1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Làm giàu từ mô hình trồng hoa tại Sa Pa

127 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay những vùng sản xuất hoa lớn ở nước taphải kể đến các vùng hoa như: Đà Lạt, Mê Linh, Hà Nội, TP HCM, HảiPhòng, Sa Pa, … Do lợi nhuận từ nghề trồng hoa đem lại cao nên hàng năm di

Trang 1

MỤC LỤC

Lời cam đoan Error: Reference source not foundLời cảm ơn Error: Reference source not foundMục lục 1 Danh mục viết tắt 3 Danh mục bảng 4

4.1 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ một số loại hoa của huyện Sa pa

4.1.2 Tình hình phát triển ngành trồng hoa ở Sa Pa 624.1.3 Kết quả phát triển ngành trồng hoa ở Sa Pa 65

Trang 2

4.1.4 Tình hình đầu tư chi phí sản xuất một số loại hoa của các hộ điều tra

69

4.1.6 Kết quả và hiệu quả kinh tế một số loại hoa 874.1.7 So sánh hiệu quả kinh tế của hoa so với cây trồng khác 904.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế nghề trồng hoa huyện

4.2 Phương hướng và các giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮT

CNH – HĐH công nghiệp hoá - hiện đại hoáCPTG chi phí trung gian

HQKT hiệu quả kinh tế

HQKT – XH hiệu quả kinh tế - xã hội

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

2.1 Diện tích hoa cắt cành ở Lào Cai (2007 – 2009) 372.2 Kết quả sản xuất hoa lan ở Lào Cai (2007 – 2009) 383.1 Tình hình dân số và lao động của huyện Sa Pa (2007 – 2009)

473.2 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai huyện Sa Pa (2007 – 2009)

49

3.4 Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện (2007 – 2009) 54

4.1 Số hộ sản xuất hoa ở Sa Pa (2007 – 2009) 644.2.1 Diện tích hoa cắt cành phân theo xã ở Sa Pa 674.2.2 Diện tích hoa cắt cành các loại ở Sa Pa 674.2.3 Số lượng hoa cắt cành các loại ở Sa Pa 68

4.4 Đầu tư chi phí theo các mức khác nhau của các nhóm hộ trồng

Trang 5

4.10 Giá bán bình quân một số loại hoa trên kênh tiêu thụ của huyện

4.11 Kết quả và hiệu quả kinh tế bình quân chung cho 1 sào hoa

4.13 Hiệu quả kinh tế hoa hồng, hoa ly và cây su su, actiso ở địa

phương năm 2009 (tính trên 1 sào bắc bộ) 914.14 Kết quả và hiệu quả sản xuất hoa hồng theo mức đầu tư chi phí

4.15 Kết quả và hiệu quả sản xuất hoa ly theo mức đầu tư chi phí

4.16 Kết quả và HQKT sản xuất hoa hồng của hộ được tập huấn kỹ

thuật và hộ không được tập huấn (Tính cho 1 sào). 974.17 Diện tích hoa ở Sa Pa từ năm 2009 đến năm 2015 1024.18 Số lượng hoa lan các loại của Sa Pa từ năm 2009 đến năm 2015

103

Trang 6

1 LỜI MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển mạnh,mức thu nhập của mỗi người dân được nâng cao Vì vậy ngoài những nhu cầu

về vật chất thì nhu cầu về đời sống tinh thần, thẩm mỹ cũng được nâng lên.Một trong những nhu cầu đó là: ''chơi và thưởng thức hoa'' Hiện nay hoa có ởhầu hết trong mỗi gia đình, công sở, cơ quan, hoa có mặt trong các cuộc họpquan trọng, v.v Chính vì nhu cầu như vậy mà nghề trồng hoa ở nước ta đã

có sự phát triển rất nhanh, ngoài những giống hoa truyền thống ở trong nướcnhư hoa nhài, hoa hồng ta, hoa cúc, v.v thì nhiều chủng loại hoa mới đãđược nhập và phát triển như hoa hồng Pháp, hồng Hà Lan, cẩm chướng, hoaLily, Lan, cúc Nhật, v.v Hiện nay những vùng sản xuất hoa lớn ở nước taphải kể đến các vùng hoa như: Đà Lạt, Mê Linh, Hà Nội, TP HCM, HảiPhòng, Sa Pa, …

Do lợi nhuận từ nghề trồng hoa đem lại cao nên hàng năm diện tích hoacác loại ngày một tăng nhanh và cây hoa đã là cây chủ lực cho sản xuất kinh

tế nông nghiệp của một số địa phương trong nước

Hơn nữa nghề trồng hoa là một trong những nghề truyền thống, mangnét văn hóa độc đáo của dân tộc ta Nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh và

cơ chế quản lý cũ kéo dài đã làm cho nghề trồng hoa ở nước ta chậm pháttriển Cho đến nay, chúng ta vẫn giữ được những làng trồng hoa truyền thốngnhư: làng trồng Đào (Nhật Tân), làng trồng Quất (Quảng Bá), làng hoa ĐàLạt, Sài Gòn và ngày càng xuất hiện nhiều vùng trồng hoa với quy mô lớn.Phát triển nghề trồng hoa là một hướng đi đúng đắn, thiết thực đối với nhiềuđịa phương trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-

Trang 7

HĐH Bởi sản xuất hoa không chỉ đem lại giá trị kinh tế và tinh thần cao màcòn tạo điều kiện khai thác triệt để tiềm năng và lợi thế về nguồn lực ở mỗiđịa phương.

Sa Pa là một huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai có độ cao so với mựcnước biển trung bình là 1.500 m, nhiệt độ trung bình hàng năm là 16 - 180C,nơi đây có khí hậu mát mẻ quanh năm rất phù hợp cho sự sinh trưởng và pháttriển của các loại cây trồng có nguồn gốc ôn đới, trong đó phải kể đến cácgiống hoa có nguồn gốc ôn đới Với điều kiện khí hậu như vậy các giống hoa

ở đây có thể trồng được quanh năm mà những nơi khác không có được Sảnphẩm hoa tươi có lợi thế so sánh cao về tính thời vụ Đây là một điểm mạnh

để có thể khai thác mang lại lợi ích kinh tế cao của nghề trồng hoa tại Sa Pa.Bên cạnh đó việc trồng hoa ở Sa Pa mang tính tự phát, manh mún, nhỏ lẻchủ yếu là sử dụng diện tích đất của gia đình chưa đi vào sản xuất tập trung,đầu tư khoa học kỹ thuật Việc tiêu thụ sản phẩm hoa cũng do các hộ tự tìmnguồn tiêu thụ hoặc bán tại địa phương, chưa có đầu mối thu gom mang tính

ổn định bao tiêu sản phẩm đầu ra cho các hộ sản xuất

Vì vậy, việc thực hiện đề tài : “Làm giàu từ mô hình trồng hoa tại Sa Pa” với mục đích đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ hoa trên địa bànhuyện, tìm ra những vấn đề thuận lợi, khó khăn để từ đó đưa ra một số giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ hoa giúp người dân sảnxuất và kinh doanh hoa đúng hướng và đem lại lợi ích cao làm giàu cho giađình, cho tỉnh Lào Cai và góp phần xây dựng đất nước ổn định xã hội

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ hoa của huyện trongthời gian qua, từ đó tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và tiêu

Trang 8

thụ, làm cơ sở đề xuất những giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ hoa củahuyện trong thời gian tới

- Mục tiêu cụ thể

+ Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm nói chung, tiêu thụ hoa nói riêng

+ Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ hoa ở huyện

Sa pa, chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và tiêu thụhoa trên địa bàn nghiên cứu

+ Đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm phát triển sản xuất

và tiêu thụ hoa để nâng cao thu nhập cho người trồng hoa huyện Sa Pa tỉnhLào Cai

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

+ Một số hộ sản xuất và kinh doanh hoa tại 2 xã (Lao Chải, San Sả Hồ)

và thị trấn Sa pa của huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai

- Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề cóliên quan đến sản xuất và tiêu thụ của một số loại hoa có tính đại diện với thờigian trồng là một năm trở lại, được người dân trồng phổ biến là: hoa hồng,hoa lan, hoa lily

- Phạm vi về không gian: Được tiến hành trên địa bàn 2 xã: xã LaoChải, xã San Sả Hồ và thị trấn Sa Pa thuộc huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai+ Định hướng phát triển thị trường tiêu thụ một số loại hoa

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Trang 9

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm tăng trưởng và phát triển

Tăng trưởng và phát triển đôi khi được coi là đồng nghĩa, nhưng thực rachúng có liên quan với nhau và có những nội dung khác nhau Theo nghĩachung nhất, tăng trưởng là nhiều sản phẩm hơn, còn phát triển không nhữngnhiều sản phẩm hơn mà còn phong phú hơn về chủng loại và chất lượng, phùhợp hơn về cơ cấu và phân bố của cải

Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát

triển, tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế diễn tả động thái biến đổi về

mặt lượng của nền kinh tế của một quốc gia Để đo lường kết qủa sản xuất

xã hội hàng năm, dùng làm thước đo so sánh quốc tế về mặt lượng của trình

độ phát triển kinh tế giữa các nước, các nước có nền kinh tế thị trường vẫnthường sử dụng 2 loại chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: Tổng sản phẩm quốc dân( Gross National Product, viết tắt là GNP), tổng sản phẩm quốc nội (GrossDomestic Product, viết tắt là GDP) Hai chỉ tiêu này khi sử dụng có tác dụngkhác nhau: GNP phản ánh quá trình gia tăng giá trị tổng sản lượng hàng hoá

và dịch vụ của quốc gia đối với các nước có nền kinh tế mở đã khá pháttriển, còn GDP phản ánh quá trình gia tăng giá trị tổng sản lượng hàng hoá

và dịch vụ của quốc gia đối với những nước có nền kinh tế khép kín hoặc đã

mở nhưng còn chậm phát triển; và do đó cùng dẫn theo mức tăng tương ứngcủa các chỉ tiêu đó tính theo bình quân đầu người dân Các chỉ tiêu này phảnánh mức tăng trưởng sản xuất hàng hoá và dịch vụ của mỗi quốc gia sau mộtgiai đoạn nhất định nào đó được biểu thị bằng chỉ số phần trăm (thường làmột năm)

Theo đó, liên hệ với việc vận dụng vào Việt Nam suốt hơn 20 năm đổimới vừa qua, chúng ta vẫn sử dụng chỉ số GDP và tương ứng theo GDP/người

Trang 10

là phù hợp với trình độ phát triển kinh tế hiện tại của nước ta

và thông lệ quốc tế

Cũng theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học

phát triển: Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ

là sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP,

GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc

bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn,sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, màtrước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH và kèmtheo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triểnvăn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọtrung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, vàkhả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào phát triển kinh tế –

xã hội… Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm phát triển kinh

tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh

vực kinh tế, văn hoá, xã hội… Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn haithập niên vừa qua, do xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá pháttriển ngày càng mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở phạm vitừng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung đến sự pháttriển của cả khu vực và toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cực kỳ phứctạp, nan giải đòi hỏi phải có sự chung sức của cả cộng đồng nhân loại, ví dụnhư: môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Từ đó đòihỏi sự phát triển của mỗi quốc gia, lãnh thổ và cả thế giới phải được nâng lêntầm cao mới cả về chiều rộng và chiều sâu của sự hợp tác, phát triển Thựctiễn đó đã thúc đẩy sự ra đời một khái niệm mới về phát triển mang nội hàmphản ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng

Trang 11

kinh tế, phát triển kinh tế…, đó là khái niệm phát triển bền vững mà sau đây

ta sẽ xem xét kỹ hơn

Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môitrường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20 Năm 1987, trongBáo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môitrường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” đượcđịnh nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưngkhông gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau

Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ởRio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Pháttriển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xácđịnh “phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp

lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (mục tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất

lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sửdụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bềnvững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xãhội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ vànâng cao được chất lượng môi trường sống

2.1.1.1 Các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế

a Lý thuyết tăng trưởng của trường phái cổ điển

Theo các nhà kinh tế, lý thuyết tăng trưởng kinh tế cổ điển là các họcthuyết và mô hình lý luận về tăng trưởng kinh tế với hai đại diện tiêu biểu làA.Smith và D.Ricacdo

A.Smith (1723-1790) là nhà kinh tế học người Anh, lần đầu tiên nghiên

Trang 12

cứu lý luận phát triển thống nhất Với các tác phẩm ‘Bàn về của cải’ Ông chorằng tăng trưởng kinh tế là tăng đầu ra tính theo bình quân đầu người, đồngthời đã mô tả các nhân tố tăng trưởng như sau:

Trong đó:

Y ; đầu ra

A: hệ số tỷ lệ giá

α, β: hệ số của tư bản và lao động, là độ co giãn của Y đối với K và L

b Lý thuyết tăng trưởng của Harrod-Domar

Dựa vào tư tưởng của Keynes, hai nhà kinh tế học Mỹ là Harrod vàDomar đã cùng đưa ra một mô hình Mô hình giải thích mối quan hệ giữatăng trưởng và nhu cầu về vốn Mô hình chỉ ra sự tăng trưởng là do kết quảtương tác giữa tiết kiệm với đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triển kinh

tế [4, Tr.75]

Trang 13

+ Lý thuyết về các giai đoạn phát triển của W.Rostow

Theo ông thì quá trình phát triển kinh tế của một nước phải trải quanăm giai đoạn:

* Giai đoạn xã hội truyền thống: Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này làsản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu, năng suất lao động thấp

* Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Giai đoạn xuất hiện các điều kiện cầnthiết để cất cánh

* Giai đoạn cất cánh: Những yếu tố cơ bản cần thiết cho sự cất cánh là

tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư tăng 5-10% ; xây dựng các ngành công nghiệp vànppng nghiệp có khả năng phát triển nhanh, giữ vai trò đầu tầu ; phải xâydựng bộ máy chính trị - xã hội để tạo điều kiện phát huy năng lực của các khuvực hiện đại và tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại

* Giai đoạn trưởng thành: có nhiều ngành công nghiệp mới phát triểnhiện đại, nông nghiệp được cơ giới hóa năng suất lao động cao Tỷ lệ đầu tưchiếm 10-20% trong GDP

* Giai đoạn mức tiêu dùng cao [4, Tr.87]

+ Lý thuyết về ‘cái vòng luẩn quẩn’ và ‘cú huých từ bên ngoài’’

Lý thuyết này là do nhiều nhà kinh tế học tư sản, trong đó có PaulA.Samuelson đưa ra Theo lý thuyết này để tăng trưởng kinh tế noi chungphải có bốn nhân tố là nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu tư bản và kỹthuật Nhìn chung ở các nước phát triển bốn nhân tố này đều khan hiếm, việckết hợp chúng đều trở ngại Để phát triển phải có ‘cú huých từ bên ngoài’’nhằm phá ‘cái vòng luẩn quẩn’ ở nhiều điểm Điều này phải đầu tư từ nướcngoài vào các nước đang phát triển [4, Tr.67]

2.1.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng và phát triển kinh tế

* Các chỉ tiêu dùng để tính toán và đánh giá sự tăng trưởng kinh tế gồm:

Trang 14

- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP)Phương pháp tính GDP

+ Phương pháp chi tiêu: Theo phương pháp chi tiêu, tổng sản phẩmquốc nội của một quốc gia là tổng số tiền mà các hộ gia đình trong quốc gia

đó chi mua các hàng hóa cuối cùng Như vậy trong một nền kinh tế giản đơn

ta có thể dễ dàng tính tổng sản phẩm quốc nội như là tổng chi tiêu hàng hóa

De: là khấu hao

In: là đầu tư ròng

NX: là cán cân thương mại

GDP=W+R+i+Pr+Ti+De

Trang 15

Ti: là thuế gián thu

De: là khấu hao

+ Phương pháp giá trị gia tăng: Giá trị gia tăng của doanh nghiệp kýhiệu là (VA) , giá trị tăng thêm của một ngành (GO) , giá trị tăng thêm củanền kinh tế là GDP

VA = Giá trị thị trường sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp - Giá trị đầuvào được chuyển hết vào giá trị sản phẩm trong quá trình sản xuất

Giá trị gia tăng của một ngành (GO)

GO =∑ VAi (i=1,2,3, ,n)

Trong đó:

VAi: là giá trị tăng thêm của doanh nghiệp i trong ngành

n: là số lượng doanh nghiệp trong ngành

Giá trị gia tăng của nền kinh tế GDP

GDP thực tế là tổng sản phẩm nội địa tính theo sản lượng hàng hoá và

dịch vụ cuối cùng của năm nghiên cứu còn giá cả tính theo năm gốc do đó

Trang 16

còn gọi là GDP theo giá so sánh.

GDP danh nghĩa là tổng sản phẩm nội địa theo giá trị sản lượng hàng

hóa và dịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành Sản phẩm sản xuất ratrong thời kỳ nào thì lấy giá của thời kỳ đó Do vậy còn gọi là GDP theogiá hiện hành

GDPi

n=∑Qi

tPi t

Sự gia tăng của GDP danh nghĩa hàng năm có thể do lạm phát

Trong đó:

i: loại sản phẩm thứ i với i =1,2,3 ,n

t: thời kỳ tính toán

Q: số lượng sản phẩm ; Qi: số lượng sản phẩm loại i

P: giá của từng mặt hàng; Pi: giá của mặt hàng thứ i

- Chỉ tiêu: GDP bình quân/người, GNP bình quân/người của một quốcgia hay lãnh thổ tại một thời điểm nhất định là giá trị nhận được khi lấy GDP(GNP) của quốc gia hay lãnh thổ này tại thời điểm đó chia cho dân số của nócũng tại thời điểm đó

- Các chỉ tiêu phản ánh sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội [4,Tr.27]+ Các chỉ tiêu xã hội của phát triển: Chăm sóc sức khỏe cộng đồng,trình độ học vấn của dân cư

+ Các chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế: Chỉ số cơ cấu ngành trong GDP, chỉ số

cơ cấu ngành trong hoạt động ngoại thương, chỉ số tiết kiệm và mức đầu tư, tỷ

lệ dân số thành thị và nông thôn

+ Chỉ số phát triển con người (HDI)

HDI là một thước đo tổng quát về phát triển con người Nó đo thànhtựu trung bình của một quốc gia theo ba tiêu chí sau:

1 Sức khỏe: Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, đo bằng tuổi thọ trung bình

Trang 17

2 Tri thức: Được đo bằng tỉ lệ số người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục (tiểu học, trung học, đại học).

3 Thu nhập: Mức sống đo bằng GDP bình quân đầu người

HDI là số trung bình cộng của các số sau:

Chỉ số tuổi thọ trung bình

Chỉ số tuổi thọ trung bình = Tuổi thọ trung bình - 25

85 - 25Chỉ số học vấn

2/3 tỉ lệ số người lớn biết chữ cộng với 1/3 số học sinh tuyển vào chia số học sinh trong cả nước

Chỉ số GDP bình quân đầu người

(GDP tính theo phương pháp sức mua tương đương qui ra dollar Mỹ):

Chỉ số thu nhập đầu người = log(GDP/ng) – log(100)

log(40000) – log(100)

2.1.1.3 Lý luận về sản xuất, phát triển sản xuất

a Khái niệm về sản xuất

Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tàinguyên hoặc các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa dịch vụ (đầu ra)[4, Tr.12] Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình

độ sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu

Trang 18

quá trình sản xuất.

Ta cần chú ý mối quan hệ giữa yếu tố và sản phẩm

Sản phẩm cận biên (MP) của yếu tố đầu vào thay đổi Đây là sự biếnđổi lượng đầu ra do tăng thêm chút ít yếu tố đầu vào thay đổi được biểu thịbằng đơn vị riêng của nó Khi sản phẩm cận biên bằng không thì tổng sảnphẩm là lớn nhất

+ Sản phẩm bình quân (AP) của yếu tố đầu vào thay đổi Đem chiatổng sản phẩm cho số lượng yếu tố đầu vào thay đổi ta sẽ có AP Khi một yếu

tố đầu vào được sử dụng ngày một nhiều hơn, mà các yếu tố đầu vào kháckhông thay đổi thì mức tăng tổng sản phẩm ngày càng nhỏ đi

* Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất

+ Vốn sản xuất: là những tư liệu sản xuất như máy móc thiết bị, phươngtiện vận tải, kho hàng, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật Vốn đối với quá trình sản xuất

là vô cùng quan trọng Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăngtổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hóa Tuy nhiêntrong thực tế việc tăng thêm sản lượng hàng hóa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tốkhác nữa chẳng hạn chất lượng lao động, trình độ kỹ thuật

+ Lực lượng lao động: Là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sảnxuất Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất

là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Do

đó chất lượng lao động quyết định đến kết quả và hiệu quả sản xuất

+ Đất đai: Là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng vớingành nông nghiệp, mà còn rất quan trọng với sản xuất công nghiệp và dịch

vụ Đất đai là yếu tố cố định lại bị giới hạn bởi quy mô, nên người ta phải đầu

tư thêm vốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sửdụng đất đai Các loại tài nguyên khác trong lòng đất như khoáng sản, tàinguyên rừng, biển và tài nguyên thiên nhiên đều là những đầu vào quan trọng

Trang 19

của sản xuất.

+ Khoa học công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất lao động

và chất lượng sản phẩm Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trongsản xuất đã giải phóng được lao động năng nhọc, độc hại cho người lao động

và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của

xã hội

+ Ngoài ra còn một số yếu tố khác: Quy mô sản xuất, các hình thức tổchức sản xuất, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành,các thành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêuthụ sản phẩm… cũng có tác động đến quá trình sản xuất

b Phát triển sản xuất

Sản xuất là quá trình kết hợp tư liệu sản xuất với sức lao động để tạo rasản phẩm Như vậy phát triển sản xuất được coi là một quá trình tăng tiến vềquy mô (sản lượng) và hoàn thiện về cơ cấu

Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp cũng như các tổchức kinh tế khi tiến hành phát triển sản xuất phải lựa chọn ba vấn đề kinh tế

cơ bản đó là:Sản xuất cái gì ? Sản xuất cho ai ? và sản xuất như thế nào ?những vấn đề này liên quan đến việc xác định thị trường và phân phối sảnphẩm đúng đắn để kích thích sản xuất phát triển

Phát triển sản xuất cũng được coi là một quá trình tái sản xuất mở rộng,trong đó quy mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước trên cơ sở thịtrường chấp nhận

Như vậy các doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh phù hợp.Trong đó các chiến lược về sản phẩm: Phải xác định được số lượng cũng nhưchất lượng của sản phẩm, xác định chu kỳ sống của sản phẩm Phải có chiếnlược đầu tư mua sắm máy móc thiết bị và lựa chọn công nghệ thích hợp, trong

đó có chiến lược đi tắt đón đầu trong công việc đầu tư công nghệ hiện đại

Trang 20

Trong quá trình phát triển như vậy nó sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất

về sản phẩm Đồng thời làm thay đổi về quy mô sản xuất, về hình thức tổchức sản xuất, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Hoàn thiện dần từngbước về cơ cấu, để tạo ra một cơ cấu hoàn hảo

Chú ý trong phát triển sản xuất phải đảm bảo tính bền vững, tức là sảnxuất tìm nguồn đầu vào, đầu ra sao cho bền vững nhất và không làm ảnhhưởng đến nguồn tài nguyên

2.1.1.4 Lý luận về tiêu thụ sản phẩm

a Khái niệm về tiêu thụ

Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị cũng như giá trị sử dụng của hànghóa Quá trình tiêu thụ thì hàng hóa chuyển từ hình thái hiện vật sang hìnhthái giá trị và vòng chu chuyển vốn được hình thành

Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sảnxuát kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp cũng nhưngười sản xuất [4, Tr37]

Do đó hoạt động tiêu thụ sản phẩm được cấu thành bởi các yếu tố sau:

* Chủ thể kinh tế tham gia (người bán và người mua)

* Đối tượng (sản phẩm hàng hóa, tiền tệ)

* Thị trường (nơi gặp gỡ giữa người bán và người mua)

Doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa phải thông qua thị trường, thị trườngdược coi là nơi mà ở đó người mua và người bán tự tìm đến với nhau để thỏamãn những nhu cầu của hai bên

Chức năng của thị trường: Chức năng thừa nhận hoặc chấp nhận hànghóa dịch vụ ; chức năng thực hiện ; chức năng điều tiết hoặc kích thích sảnxuất và tiêu dùng xã hội ; chức năng thông tin

Các quy luật của thị trường: Quy luật giá trị ; quy luật cạnh tranh ; quyluật giá trị thặng dư

Trang 21

b- Nội dung của quá trình tiêu thụ sản phẩm

- Nghiên cứu thị trường

+ Khâu này rất quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh, nó mởrộng đường cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà sản xuất Nghiêncứu thị trường là nắm vững sức mua của thị trường tức là nắm bắt được nhucầu tiêu dùng của hàng hóa và khả năng thanh toán của khách hàng, mức độthu nhập và khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ

Để đạt được những mong muốn hay đưa ra được những quyết địnhđúng đắn trong sản xuất đòi hỏi người sản xuất phải thu thập, xử lý thông tin

về thị trường một cách khách quan, chính xác và phù hợp với thực tế

- Xây dựng, lựa chọn chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường

+ Chiến lược sản phẩm là tìm hiểu xem sản phẩm mình sản xuất ra cóđược người tiêu dùng và thị trường chấp nhận không ? chủng loại và chấtlượng sản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng như thế nào ? nếu không thì phải tiếnhành đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng giảm chi phí

+ Chiến lược thị trường là phải xác định được đặc điểm chủ yếu của thịtrường tiêu thụ, xác định được những thuận lợi và khó khăn, giá cả chủng loạisản phẩm và những chi phí có liên quan đến thị trường

- Công tác hỗ trợ tiêu thụ

Bên cạnh việc tổ chức nghiên cứu thị trường, lựa chọn chiến lược sảnphẩm… thì việc tổ chức các hoạt động hỗ trợ trong công tác tiêu thụ có ý nghĩarất lớn đối với tiêu thụ sản phẩm Đó là các hình thức giới thiệu sản phẩm, thamgia hội chợ triển lãm, quảng cáo, tiếp thị và nhiều hoạt động khác

- Lựa chọn phương án tiêu thụ

Phương án tiêu thụ sản phẩm thực chất là hệ thống các phương pháp vàbiện pháp kỹ thuật nhằm tối đa hóa khối lượng sản phẩm bán ra Có nhiều

Trang 22

phương pháp tiêu thụ sản phẩm khác nhau như:

+ Tiêu thụ trực tiếp: Hàng hóa được tiêu thụ trực tiếp từ tay người sảnxuất đến tay người tiêu dùng

+ Tiêu thụ gián tiếp: Hàng hóa được chuyển qua trung gian là các nhàbuôn, người thu gom, người bán lẻ… rồi mới đến tay người tiêu dùng Hìnhthức tiêu thụ gián tiếp có thể một hoặc nhiều khâu trung gian

+ Tiêu thụ hỗn hợp: Là hình thức phối hợp hai hình thức tiêu thụ trênMục đích của sự phân tích này là mô tả sự vận động của cung và cầu đốivới một mặt hàng cạnh tranh cụ thể trên thị trường cạnh tranh Từ đó sẽ thấyđược giá cả cân bằng được xác định ở giao điểm của đường cung và đườngcầu Tại điểm này số lượng hàng hóa mà các doanh nghiệp sẵn sàng sản xuấtbằng với số lượng người tiêu dùng sẵn sàng mua Do đó giá cả và khối lượngkhông có xu hướng thay đổi và điểm này được gọi là điểm cân bằng Còn vớigiá thấp hơn thì vì thiếu lượng cung nên cạnh tranh giữa những người mua sẽđẩy giá lên Khi giá cao hơn giá cân bằng ban đầu thì lượng cung dư thừa vớilượng cầu và cạnh tranh giữa những người sản xuất sẽ buộc giá giảm xuống.Chỉ tại điểm mức giá cân bằng thì người mua muốn mua hàng ở mức giá nàyđều được thỏa mãn và người bán với mức giá đó đều bán được

c Kênh phân phối sản phẩm

Khái niệm:

Kênh phân phối sản phẩm là sự kết hợp qua lại với nhau giữa người sảnxuất và người trung gian để thực hiện việc chuyển giao hàng hóa một cáchhợp lý nhất, thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng cuối cùng [14, Tr25]

+ Các yếu tố cấu thành hệ thống kênh phân phối sản phẩm

* Người cung ứng: Người sản xuất hoặc công ty thương mại

* Người trung gian: Người bán buôn, bán lẻ, đại lý và môi giới

Trang 23

* Người tiêu dùng: là người cuối cùng của kênh phân phối, họ mua sảnphẩm để tiêu dùng cho cuộc sống.

+ Các loại kênh phân phối sản phẩm

* Kênh trực tiếp

Nhà sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng khôngthông qua khâu trung gian Người sản xuất kiêm luôn bán hàng, họ có hệthống cửa hàng, siêu thị để bán sản phẩm sản xuất ra

Ưu điểm của kênh phân phối này là đẩy nhanh tốc độ lưu thông hànghóa, đảm bảo cho sự giao tiếp của doanh nghiệp và người tiêu dùng, đảm bảotín nhiệm của doanh nghiệp trên thị trường kinh doanh, doanh nghiệp thườngthu lợi nhuận cao hơn song có nhiều hạn chế như: chi phi khấu hao bán hàngtăng, chu chuyển vốn chậm, quản lý phức tạp

* Kênh gián tiếp

Người sản xuất bán hàng cho người tiêu dùng cuối cùng thông qua hệthống trung gian

- Kênh 1 cấp: Gồm một người trung gian gần nhất với người tiêu dùng cuốicùng trên thị trường, người trung gian này thường là người bán lẻ

Kênh này có nhiều điểm tương đồng với kênh tiêu thụ trực tiếp Tuynhiên có hạn chế là quy mô hàng hóa ít, phân bố trong kênh chưa cân đối

- Kênh 2 cấp: Gồm 2 người trung gian trên thị trường tiêu dùng, thành phầntrung gian là nhà bán buôn hoặc bán lẻ Kênh này có thể áp dụng với một sốnhà bán buôn hoặc bán lẻ

Kênh này có ưu điểm là do mua bán theo từng giai đoạn nên có tổ chứckênh chặt chẽ, quy mô hàng hóa lớn và quay vòng vốn nhanh Tuy nhiên cónhiều rủi ro do phải qua các khâu trung gian

- Kênh 3 cấp: Bao gồm 3 người trung gian, kênh này dễ phát huy tác dụng tốtnếu người sản xuất kiểm soát được và các thành phần trong kênh chia sẻ lợi

Trang 24

Người bán lẻ

Người tiêu dùng

Trang 25

đến việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Chú ý thị trường mục tiêu, thịtrường tiềm năng và thị trường ngách.

Trong phát triển tiêu thụ phải chú ý đến giá cả các loại sản phẩm Giá

cả khác nhau có tác dụng khuyến khích hoặc hạn chế phát triển sản xuất Mặtkhác giá cả các loại hàng hóa tiêu thụ trên thị trường theo các kênh cũng khácnhau Trong đó phân phối trực tiếp cho người tiêu dùng thì nhà sản xuất có lợihơn nhưng chỉ tiêu thụ được một số lượng nhỏ, do đó phải phẩn phối sảnphẩm theo hệ thống kênh gián tiếp Cần chú trọng chất lượng sản phẩm và thịhiếu khách hàng trong quá trình phát triển tiêu thụ sản phẩm

e Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm

Muốn tiêu thụ được thuận lợi thì khâu sản xuất phải đảm bảo số lượngmột cách hợp lý, cơ cấu sản phẩm thích hợp với người tiêu dùng, chất lượngsản phẩm cao, giá sản phẩm hạ và phải được cung ứng đúng thời gian

+ Giá cả mặt hàng

Giá cả là sự thể hiên bằng tiền của giá trị, trong nền kinh tế thị trườnggiá cả là một tín hiệu phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa người mua và ngườibán, giữa nhà sản xuất kinh doanh và thị trường xã hội Đối với doanh nghiệp,giá cả được xem là một tín hiệu đáng tin cậy phản ánh tình hình biến động củathị trường

+ Chất lượng sản phẩm hàng hóa

Chất lượng sản phẩm hàng hóa là một trong những yếu tố cơ bản quyết

Trang 26

định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Chất lượng sản phẩm càng cao thìcàng được người tiêu dùng thừa nhận Nâng cao chất lượng sản phẩm tạo điềukiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm, tăng chất lượng và hiệu quả sử dụngvốn, đồng thời góp phần tăng cường uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.+ Hành vi người tiêu dùng

Mục tiêu của người tiêu dùng là tối đa hóa độ thỏa dụng Vì thế trên thịtrương người mua tự do lựa chọn sản phẩm hàng hóa xuất phát từ sở thích,quy luật cầu và nhiều yếu tố khác Trong quá trình tiêu thụ sản phẩm thì hành

vi người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn

+ Chính sách của nhà nước trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm

Chính sách của nhà nước trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cũng tác độngtrực tiếp hoặc gián tiếp đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

+ Sự cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường

Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào số lượng doanh nghiệp tham gia vàosản xuất kinh doanh các mặt hàng đó Do đó từng doanh nghiệp phải có đốisách phù hợp trong cạnh tranh để tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình

2.1.2 Lý luận về phát triển sản xuất và tiêu thụ hoa

2.1.2.1 Ý nghĩa và vai trò của việc phát triển nghề trồng hoa

Hoa là loại cây trồng có những đặc điểm giống như những loại câytrồng khác nhưng nó còn là sản phẩm, là sự hội tụ hoàn hảo nhất mà thiênnhiên đã ban tăng để trang điểm cho hành tinh của chúng ta Hoa là sản phẩmđặc biệt, hoa làm tăng chất lượng cuộc sống của con người và đem lại chongười ta những cảm xúc tuyệt vời mà những quà tặng khác không có được

Nghệ thuật chơi hoa có tính quần chúng rộng rãi, có tính dân tộc đậm

đà, tính thẩm mỹ độc đáo, tính triết học sâu sắc, tính sáng tạo mới mẻ, tínhkinh tế cao và mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 27

Hoa là sản phẩm hàng hóa đặc biệt làm tăng chất lượng cuộc sống conngười, chơi hoa không chỉ là một thú vui giải trí lành mạnh, nó còn là mộthoạt động mang tính văn hóa nhân văn sâu sắc mà hàng ngàn đời nay ông cha

ta đê lại và lưu truyền cho con cháu Hoa còn góp phần vào bảo vệ môitrường thiên nhiên, tạo môi trường hài hòa trong mỗi gia đình, cơ quan và cáckhu giải trí…

Nghề trồng hoa là một thế mạnh của nông thôn và nông dân việt nam.Đặc biệt ngày nay trong quá trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn và hộinhập kinh tế quốc tế Vai trò của nghề sản xuất hoa đang là hướng đi mới đầytriển vọng Nếu như những năm trước hiệu quả kinh tế thu được trên 1hatrồng lúa, chỉ đạt 5-10 tấn/ha/năm thì giờ đây các chủ hộ nông dân đang phấnđấu và có nhưng nơi đạt được 50 triệu đồng/ha/năm đối với việc trồng câylương thực, cây ngắn ngày khác thì việc thu hàng trăm triệu đồng /ha trồnghoa không phải là việc khó

Phát triển nghề trồng hoa không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trongnước mà phải hướng tới xuất khẩu Các nước có nền nông nghiệp phát triểntrong khu vực có giá trị xuất khẩu các mặt hàng này là rất lớn như Thái Lan,Trung Quốc… Do vậy, chúng ta phải nắm bắt những cơ hội xâm nhập thịtrường để tìm ra hướng đi mới cho nghề trồng hoa nhằm phát triển một nênnông nghiệp bền vững

Phát triển nghề trồng hoa góp phần tạo việc làm, phân bổ sử dụng laođộng hợp lý ở nông thôn, giảm thiểu dư thừa lao động nhờ tận dụng tối đadiện tích đất canh tác Thúc đẩy quá trình chuyển dịch lao động trong lĩnh vựcdịch vụ cung ứng vật tư, buôn bán hoa… nhờ vậy môi trường nông thôn ngàycàng ổn định, cuộc sống của người trồng hoa đã có cơm ngon áo đẹp

2.1.2.2 Nội dung của hoạt động tiêu thụ hoa

Trang 28

Tiêu thụ hoa là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất Nó là yếu tốquyết định đến sự tồn tại và phát triển của quá trình sản xuất Thông qua tiêuthụ thì giá trị sử dụng của hoa được thực hiện Theo quan niệm trên thì tiêuthụ là một quá trình chuyển hóa quyền sử dụng (quyền sở hữu và sử dụng)hàng hóa tiền tệ giữa các chủ thể của nền kinh tế Chính vì vậy mà hoạt độngtiêu thụ sản phẩm được cấu thành bởi các yếu tố khác nhau, thường bao gồm:

- Chủ thể tham gia

- Đối tượng (hàng hóa và tiền tệ)

- Thị trường (nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán)

Sơ đồ 2.1 Hoạt động của quá trình tiêu thụ diễn ra theo

2.1.3 Đặc điểm, vị trí của nghề trồng hoa

Hoa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội ở nhiều nước trênthế giới, đặc biệt ở các nước Á Đông Trồng hoa và chơi hoa là thú chơi tao nhãcủa mọi người từ các bậc quyền quý đến các hộ dân nghèo Những năm trở lạiđây, nhu cầu về hoa trên thế giới ngày càng tăng về cả số lượng và chất lượng.Theo tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) thì năm 2000 tổng giá trị xuất, nhậpkhẩu hoa trên Thế giới là 10.200 tỷ USD và tốc độ tăng trung bình là 10% mỗinăm Chỉ tính riêng khu vực châu Á Thái Bình Dương đã có diện tích trồng hoa

HàngHàng

Trang 29

khoảng 134.000 ha, chiếm 60% diện tích trồng hoa toàn Thế giới.

Ở Việt Nam trong những năm qua đã có những thành tựu đáng kể trongviệc nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng hoa và đãthu được một số kết quả nhất định, cụ thể: diện tích trồng hoa năm 2005 trên7.800 ha, tập trung chủ yếu ở những vùng: Từ Liêm (Hà Nội), Mê Linh (VĩnhPhúc), Sa Pa (Lào Cai), Hoành Bồ (Quảng Ninh), Đà Lạt (Lâm Đồng) vàngoại thành thành phố Hồ Chí Minh Thu nhập bình quân trên 80 triệuđồng/ha; giá trị sản lượng ước tính đạt 1.000 tỷ đồng Các mô hình sản xuấthoa theo quy trình công nghệ tiên tiến (tập trung chủ yếu ở Đà Lạt) cho năngsuất cao và hiệu quả gấp trên 20 lần so với trồng lúa (bình quân có thể đạt 400– 500 triệu đồng/ha/năm)

Ở Lào Cai, với điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp cho việc trồng vàphát triển nhiều loại hoa, đặc biệt ở các huyện vùng cao như: Sa Pa, Bắc Hàvới khí hậu mùa hè mát mẻ có thể trồng được nhiều loại hoa chất lượng cao

mà địa phương khác không trồng được Từ năm 2001 đến nay, nghề trồng hoa

ở Lào Cai đã hình thành và phát triển, mang lại thu nhập kinh tế cao chonhiều doanh nghiệp, hộ gia đình và cung cấp các sản phẩm có chất lượng caocho thị trường trong và ngoài nước Các loại hoa có chất lượng cao như: hoa

ly, hoa hồng và các loài lan bản địa đã dần có tên tuổi, gắn với những vùng dulịch nổi tiếng Chính vì vậy nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh LàoCai khoá XIII đã xác định cây hoa là một trong những cây trồng quan trọng

có thế mạnh trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao giá trị sản xuấttrên một đơn vị diện tích canh tác

Nghề trồng hoa với yêu cầu kỹ thuật và vốn đầu tư khá lớn songmang lại hiệu quả tương đối cao Một mặt, nó đáp ứng nhu cầu ngày càng caocủa đời sống con người đồng thời góp phần nâng cao thu nhập của hộ nôngdân Không những vậy,ở những địa phương phát triển nghề trồng hoa thì đóng

Trang 30

góp của nghề này trong cơ cấu ngành trồng trọt nói riêng và cơ cấu kinh tế địaphương đó nói chung là tương đối lớn.

Phát triển nghề trồng hoa góp phần tạo việc làm, phân bổ, sử dụng hợp

lý lao động ở nông thôn, giảm thiểu sự dư thừa lao động nhờ tận dụng tối đadiện tích đất đai canh tác Thúc đẩy quá trình chuyển dịch lao động trong lĩnhvực dịch vụ cung ứng vật tư, buôn bán cây… nhờ vậy môi trường nông thônngày càng ổn định “hoa dâng cho đời cái đẹp và tặng cho người trồng hoacơm ngon áo đẹp chứ không chỉ là cơm no áo ấm” [Băng Sơn ( 1997)]

2.1.4 Đặc điểm xác định hiệu quả kinh tế trồng hoa

2.1.4.1 Đặc điểm kỹ thuật nghề trồng hoa

Có thể nói hoa là sản phẩm hoàn hảo nhất mà thiên nhiên đã ban tặng

để trang điểm cho cuộc sống của chúng ta Hoa là sản phẩm đặc biệt, hoa làmtăng chất lượng cuộc sống của con người và hoa đem lại cho người ta nhữngcảm xúc tuyệt vời mà quà tặng khác không có được Theo tạp chí Việt Namhương sắc thì “hoa là sự hội tụ của vẻ đẹp tự nhiên và bàn tay con người, là sự

mô phỏng lại thế giới tự nhiên một cách hoàn mỹ, một cảnh đẹp mang lại chongười chơi những giá trị cảm xúc, tinh thần tuyệt vời…”

Hoa rất đa dạng và phong phú, mỗi loại hoa có yêu cầu về kỹ thuậttrồng cũng như chăm sóc khác nhau

Yêu cầu về đất:

Đất đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nước và các chấtdinh dưỡng, các chất kích thích sinh trưởng… cho cây trồng nói chung và hoanói riêng Theo kinh nghiệm của người trồng hoa thì các loại đất như đất phù

sa, đất pha cát… thích hợp với hoa trồng ở vườn Đất có kết cấu tốt, có nhiềumùn thì càng thích hợp Đất thích hợp để trồng hoa phải đạt được những tiêuchuẩn sau:

+ Đất không quá bí, không quá rời rạc, đất phải có nhiều chất hữu cơ và mùn

Trang 31

+ Đất có nhiều vi sinh vật sống và hoạt động.

+ Đất phải thoát được nước, đủ độ ẩm

+ Đất không quá chua, độ pH = 6,9 là phù hợp

Trong thiên nhiên không thể có những loại đất có đầy đủ các yếu tốtrên do vậy người trồng phải bổ sung, cải tạo và bảo vệ đất để cây trồng cóđiều kiện tốt nhất để sinh trưởng và phát triển

Yêu cầu về ánh sáng:

Các loại hoa khác nhau có yêu cầu về ánh sáng khác nhau về cường độ,

về độ chiếu sáng, có cây chỉ ưa ánh sáng tán xạ Do đó người trồng phải tạođiều kiện để cây được chiếu sáng theo yêu cầu của nó như: trồng cây vớikhoảng cách thích hợp

 Nhóm cây ngắn ngày yêu cầu độ chiếu sáng ngắn, thời gian tối từ 10 –14h/ngày

 Nhóm cây dài ngày yêu cầu độ chiếu sáng dài, thời gian tối từ 8 – 10h/ngày

 Nhóm cây trung tính không phản ứng chặt chẽ với ánh sáng

Yêu cầu về độ ẩm:

Mỗi loại hoa có yêu cầu về độ ẩm khác nhau

 Cây ưa độ ẩm cao trong đất và cả trong khí quyển độ ẩm 85-95%

 Cây ưa khô hạn yêu cầu về độ ẩm thấp từ 65-75%

 Có cây hoàn toàn sống trong nước, có cây sống trong điều kiện độ ẩmbình thường (nhóm trung tính)

Yêu cầu về nhiệt độ:

 Nhóm cây hoa ôn đới ưa nhiệt độ từ 17-200C, cây có nguồn gốc á nhiệtđới ưa nhiệt độ từ 20-230C

 Nhóm cây nhiệt đới ưa nhiệt độ từ 22-300C (ban ngày) và 18-220C (ban đêm)

Trang 32

Tuỳ từng loại cây mà người trồng phải che chắn, bảo vệ cây khi trờiquá lạnh, để cây vào nơi râm mát và làm giàn che chắn nắng khi nhiệt độ cao.

Thời vụ gieo trồng:

Nhu cầu về hoa mang tính thường xuyên song vào thời điểm gần tếtnguyên đán hoặc ngày lễ thì nhu cầu về hoa tăng cao Người trồng phải tuỳthuộc vào từng loại cây mà tính toán thời điểm ra hoa cho phù hợp mang lạihiệu quả kinh tế cao Phải có chế độ chăm sóc, tưới nước, bón phân, phunthuốc trừ sâu bệnh… thích hợp, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và pháttriển theo ý muốn của người trồng

Một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế của nghềtrồng hoa đó là kết quả sản xuất Kết quả sản xuất phụ thuộc vào quy trình kỹthuật chăm sóc và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp giúp cây phát triểntốt cho năng suất cao và chất lượng hoa tốt từ đó nâng cao doanh thu đem lạinhiều lợi nhuận cho người trồng hoa

2.1.4.2 Đặc điểm kinh tế sản xuất, kinh doanh hoa

Hoa có nhiều loại khác nhau do đó việc đầu tư vốn cho sản xuất hoacũng khác nhau Có những loại hoa ngắn ngày, ví dụ vốn đầu tư ít, chỉ cần cómảnh vườn và điều kiện phù hợp, có kinh nghiệm, có kỹ thuật là có thể trồnghoa được Thậm chí trong vùng có hộ đi trước trồng thử nghiệm thấy đượcnên những hộ xung quanh liền theo nhau trồng loại hoa đó Nhưng hiệu quảthu được của các hộ thì không giống nhau vì cùng một loại hoa nhưng cónhững hộ trồng thì có lãi nhiều vì họ có điều kiện đầu tư về cơ sở vật chất:giống, phân bón, thuốc trừ sâu, kỹ thuật chăm sóc… nên kết quả sản xuất cao,thu được nhiều lãi hơn so với những hộ không có điều kiện kinh tế để đầu tưnhiều cho mảnh vườn của mình Lại có những loại hoa chủ yếu mang lạiHQKT cao nhưng thời gian chăm sóc rất lâu, ví dụ vốn đầu tư ban đầu lớn, kỹthuật chăm sóc rất cầu kỳ nên có rất nhiều hộ không có điều kiện để trồng

Trang 33

những loại hoa đó mà chỉ có những hộ có điều kiện kinh tế khá trở lên mới cókhả năng trồng loại hoa trên Sản xuất hoa là một nghề đòi hỏi có nhiều vốn,tình hình vốn đầu tư cho mỗi sào trồng hoa thường cao gấp 4 - 5 lần so vớitrồng lúa, 3 - 4 lần so với trồng đậu tương hoặc lạc.

Để xác định HQKT ngành trồng hoa chúng ta phải quan tâm tới hai vấn đề:Một là về mặt chi phí: hoa là loại cây tiêu hao lao động sống hơn laođộng vật hoá Bởi vậy không phải cứ bón nhiều phân, phun nhiều chất kíchthích thì sẽ có nhiều hoa, cây đẹp mà cần thiết phải đầu tư nhiều công chămsóc Do vậy hạch toán cần phải chi tiết đầy đủ các khoản chi phí đặc biệt làcông lao động nhằm đánh giá đúng hiệu quả sản xuất

Hai là về kết quả sản xuất: Kết quả sản xuất được tính bằng sản lượngbán ra và giá trị của chúng trên thị trường Sản phẩm hoa khác với các loạisản phẩm khác ở chỗ giá cả của chúng phụ thuộc vào độ thoả dụng của mỗi cánhân người tiêu dùng Cùng một sản phẩm nếu gặp người quan tâm thực sự

họ có thể trả giá rất cao và ngược lại sẽ được trả giá thấp nếu gặp ngườikhông quan tâm nhiều đến hoa Mặt khác, với những phương thức tiêu thụkhác nhau (trực tiếp hay gián tiếp), thời điểm tiêu thụ khác nhau thì giá cảcũng khác nhau Vì vậy khi đánh giá HQKT sản xuất hoa ta phải xem xét mộtcách toàn diện quá trình sản xuất trong một không gian và thời gian cụ thể,trong từng phương thức tiêu thụ và nhu cầu của thị trường

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất

hoa

2.1.5.1 Nhân tố tự nhiên

Hoa cũng là một loại cây trồng do đó chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện

tự nhiên Vì vậy, việc lựa chọn loại cây phù hợp với điều kiện thời tiết khíhậu, đất đai của vùng cũng hết sức quan trọng, góp phần không nhỏ vào hiệuquả sản xuất hoa

Trang 34

2.1.5.2 Nhân tố kỹ thuật

Sản xuất hoa là nghề đòi hỏi có trình độ kỹ thuật, tay nghề rất cao Mộtmặt họ phải nắm vững đặc tính sinh trưởng của cây Mặt khác, việc chọn tạogiống cũng rất quan trọng Do vậy yếu tố kỹ thuật có vai trò quyết định của hộnông dân Khoa học ngày càng phát triển, các kỹ thuật về lai, ghép, nhân giốngphục vụ rất đắc lực cho quá trình sản xuất giống của nông dân, việc nắm bắt vàhọc tập các tiến bộ này kết hợp với kinh nghiệm là yêu cầu khách quan vớingười sản xuất

2.1.5.3 Nhân tố kinh tế

Nhân tố vốn

Vốn luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong quá trìnhsản xuất hoa vì hoa cây cảnh cho thu hồi vốn chậm do chu kỳ sản xuất dàinhiều khi rất khó xác định Hơn nữa việc chăm sóc hoa cũng đòi hỏi đầu tưkhá lớn về giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), thuốc kích thíchsinh trưởng Vả lại yêu cầu của hoa đòi hỏi cần đáp ứng đúng thời kỳ, nếukhông đáp ứng quá trình đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản xuất

Vốn còn quyết định tới việc tái sản xuất giản đơn hay tái sản xuất mở rộng

do đó để phát triển đòi hỏi các hộ nông dân phải có nguồn vốn để chủ động đốiphó với những rủi ro; thời tiết, thị hiếu thay đổi, giá trị đầu vào tăng

Nhân tố thị trường giá cả

Sản xuất muốn phát triển ổn định cần phải có thị trường và luôn tìmcách đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Bất kỳ ngành sản xuấtnào cũng liên quan đến thị trường đầu vào và đầu ra Sự biến động giá cả ở cảhai thị trường đều tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và thu nhập củanông hộ Việc ổn định giá cả đầu ra cũng như nguồn cung ứng của các vật tưđầu vào, tạo lập và mở rộng thị trường tiêu thụ sẽ mang lai tâm lý yên tâm sảnxuất cho nông dân

Trang 35

Nhân tố cơ sở hạ tầng

Muốn phát triển sản xuất thì đòi hỏi hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sảnxuất cũng cần được nâng cấp Đó là hệ thống công trình thuỷ lợi đảm bảotưới tiêu nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu nước tưới với quá trình sinh trưởngcủa cây Hệ thống giao thông liên quan đến quá trình vận chuyển hoa thươngphẩm và vật tư

Thực tế ở những địa phương có sự đầu tư hợp lý cho hệ thống cơ sở hạtầng thì tại đó nghề trồng hoa ở đó có điều kiện phát triển Như vậy phá triểnnghề trồng hoa và nâng cấp cơ sở hạ tầng có quan hệ hỗ trợ nhau trong đó quyhoạch về cơ sở hạ tầng cần thực hiện trước một bước

Nhân tố chính sách của Đ ảng và Nhà nước

Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước là nhân tố góp phần địnhhướng cho các hoạt động sản xuất hoa trong cả một thời gian dài do vậy nó cóvai trò rất quan trọng Hiện nay với các chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tếnông thôn, chính sách dồn điền đổi thửa, chính sách khuyến khích các thànhphần kinh tế tham gia sản xuất và xuất khẩu hoa cùng hàng loạt chính sách hỗtrợ sản xuất khác, người nông dân sẽ yên tâm hơn khi gắn bó với nghề của mình

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình phát triển ngành trồng hoa trên thế

giới

Từ cổ xưa con người đã biết thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên Lịch

sử của ươm trồng hoa gắn với lịch sử sản xuất nông nghiệp và xây dựng Câyhoa là một bộ phận của cây trồng gắn bó mật thiết với con người, với tên gọichung hoa được dùng để chỉ các cây trồng với mục đích trang trí và thưởngthức vẻ đẹp của chúng

Căn cứ vào những dữ liệu còn lưu lại cho thấy con người biết trồng hoa

từ lâu đời Nước Ba Tư cổ đại đã có vườn hồng nổi tiếng thế kỷ thứ IV sau

Trang 36

Công nguyên Loài Ross Gallias là thuỷ tổ của hơn 5000 giống hồng ngày nay

mà con người đang trồng khắp Thế giới [Trần Hợp (1993)] Trong các loạihoa thì hoa hồng là loại được ưa chuộng nhất Thế giới Màu sắc hoa đẹp,hương thơm dịu dàng và được xem là “hoàng hậu của các loài hoa” Nó tiêubiểu cho hoà bình, tuổi trẻ, là hoa của tình yêu , tình hữu nghị, niềm vui và sựtốt lành Các nước sản xuất hoa hồng chính là: Hà Lan, Mỹ, Nhật, Colombia,Israel… Trong đó Hà Lan là nước trồng và xuất khẩu hoa hồng lớn nhất Thếgiới Mỹ là nước trồng nhiều hoa hồng nhưng cũng là nước nhập khẩu nhiềuhoa hồng nhất Năm 1996 Mỹ sản xuất 3,5 tỷ cành hoa hồng và nhập 8,3 tỷbông Trung Quốc bắt đầu sản xuất hoa hồng từ những năm 50 của thế kỷ

XX, hiện nay Quảng Đông là tỉnh trồng nhiều hoa hồng nhất với 2,96 tỷ bông,sau đó là các tỉnh Vân Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên…Hoa cúc là cây hoa quantrọng thứ hai sau hoa hồng, là một trong những loại cây được trồng làm cảnh

từ lâu đời và quan trọng nhất trên Thế giới, có nguồn gốc từ Trung Quốc vàNhật Bản Hoa cúc đã được đi vào các tác phẩm hội hoạ và điêu khắc Ở NhậtBản, hoa cúc là loài hoa quý thường được dùng trong các buổi lễ quan trọng.Người Nhật luôn coi hoa cúc là người bạn tâm tình Hiện nay, hoa cúc đượctrồng ở khắp nơi Hoa cúc có mặt ở các vườn hoa, công viên, trong phòngkhách, bàn làm việc, trong các lễ hội, sinh nhật, đám cưới, đám ma… Hằngnăm kim ngạch giao lưu buôn bán về hoa cúc trên thị trường Thế giới đạt tới1,5 tỷ USD [Đặng Văn Đông; Đinh Thế Lộc (2003)]

Hiện nay theo thống kê của Hiệp hội Hoa Trung Quốc, nước này đã sảnxuất gần 9 tỉ cành hoa tươi mỗi năm Với diện tích trồng hoa đạt 636.000ha,chiếm 1/3 diện tích trồng hoa trên toàn thế giới, đã đưa Trung Quốc trở thànhnước sản xuất hoa lớn nhất thế giới trong khi cách đây 20 năm, công nghiệpsản xuất hoa tươi gần như không tồn tại ở nước này Thái Lan nổi tiếng với

mô hình hoa cắt (hoa lan, hoa hồng), do công nghệ bảo quản và đóng gói tốt

Trang 37

nên sản phẩm giữ được lâu và có giá trị cao Đây là những kinh nghiệm sảnxuất quý báu cho chúng ta tham khảo và học hỏi.

Những điểm nhấn trong thương mại hoa thế giới

Đầu những năm 1970, phần lớn hoa cắt cành tập trung về các trung tâmđấu giá hoa của Hà Lan, sau đó được phân phối tới các thị trường trong khuvực thông qua các đầu mối bán buôn và bán lẻ rất chuyên nghiệp Hoa trồngtại Nam Âu có ưu thế rất lớn về giá so với hoa trồng tại Bắc Âu vì trong suốtmùa đông ở Bắc Âu, giá nguyên liệu phục vụ cho duy trì nhiệt độ trong nhàkính nhằm đảm bảo chất lượng hoa là khá lớn Nhưng những người trồng hoa

ở Nam Âu ngày càng bị cạnh tranh gay gắt khi họ thâm nhập vào thị trườngphía Nam, người nông dân ở Israel cũng bắt đầu trồng hoa và tham gia phiênđấu giá hoa Hà Lan Israel có lợi thế giá cả do có thể trồng hoa trên nhữngcánh đồng bạt ngàn hay trong chậu nhựa suốt năm và không phải chi trả chiphí cho hệ thống sưởi trong nhà kính Hai hạn chế lớn đối với sản xuất vàxuất khẩu hoa của Israel là chi phí vận chuyển đến châu Âu và nguồn nướcthiếu hụt khi mở rộng diện tích trồng hoa

Đến những năm 1970, ảnh hưởng của ngành trồng hoa tại châu Âu đãvượt ra khỏi phạm vi khu vực Nhờ những thành công trong khâu phân phối

và quảng bá sản phẩm của các sàn đấu giá hoa Hà Lan, Hoa Kỳ đã trở thànhthị trường tiêu thụ lớn sản phẩm hoa cắt cành của châu Âu Nhưng chỉ mộtthời gian ngắn sau đó, Miami (Hoa Kỳ) bắt đầu trở thành đầu mối phân phốihoa cắt cành được vận chuyển từ Columbia và Nam Mỹ tới Bắc Mỹ và tiếncông mạnh mẽ sang thị trường châu Âu Tiếp sau đó là các sản phẩm hoa củaHoa Kỳ, các nhà sản xuất và kinh doanh hoa từ châu Mỹ đã đầu tư rất nhiềuthời gian và công sức để giành thị phần tại thị trường rộng lớn này Các sànđấu giá hoa Hà Lan đang bị cạnh tranh bởi hoa của Israel, lại phải đối mặt với

sự cạnh tranh gay gắt của Mỹ và khu vực Nam Mỹ

Trang 38

Trước tình hình đó, vào những năm 1980, các nhà trồng hoa ở châu Âuchuyển sang tìm kiếm cơ hội mới tại châu Á và đến năm 1985, họ bắt đầu mởrộng thị trường ở khu vực này Kinh tế của Nhật Bản phát triển sôi động đãgiúp thu nhập của người dân tăng lên đáng kể Châu Âu là nhà cung cấp đầutiên phát hiện ra tiềm năng của thị trường này và đã tận dụng cơ hội ngườiđến trước để có được thị phần đáng kể trên thị trường Nhật Bản Khi kinh tếcủa Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kông khởi sắc, ngành hoa châu Âu cũng đãnhanh chóng thâm nhập các thị trường này

Sang những năm 1990, nhiều quốc gia châu Á khác cũng bắt đầu nhậpkhẩu hoa cắt cành của châu Âu Các nhà sản xuất và cung cấp hoa cắt cànhcủa Israel cũng đã tìm kiếm cơ hội thị trường tại châu Á, tuy nhiên, họ vẫnchậm chân hơn các nhà sản xuất và cung cấp của châu Âu Sự khác biệt chínhgiữa chiến lược thâm nhập thị trường của châu Âu và Israel là khi vào thịtrường châu Á, châu Âu đã đưa ra hẳn một chiến dịch quảng bá rất lớn nhằmkêu gọi các nhà tiêu dùng chú ý đến chất lượng và mẫu mã của hoa Hà Lan.Chiến dịch này đã kích thích nhu cầu tiêu dùng hoa châu Âu của người châu

Á Trong khi đó, Israel bước vào thị trường châu Á khá trầm lặng mà không

có chiến lược quảng cáo nào như châu Âu Do đó, xét về tổng thể, tới nayngành công nghiệp hoa của châu Âu vẫn dẫn đầu về thương mại hoa trên thếgiới [Thông tấn xã Việt Nam (2006)]

Qua đây cho thấy, ngoài các điều kiện như: đất đai, khí hậu, thời tiết,lao động, kinh nghiệm sản xuất thì các nhân tố khác như: công nghệ sản xuấtmới, thị trường tiêu thụ … có ảnh hưởng rất lớn tới sự thành công hay thất bạicủa ngành trồng hoa của các nước trên thế giới Có thể nói quảng bá là mộtchiến lược mang tính quyết định trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ củacác nước có ngành trồng hoa phát triển trên Thế giới, nó là nhân tố tạo nênthành công của ngành trồng hoa mỗi nước

Trang 39

2.2.2 Tình hình sản xuất hoa ở Việt Nam

Những năm gần đây, nghề trồng hoa phát triển khá mạnh ở nhiều địaphương Theo số liệu điều tra của Viện Di truyền Nông nghiệp, tại một số địaphương, hoa là cây trồng cho thu nhập khá Chẳng hạn, có vùng ở Hà Nội, sovới sản xuất 2 lúa 1 màu trong cùng thời điểm, trên cùng một đơn vị diện tíchthì trồng hoa có lợi nhuận cao hơn gần 12 lần Ở Thái Bình, có doanh nghiệptrồng hoa đã thu lãi tới 160 triệu đồng/ha/năm, hay ở Lâm Đồng, bình quâncho mức lãi 250 - 300 triệu đồng/ha/năm từ sản xuất hoa Chính nhữngkhoản thu hấp dẫn này đã kích thích nghề trồng hoa phát triển nhanh Hiệnnay, cả nước có trên 5.700 ha hoa, tập trung ở Hà Nội (khoảng 1.500 ha),Lâm Đồng (1.400 ha), Hải Phòng (730 ha), TP.HCM (600 ha)… Diện tíchhoa lớn như vậy đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, nhất

là ở các thành phố lớn Tính riêng ở Hà Nội có khoảng 300 cửa hàng bán cácloại hoa chất lượng cao Đó là chưa kể lực lượng hùng hậu các hàng hoa nhỏ

và cả những người bán rong Ước tính, lượng hoa tiêu thụ từ các nguồn trên ởmức hơn 1 triệu cành các loại trong một ngày

Hoa của Việt Nam cũng đã được xuất ngoại Riêng lượng hoa xuất khẩucủa một công ty 100% vốn nước ngoài ở Đà Lạt đã đem lại doanh thu trên 4triệu USD/năm Theo phân tích của các chuyên gia, nhu cầu tiêu thụ hoa sẽngày càng tăng cả ở thị trường trong nước lẫn quốc tế Nhằm đáp ứng nhu cầucủa thị trường, Việt Nam có kế hoạch phát triển diện tích trồng hoa lên khoảng10.000 ha, với sản lượng 3,5 tỷ cành và đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 60triệu USD vào năm 2010 Theo đó, một số vùng sản xuất chính đã được quyhoạch, gồm Hà Nội, TP.HCM, Sapa (Lào Cai), Đà Lạt, Đức Trọng (LâmĐồng), Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Thái Bình [Thông tấn xã Việt Nam (2005)]

Tuy nhiên để đạt được kế hoạch trên đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn và mộtloạt các giải pháp đồng bộ từ khâu quy hoạch, đầu tư vốn, kỹ thuật, thị trường

Trang 40

tiêu thụ Trước mắt vẫn duy trì việc nhập khẩu các giống hoa có chất lượngcao từ Trung Quốc, Thái Lan, Hà Lan, Pháp… để bổ sung vào cơ cấu chủngloại trong nước Đồng thời khuyến khích các Viện, các trung tâm nghiên cứunông nghiệp lai tạo giống mới thông qua công tác khuyến nông, phổ biến kỹthuật mới tới nông hộ.

Hà Nội là một trong các địa phương không được điều kiện khí hậu lýtưởng cho nghề trồng hoa, tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh chóng khiến diệntích canh tác hoa bị thu hẹp nhưng ngành trồng hoa nơi đây rất phát triển choHQKT cao So với các tỉnh, tiêu thụ hoa của Hà Nội có rất nhiều thuận lợi, do

Hà Nội là thị trường hoa lý tưởng đối với những người trồng hoa Bởi vì, HàNội là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước Trên địa bàn HàNội có nhiều cơ quan, tổ chức chính trị, kinh tế văn hoá của quốc tế, trungương và địa phương hoạt động Vì vậy, nhu cầu hoa của các đối tượng này rấtlớn Nhờ tăng cường đầu tư, nhất là đầu tư về giống và thâm canh sản xuấtnên năng suất và chất lượng hoa của Hà Nội đã tăng lên một cách đáng kể làmcho diện tích và thu nhập từ hoa tăng lên [Thông tấn xã Việt Nam (2007)]

Cũng như trên Thế giới, ngành trồng hoa nước ta thành công hay khôngphụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, ngoài điều kiện tự nhiên thì yều tố quan trọngnhất phải nói tới là công nghệ sản xuất Bên cạnh đó còn rất nhiều yếu tố kháctác động tới ngành trồng hoa như: khả năng đầu tư chi phí, thị trường, tậphuấn kỹ thuật, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước Một điều dễ nhận ra nhất

là chúng ta chưa làm công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm, trong khi đây làkhâu quan trọng nhất trong mở rộng thị trường tiêu thụ hoa trong nước cũngnhư khu vực và quốc tế

2.2.3 Tình hình sản xuất hoa ở Lào Cai

Những năm vừa qua nhiều hộ nông dân ở Lào Cai đã đẩy mạnh phát

Ngày đăng: 24/10/2017, 21:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w