Về kinh tế, để thu đưỢc lợi nhuận tôi đa ở Việt Nam, đế quốc Pháp thi hành chính sách kinh tế thực dân rất bảo thủ và phản động: duy trí phương thức sản xuất phong kiến kết hỢp với việc
Trang 1DC.036055
Trang 2Mã sô: 3 K 5 H 6
C T Q G - 2 0 1 0
Trang 4'ì •"1? r
*■ » • ĩ — '
' ■ ■<>'
Trang 5Với tấ t cả tinh thần khiêm tốn của người cách mangy chúng ta vẫn có quyền nói răng: Đảng ta th ã t là vĩ đai!
HỒ CHÍ MINH
Trang 7LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Sự n g h iệp cách m ạ n g c ủ a Đ ả n g t a và n h â n d â n t a 80 n ă m
q u a g ắ n liền vối tê n tu ổ i v à sự n g h iệ p củ a C h ủ tịch Hồ C hí M inh
S u ô t cuộc đời hy s in h p h ấ n đ ấ u k h ô n g m ệ t mỏi vì độc lập tự do
củ a T ổ quôc, vì h ạ n h p h ú c c ủ a n h â n d ân, vì n h ữ n g m ục tiê u cao
cả c ủ a loài ngưòi tiế n bộ, C h ủ tịch Hồ C hí M in h đ ã để lại cho
c h ú n g t a m ột di s ả n vô c ù n g p h o n g p h ú , đó là tư tư ở n g Hồ Chí
M inh Đ ại hội lần t h ứ VIL V IIL IX c ủ a Đ ả n g ta đ ều k h ẳ n g định,
cù n g với ch ủ n g h ĩa M ác - L ênin, tư tư ở ng Hồ C h í M in h là n ề n
tả n g t ư tưởng, kim chỉ n a m cho h à n h động cách m ạ n g củ a Đ ả n g
ta v à n h â n d â n ta.
L à người s á n g lập , lã n h đ ạo và r è n lu y ệ n Đ ả n g ta, C h ủ tịch
Hồ C h í M in h d à n h to à n bộ t â m lực vào việc xây d ự n g Đ ả n g ta,
m ột Đ ả n g Cộng s ả n k iên cường, t r u n g t h à n h vối c h ủ n g h ĩa Mác -
L ê n in v à ch ủ n g h ĩa quôc t ế c ủ a giai cấ p công n h â n , g ắ n bó m á u
t h ị t với d â n , coi đó là n h â n t ố q u y ế t đ ịn h mọi t h ắ n g lợi c ủ a cách
m ạ n g V iệ t N am
Nhân kỷ niệm lần thứ 120 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2010), 65 năm thành lập nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945-2010) và thiết thực chuẩn bị
v à n k iệ n cho Đ ại hội Đ ả n g các cấp tiế n tỏi Đ ại hội đ ạ i biểu to à n quôc lầ n t h ứ XI c ủ a Đ ả n g ta , N h à x u ấ t b ả n C h í n h t r ị quôc gia
tá i b ả n có sử a ch ữ a , bổ s u n g c u ô n s á c h C h ủ t i c h H ồ C h í M i n h
với Đ a i h ội Đ ả n g ta do P G S , TS Lê V á n Y ên b iê n soạn C uôn
Trang 8sách l ậ p hỢp n h i ề u tư liệu quý, t r ì n h bày n g á n gọn súc tích
những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các Đại hội Đảng mà Người tham dự Cuôn sách sẽ là nguồn cung cấp tài liệu nghiên cứu, học tập có giá trị cho độc giả nhất là cá n bộ, đảng viên.
Xin trân trọng giới thiệu cuôn sách cùng bạn đọc.
Tháng 2 năm 2 0 ĩ 0
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ Qưốc GIA
8
Trang 9NGUYỄN ÁI QUỐC VỚI VIỆC SÁNG LẬP
ĐẢNG CÔNG SẢN VIÊT NAM
Chương I
Trong lịch sử Đảng ta, có những Hội nghị Trung ương Đảng mang.tính chất và ý nghĩa như một Đại hội của Đảng Hội nghị thành lập Đảng ngày 3-2-1930, do đồng chí Nguyễn Ái Quô"c chủ trì cách đây 80 năm là một hội nghị có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa như một Đại hội Đảng
TRƯÓC KHI ĐẢNG TA RA ĐỜI
Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người, một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa cổ đại vùng Đông Nam Á Từ thời c á c vua Hùng dựng nước đến nay, nước ta đã có hơn 4000 năm lịch sử Trong quá trình đâ'u Iranh dựng nước và giữ nước, chinh phục thiên nhiên, chông giặc ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã hình thành và phát triển Dân tộc Việt Nam là một dân tộc thông nhất gồm nhiểu thành phần cư dân cùng chung sông trên một lãnh thổ thông nhất đư Ợ c x á c lập từ lâu trong lịch sử
Trang 10Lịch sử dán tộc Việt X am là lịch sử mội d â n tộc anh
hùng, có truyền thông chông ngoại xâm kiên cường, bất
^ihuất, mưu trí, sáng tạo Dân tộc Việt Nam đã lừng đánh thắng nhiều kẻ thù xâm lược lớn mạnh ’’Lịch sử La đã có
nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch
sử vẻ vang thòi đại Bà Trưng, Bà Triệu Trần Hưng ĐạOj
Lê Lợi, Quang Trung, v.v."\
Lòng yêu nưốc nồng nàn, tình đoàn kết tương thân tương ái, tính cần cù lao động, tinh thần độc lập, tự chủ,
tự cưòng, đức tính giản dị, thông minh, sáng tạo và lạc quan, là những truyền thông tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đưỢc hun đúc thành từ thòi dựng nước và phát triển ngày càng cao trong quá trình đấu tranh lâu dài chông ngoại xâm và chinh phục thiên nhiên Đúng như Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã tổng kết: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thông quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quôc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổij nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lốn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"^
Trang 11ở nhiều nước Irên thê giới, chế độ phong kiến đang khủng hoảng, suy yếu và còn cả những hình thái kinh tế - xã hội trước phong kiến Đến thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ỏ Tây
Âu và Bắc Mỹ phát triển rât nhanh Chủ nghĩa thực dân, con đẻ của chủ nghĩa tư bản, uy hiếp ngày càng mạnh các nước kinh tế chậm phát triển Châu Phi và châu Á trở thành đôi tượng xâm lược chủ yếu của chủ nghĩa tư bản phương Tây Cuộc chạy đua tìm kiếm thị trưòng mới, xâm chiếm thuộc địa, phân chia thế giới giữa các nước tư bản lớn ngày càng gay gắt, quyết liệt Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quôc thì tất cả các nước chậm phát triển đều thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Hệ thông thuộc địa trở thành một trong những cơ sở quan trọng nhâ^t cho sự tồn tại của chủ nghĩa đế quôc
Từ lâu, chủ nghĩa tư bản Anh và Pháp đã nhòm ngó đâ"t nước ta Sau khi bị bọn Anh hâ^t khỏi thị trưòng Ân
Độ (1763), Pháp xúc tiến âm mưu xâm lược Việt Nam Ban đầu, chúng núp dưới tổ chức những hội truyền giáo
để lần mò đến Việt Nam, dọn đưòng cho việc xâm chiêm nước ta
Từ thế kỷ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vào giai đoạn khủng hoảng và đến thế kỷ XIX thì ở vào thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng Sự phân tranh giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra liên tục và kéo dài hàng trăm nám Các cuộc khởi nghĩa của nông dân và các tầng lớp nhân dân liên tiếp nổ ra Giữa thế kỷ XIX (tháng 5-1858),
đê quôc Pháp xâm chiếm nước ta, giữa lúc chế độ phong kiến Việt Nam trên đà suy tàn, mâu thuẫn giữa giai cấp
Trang 12nông dân với giai câp phong kiến đã ỏ vào cực điểm Đảy
là kẻ thù mới có tiềm lực kinh tế, có đội quân xâm lược nhà nghề VỚI trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện dại
Trước hành động xâm lược của đế quôc Pháp, giai cấp phong kiến Việt Nam mà điển hình là triểu đình nhà Nguyễn đã chọn con đưòng quỳ gôi đầu hàng Ngay từ khi
đế quôc Pháp đặt chân lên đất nước ta, triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký hiệp ước đầu hàng từng bước bọn cưốp nước, và đến năm 1884 ký hiệp ước bán đứt nước ta cho đế quôc Pháp Chế độ phong kiến Việt Nam tới đây bộc lộ rõ rệt sự bất lực và phản động Trái lại, cũng ngay
từ khi Pháp đánh chiếm nước ta, các phong trào yêu nưốc chông Pháp của nhân dân ta với truyền thống kiên cường, bất khuất đã diễn ra liên tục kéo dài đến đầu thế kỷ XX Cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của nhân dân ta đã gây cho bọn xâm lược rất nhiều khó khăn, thiệ.t hại Phải mất gần một phần ba thế kỷ, đế quốc Pháp mối đặt được ách thông trị lên đất nưốc ta Tuy nhiên, các cuộc kháng chiến anh dũng đó đều không thành công Nhận định phong trào chống Pháp của nhân dân ta thòi kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh ẩau này có viết: "Cuối thê kỷ XIX chủ nghĩa đê quốc Pháp xâm lược Việt Nam Bọn vua quan và phong kiến đê tiện và hèn nhát đầu hàng và câu kết với bọn đê quốc để tiếp tục nô dịch nhân dân Việt Nam nhiều hơn, khiến nhân dân Việt Nam khổ cực không kể xiết Nhưng đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ
12
Trang 13trưốc ngã ngưòi sau đứng dậy Xhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ây đã bị dìm trong máu Xhững đám mây đen lại bao phủ đất nước Việt Nam’'^
Cuối thế kỷ XIX, sau khi đã cơ bản kết thúc giai đoạn vũ trang xâm lược, đế quốc Pháp bắt đầu tiến hành kế hoạch
"khai thác thuộc địa" nhằm bóc lột, vơ vét sức người, sức của
ở Việt Nam Dưới chế độ thực dân Pháp, nước Việt Nam có những thay đổi quan trọng
Về kinh tế, để thu đưỢc lợi nhuận tôi đa ở Việt Nam,
đế quốc Pháp thi hành chính sách kinh tế thực dân rất
bảo thủ và phản động: duy trí phương thức sản xuất phong kiến kết hỢp với việc thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Đê quô"c Pháp hầu như
không mở mang công nghiệp nặng, mà còn kìm hãm không cho phát triển những ngành công nghiệp nhẹ Để
khai thác đưỢc nhiều tài nguyên, chúng buộc phải xây
dựng một sô' cơ sở vật chất, kỹ thuật mới trong các ngành giao thông vận tải, xây dựng, mỏ, đồn điền, sản xuất hàng tiêu dùng Nhưng tấ t cả những ngành này không
đưỢc phép cạnh tranh, mà chỉ được phép bổ sung và phụ
thuộc vào nền công nghiệp của "chính quốc" Trong báo cáo gửi Chính phủ Pháp, đề ngày 23-3-1897, Toàn quyền Đông Dương là Pôn Đume có viết: "Nếu việc xây dựng
công nghiệp cần đưỢc khuyến khích ở thuộc địa thì chỉ
trong giới hạn không hại đến công nghiệp chính quốc
1 H ồ C h í M in h : Toàn tập, Sđd, t 9 , t r 3 1 3 - 3 1 4
Trang 14Công nghiệp c hính quôc c ầ n đưỢc bổ vSung chứ k h ô n g phái
là để phá sản bởi công nghiệp thuộc địa”.
Thực hiện chính sách trên, đế quôc Pháp thực hành
th ủ đoạn độc quyền kinh tế: độc quyền kinh doanh một ỔÔ^ ngành công nghiệp nặng, độc quyền phương tiện giao thông vận tải, độc quyền khai thác mỏ, độc quyền chiếm đất lập đồn điền, độc quyền xuất nhập khẩu, độc quyển muôi, thuôc phiện, rưỢu cồn, độc quyền ngân hàng, độc quyền bán buôn, V.V Mặt khác, thực dân Pháp đặc biệt coi trọng thủ đoạn bóc lột phi kinh tế, đó là chế độ thuê khóa vô cùng nặng nề và hết sức vô lý: thuê thân, thuế ruộng, th u ế chợ, th u ế đò, th u ế vỉa hè, th u ế môn bài, thuế
xe đạp, th u ế cư trú, th u ế nộp cho ngân sách Đông Dương, cho ngân sách xứ, cho ngân sách tỉnh, th u ế phần trăm nộp cho bọn quan lại, kỳ hào trong thôn xã cùng hàng trăm thứ thuế khác Càng ngày chính quyền thực dân càng đẻ ra nhiều thứ thuế và với tỷ lệ thuế ngày càng tăng "Thuế má không những nặng oằn lưng, mà còn luôn luôn thay đổi"\
Chính sách kinh tế trên của Pháp đã tước mất hết khả năng phát triển độc lập của nền kinh tế Việt Nam, làm cho nó không có công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ thì què quặt, nông nghiệp độc canh Rôt cuộc, nền kinh tê Việt Nam ở trong tình trạng rất lạc hậu, phải hoàn toàn phụ thuộc vào kinh tế Pháp Nhân dân Việt Nam bị bần
cùng hóa, nông dần, thợ thủ công phá sản, ngày càng nghèo đói
1 H ồ C h í M in h : Toàn tập, Sđd, t.2 , tr.75.
1 4
Trang 15về chính trị, để bảo đảm mục tiêu kinh tế, thực dân Pháp thực hành chính sách chuyên chế về chính trị Chúng
dùng lôi cai trị trực tiếp bằng bộ máy công chức chuyên nghiệp người Pháp, thâu tóm mọi quyền hành Đứng đầu
bộ máy cai trị ở Đông Dương là một tên toàn quyền người Pháp, ở Nam Kỳ có Thông đốc, Bắc Kỳ có Thống sứ, Trung
Kỳ có Khâm sứ Mỗi tỉnh có một Công sứ Triều đình nhà Nguyễn chỉ đóng vai trò bù nhìn Với bộ máy nhà nước thuộc địa như vậy, chúng thẳng tay đàn áp, không cho dân
ta một chút tự do dân chủ nào ở Việt Nam lúc đó dân số
khoảng 20 triệu mà bộ máy công chức ngưòi Pháp đã có 4.300 Tình trạng này được Nguyễn Ái Quốc nêu rõ trong
Bản án chế độ thực dân Pháp : "Tại sao ở Đông Dương, cái
loài ăn hại ngân sách ấy lại nhiều đến thế? Bởi vì thuộc địa
là một thiên đường ở trần gian; ở đó, trừ một vài trường hỢp
rất hiếm hoi, còn thì tất cả những cặn bã trong các ngành chính trị, tài chính, báo chí, v.v mà chính quốc thải ra, đều tìm được môi trường rất thích hỢp để phát triển"*
Cùng với chính sách đàn áp dã man phong trào cách
mạng của nhân dân ta, chúng còn thi hành chính sách chia để trị Chúng chia nước ta ra làm ba kỳ với ba hình
thức cai trị khác nhau nhằm chia rẽ dân tộc Chúng gây hằn
thù giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, chia rẽ nhân
dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia Chúng còn chia rẽ nhân dân các nưốc thuộc địa với nhân dân Pháp, chia rẽ nhân dân các nước thuộc địa với nhau Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã viết: "Chủ nghĩa thực dân Pháp không
1 H ồ C h í M in h : Toàn tập, Sđd, t.2 , tr 5 5
Trang 16hề ihay đổi cái châm ngôn "chia để trị" của nó Chính vi Lhế, mà nước An Nam một nước có chung mộl dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục chung một lịch sử, chung một truyền thông, chung một tiếng nói đã
bị chia năm xẻ bảy"\ Đối với nhân dân ba nước Đông Dương thì: "Sau khi đẩy họ chông lại nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lập nên xứ Đông Pháp (Đông Dương thuộc Pháp) Chúng bóp nghẹt quyền tự do, dân chủ của nhân dân, đàn áp dã man mọi hoạt động yêu nưốc Các trào lưu tiến bộ trên thế giới truyền vào Việt Nam đều bị chúng ngăn cấm.
Về văn hóa, xã hội, đế quốc Pháp thi hành chính sách ngu dân, truyền bá văn hóa nô dịch, phản động, đồi trụy, gây tâm lý vong bản, tự ty Chúng phát triển tôn giáo, mê tín dị đoan để mê hoặc nhân dân ta, khuyên khích đồi phong, bại tục Chúng tước hết mọi quyền sông của con ngưòi, lập nhà tù nhiều hơn trưồng học Chúng tìm mọi cách
để ngăn chặn ảnh hưởng của nền vãn hóa dân chủ tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam Nói tóm lại, chính sách của chúng "làm cho dân ngu để dễ trị, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất"^ Chính sách thông trị, áp bức, bóc lột của thực dân Pháp đốì vối nhân dân ta đưỢc Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết ngắn gọn và đầy đủ trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945; đồng thòi cũng là lòi luận tội đanh thép của Ngưòi đôi với chúng:
1,2 H ồ C h í M in h : Toàn tập, Sđd, t.2 , t r l l 6 ,
3 H ồ C h í M in h : Toàn tập, Sđd, t.2 , tr 9 9
1 6
Trang 17"Bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cò tự do, bình đẳng, bác ái, đên cướp đâ't nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn vối nhân đạo và chính nghĩa.
v ể chính trị, chúng tuyệt đôi không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng
ập ba chê độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngán cản việc thông n h ấ t nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng
th ẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của chúng ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân Chúng dùng thuốc phiện, rưỢu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thôn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt hàng trăm thứ th u ế vô lý, làm cho dân ta,
n h ất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn lĩhẫn')L cacn vo cung L i i i i I i i i a i i " '
★
1 HỒ C h í M in h : Toàn tập, Sđd, t.4 , tr 1-2.
Trang 18D ư ớ i ách Lhông trị của thực dân P h á p , cùng với những thay đổi về kinh tế, chính trị và văn hóa thì kết cấu giai cấp và quan hệ xã hội ở Việt Nam củng thay đôi.
Giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam không còn là giai cấp thông trị duv n hất như trước nữa, mà trở thành công cụ của chủ nghĩa đế quôc Phong kiến và đế quốc câu kết vối nhau bóc lột và thông trị nhân dân ta Quyền lợi kinh tế của bọn chúng gắn chặt với nhau Dựa vào đế quốc, địa chủ phong kiến táng cưòng bóc lột nông dân Ruộng đâ"t ngày càng tập trung vào tay địa chủ Hiện tưỢng đó làm cho mâu thu ẫn giữa giai cấp nông dân và giai cấ^p địa chủ phong kiến gay gắt thêm Tuy nhiên, do chính sách độc quyền về kinh tế, chuyên chế vể chính trị, giữa đế quốc và phong kiến vẫn có mâu thu ẫn về quyền lợi Bị tư bản Pháp làm cho phá sản, một sô" địa chủ vừa
và nhỏ có những phản ứng.
Giai cấp nông dân Việt Nam chiếm trên 90% sô" dân
Họ sản xuât một bộ phận quan trọng của cải trong xã hội, nhưng lại bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề Chính sách chiếm đất, mua rẻ, bán đắt, sưu cao, thuế nặng đè lên lưng họ Nông dân bị phá sản ngày càng nhiều Một sô^ vẫn bị buộc chặt vào đồng ruộng, chịu sự bóc lột bằng cách làm thuê cho địa chủ Một buộc phải ròi bỏ quê hương vào làm việc trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, trở thành công nhân Một số^ phải đi làm phu ở các thuộc địa khác của Pháp Họ mang nặng mốì thù mất nước và mất ruộng đâ"t Do đó, họ kiên quyết chông đế quôc, phong kiến và là lực lượng đông đảo n h ất của dân tộc Nông dán tuy cách mạng, song không thể lãnh đạo
1 8
Trang 19đưỢc cách mạng Trong điểu kiện nước ta, giai cấp nông dân không đi theo giai câ^p tư sản và không chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cải lương tư sản, mà đi theo giai cấp công nhân làm cách mạng Cùng với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân là lực lượng chủ yếu của cách mạng.
Giai cấp tiều tư sản Việt Nam gồm nhiều tầng lớp khác nhau, từ những ngưòi thợ thủ công, tiểu chủ, tiểu thương, đến những viên chức, trí thức, học sinh Địa vị kinh tê bấp bênh, luôn bị đe dọa phá sản, thâ^t nghiệp, lại
bị đế quốc và phong kiến khinh rẻ, nên họ có tinh thần yêu nước và dân chủ Những ngưòi tiểu tư sản trí thức, học sinh thưòng giữ vai trò là người truyền bá những tư tưởng tiến bộ trong quần chúng lao động và là ngòi pháo của phong trào ở các thành thị Họ nhạy cảm về chính trị, nhưng dễ ngả nghiêng, dao động ĐưỢc giai cấp công nhân lãnh đạo, giai cấp tiểu tư sản sẽ hăng hái cách mạng và là một lực lượng quan trọng của cách mạng.
Giai cấp tư sản Việt Nam ra đòi trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Nhưng bị chúng kìm hãm, cho nên đến thòi kỳ trong và sau Chiến tranh thế giới thứ nhâ"t mới bắt đầu trở thành một giai cap rõ rệt ở Việt Nam, bọn tư bản Pháp nắm mọi quyền lợi kinh tế, nên giai cấp tư sản Việt Nam không đủ điểu kiện phát triển độc lập cả vê kinh tê và chính trị Giai cấp tư sản
Việt Nam có hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dãn
tộc Tư sản mại bản là đồng minh của đế quôc, quvển lợi
của nó gắn liển với quyển lợi của đế quốc Tư sản dân tộc
có máu thuẫn với đế quôc và phong kiến, nhưng lại có quan hệ vối chúng Thái độ chính trị của bộ phận tư sản
Trang 20dán tộc có hai mặt; m ặ l tích cực và m ặ i liêu cực Sau cuộc bạo động ở Yên Bái (2-1930), giai cấp tư sản tìm đừcìng
thỏa hiệp VỚI Pháp và hô hào giải phóng dân tộc theo lôi
cải lương chủ nghĩa Y ế u tô" tích cực của họ chỉ đưỢc p h á i
huy trong những điểu kiện lịch sử nhâ^t định Họ có khả năng tham gia phong trào cách mạng do chính đảng của giai câp công nhân lãnh đạo.
G iai cấp công nh ân Việt N a m ra đòi gắn liền và là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Xuất hiện trưóc giai cấp tư sản, tuy sô^ lượng còn nhỏ (đến năm 1922, sô" lượng công nhân Việl Nam là 22 vạn), nhưng do vị trí kinh tế, chính trị và lịch
sử của mình, giai cấp công nh ân đại biểu cho sự tiến bộ của xã hội Họ là giai câp duy nhâ"t ở Việt Nam có khả năng lãnh đạo đưỢc sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi
Là công nhân ỏ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, họ chịu sự áp bức bóc lột nặng nề của đế quốc và phong kiến
Họ không có một chút quyền tự do dân chủ nào Giai cấp công nhân Việt Nam không chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cải lương, không có tầng lớp công nhân quý tộc, vừa ra đòi
đã tiêp thu ánh sáng của Cách mạng Tháng Mưòi và chủ nghĩa Mác - Lênin Họ rất kiên quyết cách mạng, lại có quan hệ chặt chẽ vối nông dân, có điều kiện thuận lợi liên minh với giai câp nông dân, bạn đồng minh của mình Những đặc điểm đó quy dịnh giai cấp công nhân Việt Nam
là đại biếu cho to't cả những người bị bóc lột và cho cả
d â n tộc V iệ t N a m v ề m ặt khách quan, họ là ngưòi xứng đáng giương cao ngọn cò dân tộc dân chủ mà tiến lên.
2 0
Trang 21Song, vể chủ quan, lúc đẳu giai cấp công nhân Việt Nam chưa đưỢc giác ngộ sâu sắc, chưa đưỢc trang bị lý luận cách mạng, chưa có tổ chức thông nhất, nên chưa làm được sứ mệnh đó.
*
Những thay đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên đây dẫn đến những thay đổi về tính chat và mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam, về đôi tượng và lực lượng của cách mạng Việt Nam Bị đế quôc Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến chuyển
thành một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Hai mâu
thuẫn cđ bản trong xã hội Việt Nam là: mâu thuẫn giữa
d â n tộc V iệt N a m với bọn đ ế quốc P h á p xâm lược; m â u
th u ẫ n g iữ a n h â n d â n Việt N a m - chủ yếu là nông d â n - với
giai c ấ p đ ị a ch ủ phong kiến Đôi tưỢng cần phải đánh đổ của cách mạng Việt Nam là đế quôc Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến Lực lưỢng của cách mạng Việt Nam là
công n h ăn, n ô n g d â n , tiếu tư sản, tư sả n d ă n tộc.
Độc lập, tự do là yêu cầu căn bản của xã hội Việt Nam dưới ách thông trị của đế quốc và phong kiến, là nguyện vọng thiết th a của toàn thể nhân dân Việt Nam Vì vậy, các cuộc đấu tranh của quần chúng liên tiếp nổ ra Các cuộc đấu tra n h ấy hoặc do các sĩ phu yêu nưốc, công nhân, nông dân, Liểu tư sản và iư sản dân tộc tiến hành riêng rỗ, hoặc do những giai cấp, thành phần xã hội đó phối hỢp với nhau cùng tiến hành, ờ mỗi thời kỳ lịch sử nhâ^t định, các cuộc đâ"ư tra n h của quần chúng gắn liền với sự ]ănh đạo
Trang 22của một lực lượng đại biểu cho một giai cấp nhất định Các cuộc vận động yêu nưóc chông Pháp trước khi Đảng Cộng sản Việt Xam ra đòi chưa giành được thắng lợi, vì chưa vạch ra được con đưòng cứu nưốc đúng đắn, chưa đáp ứng đưỢc yêu cầu độc lập, tự do, dân chủ của nhân dân ta.
Phong trào yêu nước chông Pháp đại diện cho ý thức
hệ phong kiến còn rơi rớt lại là phong trào cần Vương mà tiêu biểu là cuộc kháng Pháp của cụ Phan Đình Phùng
"Cụ Phan Đình Phùng là một học giả nổi tiếng và một vị quan to ở Trung Bộ, cụ là người chí sĩ yêu nước đầu tiên đứng lên chông lại bọn đế quôc Pháp xâm lược Cụ tổ chức những phần tử trí thức và nông dân Trung Bộ, lãnh đạo
họ đấu tranh gian khổ chông bọn xâm lược, trải qua chín, mưòi năm "\ Thâ^t bại của phong trào Cần Vương đánh dấu sự chấm dứt thòi kỳ đấu tranh chông Pháp do các trí thức phong kiến lãnh đạo.
Phong trào cứu nưốc theo con đường tư sản cũng nhanh chóng bị phá sản Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh là những chí sĩ yêu nước lớn, nhưng con đưòng cứu nước của các cụ cũng không còn phù hỢp "Cụ Phan Bội Châu sang Nhật, sau sang Trung Quốc, ở nước ngoài, Cụ kêu gọi nhân dân Việt Nam làm cách mạng Cụ Phan Bội Châu
hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp Điều đó rấ t nguy hiểm, chẳng khác gì đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau"^
"Cụ Phan Chu Trinh mở trương học, bí mật Lruyền bá chủ
1, 2 T r ầ n D â n T iên : Những mẩu chuyện về đời hoạt động
của Hồ Chủ tịch, N x b S ự th ậ t , H à N ộ i, 1 9 75, tr 11, 1 1 -1 4
2 2
Trang 23nghĩa yêu nưóc Cụ chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương, chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương"' "Cụ Hoàng Hoa Thám là một nông dân ở Bắc Bộ Trong mấy năm, Cụ lãnh đạo một sô"chiến sĩ du kích đấu tranh anh dũng Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì trực tiếp đấu tranh chông Pháp Nhưng theo lời người ta kể thì Cụ còn nặng cốt cách phong kiến"^.
Rõ ràng, vào những năm 20 của th ế kỷ XX, cách mạng Việt Nam ở vào tình trạng k h ủ n g h o ả n g v ể đ ư ờ n g lối cứu nước. Cụ thể là ch ư a có m ộ t đ ư ờ n g lối cách m ạ n g đ ú n g
đ ắ n , đáp ứng đưỢc những yêu cầu của cách mạng Việt Nĩot>- Thực chất là cuộc k h ủ n g h oảng v ề vai trò lã n h đ ạ o của
m ộ t g i a i c ấ p tiên tiến Cách mạng Việt Nam ở trong "tình hình đen tốì như không có đưòng ra".
II- NGUYỄN ÁI QUỐC TRIIYỂN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỂ: VIỆT NAM
Phong trào yêu nước Việt Nam vào những năm đầu
th ế kỷ XX đứng trước ngã ba đường Ngọn cờ cứu nước của giai cấp phong kiến đã bị gãy nát Ngọn cờ cứu nước của giai cấp tư sản vừa giương lên đã bị đánh đổ Đất nước đang đòi hỏi bức thiết phải có một ngọn cò cứu nưâc mói phù họp với nguyện vọng của đại đa sô' tầng lổp nhân dân
và phù hđp với xu th ế phát triển của thòi đại Bằng thiên
1, 2 T r ầ n D â n T iên : Những mẩu chuyện về đời hoạt động
của Hồ Chủ tịch, Sđd, tr 11-14.
Trang 24tài trí tuệ và hoạt động Lhực tiễn của mình, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng kịp thời nhu cầu bức thiết đó Nguyễn Ái Quốc, lúc bé tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học tên là Nguyễn T ất Thành, sinh ngày 19-5-
1890, quê ở làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên giữa quê hương có truyền thống cách mạng lâu đòi, lại được chứng kiến những phong trào chống Pháp của nhân dân ta đầu thê kỷ XX, người thanh niên yêu nưốc Nguyễn Tất Thành "đã sớm hiểu biết và rấ t đau xót trước cảnh thông khổ của đồng bào Lúc bấy giờ, anh
đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào Anh
đã tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc Anh khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán th àn h cách làm của một người nào"' Anh quyết định ra đi tìm đường cứu nước.
Khác với các nhà yêu nước tiền bối và bằng mẫn cảm thiên tài, anh đã đi về phương Tây, nơi có tư tưởng "tự do",
"bình đẳng", "bác ái" Anh ra đi là để "xem xét họ làm như thê nào, rồi sẽ trở về giúp đồng bào"^ cứu nưốc Hoặc như sau này Người nói: "Nhân dân Việt Nam trong đó có cụ thân sinh ra tôi lúc này thường tự hỏi: ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thông trị của Pháp Người này thì nghĩ là Nhật, người khác lại nghĩ là Anh, có người lại cho
1, 2 T r ầ n D â n T iên : Những mẩu chuyện về đời hoạt động
của Hồ Chủ tịch, Sđd, tr 12 -1 3
2 4
Trang 25là Mỹ Tôi thì thâV phai đi ra nước ngoài để xem cho rõ"’ Quyết định của anh có mục đích rõ ràng và có định hưống cụ thể.
Với ý định đó, sau khi ròi Huế vào Phan Thiết dạy học một thòi gian, đầu năm 1911 anh vào Sài Gòn xin vào trường bách nghệ ít lâu sau, với cái tên Văn Ba, anh xin làm phụ bếp trên tàu Latútxơ Tơrêvin (Latouche Tréville) Tháng 6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ròi Tổ quô"c thân yêu ra đi Hành trang của anh mang theo không có gì ngoài tấm lòng yêu nước, đôi bàn tay lao động và ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu dân, cứu nước
Từ năm 1911 đến năm 1917, Nguyễn Tất Thành đến nhiều nưốc ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ và châu Phi, đã đến nhiều nước đế quốc và tiếp xúc với nhiều dân tộc thuộc địa Anh sống và lao động với nhân dân thuộc đủ các màu da, làm nhiêu nghề để sống và học hỏi Trên cơ sở đó,
anh rút ra một kết luận có tính chất nền tảng đầu tiên-, ở
đâu bọn đê quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị bóc lột, áp bức nặng nề và
''dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị hóc lột Mà
1 A Lui Stơrông: Ba lần nói chuyện với Chủ tịch H ồ Chí
M inh, Báo N h ân dân, ngày 19-5-1965 và Tạp chí Lịch sử Đảng,
số 3, 1983.
Trang 26củng chỉ có một môi tinh hữu ái là thật mà thôi: tinh hữu
ái vô sản"\
K hoảng giữa năm 1917, Nguyễn T ấ t T h à n h trở lại nước Pháp, ở đây, an h cùng với một sô^ người Việt Nam
yêu nước, n h ằ m đưa phong trà o yêu nước của Việt kiểu ở
P h á p đi theo hướng tích cực Đ ầu năm 1919, an h gia
n h ậ p Đ ảng Xã hội Pháp, một đ ả n g tiến bộ lúc đó, thường lên tiến g bảo vệ các nước thuộc địa Ngày 18-6-1919 lâV
tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt Hội những người Việt
N a m y ê u nước ở Pháp, anh gửi tới Hội nghị Vécxây bản
Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, đòi Chính
ph ủ P h á p th ừ a n h ậ n các quyền tự do, d â n chủ, quyển
bình đẳng của dân tộc Việt Nam Bùi Lâm tức Nguyễn Văn Di là thủy thủ có mặt ở Pari thòi kỳ đó nhớ lại:
’’Người Pháp coi cuộc đấu tranh đó là một "quả hom" làm chấn động dư luận nước Pháp, Còn người Việt Nam cho
đó là tiếng sấm mùa xuân''^,
Trước Cách mạng Tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quôc quan tâm và nghiên cứu hai cuộc cách mạng: cách mạng
Mỹ năm 1776 và cách mạng Pháp năm 1789 Nghiên cứu cách mạng Mỹ, anh tỏ lòng khâm phục ý chí giành độc lập,
tự do của nhân dân Mỹ ở Pháp, anh nghiên cứu cách mạng 1789 và Công xã Pari 1871 và rút ra nhiều bài học kinh nghiệm, quan trọng nhâ^t là bài học tổ chức và bài
1 Hồ Chí Minh; Toàn tập, S đd, t l, tr.266.
2 Bác H ồ - Hồi ký, Nxb Ván học, Hà Nội, 1960, tr 72,
26
Trang 27học liên minh công nông Tuy vậy, theo anh: "Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó
áp bức thuộc địa Cách mệnh An Nam nên nhớ những
điều ấy"\
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mưòi Nga thành công,
mở ra thời đại mới, thòi đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đưòng cho phong trào giải phóng dân tộc Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mưòi làm lung lay chủ nghĩa cải lương trong Quốc
tê II, dẫn tối việc ra đời Quốc tế Cộng sản, đội tiên phong cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc bị áp bức toàn thế giới Sự kiện quan trọng này có ảnh hưởng trực tiếp đối với sự phát triển tư tưởng, chính trị và con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc
Trong hai ngày 16 và 17-7-1920, báo L'Humanité (Nhân đạo) đăng toàn văn Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của
Lênin Luận cương thu hút sự chú ý đặc biệt của Nguyễn Ái Quốc Tất cả những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đã từng trăn trở trong bao nhiêu năm tìm đưòng cứu nước đến đây
đã được giải đáp Như sau này, Người nói: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao? Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước
1 H ồ C h í M in h ; Toàn tập, Sđd, t.2 , tr 2 7 4
Trang 28quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đâv là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giài phóng chúng ta" Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba"\ Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam
đầu tiên thấy rõ đưỢc tầm quan trọng đặc biệt của bản
Luận cương Luận cương đã giúp cho Người khẳng định;
"Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chỉ có chủ nghĩa cộng sản mối giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ" và "muôn cứu nưốc và giải phóng dân tộc không có con đưòng nào khác là con đường cách mạng vô sản"
Lập trường dứt khoát của Nguyễn Ái Quô"c là đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, đứng hẳn về chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế Cộng sản Điểu đó được đánh dấu bằng việc làm có ý nghĩa lịch sử tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở Tua, tháng 12-1920 Tại Đại hội này, với tư cách là đảng viên Đảng Xã hội Pháp, với danh nghĩa là đại biểu Đông Dương và các dân tộc thuộc địa, Người bỏ phiếu gia nhập Quốc tế Cộng sản, tán thành chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp
Sự kiện lịch sử đó đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc Người đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghia Mác - Lênin, từ một nhà yêu nước trở thành một chiến sĩ
1 H ồ C h í M in h : Toàn tập, Sđd, t i o , tr 1 2 7
28
Trang 29cộng sản đầu tiên của Việt Nam Bằng quyết định lịch sử
đó, Nguyễn Ái Quốc đả mở đường cho cách mạng Việt Nam
ra khỏi cuộc khủng hoảng ưề đường lôi cứu nước, đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thê giới Băng việc làm ấy, Nguyễn Ái Quốc đã giương cao ngọn cờ độc lập dán tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hộL Củng từ đây, Người đã mở đường cho chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập phong trào công nhăn và phong trào yêu nước Việt Nam.
Sau khi tìm đưỢc con đưòng cứu nước đúng đắn cho
phong trà o cộng sản và công n h â n quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến m ạ n h mẽ việc tru y ền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vể Việt Nam , từ ng bước chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc th à n h lập chính đảng của giai cấp công n h â n Việt Nam.
Tháng 4 và tháng 5-1921, Nguyễn Ái Quốc viết hai bài báo lấy tên là Đông Dương đăng trên Tạp chí Cộng sản (La revue communiste) sô" 14 Trong đó, Ngưòi kết luận: "Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn
bị dâL rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giốing của công cuộc giải phóng nữa thôi"’ và "Chế độ
1 H ồ C h í M in h : Toàn tập, Sđd, t l , tr 28.
Trang 30cộng sản có thể áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng"'.
Tháng 7-1921, Người cùng một số người yêu nước ở
nhiều nước thuộc địa của Pháp lập ra Hội Liên hiệp thuộc địa để đoàn kết các lực lượng cách mạng chông chủ nghĩa
thực dân, thông qua đó, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin đến các dân tộc thuộc địa
Năm 1922, theo đề nghị của Người, Ban Nghiên cứu thuộc địa trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Pháp được thành lập, gồm 5 tiểu ban theo dõi năm khu vực thuộc địa của Pháp, Nguyễn Ái Quốc là Trưởng tiểu ban nghiên cứu vê Đông Dương
Để đạt kết quả trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào các thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc và Ban Chấp
hành Hội Liên hiệp thuộc địa quyết định lập Hội hỢp tác người cùng khổ nhằm mục đích xuất bản tờ báo Le Paria
(Người cùng khổ) Ngày 1-4-1922, báo ra sô" đầu tiên Báo
Le Paria ra đưỢc tất cả 38 sô', mỗi số phát hành khoảng
1.000 đến 5.000 bản Một nửa sô" lượng báo in ra đưỢc gửi tới
các thuộc địa Là người sáng lập, chủ nhiệm kiêm chủ bút, Nguyễn Ái Quốc đã đóng vai trò chủ chốt của tò báo Trong hồi ức của mình, luật sư Mác Clanhvin Blôngcua, uỷ viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp thuộc địa đã xác nhận: "Báo
Le Paria xuất bản từ năm 1922 đến năm 1923, tất cả được
38 sô' Nguyễn Ái Quốc đã đóng góp rất nhiều cho tờ báo Anh viêt khỏe, có sô" viêt tới hai, ba bài Toàn bộ những bài
1 Hồ C hí Minh - Những sự kiện, Nxb Thông tin lý luận, Hà
Nội, 1990, tr 22.
30
Trang 31báo của anh là bản án chủ nghĩa thực dân Pháp và là nguyện vọng giành độc lập tự do cho nhân dân Việt Nam
và nhân dân các nước thuộc địa"' Có thể nói, với sự xuất
hiện của tờ báo Le Pana, một phương tiện truyền bá chủ
yếu thời kỳ này, tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quô"c theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đến với nhân dân ta thường xuyên và có hệ thông
Ý thức được tác dụng to lốn của báo chí, nên Nguyễn Ái Quốc còn vận động Hội những người Việt Nam
yêu nưốc ra báo Việt Nam hồn, viết bằng tiếng Việt nhằm
giác ngộ tinh thần yêu nước cho Việt kiều và gửi về nước Nhưng do yêu cầu công tác, Người đi Liên Xô nên dự định
đó không thực hiện được
Nguyễn Ái Quôc còn viết rất nhiểu bài cho báo
L'Humanité (Nhân đạo) - cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp và báo La vie ouvriers (Đòi sống công
nhân) - tiếng nói của giai cấp công nhân Ngoài ra, Người còn tham gia các hoạt động xã hội khác như viết kịch, sinh hoạt câu lạc bộ, diễn thuyết, V.V ở đâu, Người cũng vạch trần bản chất phản động, hành động áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân đôl vối nhân dân "chính quốc" và nhân dân các nước thuộc địa, kêu gọi sự đoàn kết trong công cuộc giải phóng
Trang 32Đoàn chủ tịch phiên họp Tại diễn đàn Đại hội, Xgười phát biểu yêu cầu Đảng quan tâm hơn nữa đên các nước thuộc địa.
Những sự kiện trên cho thấy, Nguyễn Ái Quốc đóng góp tích cực vào việc đẩy mạnh phong trào đấu tranh giải phóng các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam Đối với
Việt Nam, Người chủ động xây dựng một đường dây hí mật, thông qua những thủy thủ yêu nưốc làm việc trên
tuyến vận tải biển Pháp - Đông Dương Khởi đầu là gửi
bản Yêu sách của nhân dân An Nam dưới dạng truyền
đơn về nước Từ đó về sau, con đường đó được xây dựng hoàn chỉnh Tiêu biểu là những thủy thủ làm giao thông bí mật như Bùi Lâm, Nguyễn Viết Tỵ, Hoàng Đình Lộc, V V
Chủ nghĩa Mác - Lênin đưỢc truyền bá vê' Việt Nam thường xuyên
Thời kỳ hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pháp tuy không dài, nhưng đó là thời kỳ khởi đầu cho quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam do Người tiến hành một cách kiên tri, có phương pháp.
Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trên đất Pháp
đã giúp cho Quốc tế Cộng sản hiểu rõ hơn tình hình thuộc địa Vì thế, Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản quyết định thông qua Đảng Cộng sản Pháp mời Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội V và công tác tại Quốc tế Cộng sản Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc ròi Pháp sang Liên Xô để
tham dự Hội nghị quốc tế nông dân lần thứ nhất vào
tháng 10-1923, họp tại Mátxcơva Phát biểu tại Hội nghị, Người nêu rõ tình cảnh nông dân Việt Nam dưới ách thông trị của thực dân Pháp và tay sai Kết thúc bài phát
3 2
Trang 33biểu, Người nói: "Tôi phải nhắc lại với các đồng chí rằng Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một Quổc tế thật sự khi mà không những nông dân phương Tây, mà cả nông dân ở phương Đông, nhất là nông dân ở các thuộc địa là những người bị bóc lột và bị áp bức nhiều hơn các đồng chí, đểu tham gia Quô'c tế của các đồng chí"' Trong phiên họp bế mạc, Người được bầu vào Đoàn chủ tịch Hội đồng Quốc tế nông dân.
Sự xuất hiện của Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị này tự thân đã là sự khởi đầu cho một ý định công tác mới của Quốc tê Cộng sản và của chính Nguyễn Ái Quốc Đó là cuộc gặp gỡ kỳ thú và thông nhất trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Đông Dương Sau cuộc gặp gỡ đó,
một văn kiện lịch sử quan trọng của Quổc tế Cộng sản Gửi nhăn dân ta và một văn bản khác là Lời kêu gọi của Quôc
tế Cộng sản nhân kỷ niệm ngày chống chiến tranh đê quôc 1-8-1924 do Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Việt đã được
bí mật gửi vê Đông Dương^ Sự kiện đó đã chỉ rõ con đưòng đưa chủ nghĩa Mác - Lênin từ Quốc tế Cộng sản về Việt Nam đã được khai thông, mà người khai thông chính là Nguyễn Ái Quốíc
Trong hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở thòi kỳ này, Người sử dụng nhiều phương tiện thông tin khác nhau Một mặt, Người tiếp tục duy trì quan hệ vối báo chí cánh tả ở Pháp bằng việc gửi bài viết thường xuyên với những thông tin mới Mặt khác, Người còn đặt
1 Hồ Chí Minh: T o à n tậ p , S đ d , t.l, tr 212.
2 Tài liệu Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam.
Trang 34quan hệ và viết bài thường xuyên cho báo Sự thật (Pravđa) của Đảng Cộng sản Liên Xô và Tạp chí Thư tín quốc tẽ\ Tạp chí Quốc tế nông dân của Quốc tế Cộng sản, V V , nói về cách mạng giải phóng dân tộc, về Lênin và nước Nga Xôviết Ngoài ra, Ngưòi còn sử dụng truyền đơn, sách báo,
diễn đàn, v.v để tuyên truyền
Từ những tài liệu sưu tầm, tập hỢp trong nhiểu năm,
tại Liên Xô, Ngưòi đã hoàn thành cuôn Bản án chế độ thực dân Pháp (Le procès de la colonisation française)
được Hiệu sách Lao động ở Pari xuất bản lần đầu vào năm 1926\ Trong tác phẩm, Ngưòi phân tích một cách khoa học bản chât chủ nghĩa đế quôc, luận tội đanh thép chủ nghĩa thực dân Pháp và vạch ra con đưòng giải phóng cho nhân dân các nước thuộc địa Bản án chế độ thực dân Pháp là tác phẩm chính trị vô sản đầu tiên của
cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to ' ớn Riêng ở Việt Nam, tác phẩm đã góp phần quan trọng thúc đẩy cách mạng tiến tới, thức tỉnh và thôi thúc dân tộc ta cùng vối các dân tộc bị áp bức trên thế giới đấu tranh vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội Nói về tác dụng của tác phẩm, đồng chí Phạm Hùng có kể lại: "i/ồi
đy, quyển Bản án chế độ thực dân Pháp có một tác dụng rât lớn đối với thanh niên học sinh Phong trào thanh niên học sinh lúc bấy giờ lan rộng và khá mạnh mẽ Lập trường giai cấp tuy chưa rõ rệt lắm, nhưng ý thức chống
đê quốc rất cao, rất sôi noi, nên tập Bản án chẽ độ thực
1 Theo tư liệu mỏi phát hiện của tác giả Nguyễn Thành Trước đây các tài liệu đều ghi là năm 1925.
34
Trang 35dân Pháp trả lời đúng vào ý nghĩ, nguyện vọng và tâm tinh thê hệ thanh niên lúc bấy giờ''^.
Tháng 7-1924, Nguyễn Ái Quô”c tham dự Đại hội lần thứ V Quốc tê Cộng sản Trong bản tham luận quan
trọng tại Đại hội, Người đề cập hai vấn đề: 1 Tăng cường môi quan hệ giữa phong trào công nhân các nước đế quốc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; 2 Vấn đề nông dân ở các nước thuộc địa Từ diễn đàn Đại hội, Người thẳng thắn phê bình một sô' Đảng Cộng sản đã coi nhẹ cách mạng thuộc địa, kêu gọi các Đảng cần thực hiện
ời di huấn của Lênin về vấn đề thuộc địa bằng hành động thực tế; đồng thòi, Người không quên đề nghị các Đảng trên thế giới "gửi các đồng chí ở các nước thuộc địa sang học ở Trường Lao động cộng sản phương Đông" - nơi Ngưòi đang học tập và công tác Chính theo đề nghị của Ngưòi mà từ đầu năm 1925, nhiều thanh niên Việt Nam yêu nước được cử sang học tại trường đó Mở đầu là Nguyễn Thế Rục, Nguyễn Thê Vinh Con sô" đó về sau tăng lên
Trong thòi gian học ở Trường Đại học phương Đông và công tác tại Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc cùng với
một sô" sinh viên Trung Quốc biên soạn cuô"n Trung Quốc
và thanh niên Trung Quôc^ mà Nguyễn Ái Quốc là chủ
biên Cuôn sách nêu những tư liệu cụ thể, xác thực về tình hình Trung Quốc và các nưốc phương Đông Cũng trong
1 Báo T h ố n g n h ấ t, s ố 155, ngày 19-5-1965.
2 Cuôn sách này mới tìm thấy Xem Báo N h ă n d â n c h ủ n h ậ t,
ngày 19-5-1991 và Hồ Chí Minh: T o à n tậ p , S đ d , t.2, tr 369 - 412.
Trang 36ihòi gian này, Ngưòi còn viết cuôn Chủng tộc da đen\ cả
hai cuôn sách đều Lập tru n g lên án chủ nghĩa đê quôc và lìn h trạ n g thông khổ của các nước thuộc địa.
Trong thòi gian ở Liên Xô, Người còn dự nhiều Đại hội
và Hội nghị quôc tế như: Đại hội III Quốc tế Công hội đỏ Đại hội I Quốc tế Cứu tế đỏ, Đại hội IV Quốc tê Thanh niên, V V Từ diễn đàn của các hội nghị này, Ngưòì nói lên tiếng nói của các dân tộc thuộc địa, bảo vệ những luận điểm của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, kêu gọi sự quan tâm, đoàn kết của các tổ chức quốc tế đốì với sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa
Như vậy, thời kỳ ở Liên Xô, những tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ải Quốc thuộc những vấn đề chiến lược quan trọng trong cách mạng giải phóng dân tộc đưỢc hinh thành rõ nét Những tác phẩm và tài liệu của Người theo những đường dây bí mật đã đến được với nhăn dãn Việt Nam, tạo ra xung lực mới trong phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện thuận lợi cho thời kỳ tiếp theo.
Quyết định của Quốc tế Cộng sản cử Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu (Trung Quốc) nhằm xúc tiến xây dựng một tổ chức cộng sản ở Đông Dương và giúp đờ các đại biểu cách mạng ở các nước Đông Nam Á Tháng 11-1924, Người đến Quảng Châu với tên gọi Lý Thụy (có khi là Vương), làm phiên dịch trong phái đoàn cô" vấn của Chính
1 Cuôn sách này đến nay chưa tìm thấy.
3 6
Trang 37phủ Liên Xô do M Bôrôđin dẫn đầu đến giúp Chính phủ Quốc dân Đảng Trung Hoa Từ đây, Người giữ môi liên lạc
và báo cáo thưòng xuyên vối Quôc tế Cộng sản
Hoạt động chủ yếu của Nguyễn Ái Quôc ở Quảng Châu là hướng tối chuẩn bị mọi điều kiện để xây dựng một đảng mácxít ở Đông Dương và giúp các nhà cách mạng các nước khác trong vùng Vì vậy, sau khi tỏi Quảng Châu, Ngưòi tiếp xúc với các nhà cách mạng yêu nước Việt Nam đang hoạt động ở đó Trong sô" đó có cụ Phan Bội Châu Ngưòi cùng cụ Phan đàm đạo việc cứu nưốc Qua đàm đạo, cụ Phan rất khâm phục Người, tán thành kế hoạch do Ngưòi vạch ra, đồng thòi còn đưa bản danh sách 10 ngưòi Việt Nam đã cùng cụ hoạt động bấy lâu cho Nguyễn Ái Quôc\ Sau đó, Ngưòi tiếp xúc với
nhóm Tăm tâm xã, đúng lúc họ vừa thoát ly khỏi tổ chức Việt Nam quang phục hội của cụ Phan Đây là nhóm
thanh niên Việt Nam yêu nước đang muôn tiếp cận vối những tư tưởng tiến bộ của thòi đại
Vậy là, tại Quảng Châu đã diễn ra cuộc hội ngộ lịch sử
giữa Nguyễn Ái Quốc, người đang khao khát đi tìm lực
ượng để "gieo mầm cộng sản" và một tổ chức những thanh niên Việt Nam đang khao khát tiếp thư và hành động theo
tư tưởng mới
Sau khi có bản danh sách ciảa cụ Phan, Ngưòi tổ chức
ngay một lóp huấn luyện và chọn được 9 ngưòi tích cực lập
1 Xem thư của Nguyễn Ái Quôc gửi Chủ tịch đoàn Quôc
tế Cộng sản ngày 18-12-1924, Hồ Chí Minh: T o à n tậ p y S đ d , t.2, tr.8-9.
Trang 38ra một nhóm bí mật, tức là Cộng sản đoàn vào tháng 2-
1925 Trong nhóm đó có: Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lưu Quô’c Long (Quý), Trương Vân Lĩnh
Cũng trong nhóm đó, Người kết nạp đưỢc 5 đảng viên dự
bị: Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu Nhóm Cộng sản đoàn đóng vai trò hạt nhân của một tổ chức rộng
lớn sau đó Như vậy, những đầu môl liên lạc cần thiết cho
sự chỉ đạo phong trào đã được xây dựng
Tháng 6-1925, từ nhóm cách mạng đầu tiên, Nguyễn Ái
Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trong đó tổ chức nòng côt, trung kiên là Cộng sản đoàn Hội công bô" Chương trinh và Điều lệ Hội có cơ quan Tổng bộ do Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là tổ chức có tính chất quá độ, vừa tầm, thích
hỢp vối phong trào cách mạng Việt Nam lúc đó, có nhiệm
vụ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, giúp cho những ngưòi Việt Nam yêu nước xuất thân từ nhiều thành phần, tầng lớp và ngay cả những công nhân trình độ văn hóa thấp, dễ tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, chuẩn bị điều kiện cho việc thành lập Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam
Cùng với việc tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Người còn mở Trường huấn luyện chính trị
nhằm bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cho cách mạng, trang bị cho họ những hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin,
về đường lối và phương pháp cách mạng Để xây dựng đường dây liên lạc giữa Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên với trong nước, để đưa đón cán bộ đi và
về, chuyển nhận tài liệu, sách báo, sau lốp huấn luyện, Nguyễn Lương Bằng được giao nhiệm vụ liên lạc giữa
3 8
Trang 39Tổng bộ với trong nước bằng đường biển; Lê Duy Điếm
đưỢc cử về Nghệ An liên lạc với nhóm Phục Việt của Trần
Phú; Tôn Quang Phiệt bàn cách sáp nhập nhóm này vào
tổ chức Thanh niên' và tìm chọn người đưa sang Quảng
Châu dự lớp huấn luyện; Lê Hữu Lập đưỢc cử về Nam
Định tìm gặp Đinh Chương Dương cùng nhóm học sinh Trường Thành Chung để chọn người xuất dương; Hồ Tùng Mậu được cử đến Thái Lan gặp cụ Đặng Thúc Hứa
và Việt kiều ở đây để gây cơ sở, tìm chọn người sang học
Trong số dự khai giảng khóa chính trị cho đoàn trong
nưốc đầu tiên mới sang có Trần Phú, Nguyễn Công Thu, Phan Trọng Bình, V V Từ năm 1925 đến năm 1927,
Nguyễn Ái Quô"c đã mở đưỢc 10 khóa học cho khoảng trên
200 học viên Đó là những hạt giống quý mà Người đã chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam Trong số^ đó, một số
được cử sang học ỏ Trường Đại học phương Đông (Liên Xô) và Trường quăn sự Hoàng p/iồ (Trung Quốc), còn đại
bộ phận học xong đưỢc đưa về nước hoạt động Nhiều
người trong sô' đó sau này đã trở thành cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta như: Trần Phú, Ngô Gia Tự,
Nguyễn Đức cảnh, Lê Hồng Phong, Nguyễn Lương Bằng,
Phạm Văn Đồng, V V Trong điều kiện vô vàn khó khăn dưới ách thống trị của thực dân Pháp, những người được Nguyễn Ái Quốc đào tạo ở Quảng Châu là phương tiện tuyên truyền sống trong việc phổ biến và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam
Nội dung những bài giảng trong các lớp huấn luyện ở
1 Tên gọi tắt của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Trang 40Quảng Châu được Nguyễn Ái Quô'c tập hợp thành tác
phẩm Đường cách mệnh Nội dung tác phẩm nêu lên
- Khẳng định tinh thần tự lực, tự cường, chủ động giành thắng lợi, không ngồi đợi cách mạng vô sản Pháp, V V
- Yêu cầu người cán bộ cách mạng phải có phẩm chất, đạo đức và năng lực để phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân
- Xác định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tô" quan trọng và quyết định đốì với sự phát triển và thắng lợi của cách mạng
Về vai trò lãnh đạo của Đảng, trong tác phẩm,
Người nêu rõ: "Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thi vận động và tô chức dân chúng, ngoài thi liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, củng như người cầm lái có
vững thuyền m ă chạy''\ Đồng thời, trong tác phẩm, Người
còn khẳng định: "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa
1 H ồ C hí M inh : Toàn tập, Sđd, t.2 , tr 2 6 7 - 2 6 8
4 0