, tổng số lao động làng nghề chiếm khoảng30% dân số tỉnh ( khoảng 313.000 người ) Trung bình số hộ làm nghề ở các huyện

là 70% Đặc biệt với các huyện có làng nghề truyền thống phát triển thì hầu như tất

Trang 24

cả các hộ trong huyện đều ttham gia làm nghề,ví dụ như làng Đồng Kỵ, số hộ làmnghề chiếm tới 97%, làng dệt Hồi Quan là 92%, làng tranh Đông Hồ là 96%.

Bảng 3 : Số lượng lao động và lao động tại một số làng nghề của tỉnh Bắc Ninh hiện nay

( nguồn: sở công thương tỉnh Bắc Ninh)

Qua bảng số liệu ta thấy, các làng nghề tỉnh Bắc Ninh luôn tăng cả về số lượng cơ

sở sản xuất cũng như số lượng lao động tại các làng nghề Trong đó, các cơ sở sảnxuất đồ gỗ chiếm số lượng lớn nhất vì các nghề sản xuất đồ gỗ đang phát triển rấtmạnh với quy mô lớn sau đó là ngành sắt thép, dệt, chế biến nông sản… Số lượnglao động tham gia đông nhất ở các ngành sắt thép và đồ gỗ do 2 ngành này bao gồmnhiều khâu công việc nặng nhọc, phải cần nhiều lao động Tính riêng làng nghề làm

đồ gỗ đã thu hút tới 120.782 lao động năm 2008 và tăng lên đến 128.923 lao động

và 133.773 lao động năm 2009 và 2010

Tuy số lượng lao động tại các làng nghề tăng nhưng chất lượng lao động thì vẫncòn ở mức thấp, chủ yếu là làm bằng kinh nghiệm, kỹ thuật lưu truyền từ đời nàysang đời khác, không qua đào tạo

Bảng 4 : trình độ lao động tại một số làng nghề trên địa bàn tỉnh năm 2010

Đơn vị: lao động

Trang 25

Chưa qua đào tạo

Đã qua đào tạo Tổng

số

Trình độ Thợ giỏi

Trung cấp

ĐH,C Đ

Trên ĐH

(nguồn: Sở công thương tỉnh Bắc Ninh)

Qua bảng số liệu trên, có thể dễ dàng nhận ra tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở mứcrất thấp, chỉ so 21.024 lao động trong tổng số 325.817 lao động làm việc trong cáclàng nghề ( chiếm khoảng 6,45% ) Trong số 6,45% lao động đã qua đào tạo đó thìlao động lành nghề và lao động có trình độ trung cấp lại chiếm tỷ lệ rất cao 17.727lao động trong tổng số 21.024 lao động đã qua đào tạo ( chiếm tới 84% lao động đãqua đào tạo ) Số lao động có trình độ Đh,CĐ và trên đại học chiếm 1 tỷ lệ rất nhỏ( chiếm khoảng 9% lao động đã qua đào tạo Những nghề có tỷ lệ lao động có trình

độ cao là ngành giao thông vận tải và dệt Do các ngành này yêu cầu trình độ kỹthuật cao trong các khâu quản lý và giám sát, sản phẩm đòi hỏi độ chính xác cao

Nhìn chung,lực lượng lao động tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh vẫn còn thấp, đểduy trì và mở rộng sản xuất, đảng ủy, UBND cần có chính sách hỗ trợ các trườngđạo tạo nghề nhằm nâng cao tay nghề của người lao động

4.Nguồn nguyên liệu

Với diện tích nhỏ nhất cả nước trong khi mật độ dân số lại xếp thứ 3 cả nước, sốlượng cơ sở sản xuất trên địa bàn lại nhiều nên nguồn nguyên liệu tại chỗ không thểđáp ứng được cho quá trình sản xuất tại làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Vì

Trang 26

vậy,xu hướng thu mua nguyên vật liệu là chủ yếu, phụ thuộc rất nhiều vào nguồnnguyên liệu bên ngoài Với vị trí địa lý khá thuận lợi nên việc thu mua nguyên vậtliệu là tương đối thuận tiện, đảm bảo tính ổn định cho sản xuất.

Tuy nhiên với tốc độ gia tăng dân số nhanh, tôc độ khai thác tài nguyên nhanhchóng, diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp thì vấn đề tìm kiếm nguyên liệucho sản xuất tại các làng nghề lại trở lên khó khăn Chất lượng của nguyên liệucũng kém dần Hơn nữa, hàng loạt các vùng nguyên liệu cũng bị phá bỏ để trồngcác loại cây trồng khác Vì vậy không thể tránh khỏi tình trạng thiếu nguyên liệu tạicác làng nghề Điều này dẫn đến quá trình sản xuất rơi vào tình trạng bấp bênh,thiếu ổn định do nguồn nguyên liệu không ổn định

Bảng 5: Tình hình cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất của các ngành nghề Nhóm nghề Nguồn cung ứng nguyên vật liệu (%)

NVL tại địa

phương

NVL trong nước

NVL nước ngoài

NVL tại địa

phương

NVL trong nước

NVL nước ngoài

(nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Bắc Ninh)

Nhìn vào bảng số liệ ta thấy,nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương là rất nhỏ,chủ yếu là các sản phẩm từ nông nghiệp phục vụ cho ngành chế biến nông sản Cònlại, phần lớn nguyên vật liệu là nhập từ các vùng khác trong cả nước và một phầnnhỏ nguyên liệu cho ngành sản xuất đồ gỗ được nhập từ nước ngoài Nguồn nguyênliệu tại địa phương cũng đang có xu hướng giảm dần do người dân đã chuyển từ các

Trang 27

ngành sản xuất nông, lâm nghiệp thuần túy sang các ngành công nghiệp cho thunhập cao hơn.

Như vậy, hầu hết nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất tại các làng nghề đềuphụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bên ngoài Vì vậy, chi phí sản xuất cao hơn, giá cảsản phẩm không ổn định do sự thay đổi giá của nguồn nguyên liệu Đây chính làmột điểm yếu trong sản xuất làng nghề tỉnh Bắc Ninh

5.Kỹ thuật sản xuất và việc ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất

Trong mô hình tăng trưởng, công nghệ và kỹ thuật sản xuất đóng một vai trò vôcùng quan trọng Có thể nói, trong thời đại hiện nay, công nghệ đóng vai trò là nhân

tố quyết định tới năng suất lao động, cải thiện chất lượng sản phẩm Tuy nhiên sảnphẩm của các làng nghề truyền thống mang tính chất đặc thù, đòi hòi nhiều ở sựtài hoa khéo léo từ chính bàn tay người lao động, sử dụng máy móc sẽ không tránh khỏilàm kỹ thuật và phương pháp sản xuất truyền thống cũng thay đổi và mai một Việc ápdụng cơ giới hóa là khá hạn chế chỉ ở một số công đoạn nhất định

Kĩ thuật sản xuất tại các làng nghề chủ yếu dựa trên các bí quyết được lưutruyền qua các thế hệ nên có tính độc đáo riêng biệt trong từng sản phẩm Đâycũng chính là điểm mạnh, tạo nên chất lượng, sự khác biệt cho sản phẩm củalàng nghề nhưng mặt khác nó cũng ít có sự nghiên cứu và đổi mới trong cáckhâu sản xuất, vì đó việc đổi mới công nghệ diễn ra chậm chạp tại các làng nghề Trong thời gian gần đây, các doanh nghiệp làng nghề trong tỉnh đã tích cựcđầu tư mua những dây chuyền công nghệ hiện đại, đem lại hiệu quả sản xuất caohơn Có nhiều làng nghề đã khởi sắc dựa trên việc áp dụng kĩ thuật công nghệhiện đại ví dụ như nghề giấy ở xã Phong Khê, tính đến năm 2009 đã có 157 daychuyền sản xuất công nghiệp, năm 2010 đã có 12 doanh nghiệp đầu tư lắp đặtdây chuyền công nghệ mới phục vụ cho sản xuất với năng suất 10.000 tấn/ năm.Sản lượng giấy ở Phong Khê năm 2009 đạt 420.000 tấn/năm, năm 2010 đã tănglên 560.000 tấn/năm Thu nhập bình quân của cả xã là 10,5 triệuđồng/người/năm, giải quyết việc làm cho hơn 3000 lao động, bao gồm cả laođộng trong vùng và lao động của các vùng khác

Trang 28

Có thể nhận thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của khoa học công nghệ tiến tiến đối với sựphát triển của các làng nghề Tuy nhiên, nhìn chung việc áp dụng kĩ thuật công nghệvẫn còn khá hạn chế, mới chircos một số ít ngành nghề, địa phương áp dụng khoahọc công nghệ tiên tiến vào trong quá trình sản xuất,còn lại đa số các làng nghề vẫnsản xuất với trình độ lạc hậu Điều này không những ảnh hưởng đến năng suất laođộng, chất lượng sản phẩm kém mà còn là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng.

6.Thương hiệu của sản phẩm

Thương hiệu sản phẩm làng nghề không những góp phần đẩy mạnh sản xuất, kinhdoanh, tăng giá trị kinh tế mà còn bảo đảm sự bình đẳng, tăng sức cạnh tranh chosản phẩm trong thờ kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Xây dựng và phát triển thương hiệu là việc cần thiết và có ý nghĩa sống còn đốivới làng nghề Song, do nhận thức còn hạn chế cùng với sự đầu tư chưa tương xứngnên tới thời điểm này, việc xây dựng thương hiệu vẫn là khâu yếu của hầu hết làngnghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Để tạo sức cạnh tranh cao trên thị trường, việc xâydựng thương hiệu cho mỗi sản phẩm làng nghề là việc làm khó khăn, vì nó đòi hỏiphải đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng đểsản phẩm phát triển bền vững, tránh hiện tượng làm hàng giả, hàng nhái thì phải cócông nhận thương hiệu của cơ quan chức năng Tuy nhiên, nếp nghĩ của phần lớncác cơ sở sản xuất tại các làng nghề hiện nay đều cho rằng, sản phẩm đã có "truyềnthống" lâu đời thì ắt sẽ được mọi người ghi nhận nên chưa quan tâm đến việc đăng

ký thương hiệu Có chăng chỉ là xây dựng logo, giới thiệu chỉ giới địa lý, mã số mãvạch nên tiềm năng của làng nghề chưa được đánh thức Do phần nhiều các sảnphẩm làng nghề chưa đăng ký thương hiệu, nên khi phát hiện hàng nhái, hàng giả,các cơ quan chức năng không thể bảo vệ quyền lợi cho người sản xuất Mặt khác, tỷ

lệ thành lập tổ chức làng nghề của các địa phương còn rất ít (chỉ có khoảng gần10% số làng nghề) nên việc xây dựng chương trình quảng bá, tiếp thị sản phẩm cònhạn chế

Trang 29

7.Thị trường tiêu thụ

Tiêu thụ đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi ngành kinh tếnói chung và với nền kinh tế làng nghề nói riêng Đối với làng nghề để tồn tại vàphát triển được thì tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Sản phẩm củalàng nghề được tiêu thụ nhanh, mạnh sẽ là động lực thúc đẩy ngành nghề phát triển

và sản xuất nông nghiệp cũng phát triển Bên cạnh đó cũng chính nhờ sự tham giacủa các tổ chức cá nhân trong tiêu thụ tạo thành hệ thống kênh phân phối đã gópphần làm cân bằng hơn cơ cấu sản phẩm giữa các vùng miền trong cả nước, đápứng nhu cầu tiêu dùng của người dân

Một số làng nghề có thể tiêu thụ sản phẩm của mình rất tốt trong nước nhưng lạikhông đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Đây cũng là một điểm yếu của việctiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh

Bảng 6: Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở một số ngành nghề trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2010

xuất khẩu (%)

Sản lượng tiêu thụ trong tỉnh (%)

Sản lượng tiêu thụ ở các tỉnh khác (%)

Nguồn: sở công thương tỉnh Bắc Ninh năm 2010

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, các sản phẩm của làng nghề chủ yếu được tiêu thụ ởthị trường trong nước, đa phần các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trongvùng ( gần 50%), một phần xuất đi các tỉnh khác (35,6%) và còn lại rất ít các sảnphẩm được xuất khẩu sang thị trường nước ngoài Sản phẩm của các ngành dệt, chếbiến nông sản hoàn toàn là sản xuất phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước Lý

do là các mặt hàng này chủ yếu là sử dụng lao động thủ công, nguyên liệu tho sơkhiến chất lượng sản phẩm chưa cao nên không thể cạnh tranh trên thị trường quốc

Trang 30

tế Bên cạnh đó, còn có các mặt hàng có thị trường tiêu thụ khá tốt ở trong và ngoàinước như ngành sản xuất đồ gỗ và sắt thép Tiêu biểu là ngành sản xuất đồ gỗ với63% sản phẩm được xuất khẩu sang thị trường nước ngoài, chủ yếu là thị trườngTrung Quốc, ASEAN và Nhật Bản.

Nhìn chung việc tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Tỉnh Bắc Ninh vẫn còn gặpnhiều khó khăn Do các sản phẩm làm ra mang tính đơn điệu, lại gặp sự cạnh tranhmạnh mẽ của các mặt hàng công nghiệp, thương hiệu của các mặt hàng lại chưa cóhoặc không đủ mạng để có thể vươn ra thị trường Mặt khác, nhiều làng nghề lại sảnxuất một cách cầm chừng vì thế chưa có chiến lược cụ thể về chiếm lĩnh thị trường,các hỗ trợ của tỉnh về tìm kiếm thị trường cho làng nghề còn kém

III,Thực trạng phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn tỉnh bắc ninh 1.Bền vững về mặt kinh tế

Đến nay, trải qua nhiều năm phát triển, các làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh đãđạt được những kết quả to lớn, góp phần giữ gìn tinh hoa dân tộc, đóng góp vàotăng trưởng kinh tế chung của tỉnh cũng như cả nước.tuy nhiên vẫn còn nhiều hạnchế cần được khắc phục

1.1.Giá trị sản xuất tại các làng nghề

Hiện nay, toàn tỉnh Bắc Ninh có 62 làng nghề, Giá trị sản xuất công nghiệp trongcác làng nghề chiếm khoảng 75- 80% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh

và chiếm từ 25- 30% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn

Trước đây, cũng như tình hình chung của các địa phương khác trong cả nước, cálàng nghề tỉnh Bắc Ninh chỉ sản xuất ở mức độ manh mún, nhỏ lẻ, kỹ thuật thô sơ,phân bố xen kẽ với dân cư Nhận thấy thực tế đó, các cơ sở sản xuất đã mạnh dạnđầu tư vào xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề, đầu tư dây chuyền công nghệ,thiết bị và tập trung vào phát triển các ngành nghề mũi nhọn của tỉnh Vì thế, trongnhững năm gần đây, sản xuất tại các làng nghề của tỉnh luôn đạt tôc độ tăng trưởngcao, liên tục tăng về quy mô và cơ cấu sản phẩm

Bảng 7: Giá trị và cơ cấu sản phẩm tại các làng nghề

Trang 31

cấu (%)

cấu (%)

2009/2 008

2010/2 009

Nguồn: sở nông nghiệp & phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh

Giá trị sản xuất của các làng nghề liên tục gia tăng qua các năm từ 2008 – 2010.

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất các làng nghề năm 2009 là 16,67%, đây là mứctăng trưởng khá khiêm tốn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, cácsản phẩm của làng nghề khó tiêu thụ cả trong và ngoài nước Năm 2010, tốc độ tăngtrưởng đạt 25,7%, đây là một mức tăng trưởng rất ấn tượng với giá trị sản xuất đạt25.128 tỷ đồng, trong đó các làng nghề truyền thống cũng đạt mức tăng trưởng25,89% và giá trị sản xuất đạt 20.756 tỷ đồng Bên cạnh những đóng góp to lớn củacác làng nghề truyền thống thì các làng nghề mới cũng có những đóng góp khôngnhỏ giá trị sản xuất chung cho các làng nghề Qua các năm, mức đóng góp của cáclàng nghề mới luôn xấp xỉ 20% giá trị sản xuất của tổng số các làng nghề Tuy tỷtrọng giá trị sản xuất của các làng nghề mới có giảm qua các năm nhưng giá trị sảnxuất vẫn tăng Đây là kết quả của chính sách thúc đẩy phát triển các ngành nghề phinông nghiệp của Nhà nước Là đâu hiệu đáng mừng, cho công cuộc chuyển dịch cơcấu nông thôn

Tuy giá trị sản xuất tại các làng nghề là khá cao đạt tốc độ tăng trưởng tốt nhưnggiá trị xuất khẩu hàng hóa còn khá hạn chế Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu chỉ là

đồ gỗ, sắt thép

Bảng 7 : Cơ cấu giá trị xuất khẩu một số mặt hàng

Đơn vị : tỷ đồng

Trang 32

(nguồn : sở công thương tỉnh Bắc Ninh)

Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của các làng nghề là rất ít Trong đó lớn nhất là

đồ gỗ mỹ nghệ với hơn 50% giá trị xuất khẩu của cả tỉnh Tuy các mặt hàng xuấtkhẩu là rất ít nhưng tốc độ tăng lại liên tục gia tăng qua các năm với mức tăngtrưởng cao, đặc biệt là năm 2007 với mức tăng rất cao ( 54,9% ) Tuy nhiên đếnnăm 2009, giá trị kim ngạch xuất khẩu lại sụt giảm, nguyên nhân là do cuộc khủnghoảng kinh tế ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ của các sản phẩm

Nhìn chung, giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh là tương đối cao

và đạt mức tăng trưởng rất tốt Bên cạnh đó thì giá trị xuất khẩu các mặt hàng vẫncòn rất hạn chế

1.2.Chất lượng sản phẩm và thị trường tiêu thụ

Chất lượng sản phẩm và thị trường là khâu cuối cùng cùng của quá trình sản xuất,

nó là khâu quyết định đến sự phát triển của làng nghề Nâng cao chất lượng sảnphẩm và quản lý tốt thị trường tiêu thụ chính là một trong những yếu tố quan trọngnhất quyết định đến sự thành công của làng nghề

Với lịch sử phát triển lâu đời, các sản phẩm làng nghề Bắc Ninh có tính độc đáo

và kinh nghiệm được lưu truyền đã tạo nên được niềm tin của người tiêu dùng vớicác sản phẩm Bên cạnh đó còn có rất nhiều làng nghề mới hình thành do tác độnglan toả từ các làng nghề truyền thống cũng đã nhanh chóng nắm bắt được xu thế củathị trường và phát triển mạnh mẽ tạo dựng được chỗ đứng nhất định trên thị trường.Tuy nhiên, một thực trạng của các làng nghề nói chung cũng như làng nghề BắcNinh nói riêng đó là chất lượng sản phẩm còn thấp do thiếu công nghệ và trang thiết

bị lạc hậu dẫn đến chi phí sản xuất cao mà không đảm bảo được chất lượng sảnphẩm Hầu hết các sản phẩm đều được sản xuất bằng hình thức thủ công không cótiêu chuẩn đánh giá chất lượng cụ thể, thông tin liên quan về các tiêu chuẩn khôngphổ biến Các mặt hàng chế biến lương thực, thực phẩm thường không đảm bảo

Trang 33

chất lượng VSATTP Hiện nay, các cơ sở sản xuất làng nghề đã chú trọng vào đầu

tư công nghệ, nâng cao trình độ sản xuất nhưng vẫn chỉ đạt được những thành tựurất hạn chế vì vậy chất lượng sản phẩm không được cải thiện nhiều

1.3.Vấn đề phát triển du lịch làng nghề

Bắc Ninh là vùng đất văn hiến, có bề dày truyền thống văn hóa và thường đượcxem là trung tâm của những lễ hội dân gian, nơi có hai di sản văn hóa của nhân loại:dân ca Quan họ Bắc Ninh và ca trù Không những vậy, Bắc Ninh còn là tỉnh cónhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng Ðây là tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn,thu hút sự quan tâm của du khách và các hãng lữ hành.

Có một sự kết hợp tuyệt vời đó là đa số các lễ hội ở Bắc Ninh đều gắn với cáclàng nghề để tưởng nhớ tới công ơn của “ ông tổ làng nghề” Đây là điều kiện rấtthuận lợi để ta gắn du lịch lễ hội và làng nghề Sản phẩm làng nghề phong phú, đadạng Bởi vậy, nhu cầu bạn hàng và thị trường tiêu thụ rất cao Khách du lịch đếnlàng nghề sẽ tạo ra một thị trường xuất khẩu tại chỗ ngày càng lớn Những đoànkhách du lịch kết hợp thương mại, tìm kiếm cơ hội đầu tư ngày càng tăng Các làngnghề đang cần những tổ chức tư vấn, hỗ trợ, tài trợ quốc tế và những dự án đầu tư

Cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ và thiết lập quan hệ bạn hàng quốc tế của các

làng nghề qua việc trực tiếp đón khách du lịch là rất lớn

Nhận thức được các thế mạnh về làng nghề và du lịch, trong những năm qua Bắc

Ninh đã bước đầu đẩy mạnh phát triển du lịch làng nghề Ðến nay, toàn tỉnh BắcNinh có 62 làng nghề thủ công, trong đó có 31 làng nghề thủ công truyền thống.Trong số đó, hiện có 28 làng nghề phát triển ổn định với 25 làng nghề truyềnthống Lượng khách du lịch đến tham quan các làng nghề truyền thống trên địa bàntỉnh Bắc Ninh khoảng từ 20 đến 25 nghìn lượt khách mỗi năm, chiếm tỷ lệ 12%đến 15% khách du lịch đến Bắc Ninh Một số làng nghề bước đầu đã thu hút đượckhách như Gốm Phù Lãng, Tranh Ðông Hồ, Gỗ Ðồng Kỵ, làng Quan họ cổ Diềm

Du khách có thể chiêm ngưỡng và tự tay tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm

Trang 34

truyền thống, du khách còn đồng thời được khám phá những giá trị văn hóa truyềnthống đặc sắc luôn gắn liền với lịch sử phát triển của sản phẩm làng nghề Các ditích lịch sử văn hóa làng nghề đã được quan tâm tu bổ, tôn tạo, nhiều di tích tiêubiểu như đình, chùa, đền, nhà thờ tổ sư đã được Nhà nước cấp bằng công nhận là

di tích lịch sử cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh như: lăng mộ tổ sư nghề đồng NguyễnCông Truyền ở Ðại Bái, lăng mộ và đền thờ tổ sư nghề đúc đồng Nguyễn CôngNghệ ở Quảng Bố, đình chùa làng Ðồng Kỵ, đình đền làng Trang Liệt, đền thờThái bảo Quận công Trần Ðức Huệ ở Ða Hội, đình chùa làng Phù Lưu, đình ÐìnhBảng, đền Ðô, đình làng Dương Ổ Lễ hội ở các làng nghề truyền thống cũng đượckhôi phục và duy trì với nhiều nghi thức trang nghiêm với các sinh hoạt văn hóa nghệthuật dân gian phong phú, hấp dẫn, mang đậm bản sắc văn hóa cộng đồng của cáclàng nghề truyền thống như: lễ hội làng nghề Ðại Bái, lễ hội làng nghề Ðồng Kỵ, lễhội đền Ðô - Ðình Bảng, lễ hội làng Ðống Cao, làng Châm Khê

Tuy nhiên vấn đề phát triển du lịch làng nghề ở Bắc Ninh còn bộc lộ khánhiều khó khăn và hạn chế, để khắc phục và thúc đẩy tốc độ trăng trưởng du lịchlàng nghề trong thời gian tới, du lịch Bắc Ninh đang hướng vào triển khai thực hiệnnhiều giải pháp đồng bộ Trong đó tiếp tục hoàn thiện quy hoạch hệ thống các làngnghề phục vụ du lịch và đẩy mạnh đầu tư nhằm hoàn thiện đồng bộ để hình thành ởmỗi làng nghề là một điểm đến Trong đó, ưu tiên cải tạo và xây dựng mới cơ sở hạtầng kỹ thuật cho làng nghề gắn với chương trình văn hóa nông thôn mới, tập trungvào hệ thống công trình giao thông đi lại trong từng làng nghề Quá tŕnh đầu tư cótính đến sự phù hợp của hệ thống đối với cảnh quan tự nhiên của các làng nghềnhằm thu hút khách du lịch

Nâng cao hoạt động của các làng nghề gắn với phát triển du lịch Lựa chọn một

số làng nghề đang thu hút khách để định hướng đầu tư các dịch vụ du lịch, hìnhthành nên các phòng trưng bày (hoặc bảo tàng làng nghề) các trạm thông tin vàhướng dẫn du lịch Ưu tiên việc đầu tư các thiết chế văn hóa thể thao để duy trì vàtăng cường các hoạt động sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng làng nghề phục vụ khách.Tích cực tuyên truyền văn hóa du lịch tới từng hộ dân để từng bước đẩy mạnh hoạt

Trang 35

động du lịch cộng đồng tại làng nghề, hướng đến tự các làng nghề tổ chức và điềuhành các hoạt động du lịch Tiếp tục đầu tư vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia

để trùng tu, tôn tạo các di tích gắn với lịch sử làng nghề Phục hồi các giá trị vănhóa truyền thống như các phong tục, tập quán riêng có của từng làng nghề chẳnghạn: tục chọn giờ để đốt lò ở làng Ðại Bái, hoặc lệ ăn Tết cùng vào ngày 30 thángGiêng Hay tục lễ đốt lò ở làng gốm Phù Lãng, tục lệ trình nghề vào ngày mùng 2Tết Nguyên đán ở làng Ðại Mão Phục hồi và duy trì các hình thức sinh hoạt vănnghệ như đội tuồng của các làng nghề Ðồng Kỵ, Ða Hội, hát Quan họ ở Nội Duệ,Lũng Giang, Tam Khê

Ðẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá về du lịch làng nghề như tổ chức thamgia các hội chợ triển lãm, hội chợ du lịch trong nước và quốc tế Giới thiệu thông tinchi tiết về các sản phẩm làng nghề trên các tạp chí, các phương tiện thông tin đạichúng, các sách báo, ấn phẩm mà khách du lịch thường quan tâm theo dõi Ðẩymạnh việc trưng bày, giới thiệu sản phẩm ở các thành phố, đô thị lớn là nơi tậptrung nhiều du khách Các cửa hàng trưng bày này có thể kết hợp giới thiệu vềnhững truyền tích, giai thoại về các vị tổ sư, những người thợ cùng với kinh nghiệmkết tinh trí tuệ nét đẹp văn hóa của những làng nghề

Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về du lịch để hình thành một đội ngũ dulịch tại chỗ theo hai hướng: hình thành đội ngũ quản lý và điều hành hoạt động dulịch tại làng nghề; huy động cộng đồng dân cư tại làng nghề tham gia vào quá trìnhhoạt động du lịch Trong đó, ưu tiên vinh danh những nghệ nhân và khuyến khíchnhững nghệ nhân này trực tiếp hướng dẫn khách du lịch tham gia vào quá trìnhhướng dẫn sản xuất sản phẩm cho các du khách

Ða dạng hóa sản phẩm làng nghề, tập trung sản xuất các mặt hàng có giá trị nghệthuật, phù hợp với thị hiếu của du khách Hầu hết du khách khi đi du lịch ít khi muacác sản phẩm có kích thước và trọng lượng lớn Họ thường có xu hướng mua cácsản phẩm vừa và nhỏ, độc đáo, lạ mắt, có giá trị nghệ thuật để làm đồ lưu niệm hoặclàm quà cho người thân Các làng nghề cần tìm hiểu nắm bắt được nhu cầu này củakhách du lịch để tạo ra các sản phẩm phù hợp Ðối với một số làng nghề, khi khách

Trang 36

du lịch tới tham quan các cơ sở sản xuất có thể hướng dẫn họ tự làm một số sảnphẩm đơn giản Du khách thường tìm hiểu quy trình sản xuất, cách làm và đặc biệtthích tự tay mình làm được một sản phẩm nào đó dù rất đơn giản dưới sự hướng dẫncủa các nghệ nhân hay những người thợ ở đây Khi đó những trải nghiệm mà dukhách có được sẽ càng có giá trị và ấn tượng mạnh mẽ về chuyến đi Nó cũng sẽ tạonên sự khác biệt, điểm nhấn độc đáo của chuyến tham quan

Liên kết xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các công ty du lịch của tỉnh và cácđịa phương khác để xây dựng sản phẩm, thường xuyên cập nhật thông tin và cónguồn khách ổn định Các đơn vị kinh doanh lữ hành cần phối hợp cơ quan quản lýnhà nước tổ chức tốt các tua du lịch làng nghề để thông qua du khách có thể quảng

bá sản phẩm bằng hình thức truyền miệng từ người này sang người khác

Trong bối cảnh như hiện nay, phát triển du lịch làng nghề cần được quan tâm vàchỉ đạo thống nhất từ trung ương đến địa phương mới có thể tạo nên những bướcđột phá mới cho du lịch làng nghề

2.Bền vững về mặt xã hội

2.1.Nâng cao Thu nhập và việc làm cho người dân từ làng nghề

2.1.1.Thu nhập của người dân tại các làng nghề

Thực tế cho thấy kinh tế nông thôn gắn liền với nông nghiệp còn có nhiều hạnchế Nông dân ở hầu hết các vùng nông thôn không thể làm giàu được trên mảnhruộng của mình dù đã cố gắng xoay xở hết cách Làng nghề đã mở ra một hướnglàm ăn mới cho người nông dân nông thôn Sự phát triển các làng nghề đã giảiquyết vấn đề lao động dư thừa, tình trạng thất nghiệp lao động tạm thời tại nôngthôn đồng thời nâng cao thu nhập cho người dân

Bảng 8: Thống kê về thu nhập bình quân/hộ gia đình/tháng tại một số làng nghề

Đơn vị:VNĐ

Trang 37

Loại nghề Thu nhập trung bình Thu nhập cao nhất

(Nguồn : sở công thương tỉnh Bắc Ninh)

Có thể thấy thu nhập của người dân tại các làng nghề cao hơn hẳn so với hoạtđộng nông nghiệp thuần túy ( khoảng 3-4 lần ), trung bình thu nhập của người dânkhoảng 1 triệu đồng/ lao động/ tháng Có nhiều làng nghề đem lại mức thu nhập rấtcao như nghề làm đồ gỗ, nghề sắt thép, làm giấy… với mức thu nhập trung bìnhkhoàng 1.500.000 - 2.000.000 đồng/ tháng Bên cạnh những làng nghề làm ăn rấthiệu quả vẫn còn những làng nghề hoạt động chưa thực sự tốt, do đó ảnh hưởng đếnmức thu nhập của người lao động, tuy nhiên nhìn chung không có làng nghề nào cómức thu nhập dưới 500.000 đồng

Đây là hiệu quả rất lớn mang lại từ sự phát triển các làng nghề

Nâng cao mức thu nhập cho người dân là điều kiện cơ bản để nâng cao chấtlượng cuộc sống, đáp ứng các nhu cầu về mặt vật chất cũng như tinh thần cho ngườidân Nhờ đó mà chất lượng cuộc sống của người dân ở các làng nghề đã được cảithiện rõ rệt

2.1.2.Giải quyết việc làm từ làng nghề

Dư thừa lao động và thất nghiệp luôn là bài toán khó với bất kỳ quốc gia nào.Trong khi diện tích đất trong nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do quá trình CNH-HĐH, chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho công nghiệp, xây dựng đô thị và cáccông trình kiên trúc hạ tầng cơ sở Cùng với tốc độ tăng tự nhiên của dân số, nhucầu về đất sinh hoạt và sản xuất gia tăng Một bộ phận lớn ở nông thôn đang thiếuđất canh tác Với mức chênh lệch về thu nhập cũng như điều kiện sống, đang có mộtlực lượng lớn lao động ở nông thôn lên thành phố làm việc Điều này đã nảy sinhnhiều vấn đề khó giải quyết như : vấn đề dư thừa lao động, thất nghiệp ở thành phố,trong khi lại thiếu lao động sản xuất ở nông thôn Trong bối cảnh kinh tế đó, làng

Ngày đăng: 19/07/2013, 14:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình kinh tế Phát triển- Chủ biên GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng 2005 Khác
2. Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa – (Trần Minh Yến) Khác
4.Dự án quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010- 2020 (UBND tỉnh Bắc Ninh) Khác
5. Báo cáo kinh tế tỉnh Bắc Ninh các năm 2008, 2009, 2010 Khác
6. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 ( sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Bắc Ninh) Khác
7. Làng nghề Bắc Ninh, tiềm năng và hội nhập ( sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh) Khác
8. Giới thiệu về làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh (sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh) Khác
9. Báo cáo thực trạng phát triển làng nghề nông thôn tỉnh Bắc Ninh, định hướng, giải pháp phát triển đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 ( sở công thương tỉnh Bắc Ninh) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Thống kê về thực trạng mặt bằng sản xuất của các chủ hộ sản xuất  Loại nghề Bình - Phát triển bền vững các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh : thực trạng và giải pháp
Bảng 2 Thống kê về thực trạng mặt bằng sản xuất của các chủ hộ sản xuất Loại nghề Bình (Trang 21)
Bảng 3 : Số lượng lao động và lao động tại một số làng nghề của tỉnh Bắc Ninh  hiện nay - Phát triển bền vững các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh : thực trạng và giải pháp
Bảng 3 Số lượng lao động và lao động tại một số làng nghề của tỉnh Bắc Ninh hiện nay (Trang 24)
Bảng 6: Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở một số ngành nghề trọng điểm trên địa  bàn tỉnh  Bắc Ninh năm 2010 - Phát triển bền vững các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh : thực trạng và giải pháp
Bảng 6 Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở một số ngành nghề trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2010 (Trang 29)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w