Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất và cũng là khâu đầu tiên của quá trình tái sản xuất trong doanh nghiệp. Ta thấy rằng không có tiêu dùng thì không có sản xuất. Quá trình sản xuất trong nền kinh tế thị trường thì phải căn cứ vào việc có tiêu thụ dược sản phẩm hay không.
Trang 1có sản xuất Quá trình sản xuất trong nền kinh tế thị trường thì phải căn cứ vào việc
có tiêu thụ dược sản phẩm hay không Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển hoá từ hàng sang tiền nhằm thực hiện việc đánh giá giá trị của hàng hoá sản phẩm trong kinh doanh của doanh nghiệp
Mục tiêu hàng đầu hiện nay mà các doanh nghiệp theo đuổi là lợi nhuận Vấn đề đặt ra là làm thế nào để doanh nghiệp hoạt động thành công làm ăn có lãi trong điều kiện môi trường cạnh tranh gay gắt, tài nguyên khan hiếm như hiện nay, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Nếu không tiêu thụ được, sản phẩm các doanh nghiệp sẽ bị ứ đọng, doanh nghiệp không thu được vốn, không có lợi nhuận, hoạt động tái sản xuất kinh doanh không được thực hiện dẫn đến thua lỗ và phá sản
Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp ở nước ta còn chưa chú trọng và quan tâm đúng mức công tác tiêu thụ sản phẩm, do đó việc tiêu thụ sản phẩm gặp rất nhiều khó khăn Sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng năm lượng tồn kho rất nhiều,vốn không thu hồi được Chi nhánh công ty cổ phần y dược phẩm VIMEDIMEX tại Hà Nội cũng là một trong số đó
Ngành Dược Việt Nam cũng như ở nhiều nước khác đang đứng trước những áp lực mạnh mẽ nạn thuốc nhập lậu, thuốc giả kém chất lượng trôi nổi trên thị trường, ngày càng có nhiều Công ty, Xí nghiệp nước ngoài liên doanh và đăng ký kinh doanh Dược tại Việt Nam dẫn đến môi trường cạnh tranh trên thị trường thuốc đang diễn ra rất gay gắt
Tình hình đó đòi hỏi chi nhánh Công ty cổ phần y dược phẩm VIMDIMEX chi nhánh tại Hà Nội phải có những chính sách, biện pháp phù hợp và hiệu quả để đẩy
Trang 2nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, để khẳng định vị thế của Công ty trên thị trường, để chiến thắng trong cạnh tranh, đưa Công ty ngày càng phát triển lớn mạnh, xứng đáng
là một trong những con chim đầu đàn của ngành Dược Việt Nam
Nhận thức được sự phức tạp và tầm quan trọng của hoạt động kinh doanh tiêu thụ sản phẩm Với phạm vi kiến thức được trang bị trong nhà trường và những tìm hiểu thực tế trong đợt thực tập cuôí khoá tại Chi nhánh công ty cổ phân Y dược phẩm
VIMEDIMEX tại Hà Nội tôi lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp đẩy nhanh tiêu thụ sản phẩm của chi nhánh công ty cổ phần y dược phẩm VIMEDIMEX tại Hà Nội”
làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
CHƯƠNG I: Giới thiệu chung và sự cần thiết phải đẩy nhanh tiêu thụ sản phẩm của chi nhánh công ty cổ phần VIMEDIMEX tại Hà Nội.
CHƯƠNG II: Thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm của chi nhánh công ty cổ phần y dược phẩm VIMEDIMEX tại Hà Nội.
CHƯƠNG III: Một số giải pháp chủ yểu để đẩy nhanh tiêu thụ sản phẩm của chi nhánh công ty cổ phần VIMEDIMEX tại Hà Nội.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp của mình, em nhận được sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của thầy giáo GS.TS.Nguyễn Đình Phan trong quá trình em hoàn thành đề tài
Bên cạnh đó em còn được các cán bộ lãnh đạo của công ty, các cán bộ của các phòng ban chức năng, đặc biệt là các cô, các chú, các anh ở phòng kinh doanh nhập khẩu đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình em thực tập và cung cấp tài liệu để em có thể hoàn thành bài viết của mình
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY NHANH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN Y DƯỢC
PHẨM VIMEDIMEX TẠI HÀ NỘI
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
1.1 Sơ lược về tổng công ty
Công ty cổ phần Y dược phẩm VIMEDIMEX là tiền thân của công ty xuất nhập khẩu y tế II TP.HCM do ông Nguyễn tiến Hùng làm Tổng giám đốc với số vốn điều
lệ là 25.000.000.000
- Công ty cổ phần Y dược phẩm VIMEDIMEX được chuyển thể từ doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có tên là công ty xuất nhập khẩu y tế II TP.HCM, được thành lập vào ngày 15/05/1993 do trọng tài kinh tế cấp với số đăng ký kinh doanh là 102680
- Công ty cổ phần Y dược phẩm VIMEDIMEX đăng ký kinh doanh lần đầu vào ngày 12/06/2006 và đăng ký này thay đổi lần thứ 4 vào ngày 17/08/2007, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo số 4103004872
- Công ty cổ phần Y dược phẩm VIMEDIMEX có tên giao dịch quốc tế là VIMEDIMEX MEDI - PHARMA JOINT STOCK COMPANY; tên viết tắt: VIMEDEMEX
- Địa chỉ trụ sở chính: 246 Cống Quỳnh, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 TP.HCM
- Công ty cổ phần Y dược phẩm Vimedimex có 2 địa điểm kinh doanh và 3 nhà thuốc
- Tổng công ty được thành lập bởi 200 cổ đông lớn nhỏ trong đó có 3 cổ đông lớn và 197 cổ đông khác Bao gồm:
Trang 4+ Đại diện nhà nước Ông Nguyễn Tiến Hùng và Ông Lê Thanh Long với tổng
số cổ phần là 1.275.000
+ Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung với số cổ phần là 2.500
+ Bà Hoàng Thị Thu với số cổ phần là 140.000
Tên chi nhánh: Chi nhánh công ty cổ phần y dược phẩm VIMEDIMEX tại Hà Nội
Chi nhánh Hà Nội là đơn vị kinh tế hạch toán phụ thuộc Công ty XNK Y Tế II được thành lập theo quyết định số 454/QĐ ngày 18/061997 của Giám đốc Công ty XNK Y Tế II , Quýêt định số 2693/QĐ-UB ngày 11/07/1997 của Uỷ ban Nhân Dân thành phố Hà Nội Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 308341 ngày 04/08/1997 của Sở Kế hoạc đùa tư thành phốHà Nội
Địa chỉ chi nhánh: Số 260 Nghi Tàm, Phường Yên Phụ, Quận Tây Hồ, TP Hà Nội
Điện thoại: 048293907 Fax : 8293907
Chi nhánh công ty cổ phần y dược phẩm VIMEDIMEX có 4 nhà thuốc trên địa bàn Hà Nội
- Nhà thuốc chi nhánh công ty cổ phần y dựơc phẩm VIMEDIMEX tại Hà Nội.Địa chỉ: 15A Phương Mai, phường Phương Mai, Quận Đống Đa, Hà Nội
- Nhà thuốc số 2 –Phòng 3C1, trung tâm hội chợ triển lãm thường xuyên chuyên ngành Dược và thiết bị y tế, 148 Giảng Võ
Trang 5- Nhà thuôc số 3- Bệnh viện bưu điện số 1 Yên Bái phường Phố Huế, Quận Hai
Bà Trưng Hà Nội
- Nhà thuốc số 4: 228 Lê Trọng Tấn, Phường Định Công , Quận Hoàng Mai, Hà Nội
Vì là công ty con nên chi nhánh công ty cổ phần y dược phẩm VIMEDIMEX tại
Hà Nội không có vốn điều lệ
II CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ HIỆN NAY
Chi nhánh công ty cổ phần Y dược phẩm Vimedimex đã có nhiều năm kinh nghiệm chuyên làm nhiệm vụ tiếp nhận, vận chuyển thuốc trang thiết bị, dụng cụ y
tế, hoá chất cho các đơn vị trong ngành, các chương trình nội bộ quốc tế về y tế, chương trình Y tế Quốc gia Đặc biệt là nhập khẩu uỷ thác các mặt hàng dùng cho Y
tế như: thuốc, trang thiết bị, nguyên liệu sản xuất thuốc, hoá chất dùng trong y tế không gây độc hại
Như vậy, chức năng chủ yếu của chi nhánh công ty cổ phần Y dược phẩm Vimedimex tại Hà Nội từ khi thành lập đến nay là xuất nhập khẩu các mặt hàng thuộc lĩnh vực y tế với các nhiệm vụ cụ thể sau:
Nhập khẩu các loại dược phẩm, dược liệu, nguyên liệu dược
Nhập khẩu các loại tinh dầu, hương liệu và mỹ phẩm
Nhập khẩu các loại máy móc thiết bị y tế
Liên doanh khám chữa bệnh, sản xuất và chế biến thuốc
Kinh doanh đúng ngành nghề đăng ký
Bảo tồn và phát triển ngành Y tế
- Sứ mệnh : VIMEDIMEX xây dựng thương hiệu với tư cách một doanh nghiệp hướng tới cộng đồng qua việc chăm sóc và hỗ trợ những điều kiện tốt nhất cho sức khoẻ của con người
Trang 6- Giá trị: “Bảo vệ chất lượng sản phẩm như nhân cách của mình” Đó chính là phương châm hoạt động của VIMEDIMEX Ngoài ra, việc kinh doanh minh bạch, sẵn sang lắng nghe, bày tỏ, tôn trọng uy tín và danh dự đã giúp Công ty luôn nhận đựơc sự tin cậy của khách hàng
III ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - KĨ THUẬT CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY
1 Đặc điểm sản phẩm và thị trường
Mỗi năm việc đầu tư nghiên cứu sản phẩm mới luôn đựơc chị nhánh quan tâm đặc biệt, trên tất cả các lĩnh vực mà chi nhánh kinh doanh chứ không chỉ riêng kĩnh vực y tế Chính vì vậy số lượng sản phẩm mà chi nhánh sản xuất cũng như kinh doanh ngày càng tăng Riêng về lĩnh vực y tế hàng năm chi nhánh đều cho ra đời các sản phẩm mới, phù hợp với thị trường và đáp ứng nhanh nhất nhu cầu của người tiêu dung
Chi nhánh đang ngày càng mở rộng lĩnh vực kinh doanh sang nhiều ngành nghề khác bên cạnh mặt hàng kinh doanh chính là dược và thiết bị y tế Nên có thể nói sản phẩm mà chi nhánh kinh doanh là rất phong phú, đa ngành, đa nghề, đa lĩnh vực Từ mua bán nguyên liệu dựơc, thiết bị y tế, hàng thủ công mỹ nghệ, tinh dầ nông sản, thiết bị vật tư nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, đến đồ dùng cá nhân và gia đình Chi nhánh còn mở rộng sang lĩnh vực nuôi trồng dược liệu và các cây công nghiệp khác
để cung ứng đầu vào cho quá trình sản xuất của mình
Việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ về nuôi trồng, chế biến và sản xuất thuốc từ dược liệu là một ngành mới mà chi nhánh mới tham gia Đây là một hình thức kinh doanh chất xám mới và đòi hỏi trình độ hiểu biết và nghiên cứu sâu mới có thể làm đựơc
Hiện nay chi nhánh đã gia mắt các sản phẩm như: Dưỡng tâm an thần trà, trà hoa cúc, Hepotinic (bảo vệ các tế bào gan và chức năng của gan), viên xông Hương tràm, nguyên liệu Mangiferin 98%( đặc biệt dùng kháng các loại virus) đã và đang được thị trường quốc tế đón nhận Các sản phẩm này hiện đang được phân phối trong khu vực Châu Á
Trang 7Để tạo nguồn hàng cho nhập khẩu và tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu, công ty coi trọng thị trường nội địa tăng cường bám sát và tìm mọi cơ hội để kinh doanh, linh hoạt gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế để tổ chức kinh doanh có hiệu quả.
Đối với thị trường nước ngoài, hiện nay chi nhánh nói riêng cũng như tổng công
ty nói chung đang có một hệ thống bàn hạng đông đảo, và là đối tác chiến lược phân phối của hơn bảy mươi hãng dược phẩm danh tiếng trên thế giới như: Glaxo SmithKline - Úc, Bristol Myers Squibb - Pháp, Boehringer Ingelheim GbmH - Đức, Allergan - Mỹ, Hoffmann - La Roche - Đức, Merck Lipha Sante S.A.S - Pháp, Ranbãy - Ấn Độ, Unico - Đức, Givaudan - Pháp, Develing - Hà Lan
Đối với thị trường trong nước, Công ty là một trong những đơn vị chủ lực, hiện nay nhập khẩu được các loại dược liệu, trang thiết bị y tế cho các cơ quan y tế trong nước nhằm đảm bảo chất lượng cao, đảm bảo đầy đủ cho nhu cầu về phòng và khám chữa bệnh cho nhân dân, về quốc phòng,về dự trữ quốc gia và bình ổn giá trên thị trường
Bên cạnh thị trường truyền thống và trong khu vực công ty vẫn thường xuyên
mở rộng tìm kiếm thị trường mới mà nổi bật trong giai đoạn này là công ty đã mở
mở rộng quan hệ mua bán trực tiếp với thị trường Mỹ, sắp tới công ty sẽ có quan hệ buôn bán với thị trường EU
2 Đặc điểm công nghệ máy móc và thiết bị
Công cụ lao động là phương tiện mà con người dùng để tác động vào đối tượng lao động Quá trình trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với quá trình phát triển của công cụ lao động, tăng sản lượng chất lượng sảnp phẩm, hạ giá thành Như thế cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố hết sức quan trọng tạo ra tiềm năng tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh doanh Chất lượng hoạt động của doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của trình độ kỹ thuật cơ cấu, tính đồng bộ của máy móc thiết bị, chất lượng công tác bảo dưỡng, sữa chữa thiết bị…
Trang 8Nhiều doanh nghiệp nước ta hiện nay có cơ sở vật chất, trang thiết bị kĩ thuật còn hết sức kém yếu: máy móc thiết bị còn hết sức lạc hậu và không đồng bộ Đồng thời trong những năm qua việc quản lý, sử dụng cơ sở vạt chất cũng không được chú trọng nên nhiều doanh nghiệp không sử dụng và phát huy hết năng lực hiện có của mình Thực tế trong những năm qua cho thấy những doanh nghiệp nào được chuyển giao công nghệ sản xuất và hệ thống thiết bị hiện đại, làm chủ được yếu tố kỹ thuật thì phát triển được sản xuất kinh doanh, đạt được kết quả và hiệu quả kinh doanh cao, tạo được lợi thế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng nghành và có khả nang phát triển Ngược lại doanh nghiệp nào vẫn sử dụng công nghệ, thiết bị cũ hoặc được chuyển giao công nghệ lạc hậu, không thể tạo ra sản phẩm đáp ửng đòi hỏi của thị trường về giá cả và chất lượng, nên sản xuất ở doanh nghiệp đó thường bị chững lại,
đi xuống và trong nhiều trường hợp có thể nhìn thấy trước sự đóng góp của sản xuất kinh doanh không hiệu quả
Những tiến bộ công nghệ trong những năm gần đây đã đưa lại những cơ hội để các doanh nghiệp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và giảm giá thành Mặt khác,
nó cũng tạo ra khó khăn mới đối với doanh nghiệp Đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng khốc liệt, nhất là sự cạnh tranh của các sản phẩm thay thế Ngày nay, công nghệ kĩ thuật phát triển nhanh chóng, chu kỳ công nghệ ngày càng hiện đại hơn, đóng vai trò ngày càng to lớn, mang tính chất quyết đinh đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tìm được giải pháp đầu tư đúng đắn, chuyển giao công nghệ phù hợp với trình độ tiên tiến của thế giới, bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực làm chủ được công nghệ kĩ thuật hiện đại để tiến tới chỗ ứng dụng kỹ thuật ngày càng tiên tiến, sáng tạo công nghệ kĩ thuật mới,…làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Ngành Dược có công nghệ sản xuất trong nước ngày càng phát triển, tuy nhiên nhập khẩu vẫn chiếm tỉ trọng lớn Ngày càng có nhiều công ty và xí nghiệp đầu tư cho hệ thống kho đạt tiêu chuẩn thực hành bảo quản thuốc tốt Điều này làm tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp do chất lượng thuốc được bảo quản tốt, giảm
Trang 9chi phí khấu hao nhà xưởng làm lợi nhuận kinh doanh thuốc nhập khẩu của doanh nghiệp cũng tăng lên Bên cạnh đó, do nên kinh tế ngày càng mở cửa, đươc giao lưu với các nước có nền công nghệ hiên đại, do đó dây chuyền sản xuất trong nước cũng
đã được cải tiến, hiện đại hơn góp phần nâng cao chất lượng sản xuất ra từ các nguồn nguyên liệu trong nước hay nguyên liệu ngoại nhập
Trong sản xuất kinh doanh, nguồn nhân lực của doanh nghiệp có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn trong việc
Trang 10nâng cao hiệu quả kinh doanh Cũng chính nguồn nhân lực sáng tạo ra sản phẩm mới với kiểu dáng phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm của doanh nghiệp có thể bán được, tạo ra cơ sở để nâng cao hiệu quả kinh doanh Nguồn nhân lực tác động trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình độ sử dụng các nguồn nhân lực khác (máy móc thiết bị, nguyên vật liệu…), do đó nó tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đây là một nhân tố quan trọng, cần được đánh giá khách quan và chính xác Khi nghiên cứu nhân tố này, các doanh nghiệp cần phải làm rõ các khía cạnh: tổng nhân lực hiện có của doanh nghiệp, cơ cấu nhân lực, trình độ chuyên môn, trình độ lành nghề của lực lượng nhân lực, tình hình phân bổ và sử dụng lực lượng nhân lực, vấn
đề phân phối thu nhập, các chính sách động viên người lao động, khả năng thu hút nhân lực của doanh nghiệp, mức độ thuyên chuyển và bỏ việc…
Trong doanh nghiệp dược, cán bộ công nhân viên đa số là dược sĩ, có trình độ chuyên môn về ngành dược Đây là những nhân viên được đào tạo về chuyên ngành dược, vừa có những kiến thức lý luận vừa có những hiểu biết thực tế về dược phẩm Tuy nhiên doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu còn cần có nhân viên có nghiệp vụ ngoại thương để thực hiện hoạt động nhập khẩu theo đúng quy trình Hai nguồn nhân lực này kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả trong kinh doanh nhập khẩu dược phẩm.Tuy còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng công ty cũng đã có nhiều cố gắng để giải quyết tốt các mối quan hệ nhất là trong lao động Công ty thực hiện tốt các chế độ chính sách về công đoàn, bảo hiểm xã hội, chế độ khen thưởng cho các cán bộ công nhân viên xuất sắc, hỗ trợ gia đình gặp khó khăn Đặc biệt trong những năm qua đời sống cán bộ công nhân viên của công ty không ngừng được nâng cao
4 Đặc điểm nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm (khoảng 40% - 60%) nên biến động giá cả nguyên vật liệu sẽ tác động đến lợi nhuận của Công ty
Trang 11Dược liệu của Công ty thu hái theo mùa, hiện nay thời tiết thường xuyên thay đổi và khó dự báo, các dịch bệnh trong thời gian gần đây có tính đột biến, khó kiểm soát do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nguyên vật liệu của Công ty Do đó, Công
ty đã thực hiện các biện pháp nhằm làm hạn chế các rủi ro này như: tổ chức liên kết thu mua và chế biến nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm dược liệu cho các hộ nông dân
Sự biến động giá cả các nguyên vật liều đầu vào có ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh củ Công ty Trong thời gian gần đây, giá cả nguyên liệu chính và
tá dược có xu hướng tăng Đề giảm thiểu sự ảnh hưởng của biến động giá cả nguyên vật liệu đến hiệu quả kinh doanh, Công ty đã chủ động thương lượng với các nhà cung ứng về giá và ký hợp đồng cung ứng với thời gian và giá thành được ấn định trước, như hợp động thời hạn 3-5 năm với nguồn nguyên liệu trong nước và hàng năm với nguồn nguyên liệu nhập khẩu Bên cạnh đó, Công ty còn thực hiện việc liên kết với các địa phương để xây dựng khu vực nguồn nguyên liệu, tạo nên sự ổng định lâu dài về chi phí đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Một số nguyên vật liệu của Công ty như giấy, nhựa, hóa dầu, thủy tinh, đường, v.v… chịu sự rủi ro đặc thù của các ngành này Ngoài ra, Công ty chịu sự rủi ro về tỷ giá đồng USD, EUR trong việc nhập khẩu nguyên liệu Tuy nhiên, các nguyên vật liệu này chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguyên vật liệu, do vậy rủi ro này không đáng kểBên cạnh đó, Công ty còn chịu sự rủi ro của biến động giá nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác Từ đầu năm 2008 đến nay và dự báo trong thời gian sắp tới tình hình kinh tế thế giới nói chung và trong nước nói riêng vẫn còn nhiều khó khăn, giá nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào sẽ tiếp tục gia tăng, gây nhiều bất lợi cho hoạt động sản xuất của Công ty Trong khi đó việc điều chỉnh giá bán thuốc phải đáp ứng yêu cầu về bình ổn giá và bảo đảm hài hòa với các mục tiêu y tế và mục tiêu xã hội do đó giá bán thuốc khó được điều chỉnh kịp thời khi giá thành sản xuất gia tăng
từ đó có thể ảnh hưởng đến doanh thu trong ngắn hạn
Rủi ro tăng giá nguyên vật liệu bao gồm:
Hiện nay do tình hình chính trị của các nước Trung Đông (khu vực xuất khẩu dầu lớn nhất của thế giới) có nhiều biến động cộng với nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trên thế giới ngày càng tăng làm cho giá dầu đang trong tình trạng tăng giá liên
Trang 12tục, điều này đồng nghĩa với việc giá xăng dầu tại Việt Nam cũng đang điều chỉnh tăng theo tình hình chung Đây là lý do quan trọng ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển của Công ty.
Ảnh hưởng của lạm phát: Do ảnh hưởng của lạm phát, gần đây giá một số nguyên vật liệu cũng như hàng hóa các loại đều tăng Nguyên nhân chính của lạm phát ở Việt Nam hiện nay cũng vì giá xăng dầu tăng làm kéo theo các ngành nghề, các mặt hàng đều tăng giá đồng loạt
5 Đặc điểm về vốn
So với quy mô hoạt động cũng như vị thế của công ty xuất nhập khẩu, nguồn vốn của VIMEDIMEX còn rất hạn chế Hiện tại nguồn vốn của công ty dựa vào các nguồn chủ yếu là vốn của công ty mẹ và một số ít vốn tự có
Là ngành kinh doanh có tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất trên thị trường, tốc
dộ tiêu thụ ngày càng cao song ngành hàng dược là ngành đòi hỏi có vốn lớn trong kinh doanh Đối với các công ty sản xuất kinh doanh ngành hàng Dược, vốn luôn là yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của công ty Thuốc là sản phẩm sản xuất và tiêu dùng luôn không phù hợp với nhau Bệnh tật xuất hiện bất thường và xuất hiện mọi lúc, mọi nơi Chỉ khi nào nhu cầu để chữa bệnh thì người sử dụng mới tiêu thụ thuốc Nhưng các công ty sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực này lại khác, công ty luôn sản xuất và không ngừng sản xuất để cung ứng thuốc ra thị trường Khối lượng thuốc cung cấp là liên tục và rất lớn nhưng không thể tiêu thụ một lúc mà là cả thời gian dài, do vậy khi sản phẩm chưa tiêu thụ được, công ty chưa thu hồi được vốn
mà hoạt động sản xuất kinh doanh cũng phải tiếp tục diễn ra Như vậy để đảm bảo cho sản xuất kinh doanh, công ty phải cần một khối lượng vốn rất lớn mới đảm bảo hoạt động kinh doanh không bị đứt quãng
Bảng1: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
(Đơn vị: Đồng)
Tốc độ (2008 so với 2006)Vốn lưu động 103.365.372.473 89.600.398.275 81.595.115.048 -21%Tổng doanh thu thuần 55.242.859.753 47.432.609.960 82.355.033.930 49%
Trang 13Chỉ tiêu 2006 2007 2008
Tốc độ (2008 so với 2006)Lợi nhuận 38.968.620 71.028.556 153.447.792 293%
Vòng quay vốn LĐ 0,53444 0,52938 1,00931
Mức doanh lợi của vốn lưu động: cho biết một đồng vốn lưu động bỏ ra kinh
doanh xuất nhập khẩu thì công ty thu về được bao nhiêu lợi nhuận
Qua bảng trên ta thấy chỉ tiêu này đạt được không lớn qua các năm trong năm 2006-2008 trung binh hàng năm mức doanh lợi là 0,0001 tức là cứ bình quân một đồng vốn lưu động bỏ ra chỉ đem lại cho công ty mức lợi nhuận là 0,0001 đồng Trong đó hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty cao nhất là năm 2008 chỉ số tăng đạt là 0,0019 tăng 40,5% so với năm 2007 và cao hơn mức trung bình của cả thời kỳ là 19%
Vòng quay của vốn lưu động: đây là chỉ tiêu phản ánh trình độ quản lý hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty Nó cho biết một đồng vốn lưu động bỏ
ra thu về bao nhiêu đồng doanh thu hay là nó cho biết số lần quay vòng của vốn lưu động trong năm để thực hiện các hoạt động kinh doanh của công ty
Qua bảng phân tích ta thấy số vòng quay của vốn lưu động là không lớn, tốc độ quay vòng trung bình của vốn trong giai đoại 2006-2008
6 Đặc điểm cơ cấu tổ chức
Cơ cấu bộ máy của công ty.
chi nhánh công ty cổ phần Y dược phẩm Vimedimex tại Hà Nội là đơn vị nhỏ Trong thị trường cạnh tranh gay gắt hiện nay cùng với sự biến đổi liên tục của thị trường công ty đã có bộ máy cơ cấu để đáp ứng nhu cầu thực tế
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN Y
DƯỢC PHẨM VIMEDIMEX TẠI HÀ NỘI
Trang 14Giám đốc: đại diện cho công nhân viên quản lý theo chế độ thủ trưởng, giám đốc do cấp trên bổ nhiệm và miễm nhiệm sau khi đã tham khảo ý kiến của hội đồng quản trị và phiếu tín nhiệm của công nhân viên Giám đốc có quyền quyết định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo đúng kế hoạch, chính sách, pháp luật của nhà nước.
Giám đốc
Phó giám đốcKinh doanh + Nhập khẩu
Phó giám đốc
Kỹ thuật + Sản xuất
Phòng KD + Nhập khẩu
Kho
Phòng
Tổ chức Hành chính
Xưởng đông dược
Xưởng tân dược
Phòng Tài chính
Kế toán
Nhà thuốc1
Nhà thuốc2
Nhà thuốc3
Nhà thuốc4
Phòng
Xuất
khẩu
Tổng công ty cổ phần y dược phẩm VIMEDIMEX
Các chi nhánh
khác
Chi nhánh công ty cổ phần VIMEDIMEX tại
HN
Trang 15Giúp việc cho giám đốc là phó giám đốc được giám đốc uỷ quyền phụ trách một
số công việc cụ thể, phó giám đốc được giám đốc đề nghị cấp trên bổ nhiệm, miễm nhiệm
Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:
Phòng kế toán: chịu trách nhiệm về toàn bộ vốn phục vụ cho mọi hoạt động của công ty, bảo đảm việc thực hiện các chỉ tiêu tài chính, kế hoạch lợi nhuận Phụ trách quỹ của công ty, công tác quản lý thống kê tài sản và thực hiện chế độ hoạch toán kinh tế tháng, quý, năm Vì là chi nhánh nên phòng kế toán kiêm luôn bộ phận tổ chức hành chính nhiệm vụ chính là tổ chức lao động trong công ty nhằm đảm bảo nhu cầu lao động trong việc thực hiện kế hoạch cả về chất lượng lẫn ngành nghề lao động Xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nghiệp vụ để đáp ứng nhu câù sản xuất trước mắt cũng như lâu dài của công ty Thực hiện chế độ cho người lao động, công tác bảo hộ lao động, bảo hiểm, công tác đời sống tiền lương, hưu chí, mất sức
Phòng kinh doanh: gồm 3 bộ phận nhỏ: bộ phận phụ trách giao nhận hàng bằng đường không; bộ phận phụ trách giao nhận hàng bằng đường biển và bộ phận phụ trách thanh toán thuế
- Bộ phận phụ trách giao nhận hàng bằng đường không: quản lý nguồn hàng khi hàng được nhập khẩu về nước bằng đường hàng không
- Bộ phận phụ trách giao nhận hàng bằng đường biển: ản lý nguồn hàng khi hàng được nhập khẩu về nước bằng đường biển
- Bộ phận phụ trách thanh toán thuế: thanh toán các chi phí liên quan tới thuế và chịu trách nhiệm về các khoản đóng thuế của công ty
IV KHÁI QUÁT CÁC KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
Ta có bảng tổng quát đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty trong
3 năm gần đây
Bảng 2: Hiệu quả kinh doanh tổng quát
Trang 16(Đơn vị: đồng)
Tốc độ(2008 so với 2006)Tổng doanh thu 55.242.859.753 47.432.609.960 82.355.033.930 49%Tổng chi phí 55.203.891.133 47.361.581.404 82.201.686.138 48,9%Lợi nhuận trước thuế 38.968.620 71.028.556 153.447.792 293%
-Lợi nhuận ST 38.968.620 71.028.556 153.447.792 293,7%Hiệu quả kinh doanh 1,00071 1,0015 1,0019
- Về chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tuyệt đối được thể hiện thông qua chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp qua các năm 2006 - 2007
Năm 2006 với tổng doanh thu là 55.242.859.753 (đ) và tổng chi phí là 55.203.891.133 (đ), hiệu quả tuyệt đối thu được là 38.968.620 (đ)
Năm 2007 có tổng doanh thu thấp hơn 14.14% tương đương với 7.810.249.793 (đ) so với năm 2006 Nguyên nhân do sự biến động của thị trường và vừa mới chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp tư nhân nên cho du những năm đầu kinh doanh có lợi nhưng vẫn chưa thích ứng với thời cuộc
Năm 2008 có tổng doanh thu tăng ca vượt trội so với 2 năm trước, cụ thể năm
2008 tăng 73,63% so với năm 2007 tương ứng 34.922.423.970 (đ) và tăng 49,08% tương ứng 27.112.180.177 (đ) nguyên nhân chính là do sự điều hành tôt của giám đốc chi nhánh, hơn nữa sự gia nhập tổ chức WTO đã thúc đẩy nền kinh tế của đất nước phát triển toàn diện do đó cũng kéo theo sự phát triển của chi nhánh Mặc khác,
do thị trường hoạt động kinh doanh được mở rộng làm cho tổng doanh thu tăng nhanh hơn tổng chi phí làm cho lợi nhuận công ty tăng mạnh và ngày càng có hiệu quả cao hơn
Trang 17- Xét về chỉ tiêu hiệu quả tương đối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh được xem là khá ổn định và ngày càng tăng lên Năm 2006 hiệu quả kinh doanh của công ty có tỷ lệ 1,00071 nghĩa là cứ 1 đơn vị chi phí kinh doanh đem lại cho công
ty 1,00071 đơn vị doanh thu, con số này cho thấy đơn vị kinh doanh có hiệu quả Tuy hiệu quả tuyệt đối mà công ty thu được năm 2006 là chưa cao vì quy mô của công ty còn nhỏ song xét mặt hiệu quả tương đối thì cũng rất khả quan Điều này được thể hiện dựa trên quy mô của công ty, nếu quy mô càng lớn thì khối lượng chi phí kinh doanh lớn và hiệu quả tuyệt đối thu về sẽ cao hơn Năm 2007 hoạt động kinh doanh của công ty không được mở rộng do vậy tổng doanh thu và tổng chi phí giảm nhưng tốc độ tăng của tổng doanh thu cao hơn của tổng chi phí, làm cho hiệu quả tương đối cũng đạt được ở mức cao hơn năm 2006 Năm 2007 cứ 1 đơn vị chi phí bỏ ra sẽ thu
về được 1,0015 đơn vị doanh thu, xét về hiệu quả tương đối của năm 1998 tăng 0,00079 so với năm 2006
Bước sang năm 2008, hiệu quả kinh doanh của công ty có phần vượt mức cao hơn năm 2006 và 2007 Năm 2008 cứ 1 đơn vị chi phí bỏ ra sẽ thu về được 1,0019 đơn vị doanh thu điều này cho thấy xét về hiệu quả tương đối thì hiệu quả kinh doanh của công ty trong năm 2008 là cao hơn năm 2006, xét về mặt hiệu quả tuyệt đối thì hiệu quả năm 2008 tăng không đáng kể so với năm 2006 và năm 2007 Lý do là tốc
độ tăng của doanh thu lại thấp hơn tốc độ tăng chi phí do đó nó làm cho hiệu quả tương đối của năm 2008 tăng chậm
Tóm lại xét cả về mặt hiệu quả tuyệt đối và tương đối thì trong các năm từ 2006 đến năm 2008 công ty luôn là đơn vị hoạt động kinh doanh có hiệu quả, xét về hiệu quả tuệt đối thì công ty đạt được ổn định qua các năm và năm 20008 công ty đạt giá trị hiệu quả tuyệt đối lớn nhất trong thời kỳ 2006 - 2008 nhưng xét về mặt hiệu quả tương đối mà công ty đạt được thì hiệu quả tương đối luôn phát triển qua các năm theo quy luật hình sin mặc dù thị trường hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian vừa qua không ổn định, nhưng công ty đã tìm mọi biện pháp để khắc phục và làm cho hoạt động kinh doanh của công ty luôn đạt được kết quả cao nhất
Trang 18V SỰ CẦN THIẾT VIỆC ĐẨY NHANH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY
Trong nền kinh tế thị trường tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối giữa sản xuất
và tiêu dùng, là khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất và cũng là khâu đầu tiên của quá trình tái sản xuất trong doanh nghiệp Ta thấy rằng không có tiêu dùng thì không
có sản xuất Quá trình sản xuất trong nền kinh tế thị trường thì phải căn cứ vào việc
có tiêu thụ dược sản phẩm hay không Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển hoá từ hàng sang tiền nhằm thực hiện việc đánh giá giá trị của hàng hoá sản phẩm trong kinh doanh của doanh nghiệp
Mục tiêu hàng đầu hiện nay mà các doanh nghiệp theo đuổi là lợi nhuận Vấn đề đặt ra là làm thế nào để doanh nghiệp hoạt động thành công làm ăn có lãi trong điều kiện môi trường cạnh tranh gay gắt, tài nguyên khan hiếm như hiện nay Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, và doanh nghiệp có tiêu thụ được sản phẩm mới thu hồi được vốn, thu được lợi nhuận Doanh nghiệp lại sử dụng vốn và lợi nhuận thu được để tái sản xuất kinh doanh, chi trả cho lương và các chi phí khác Ngược lại, nếu không tiêu thụ được, sản phẩm các doanh nghiệp sẽ bị ứ đọng, doanh nghiệp không thu được vốn, không có lợi nhuận, hoạt động tái sản xuất kinh doanh không được thực hiện dẫn đến thua lỗ và phá sản
Do vậy đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm là một việc làm hết sức cần thiết
mà mọi doanh nghiệp cần phải thực hiện và áp dụng mọi biện pháp phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm này, có vậy doanh nghiệp mới có thể tồn tại và đứng vững trong một môi trường kinh doanh khốc liệt như hiện nay
Trang 19CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẨN Y DƯỢC PHẨM VIMEDIMEX
I CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Y DƯỢC PHẨM VIMEDIMEX
1 Yếu tố môi trường bên ngoài
1.1 Tốc độ phát triển kinh tế
Năm 2008 là thời điểm đánh giá nửa chặng đường thực hiện kế hoạch kinh tế
2006 - 2010 Tuy nhiên, thời điểm đánh giá cũng là lúc nền kinh tế gặp những khó khăn do lạm phát cũng như tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu Tốc độ phát triển kinh tế không những không đạt như kỳ vọng mà sự giảm sút còn trở thành nhân
tố kéo tụt thành quả đã đạt được của hai năm trước đó.
Số liệu thống kê của Bộ KH-ĐT cho thấy, trong hai năm 2006 - 2007, tốc độ tăng trưởng GDP đạt cao hơn, năm 2006 tăng 8,23%, năm 2007 là 8,4% Tuy nhiên, năm 2008 do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu và khó khăn kinh tế trong nước nên mức tăng trưởng chậm lại và dự đoán cả năm chỉ ở mức ở mức 6,5 – 7%
Với tốc độ của năm 2008, bình quân tốc độ tăng trưởng GDP cả 3 năm 2006 -
2008 dự kiến chỉ đạt 7,8%/năm so với kế hoạch đề ra là 7,5 – 8% cho cả giai đoạn Tuy vẫn nhằm trong khoảng chỉ tiêu đề ra nhưng rõ ràng, tốc độ tăng trưởng cao của những năm trước đã không được duy trì và thậm chí bị kéo chậm lại do sự sụt giảm mạnh trong năm 2008.
Khi kinh tế phát triển thu nhập người dân tăng lên thì nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ và bảo vệ sức khoẻ của người dân cũng ngày càng tăng Cầu thị trường về sản phẩm gia tăng là yếu tố tích cực kích thích sự phát triển của ngành Dược Qua đó ta
có thế thấy với tôc độ phát triển kinh tế trên góp phần ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tiêu thụ sản phẩm y dược phẩm nói chung cũng như hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty y dược phẩm VIMEDIMEX chi nhánh tại Hà Nội nói riêng
Trang 20Qua tốc độ tăng trưởng kinh tế ta có bảng đánh giá khái quát hoạt động xuất nhập khẩu của công ty trong 3 năm gần đây nhất:
Bảng 3: Giá trị xuất khẩu, nhập khẩu của công ty
Năm Tổng giá trị NK(USD) Tổng giá trị XK(USD)
a Các đơn vị cạnh tranh hiện tại
Đây là các cơ sở, doanh nghiệp, xí nghiệp cùng sản xuất kinh doanh những sản phẩm, hàng hoá cùng chủng loại và chất lượng tương đương với công ty Sự cạnh tranh này rất mạnh mẽ, quyết định sự tồn tại hay suy yếu của công ty, số lượng các doanh nghiệp và mức độ tăng trưởng của ngành càng nhiều thì mức độ cạnh tranh càng lớn Vì vậy, sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với công ty để tìm cách thiết lập cho mình một vị trí vững chắc trên thị trường Đối với công ty cổ phẩn y dược phẩm VIMEDIMEX chi nhánh tại Hà Nội liệu đã qua một thời kỳ dài xây dựng, trưởng thành và phát triển, Trước đây, công ty chỉ thực hiện chức năng sản xuất và phân phối các mặt hàng truyền thống như: thuốc Nam, Bắc, cao đơn, tinh dầu cho các tỉnh thành trong cả nước Những hoạt động này đem lại lợi nhuận rất nhỏ khoảng 50 triệu đồng/ năm Ngày nay, trong cơ chế thị trường với việc mở cửa, giao lưu buôn bán quốc tế, công ty đã thực hiện kinh doanh tổng hợp, vừa sản xuất vừa kinh doanh các loại thuốc Nam-Bắc, cao đơn, tân dược, vật tư hoá chất bên cạnh đó công ty còn kinh doanh xuất nhập khẩu
Trang 21Trên thị trường ngành hàng Dược tại Việt Nam ngoài sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước (có đến trên 240 công ty và xí nghiệp trong và ngoài quốc doanh) còn phải đương đầu với các hàng ngoại nhập từ Pháp, Ấn Độ, Bỉ do xu hướng ưa chuộng tiêu dùng hàng ngoại của người dân cũng như chất lượng hàng ngoại cao hơn.
Có thể nhận thấy rằng các đối thủ chính của công ty là một số công ty, xí nghiệp Dược trong Tổng công ty như: công ty Dược phẩm TW, xí nghiệp Dược phẩm TWI, TWII, TN24, xí nghiệp Dược Hậu Giang Đây là những đối thủ cạnh tranh quyết liệt
về công nghệ máy móc thiết bị vào sản xuất trên quy mô lớn mà vấn đề bao trùm là
về vốn Trong khi vốn của công ty cổ phần y dược phẩm VIMEDIMEX còn quá nhỏ
bé thì của các công ty, xí nghiệp Dược khác đạt được đến con số hàng chục, hàng trăm tỷ đồng Do vậy những năm gần đây công ty luôn tìm các giải pháp đặc biệt là
về vốn để không những tăng nguồn vốn cho kinh doanh mà còn có khả năng để đầu
tư máy móc thiết bị mới phục vụ cho hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao
b Sản phẩm thay thế
Nhìn chung sản phẩm ngành Dược có đặc điểm là không thể dùng sản phẩm của ngành khác để thay thế trong quá trình sử dụng mà chỉ có thể sử dụng loại thuốc này thay cho loại thuốc kia khi chúng có cùng công dụng Mà đối với một công ty vừa thực hiện sản xuất, vừa thực hiện kinh doanh thì họ sẽ trang bị hầu hết các mặt hàng, đảm bảo thay thế các mặt hàng nếu khách hàng yêu cầu Trong trường hợp này chức năng hoạt động của công ty đã phát huy tác dụng, hoạt động sản xuất giúp công ty có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm do các xí nghiệp trong nước sản xuất Còn hoạt động kinh doanh nhập hàng từ bên ngoài giúp công ty được sự cạnh tranh với các công ty kinh doanh cũng như với các mặt hàng ngoại nhập Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, người ta nhận thấy rằng để điều trị bệnh ngay lập tức thì công dụng của thuốc tân dược phát huy mạnh mẽ nhưng loại thuốc này thường kèm theo các phản ứng phụ đối với người sử dụng Còn để chữa bệnh về lâu dài và ít có các phản ứng phụ thì dùng các loại thuốc Nam- Bắc
Trang 22Chính vì vậy trong điều kiện hiện nay, ở một chừng mực nào đó không thể thay thế sản phẩm thuốc Nam- Bắc bằng loại thuốc tân dược.
c khách hàng
Đây là bộ phận không thể tách rời môi trường kinh doanh Một sự tín nhiệm của khách hàng đối với sản phẩm hàng hoá của công ty luôn được coi là tài sản có giá trị nhất của một công ty Khi khách hàng mua hàng hoá, sản phẩm của một công ty nào
đó thì họ có thể làm giảm lợi nhuận của công ty đó bằng cách yêu cầu chất lượng cao hơn của sản phẩm và có thể bằng cách dùng doanh nghiệp này chống lại doanh nghiệp khác Khách hàng đặc biệt có thế mạnh khi họ mua với khối lượng, giá trị lớn
và mua thường xuyên Vấn đề chủ yếu của khách hàng là khả năng thanh toán của họ.Đối với công ty cổ phần y dược phẩm VIMEDIMEX chi nhánh tại Hà Nội, khách hàng lớn nhất là thị trường các tỉnh và thị trường xuất khẩu Ta thấy doanh số tiêu thụ thị trường các tỉnh chiếm quá nửa tổng doanh số tiêu thụ của công ty Xuất khẩu cũng giữ vị trí quan trọng trong những năm gần đây giá trị xuất khẩu không ngừng tăng lên là nó chiếm >80% tỷ trọng của tổng số doanh thu tiêu thụ
Các xí nghiệp địa phương, xí nghiệp trung ương tiêu thụ rất ít hàng của công ty
Có thể giải thích điều này là do thị trường thuốc phát triển mạnh trong những năm vừa qua, ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường thuốc đặc biệt là tham gia vào công tác xuất nhập khẩu do đó các xí nghiệp địa phương, xí nghiệp trung ương có thể tự cung cấp hàng cho mình với chi phí thấp hơn hoặc chọn những nhà cung cấp mới với nhiều lợi thế hơn
Khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của công ty Do vậy, trong những năm qua công ty đã không ngừng củng cố mối quan hệ tốt với các bạn hàng truyền thống và thiết lập tìm kiếm các bạn hàng mới để thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm
2 Yếu tố môi trường bên trong
2.1 Yếu tố về năng suất
Trang 23Năng suất lao động là một yếu tố quan trong trong quá trình kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm của công ty, không những phải luôn giữ ở mức ổn định mà còn phải luôn phát huy hết khả năng.
Với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nên hoạt động sản xuất ở các phân xưởng đã có những chuyển biến tích cực, giá trị sản xuất công nghiệp của công ty ngày càng gia tăng
Theo một số báo cáo của phòng kinh doanh cho thấy doanh thu từ hoạt động sản xuất chỉ đủ trang trải chi phí về nguyên vật liệu, trả lương cho công nhân, khấu hao máy móc thiết bị và một phần rất nhỏ lợi nhuận So với xí nghiệp sản xuất khác thì giá trị sản xuất công nghiệp của công ty chiếm một phần rất nhỏ trong tổng doanh thu sản xuất của Tổng công ty dược Một ví dụ điển hình là tổng doanh thu sản xuất.Tổng số cán bộ công nhân viên là 53 người, được bố trí ở hai hiệu thuốc và 2 phòng ban Trong đó trình độ Đại học là 20 người, có 40 cán bộ là nữ
Công ty đã thực hiện tốt luật lao động và các văn bản nhà nước về lao động Công ty đã có nhiều cố gắng nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên như nâng cao
hệ số lương hàng năm, tổ chức cho cán bộ công nhân viên đi nghỉ mát, thực hiện tốt chế độ cho người làm ca 3, ốm đau, thai sản, chế độ vệ sinh lao động và an toàn lao động
2.2 Chất lượng sản phẩm
Chất lượng thuốc trong nước đã được cải thiện rõ rệt Đến nay số nhà máy dược phẩm trong nước đạt chuẩn GMP chỉ chiếm 33% nhưng sản lượng của các nhà máy đạt GMP chiếm đến 86% sản lượng thuốc nội địa Hơn 30 dự án đầu tư nước ngoài trong công nghiệp dược cung cấp hàng năm khoảng 40 triệu USD dược phẩm Việc sản xuất thảo dược và thuốc cổ truyền trước đây thường do các cơ sở nhỏ tiến hành thì đã có 56 cơ sở sản xuất theo quy mô công nghiệp Các cơ sở này đang chuẩn bị kết thúc lộ trình áp dụng GMP về thảo dược vào năm 2010 Chất lượng thuốc của các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp vào thị trường Việt Nam so với những năm trước đây cũng đã có nhiều cải thiện đáng kể Mặc dù vậy, số lượng thuốc nhập khẩu không đạt tiêu chuẩn chất lượng khá cao Trong đó số lượng mẫu thuốc không đạt
Trang 24chất lượng chủ yếu là của Hàn Quốc và Ấn Độ Năm 2007 thu hồi và đình chỉ 29 lô chiếm 34,8%, trong đó Ấn Độ 17 mẫu và Hàn Quốc 7 mẫu Đây cũng là 2 quốc gia
có số doanh nghiệp đăng kí hoạt động và có lượng thuốc cung cấp vào thị trường Việt Nam nhiều nhất Ấn Độ là nước có số doanh nghiệp dược hoạt đọng nhiều nhất tại Việt Nam với 67 doanh nghiệp Tiếp đến là Hàn Quốc (38 doanh nghiệp), Pháp (26 doanh nghiệp), Trung Quốc (22 doanh nghiệp)…
Bảng 4: Thuốc sản xuất ở Việt Nam không đạt tiêu chuẩn chất lượng
giai đoạn 2003 – 2007
Năm Tổng số mẫu lấy để kiểm
tra chất lượng
Số mẫu không đạtTCCL
2.3 Trình độ quản lý
Trang 25Đây là nhân tố quan trọng thườn xuyên, trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh Do vậy, doanh nghiệp phải chú trọng ngay từ việc hoạch định nhu cầu vôn kinh doanh để làm cơ sở cho việc lựa chọn phương án huy động vốn và sử dụng vốn hợp lý, trên cơ sở khai thác tối đa mọi nguồn lực hiện có, tổ chức chu chuyển tái tạo
và bảo toàn vốn Đồng thời khi tiến hành hoạt động kinh doanh doanh nghiệp cần phải chú trọng việc nghiên cứu biến động của thị trường tiền tề đặc biệt là sự biến động của ngoại tệ mạnh
Nhân tố quản lý ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quản lý doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng đắn trong môi trường kinh doanh ngày càng biến động Chất lượng chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất quyết đinh sự thành công, hiệu quả kinh doanh cao hay thấp, kinh doanh có hiệu quả hay phi hiệu quả của doanh nghiệp Định hướng đúng là cơ sở để đảm bỏa hiệu quả lâu dài của doanh nghiệp
Muốn tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh, đưa
ra lợi thế về chất lượng và sự khác biệt hóa sản phẩm, giá cả và tốc độ cung ứng Để đảm bảo cho một doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh phụ thuộc chủ yếu vào khả năng quản trị của doanh nghiệp Trong quá trình kinh doanh, quản lý doanh nghiệp khai thác và thực hiện phân bổ các nguồn lực sản xuất Chất lượng của hoạt động này cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi thời kỳ Trong tình hình hiện nay, thuốc nhập ngoại chiếm thị phần rất lớn trên thị trường, đó là do nguồn nhập khẩu thuốc vào nước ta thông qua các doanh nghiệp dược trong nước và thông qua các công ty nước ngoài hoạt động tại nước ta Không là một ngoại lệ so với các mặt hàng khác, để thuốc nhập ngoại của doanh nghiệp mình đứng vững trên thị trường thuốc ngoại, cần có những chính sách, những chiến lược tăng lợi thế cạnh tranh Điều này phụ thuộc vào khả năng quản trị của các cán bộ quản lý
II. TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY
2.1 Kết quả tiêu thụ của công ty trong những năm gần đây
Trang 262.1.1 Khái quát về doanh thu, sản lượng tiêu thụ của công ty
Bảng 5: bảng số liệu về doanh thu của công ty trong những năm gần đây
(Nguồn: Văn phòng công ty xuất nhập khẩu Y tế II.chi nhánh Hà Nội năm2009)
Qua bảng số liệu ta thấy đựơc sự tăng doanh thu của chi nhánh tại thời điểm năm 2007 đó tăng đáng kể so với năm 2004 Doanh thu bán sản phẩm và hàng hoá tăng 25,6% so với năm 2007 tăng vào khoảng gần 6 tỷ.Nhìn chung doanh thu trên tất
cả các mặt đều tăng đáng kể, doanh thu từ hoạt động tài chính tăng khá cao do chi nhánh đó mở rộng lĩnh vực đầu tư sang nhiều lĩnh vực kinh doanh khác So sánh năm
2007 doanh thu khu vực này tăng khoảng 11,2% so với năm 2004
Ta có bảng biểu diễn doanh số tiêu thụ của từng nhóm hàng trong tổng doanh số bán Trên bảng này ta thấy là hoạt động bán uỷ thác chỉ có từ năm 2006 - 2008 và chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng doanh số tiêu thụ nên chúng ta chỉ tập trung phát triển 3 nhóm hàng
Bảng 6: Doanh số tiêu thụ theo nhóm hàng của Công ty
(Đơn vị: Triệu đồng)
Năm Tổng số
tiêu thụ
Thuốc nam, thuốc bắc, tinh dầu
Tỷ trọng
%
Cao đơn, tân dược
Tỷ trọng
%
Vật tư hoá chất
Tỷ trọng
Doanh thu hoạt động tài chính 560.320.939 580.241.099 3,55%
Lãi thu từ hoạt động đầu tư 498.209.329 540.307.120 8,45%
Trang 272008 69.056 14.821 21,46 42.491 61,53 11.744 17,01
Biểu đồ tỷ trọng của các nhóm hàng tiêu thụ trong tổng số qua các
năm của công ty
(Nguồn: Báo cáo tổng kết đánh giá hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần
y dược phẩm VIMEDIMEX chi nhánh tại Hà Nội.)
2.1.2 Thị trường tiêu thụ
chi nhánh công ty cổ phần Y dược phẩm Vimedimex tại Hà Nội khai thác phục
vụ chủ yếu vào thị trường miền Bắc
Để tạo nguồn hàng cho nhập khẩu và tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu, công ty coi trọng thị trường nội địa tăng cường bám sát và tìm mọi cơ hội để kinh doanh, linh hoạt gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế để tổ chức kinh doanh có hiệu quả
Đối với thị trường nước ngoài, hiện nay chi nhánh nói riêng cũng như tổng công
ty nói chung đang có một hệ thống bàn hạng đông đảo, và là đối tác chiến lược phân
Trang 28phối của hơn bảy mươi hãng dược phẩm danh tiếng trên thế giới như: Glaxo SmithKline - Úc, Bristol Myers Squibb - Pháp, Boehringer Ingelheim GbmH - Đức, Allergan - Mỹ, Hoffmann - La Roche - Đức, Merck Lipha Sante S.A.S - Pháp, Ranbãy - Ấn Độ, Unico - Đức, Givaudan - Pháp, Develing - Hà Lan
Đối với thị trường trong nước, Công ty là một trong những đơn vị chủ lực, hiện nay nhập khẩu được các loại dược liệu, trang thiết bị y tế cho các cơ quan y tế trong nước nhằm đảm bảo chất lượng cao, đảm bảo đầy đủ cho nhu cầu về phòng và khám chữa bệnh cho nhân dân, về quốc phòng,về dự trữ quốc gia và bình ổn giá trên thị trường
Bên cạnh thị trường truyền thống và trong khu vực công ty vẫn thường xuyên
mở rộng tìm kiếm thị trường mới mà nổi bật trong giai đoạn này là công ty đã mở
mở rộng quan hệ mua bán trực tiếp với thị trường Mỹ, sắp tới công ty sẽ có quan hệ buôn bán với thị trường EU
2.2 Phân tích các hoạt động ảnh hưởng tới hoạt động của tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phẩn y dược phẩm VIMEDIMEX
2.2.1 Hoạt động cung ứng vào
Hoạt động này bao gồm các khâu: vận chuyển, bốc dỡ, tiếp nhận, dự trữ nguyên vật liệu, hàng hoá từ các nơi khác về Đây là hoạt động rất quan trọng góp phần vào việc phục vụ kịp thời cho quá trình sản xuất cũng như cho hoạt động kinh doanh của công ty nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất, nhanh chóng nhất
và hiệu quả nhất
Từ khâu vận chuyển bốc dỡ cho đến việc kiểm tra hàng nhập về, rồi tiếp nhận
và cuối cùng là dự trữ đều được tuân theo một chu trình kín, đồng bộ và thống nhất Khi đã thoả thuận với các công ty, xí nghiệp trong nước thì hàng sẽ được mang đến tận công ty còn đối với hàng nhập khẩu thì chủ yếu nhập về theo đường biển qua cảng Hải Phòng, công ty phải thuê xe contener chở từ Hải Phòng về Khi hàng đã về đén công ty sẽ được các cán bộ tiếp nhận chịu trách nhiệm kiểm tra khối lượng, số
Trang 29được đưa vào kho Công ty có hai hệ thống kho với tổng diện tích lớn, được bố trí thoáng hợp lý, thuận tiện cho việc nhập hàng cũng như việc xuất hàng Trong đó một kho dùng để chứa sản phẩm được hoàn thành từ 3 phân xưởng sản xuất Đặc điểm hàng hoá công ty nhập về là: một số sẽ được làm nguyên liệu cho sản xuất, phần còn lại được tiêu thụ qua hệ thống cửa hàng, chi nhánh và khách hàng trung gian.
Mặc dù là một công ty sản xuất kinh doanh đạt loại khá nhưng do số vốn còn quá ít nên việc trang bị phương tiện vận tải lớn để hỗ trợ cho sản xuất là chưa có Chính vì vậy, chi phí cho hoạt động vận chuyển của công ty có phần cao hơn một số công ty, xí nghiệp khác nhưng so với tổng doanh số mua vào của công ty thì vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ
Trong những năm gần đây do hoạt động mua vào của công ty ngày càng tăng cho nên một tất yếu khách quan đó là việc vận chuyển bốc dỡ và bảo quản có phần gia tăng về số tuyệt đối
Trang 30Bảng 7: Tình hình mua vào và chi phí tương ứng
Việc nhà nước cho phép công ty mở rộng mặt hàng xuất nhập khẩu đã giúp công ty thuận tiện hơn trong việc tìm kiếm các bạn hàng Trong thời gian đó các nhà cung cấp nước ngoài tỏ ra ưu thế hơn hẳn các nhà cung cấp trong nước cả về chất lượng và giá cả và cả sự đa dạng của mặt hàng Có nhiều loại thuốc men trong nước không sản xuất dược hoặc có nhưng chất lượng thấp trong khi nhu cầu trong nước đang đòi hỏi buộc công ty phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu và cạnh tranh trên thị trường Sự hạn chế về số loại sản phẩm và trình độ công nghệ còn thấp là nguyên nhân chính làm cho nhập khẩu ngày càng trở thành một đầu vào quan trọng của công ty
Tóm lại,hoạt động cùng ứng đã được công ty thực hiện tốt và bảo đảm cung cấp đúng tiến độ và phù hợp cho hoạt động sản xuất và kinh doanh đặc biệt là cung cấp hàng hoá cho kinh doanh Điều này đã tạo điều kiện tốt cho công tác tiêu thụ sản phẩm và việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty trong những năm vừa qua
Trang 312.2.2 Hoạt động sản xuất
Hoạt động sản xuất là hoạt động tuy không chiếm giá trị lớn nhưng là hoạt động
cơ bản của công ty, luôn được giữ ở mức ổn định Công ty có 3 phân xưởng sản xuất, mỗi phân xưởng có nhiệm vụ sản xuất khác nhau cụ thể là:
Xưởng thuốc viên: sản xuất các loại thuốc tân dược như thuốc kháng sinh , thuốc sốt rét, thuốc tiêu hoá,
Xưởng Đông dược: sản xuất các loại cao đơn, thuốc ho
Xưởng hoá dược: sản xuất các loại thuốc chữa sốt rét như Artmisinin, Artesunat và một số hoá dược khác
Với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nên hoạt động sản xuất ở các phân xưởng đã có những chuyển biến tích cực, giá trị sản xuất công nghiệp của công ty ngày càng gia tăng
Tuy nhiên tình hình sản xuất của các phân xưởng còn gắp nhiều khó khăn, vẫn chưa phát huy hết tối đa năng lực sản xuất của máy móc thiết bị cũng như đội ngũ công nhân Theo một số báo cáo của phòng kinh doanh cho thấy doanh thu từ hoạt động sản xuất chỉ đủ trang trải chi phí về nguyên vật liệu, trả lương cho công nhân, khấu hao máy móc thiết bị và một phần rất nhỏ lợi nhuận So với xí nghiệp sản xuất khác thì giá trị sản xuất công nghiệp của công ty chiếm một phần rất nhỏ trong tổng doanh thu sản xuất của Tổng công ty dược
Nguyên nhân của thực trạng này là do hàng hoá sản xuất ra gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ Đây là kết quả của việc giống nhau về cơ cấu sản phẩm sản xuất của các xí nghiệp Dược trong nước, giống nhau về cơ cấu sản phẩm nhưng lại không có
ưu thế về quy mô, trang thiết bị kỹ thuật
Trang thiết bị máy móc của các phân xưởng được đầu tư từ những năm trở lại đây với công nghệ của Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Đức, Việt Nam tuy nhiên phần lớn
số máy móc có giá trị khấu hao quá nửa số giá trị mua vào Vì vậy, Công ty cần xem xét để chuẩn bị cho việc đầu tư mới
Trang 32Qua thực tế tại các phân xưởng sản xuất của Công ty thì công suất sử dụng trung bình của máy móc thiết bị lại mới đạt khoảng 70 - 80% Nguyên nhân là do trong một số nguyên vật liệu nhập về có những lô hàng không phải qua một số công đoạn nào của quá trình sản xuất, tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu nhất là do máy móc thiết bị không được đầu tư một cách đồng bộ, vì vậy có những máy sử dụng hết 100% công suất những cũng có máy chỉ sử dụng được 40 - 50% công suất.
Có thể nhận thấy rằng, thực trạng này cũng là thực trạng chung của hầu hết các
xí ngiệp sản xuất dược trong cả nước: Với trình độ khoa học công nghệ kém xa trình
độ của thế giới, sản phẩm trong nước có sức cạnh tranh yếu hơn hẳn so với hàng ngoại nhập mà đặc biệt là các loại biệt dược, các loại thuốc kháng sinh Do đó sản phẩm của công ty tiêu thụ trên thị trường gặp rất nhiều khó khăn
2.2.3 Tình hình tài chính của công ty
Tài chính của các doanh nghiệp có thể tạo lập điểm mạnh hay điểm yếu Thực vậy, khả năng tài chính có thể ảnh hưởng đến khả năng của doanh nghiệp đối với việc xây dựng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ mà yêu cầu cần có những khoản đầu tư thích hợp Khả năng tạo lập vị thế tài chính của một doanh nghiệp phụ thuộc vào việc doanh nghiệp lập kế hoạch cho sự phát triển của nó như thế nào theo cách nhìn của ngân hàng và đầu tư Do vậy doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có nguồn lực và tài chính khá cao
Vốn chiếm vị trí quan trọng bởi nếu không có vốn thì mọi hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải dừng lại Cũng như mọi doanh nghiệp khác Công ty cổ phần y dược phẩm VIMEDIMEX chi nhánh tại Hà Nội luôn đề cao vai trò trách nhiệm trong việc bảo toàn và phát triển nguồn vốn tự có và vốn của nhà nước giao cho Tình hình tài chính của công ty cổ phẩn y dược phẩm VIMEDIMEX chi nhánh tại Hà Nội được đánh giá khái quát trong bảng sau:
Trang 33Bảng 8: Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát thực trạng tài chính và kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
tính
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Năm 2006
1 Bố trí cơ cấu tài sản và cơ cấu
nguồn vốn
1.1 Bố trí cơ cấu tài sản
-TS cố định/ Tổng số TS % 44.95 48.01 48.98 49.02
- TS lưu động/Tổng số TS % 55.04 51.99 51.02 50.971.2 Bố trí cơ cấu nguồn vốn
-Nợ phải trả/Tổng nguồn vốn % 100 100 100 100-Nguồn vốn CSH/Tổng nguồn vốn %
2.Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán hiện hành lần 0.99 1.00 1.01 1.03-Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn lần 0.72 0.95 1.00 1.02-Khả năng thanh toán nhanh lần 0.05 0.13 0.25 0.28
3 Tỷ suất sinh lời
3.2 Tỷ suất LN/ Tổng TS
(Nguồn: Phòng kinh doanh chi nhánh Hà Nội Năm 2009)
2.2.4 Tình hinh thực hiện kế hoạch tiêu thụ của công ty
Tình hình thực hiện trong thực tế so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra về tổng doanh
số mua và tổng doanh số bán của công ty trong năm năm vừa qua được thể hiện:
Bảng 10: Tình hình thực hiện kế hoạch
(Đơn vị: Triệu đồng)