Thực chất hiện giờ lí thuyết về trường từ vựng – ngữ nghĩa ở Việt Nam tồn tại với nội dung sau: Trường từ vựng ngữ nghĩa được chia làm bốn loại khi căn cứ vào các loại ý nghĩa của từ, ba
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Đối với sinh viên cuối cấp khi được làm khóa luận tốt nghiệp là điều vô cùng vinh dự Nhưng để có thể hoàn thành khóa luận đòi hỏi sự cố gắng rất lớn của bản thân và quan trọng hơn đó là sự chỉ bảo của các thầy cô giáo trong trường, thầy cô hướng dẫn, sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè
và người thân
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và quý thầy cô giáo trong Tổ Ngôn ngữ đã truyền đạt những kiến thức chuyên ngành, chỉ dạy em trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt là cô giáo TS Lê Thị Thùy Vinh là người đã giúp em định hướng đề tài và hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em một cách tận tình để em hoàn thành khóa luận của mình Em cũng xin gửi tới những người thân yêu, bạn bè lòng biết ơn chân thành nhất, vì đã luôn ở bên em, động viên, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Tuy nhiên, với những kiến thức và kinh nghiệm thực tế của bản thân còn nhiều hạn chế Do vậy, khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót,
em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Thùy Vinh Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ việc khảo sát, thống kê, phân loại ngữ liệu Ngoài ra, một số nhận xét, đánh giá khác trong khóa luận đều được sử dụng trung thực, nguồn trích dẫn có chú thích rõ ràng, minh bạch, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khóa luận của mình
Hà Nội, tháng 05 năm 2016
Tác giả Nguyễn Thị Duyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đối với sinh viên cuối cấp khi được làm khóa luận tốt nghiệp là điều vô cùng vinh dự Nhưng để có thể hoàn thành khóa luận đòi hỏi sự cố gắng rất lớn của bản thân và quan trọng hơn đó là sự chỉ bảo của các thầy cô giáo trong trường, thầy cô hướng dẫn, sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè
và người thân
Em xin chân thành cảm ơn quí thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và quí thầy cô giáo trong Tổ Ngôn ngữ đã truyền đạt những kiến thức chuyên ngành, chỉ dạy em trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt là cô giáo TS Lê Thị Thùy Vinh là người đã giúp em định hướng đề tài và hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em một cách tận tình để em hoàn thành khóa luận của mình Em cũng xin gửi tới những người thân yêu, bạn bè lòng biết ơn chân thành nhất, vì đã luôn ở bên em, động viên, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Tuy nhiên, với những kiến thức và kinh nghiệm thực tế của bản thân còn nhiều hạn chế Do vậy, khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót,
em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Thùy Vinh Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ việc khảo sát, thống kê, phân loại ngữ liệu Ngoài ra, một số nhận xét, đánh giá khác trong khóa luận đều được sử dụng trung thực, nguồn trích dẫn có chú thích rõ ràng, minh bạch, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khóa luận của mình
Hà Nội, tháng 05 năm 2016
Tác giả Nguyễn Thị Duyên
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 6
7 Bố cục của khóa luận 6
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1.1 Trường nghĩa 7
1.1.1.Khái niệm trường nghĩa 7
1.1.2 Phân loại trường nghĩa 9
1.1.2.1 Trường nghĩa biểu vật 9
1.1.2.2 Trường nghĩa biểu niệm 11
1.1.2.3 Trường nghĩa tuyến tính 12
1.1.2.4 Trường nghĩa liên tưởng 12
1.1.3 Giá trị của việc tìm hiểu trường nghĩa trong tác phẩm văn chương nghệ thuật 13
1.2 Trường nghĩa chỉ không gian 14
1.3 Nhà thơ Đồng Đức Bốn và thơ ca Đồng Đức Bốn 15
Trang 6CHƯƠNG 2: TRƯỜNG NGHĨA CHỈ KHÔNG GIAN TRONG THƠ ĐỒNG
ĐỨC BỐN 20
2.1 Cơ sở phân loại 20
2.2 Các trường nghĩa chỉ không gian cơ bản trong thơ Đông Đức Bốn 20
2.2.1 Trường nghĩa chỉ không gian tự nhiên 22
2.2.1.1 Trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên 22
2.2.1.2 Trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các sự vật tự nhiên 27
2.2.2 Trường nghĩa chỉ không gian xã hội 30
2.2.2.1 Trường nghĩa chỉ không gian làng quê 31
2.2.2.1 Trường nghĩa chỉ không gian thành thị 39
2.2.3.1 Trường nghĩa chỉ không gian địa danh 41
PHẦN KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tiếp cận một tác phẩm văn chương trước hết là tiếp cận bề mặt câu chữ bởi lẽ ngôn ngữ văn chương bao giờ cũng là ngôn ngữ nghệ thuật, là sự sáng tạo có mục đích của tác giả Ngôn ngữ văn chương không chỉ chú trọng đến cảm xúc, đến tình cảm mà còn chú ý cả đến tính hệ thống và tính chính xác
Từ ngữ sử dụng trong văn chương một cách có chủ ý và thống nhất sẽ làm tăng thêm vẻ tinh tế đó Nói đến ngôn ngữ văn chương, người ta nghĩ ngay đến ngôn ngữ trong thơ Loại ngôn ngữ này tiêu biểu cho phong cách văn chương với những cách dùng từ, đặt câu rất lạ mà ngôn ngữ thông thường không có được Mỗi một nhà thơ là một phong cách thơ nên có một hệ thống ngôn ngữ thơ mang những nét riêng Trường nghĩa ngôn ngữ mang đậm phong cách của nhà thơ từ đó mà hình thành
Đồng Đức Bốn là nhà thơ nổi lên như một hiện tượng thơ đặc biệt với thể thơ lục bát hiện đại Có lẽ ông là người làm thơ lục bát hay nhất trong khoảng 50 năm trở lại đây ở Việt Nam Đồng Đức Bốn từng nhận nhiều giải thưởng trong các cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ, Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội và báo Tiền Phong Đồng Đức Bốn sinh năm 1948, quê Hải Phòng Ông
đã từng làm nhiều nghề kiếm sống, cuộc đời sóng gió phiêu bạt nhiều nơi Những dấu vết ấy hằn sâu trong nhiều bài thơ của ông Ngôn ngữ thơ rất giàu hình ảnh mà nổi bật lên đó là những từ ngữ thuộc hệ thống trường nghĩa không gian
Tìm hiểu trường nghĩa không gian trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn cũng là phát hiện ra vẻ đẹp ngôn ngữ trong thơ ca dân tộc nói chung và phong cách thơ Đồng Đức Bốn nói riêng
Trang 82 Lịch sử vấn đề
Lí thuyết về trường nghĩa đã được các nhà ngôn ngữ thế giới quan tâm
từ rất sớm, có thể kể đến các tác giả như J.Trier, L.Weisgerber… Các tác giả này đưa ra các quan niệm, các khía cạnh khác nhau về trường nghĩa xuất phát
từ những góc nhìn riêng của mình
Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu sớm và có nhiều công trình về lý thuyết trường Định nghĩa trường của ông được rất nhiều người chấp nhận và sử dụng phổ biến: Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa
Năm 1973, Đỗ Hữu Châu có công trình Trường từ vựng và hiện tượng
đồng nghĩa, trái nghĩa Trong công trình này, Đỗ Hữu Châu nêu các hiện
tượng đồng nghĩa, trái nghĩa của từ thông qua việc phân tích các trường từ vựng
Năm 1975, Đỗ Hữu Châu tiếp tục trình bày cụ thể về trường và việc nghiên cứu từ vựng
Các công trình nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu đã cung cấp một hệ thống
lí thuyết về trường từ vựng – ngữ nghĩa Thực chất hiện giờ lí thuyết về trường từ vựng – ngữ nghĩa ở Việt Nam tồn tại với nội dung sau:
Trường từ vựng ngữ nghĩa được chia làm bốn loại khi căn cứ vào các loại ý nghĩa của từ, bao gồm: Trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng Ngoài ra, chúng tôi còn căn cứ vào những nội dung cơ bản trong cuốn Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt (in lần thứ 2, 1966) để có được khung lý thuyết vững chắc cho đề tài này
Trang 9Các nhà nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết này để nghiên cứu tiếng Việt Đặc biệt, trường nghĩa liên tưởng được áp dụng nhiều khi nghiên cứu Ví dụ một số công trình tiêu biểu như:
Luận án PTS Trường từ vựng tên gọi bộ phận cơ thể người của Nguyễn
Đức Tồn năm 1988 đã nêu khái niệm trường từ vựng ngữ nghĩa khá hoàn thiện
Luận án PTS Đặc điểm Trường từ vựng – ngữ nghĩa tên gọi động vật
(trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga) của Nguyễn Thúy Khanh năm
1996
Luận văn thạc sĩ Cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ thuộc trường thực vật
của Đinh Thị Oanh năm 1999 nhằm chỉ rõ đặc điểm và cấu trúc ngữ nghĩa hoặc sự chuyển nghĩa của các vị từ thuộc trường thực vật
Công trình Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư
duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác) của Nguyễn Đức
Tồn xuất bản năm 2002 Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa của trường tên gọi thực vật (chương thứ 8) Trong đó, tác giả đã trình bày cụ thể, chi tiết về cấu trúc ngữ nghĩa của trường từ vựng chỉ thực vật, sự chuyển nghĩa và ý nghĩa biểu trưng của một số từ ngữ thực vật
Nghiên cứu về trường nghĩa trong tác phẩm văn chương nghệ thuật có một số công trình như:
Luận văn thạc sĩ Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Xuân Diệu
của Vũ Hoàng Cúc năm 2011 nhằm chỉ rõ việc sử dụng trường nghĩa và di chuyển trường nghĩa từ vựng qua đó lí giải về giá trị của thơ Xuân Diệu từ góc nhìn ngôn ngữ
Trang 10Luận văn thạc sĩ Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Đồng Đức
Bốn của Nguyễn Thị Hiền năm 2013 cũng đã đi vào nghiên cứu việc sử dụng
trường nghĩa và di chuyển trường nghĩa từ vựng, từ đó lí giải về giá trị thơ của Đồng Đức Bốn ở phương diện ngôn ngữ
Như vậy, nghiên cứu về trường nghĩa nói chung đã thu hút được sự chú
ý của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhưng nghiên cứu trường nghĩa trong tác phẩm văn chương còn khá ít Vấn đề trường nghĩa mà cụ thể hơn là trường nghĩa chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn vẫn chưa có công trình hay bài viết nào đề cập đến một cách có hệ thống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của khóa luận là làm rõ hơn bản chất của trường nghĩa nói chung và trường nghĩa trong tác phẩm văn chương nói riêng, cụ thể ở đây là trường nghĩa chỉ không gian trong thơ ca Đồng Đức Bốn Qua đó khóa luận cũng góp thêm sự lí giải về giá trị của thơ Đồng Đức Bốn từ góc nhìn ngôn ngữ học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, khóa luận đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Xác định cơ sở lí luận của đề tài
- Khảo sát, thống kê các từ ngữ trong thơ Đồng Đức Bốn theo trường nghĩa chỉ không gian để xác định trường nghĩa chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn
- Qua khảo sát và phân tích các từ ngữ thuộc trường nghĩa chỉ không gian để rút ra những giá trị của thơ Đồng Đức Bốn từ góc nhìn ngôn ngữ
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khóa luận này, đối tượng chúng tôi nghiên cứu là trường nghĩa chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung khảo sát, nghiên cứu với khoảng 100 bài thơ nằm
trong sáu tập thơ của Đồng Đức Bốn: Con ngựa trắng và rừng quả đắng, Nxb Văn học, Hà Nội; Chăn trâu đốt lửa, Nxb Lao động, Hà Nội; Trở về với mẹ ta
thôi, Nxb Hội nhà Văn, Hà Nội; Cuối cùng vẫn còn dòng sông, Nxb Hội nhà
Văn, Hà Nội; Chuông chùa kêu trong mưa, Nxb Hội nhà Văn, Hà Nội; Chim
mỏ vàng và hoa cỏ độc, Nxb Hội nhà Văn, Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp sau:
- Phương pháp miêu tả để miêu tả đặc điểm của từ thuộc trường nghĩa chỉ không gian
- Phương pháp phân tích để làm rõ giá trị biểu hiện của từ thuộc trường nghĩa chỉ không gian trong việc thể hiện nội dung và nghệ thuật của thơ Đồng
Trang 126 Đóng góp của khóa luận
Về mặt lí luận, khóa luận làm rõ lí thuyết về trường nghĩa ứng dụng trong tác phẩm văn chương, làm rõ vai trò của việc sử dụng từ ngữ thuộc trường nghĩa chỉ không gian trong thơ ca Đồng Đức Bốn Từ đó, khóa luận hướng tới khẳng định những đóng góp của nhà thơ về ngôn ngữ nghệ thuật
Về mặt thực tiễn, khóa luận giúp cho người đọc có một cái nhìn cụ thể hơn, đa chiều hơn về thơ ca Đồng Đức Bốn, cụ thể ở đây là cái nhìn từ góc độ ngôn ngữ học
7 Bố cục của khóa luận
Tương ứng với mục đích nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của khóa luận được triển khai trong 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Các trường nghĩa chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn
Sau cùng là phần tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Trường nghĩa
1.1.1 Khái niệm trường nghĩa
Ngôn ngữ là một hệ thống điển hình bao gồm tổng thể các yếu tố và các yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo nhiều kiểu dạng khác nhau Nằm trong hệ thống ngôn ngữ ấy, các đơn vị từ vựng cũng không tồn tại biệt lập, tách rời mà luôn có những mối quan hệ nhất định cả về hình thức lẫn ngữ nghĩa Quan hệ về ý nghĩa giữa các đơn vị từ vựng là một trong những mối quan hệ được các nhà khoa học ngôn ngữ quan tâm làm rõ Các từ đồng nhất về nghĩa được tập trung thành các nhóm gọi là trường nghĩa (hay trường từ vựng hoặc trường từ vựng ngữ nghĩa)
Các nhà nghiên cứu khác nhau nhìn nhận việc nghiên cứu tính hệ thống trong từ vựng rất khác nhau và phân chia trường nghĩa theo những cơ sở khác nhau:
Trước hết là quan niệm của một số tác giả nước ngoài: Từ những năm
90 của thế kỉ XIX, M M Pokrovxki là người đã đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu
từ vựng một cách có hệ thống nhưng khái niệm trường và lý thuyết trường ngữ nghĩa chỉ thực sự được nghiên cứu từ những năm 20 của thế kỉ XX, bắt nguồn từ những lý thuyết ngôn ngữ học của W Humboldt và F.de Saussure Sau đó các nhà nghiên cứu khác như G Ipsen (1924), A Jolles (1934), W Porzig (1934)… và đặc biệt là J Trier (1934) được coi là người đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa học Ông là người đầu tiên đưa thuật ngữ “trường” vào ngôn ngữ học và đã thử áp dụng quan điểm cấu trúc vào lĩnh vực từ vựng ngữ nghĩa Ông cho rằng, trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường
Trang 14quyết định Trường kiểu của J Trier là trường có tính chất đối vị, gọi tắt là trường trực tuyến (dọc) Cùng kiểu trường với J Trier là L Weisgerber, ông cũng có một quan điểm rất đáng chú ý về các trường, theo ông, cần phải tính đến các “góc nhìn” khác nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hóa một lĩnh vực nào đó của cuộc sống Ngoài hai tác giả trên, trường trực tuyến cũng được nhiều nhà ngôn ngữ khác đề cập đến Có thể kể đến các tác giả như Cazares, P M Roget, R Hallig, W Von Warburrg, W P Zaleskij, Duchacek, H Husgen, K Reuning
Khác với các nhà ngôn ngữ trên, W Pozig lại xây dựng quan niệm về các trường tuyến tính hay trường ngang Theo ông, trường là những cặp từ có quan hệ kiểu như “gehen” – “fuber” (“đi” – “chân”), “greifen” – “hand” (“cầm” – “tay”), “sechen” – “auge” (“nhìn” – “mắt”) Đây không phải là những quan hệ chung nhất, những quan hệ ngữ nghĩa tạo nên “các trường cơ bản của ý nghĩa” Trung tâm của “các trường cơ bản của ý nghĩa” là các động
từ và tính từ vì chúng thường đảm nhiệm chức năng vị ngữ trong câu, do đó chúng thường ít nghĩa hơn các danh từ
Ở Việt Nam trường nghĩa cũng là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu
đề cập đến như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Trọng Phiến, Đỗ Việt Hùng… trong đó tiêu biểu nhất là nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu Từ những năm 80 của thế kỉ trước, Đỗ Hữu Châu là người đã giới thiệu trường trong một loạt các công trình trên những phương diện lịch sử vấn đề, hệ thống hóa các quan điểm phương pháp của các nhà ngôn ngữ học thế giới, đồng thời đưa ra các tiêu chí cũng như phương pháp xác lập trường
Qua thực tế nghiên cứu Đỗ Hữu Châu đã khẳng định rằng: Những quan
hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt được các từ vào những hệ thống con thích hợp Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng
Trang 15thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng [4; 156]
Từ đó, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định nghĩa: Mỗi tiểu hệ thống ngữ
nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa [4; 157] Quan niệm này lấy tiêu chí ngữ nghĩa làm cơ sở cho việc
phân lập trường nghĩa Đây là quan niệm có tính chất định hướng cho các quan niệm về trường nghĩa của các nhà Việt ngữ khác sau ông
Khóa luận của chúng tôi lấy quan niệm về trường nghĩa của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở lí thuyết để nghiên cứu
1.1.2 Phân loại trường nghĩa
F De Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương đã chỉ ra hai dạng: quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình) Dựa vào hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ, Đỗ Hữu Châu chia trường nghĩa tiếng Việt thành các loại khác nhau: trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm (hai trường nghĩa dựa vào quan hệ dọc); trường nghĩa tuyến tính (dựa vào quan hệ ngang) và trường nghĩa liên tưởng (dựa vào sự kết hợp giữa quan hệ dọc và quan hệ ngang)
1.1.2.1 Trường nghĩa biểu vật
Trường nghĩa biểu vật là “một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa
biểu vật” [5; 170] Chẳng hạn, trường nghĩa biểu vật về chân: cổ chân, bàn
chân, ngón chân, gót chân, đứng đi, đá, nhảy… Đây là các đơn vị từ cùng
phạm vi biểu vật chân
Trang 16Mỗi một trường nghĩa biểu vật thường có từ trung tâm là danh từ Danh
từ này có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật,
như người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu… Các danh từ này cũng là
tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ Dựa vào danh từ trung tâm, người ta xác lập trường nghĩa biểu vật Ở ví dụ trường biểu vật về chân trên,
dựa vào danh từ chân, ta tập hợp được rất nhiều từ về chân – nằm trong
trường nghĩa chân
Các trường nghĩa biểu vật lớn có thể chia thành các trường nghĩa biểu vật nhỏ Đến lượt mình, các trường nghĩa biểu vật nhỏ này cũng có thể phân
chia thành các trường nghĩa biểu vật nhỏ hơn nữa Chẳng hạn, trường nghĩa
biểu vật về chân có thể chia thành các trường nhỏ: trường biểu vật về bàn chân (gồm: ngón chân, đốt ngón chân, mu bàn chân, hoa chân, vân chân….), trường biểu vật về dóng chân (gồm: cổ chân, bọng chân, xương dóng chân…)
Số lượng từ ngữ và cách tổ chức của các trường nghĩa biểu vật rất khác nhau Sự khác nhau này diễn ra giữa các trường lớn với nhau và giữa các trường nhỏ trong một trường lớn Nếu so sánh các trường cùng một tên gọi trong các ngôn ngữ với nhau thì sự khác nhau trên còn rõ hơn nữa
Nếu tạm gọi một trường nhỏ (hay một nhóm nhỏ trong một trường nhỏ)
là một “miền” của trường, thì thấy, các miền thuộc các ngôn ngữ rất khác nhau Có những miền trống – tức không có từ ngữ - ở ngôn ngữ này nhưng không trống ở ngôn ngữ kia, có miền có mật độ cao trong ngôn ngữ này nhưng lại thấp trong ngôn ngữ kia
Vì từ có nhiều nghĩa biểu vật, cho nên, từ có thể nằm trong nhiều
trường biểu vật khác nhau, hệ quả là các trường nghĩa biểu vật có thể “giao
Trang 17thoa”, “thẩm thấu” Xét trường biểu vật về người và trường biểu vật về động
vật, ta sẽ thấy rất rõ điều này Trường nghĩa người sẽ bao gồm các từ: đầu,
tóc, mắt, cổ , bụng, tay, chân, mũi, miệng, mồm, răng, lưỡi, ruột, dạ dày, thịt, lông, ăn, uống, chạy, nhảy, khóc, cười, hát, ngủ, nằm… Trường nghĩa động
vật sẽ gồm các từ: đầu, đuôi, sừng, cổ, mắt, chân, mũi, răng, lưỡi, ruột, dạ
dày, da, máu, chạy, nhảy, hót, hí, hú, ngủ, nằm… Hầu hết các từ nằm trong
trường động vật đều nằm trong trường người, ví dụ các từ: đầu, cổ, mắt, chân,
mũi, miệng, lưỡi, dạ dày, ăn, uống, chạy, nhảy, ngủ, nằm… Ta nói trường
người và trường động vật giao thoa, thẩm thấu vào nhau Mức độ giao thoa của các trường tỉ lệ thuận với số lượng từ chung giữa các trường với nhau
Quan hệ của các từ ngữ đối với một trường nghĩa biểu vật không giống nhau Có những từ điển hình cho trường được gọi là hướng tâm, có những từ không điển hình cho trường được gọi là từ hướng biên Từ hướng tâm gắn rất chặt với trường làm thành cái lõi trung tâm quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường Từ hướng biên gắn bó lỏng lẻo hơn và mỗi lúc một đi xa khỏi lõi, liên hệ với trường mờ nhạt đi Ở ví dụ về trường người và trường động vật trên, các từ hướng tâm là các từ chỉ có ở trường này mà không có ở
trường kia, các từ hướng tâm của trường người như khóc, buồn, hát…, các từ hướng tâm của động vật là các từ hí, hót, hú, đuôi… Từ hướng biên của chúng là những từ xuất hiện ở cả hai trường như đầu, chân, mắt, mũi, ruột, dạ
dày, chạy, nằm, ăn, uống…
1.1.2.2 Trường nghĩa biểu niệm
Trường nghĩa biểu niệm là “một tập hợp các từ có chung một cấu trúc
biểu niệm [5,170] Chẳng hạn, trường nghĩa biểu niệm (vật thể nhân tạo) (thay thế hoặc tăng cường công tác lao động) (bằng tay): dao, cưa, búa, đọc, khoan, lưới, nơm, dao, kiếm…
Trang 18Cũng như các trường nghĩa biểu vật, các trường biểu niệm có thể phân chia thành các trường nghĩa biểu niệm nhỏ và cũng có những “miền” với những mật độ khác nhau
Từ có nhiều nghĩa biểu niệm, bởi vậy, một từ có thể đi vào nhiều trường nghĩa biểu niệm khác nhau Vì thế, cũng giống như trường nghĩa biểu vật, các trường nghĩa biểu niệm cũng có thể giao thoa, thẩm thấu vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình và những từ ở những lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi
1.1.2.3 Trường nghĩa tuyến tính
Trường nghĩa tuyến tính là tập hợp từ có thể kết hợp với một từ gốc để tạo ra các chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ
Chẳng hạn, trường nghĩa tuyến tính của từ chân là mềm, ấm, lạnh,…đứng, đi,
nhảy, đá…
Để xác lập được trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ
Cùng với các trường nghĩa dọc (trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm), các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ
và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ
1.1.2.4 Trường nghĩa liên tưởng
Trường nghĩa liên tưởng là tập hợp từ có chung một nét nghĩa ấn tượng tâm lí được một từ gợi ra [5;186] Chẳng hạn, trường nghĩa của từ đỏ
gồm các đơn vị từ vựng: đỏ tươi, đỏ tía, lửa, máu, sức sống, may mắn,…
Trang 19Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, cố định bằng từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm
Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và các trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm Song, trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới
do sự xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại Điều này khiến cho các trường liên tưởng
có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân
1.1.3 Giá trị của việc tìm hiểu trường nghĩa trong tác phẩm văn chương nghệ thuật
Quan niệm về trường nghĩa của các nhà ngôn ngữ học có thể không
giống nhau nhưng có thể hiểu: Trường nghĩa là một tập hợp bao gồm các từ
có chung với nhau ít nhất một nét nghĩa Tiêu chí để xác lập trường nghĩa là
nghĩa của từ Việc phân lập hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường nhỏ dù có dựa vào các tiêu chí nào đi chăng nữa cũng không thể không bắt đầu từ tiêu chí ngữ nghĩa ấy
Trường nghĩa trong tác phẩm văn chương không phải là sự ngẫu nhiên
mà nó tuân theo quy luật sáng tạo của con người dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa Nghiên cứu nó không chỉ giúp cho ta thấy được cái hay của ngôn ngữ mà còn thấy được tài năng, phong cách của người sử dụng Qua đó, giúp người tiếp nhận hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ, câu, khổ thơ và toàn bài Nhờ vậy, người tiếp nhận sẽ dễ dàng hơn trong việc cảm thụ và lí giải tác phẩm văn học đồng thời có thể trau dồi vốn ngôn ngữ cho bản thân
Trang 201.2 Trường nghĩa chỉ không gian
“Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận thế giới và con người thì thời gian,
không gian chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người”
(Trần Đình Sử) Mọi sự vật, hiện tượng đều được gắn với hệ tọa độ không gian - thời gian xác định, nên những cảm nhận của con người về thế giới đều bắt đầu từ sự đổi thay của không gian, thời gian Và từ sự đổi thay của không gian - thời gian, con người nhận ra sự đổi thay trong chính mình
Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao thì: “Thời
gian và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiện nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại, từng hệ thống nghệ thuật” [11; 287] Ở đây, trong phạm vi khóa luận
này, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu về trường nghĩa chỉ không gian trong tác phẩm văn học mà cụ thể là trường nghĩa chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn
Về khái niệm “không gian”, trong cuốn Từ điển tiếng Việt, tác giả
Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải như sau: “Không gian là khoảng không bao la
trùm lên tất cả sự vật hiện tượng xung quanh đời sống con người” [13; 633]
Như vậy, không gian chính là môi trường chúng ta đang sống với sự tồn tại của các sự vật Không gian chính là hình thức tồn tại của vật chất với những thuộc tính như cùng tồn tại và tách biệt, có chiều kích và kết cấu Theo chúng
tôi “trường nghĩa chỉ không gian” là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về
ngữ nghĩa chỉ môi trường chúng ta đang sống với sự tồn tại của các sự vật
Môi trường chúng ta đang sống gồm: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Môi trường tự nhiên là môi trường bao gồm tất cả những vật
Trang 21thể sống và không sống xuất hiện một cách tự nhiên trên Trái Đất hoặc một vùng trên trái đất (hiện tượng tự nhiên, sự vật tự nhiên) Môi trường xã hội
là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường (môi trường làng quê, môi trường thành thị) Từ đó chúng tôi xác định trường nghĩa chỉ không gian gồm: trường nghĩa chỉ không gian tự nhiên, trường nghĩa chỉ không gian xã hội Trường nghĩa chỉ không gian tự nhiên
gồm: trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên, trường
nghĩa chỉ không gian xuất hiện các sự vật tự nhiên Trường nghĩa chỉ không
gian xã hội gồm: trường nghĩa chỉ không gian làng quê, trường nghĩa chỉ
không gian thành thị và trường nghĩa chỉ không gian địa danh
1.3 Nhà thơ Đồng Đức Bốn và thơ ca Đồng Đức Bốn
Nhà thơ Đồng Đức Bốn (30/3/1848 – 14/2/2006), quê quán ở xóm Lê Lác, thôn Song Mai (tức làng Moi), xã An Hồng, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng
Ông được sinh ra trong một gia đình lao động nghèo, thanh niên ông tham gia vào đội thanh niên xung phong Giải ngũ, Đồng Đức Bốn về làm việc tại Xí nghiệp sửa chữa ô tô Hải Phòng, làm thợ gò bậc 6/7 Sau đó, Đồng Đức Bốn về làm việc tại xí nghiệp xuất nhập khẩu gia cầm Hải Phòng, giữ chân đại diện cho Xí nghiệp này ở Hà Nội
Văn đàn Thủ đô những năm 1987 - 1992 rất sôi động Đây là thời kì Đồng Đức Bốn làm quen với những nhà thơ cung đình bậc nhất, những tác giả đang ở độ huy hoàng của thơ ca như: Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương…
Đồng Đức Bốn sáng tác thơ vào cuối những năm 1980 Tập thơ đầu
tiên của ông là Con ngựa trắng và rừng quả đắng (1992), tập thơ không đem
Trang 22lại thành công cho ông nhƣng Đồng Đức Bốn vẫn vƣợt qua những khó khăn
Bất ngờ bạn đến thăm tôi Gửi cho mấy tập ôi trời là thơ
Câu dài câu ngắn ngẩn ngơ Những rơm với lửa, những tơ với tình Một người hoang dại một mình
Bơ vơ giữa phố mong thành thi nhân Lòng yêu yêu đến trong ngần Đường xa thương vết chân trần bạn tôi
Mong sao bạn bớt bùi ngùi
Cố làm thơ nữa để rồi gặp nhau…
Đồng Đức Bốn không phải là nhà thơ cách tân cũng không phải là nhà thơ khai sáng mà ông là nhà thơ tiếp thu và giữ gìn những giá trị thơ ca truyền
Trang 23thống Cái hay trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn là sự hòa quyện của “cái chất phác” giống như ca dao, sự ngậm ngùi của tình cảm và cả những kinh nghiệm sống của một người nhà quê lang bạt Hình ảnh nông thôn hôm nay được Đồng Đức Bốn đưa vào trong thơ cùng với cái ngậm ngùi của sự nghèo nàn và mất mát khiến lòng ta không khỏi xót xa:
Nhà quê có cái giếng đình Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ
Nhà quê có mấy trai tơ Quần bò, mũ cối giả vờ sang chơi
Nhà quê chân lấm tay bùn
Mẹ đi cấy lúa rét run thân già
Chợ làng mở dưới gốc đa Nhà quê đem mấy con gà bán chơi
Ối mẹ ơi đê đã vỡ rồi Đồng ta trắng xóa cả trời nước trong
Trâu bò thất thểu long đong Trên bè tre rối bòng bong xoong nồi
Ối mẹ ơi đê đã vỡ rồi
Trang 24Mộ cha liệu có lên trời được không
Sao chưa thấy chiếc thuyền rồng Chở con với mẹ qua giông bão này
Theo lời nhận xét của Vương Trí Nhàn “Lục bát của Đồng Đức Bốn từ
tốn, chậm rãi như lời nói vẩn vơ của một người vừa ngán sự đời vừa không thôi chiêm nghiệm sự đời” Thơ Đồng Đức Bốn giàu hình ảnh và nhịp điệu,
có thể thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhạc sĩ đã nhận ra sự tài tình trong thơ Đồng Đức Bốn và đã phổ nhạc cho thơ ông Đó là các nhạc sĩ: Thuận Yến, Doãn Nho, Huy Du, Huy Thục, Đặng Hữu Phúc, An Thuyên, Nguyễn Tiến, Nguyễn Cường, Tuấn Phương, Đoàn Bổng, Minh Quang… Đến nay, Đồng Đức Bốn đã có chừng hơn 50 bài thơ được các nhạc sĩ phổ nhạc và các bài hát này đều nhận được sự đón nhận của khán – thính giả
Nội lực bên trong từng câu thơ của Đồng Đức Bốn một phần là ở sự hiện đại Thơ hiện đại của Đồng Đức Bốn chính là hơi thở, hồn vía của cuộc sống hôm nay được “quản thúc” trong niêm luật cổ truyền lục bát (Nguyễn Huy Thiệp) Đó thực sự là những giá trị quý báu mà ông cống hiến cho đời:
Chợ buồn đem bán những vui
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em
Chợ buồn bán nhớ cho quên Bán mưa cho nắng, bán đêm cho ngày Chợ buồn bán tỉnh cho say Bán thương suốt một đời này cho yêu Tôi giờ xa cách bao nhiêu
Trang 25Đem thơ đổi lấy những chiều tương tư
(Chợ buồn) Nhà thơ Bằng Việt cho rằng Đồng Đức Bốn đã thể hiện được cái tinh hoa độc đáo của mình bằng những câu thơ lục bát đậm chất quê mùa nhưng
ẩn chứa nhiều triết lý về thế thái, nhân tình Những quy định về thể thơ lục bát không làm khó được ý thơ của Đồng Đức Bốn Trong giọng thơ ấy cái già cỗi mệt mỏi tồn tại bên cạnh cái trẻ trung, cái ham muốn bồng bột nảy nở đấy cũng mau chóng mất đi nhường chỗ cho cái ngu ngơ bất lực bao trùm Chính cái sự nửa vời như thế đã làm cho thế giới thơ của Đồng Đức Bốn trở nên rộng mở mà sâu sắc, vô hình đã tạo nên nét riêng của thơ ông không lẫn vào đâu được
Đồng Đức Bốn có nhiều đóng góp quan trọng cho thơ ca Việt Nam, nhất là ở thể loại thơ lục bát Thơ lục bát của ông với cách ngắt nhịp, dùng từ
và rất giàu hình ảnh với tứ thơ sâu sắc đã chinh phục được bạn đọc Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nhận xét về thơ của ông là trong khoảng 80 bài thơ, có khoảng 15 bài thơ cực hay, tài tử vô địch Các tác phẩm của nhà thơ:
Trang 26CHƯƠNG 2:
CÁC TRƯỜNG NGHĨA CHỈ KHÔNG GIAN
TRONG THƠ ĐỒNG ĐỨC BỐN 2.1 Cơ sở phân loại
Một từ có thể vừa thuộc trường nghĩa này vừa thuộc trường nghĩa khác Điều này cũng hoàn toàn có thể xảy ra trong trường nghĩa chỉ không gian Vì vậy, để phân loại trường nghĩa chỉ không gian, chúng tôi dựa vào nét nghĩa chung nhất của các đơn vị từ vựng trong một trường nghĩa
Tất nhiên sự phân loại của chúng tôi cũng chỉ mang tính chất tương đối Bởi giữa các trường nghĩa có thể xảy ra hiện tượng “giao thoa” – hiện tượng một số đơn vị từ vựng có thể thuộc trường nghĩa này, song cũng có thể thuộc trường nghĩa khác
2.2 Các trường nghĩa chỉ không gian cơ bản trong thơ Đồng Đức Bốn
Khảo sát trong khoảng 100 bài thơ của Đồng Đức Bốn, chúng tôi đã thống kê số lượng các từ thuộc các tiểu trường nghĩa không gian, số lần xuất hiện của các từ và tỉ lệ phần trăm số từ, tỉ lệ phần trăm xuất hiện trong toàn bộ
hệ thống trường nghĩa
Trang 27Bảng thống kê trường nghĩa chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn:
Số từ (từ)
Số lần xuất hiện (lần)
Tỉ lệ
số từ (%)
Tỉ lệ xuất hiện (%)
Tự nhiên
TN chỉ KG xuất hiện các hiện tượng tự nhiên
TN chỉ KG xuất hiện các sự vật
tự nhiên
24 114 24.74 32.76
Xã hội
TN chỉ KG làng quê
TN chỉ KG thành thị
TN chỉ KG địa danh
Trang 282.2.1 Trường nghĩa chỉ không gian tự nhiên
Chúng tôi quan niệm: Trường nghĩa chỉ không gian tự nhiên là tập hợp
các từ đồng nhất về ngữ nghĩa chỉ những vật thể sống và không sống xuất hiện một cách tự nhiên (hiện tượng tự nhiên, sự vật tự nhiên) Để xác định rõ
ràng và tổng hợp một cách chính xác, khoa học nhất chúng tôi chia rõ trường nghĩa chỉ không gian tự nhiên gồm: trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên, trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các sự vật tự nhiên
2.2.1.1 Trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên
Theo Hoàng Phê, hiện tượng tự nhiên là cái xảy ra trong không gian,
thời gian mà người ta nhìn thấy Mưa là một hiện tượng tự nhiên [13,438]
Tự nhiên (là tính từ) chỉ đặc điểm: thuộc về tự nhiên hoặc có tính chất
của tự nhiên, không phải do con người mới có, không phải do con người tác động hoặc can thiệp vào Con sông này là ranh giới tự nhiên giữa hai miền Cao su tự nhiên [13;1076]
Từ hai khái niệm trên, ta có thể hiểu hiện tượng tự nhiên là những cái thuộc về tự nhiên hoặc có tính chất của tự nhiên, không phải do con người mới có, không phải do con người tác động hay can thiệp vào, xảy ra trong không gian, thời gian mà con người cảm nhận thấy bằng các giác quan Theo cách hiểu này, hiện tượng tự nhiên là những hiện tượng như ánh sáng, bình minh, hoàng hôn, gió, mưa, bão, sấm, sương, thủy triều
Trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên gồm các từ chỉ không gian chứa các hiện tượng tự nhiên, bao gồm cả chính những
Trang 29hiện tượng tự nhiên ấy Các hiện tượng tự nhiên lại luôn có một tính chất xác định với các hoạt đông của nó nên chúng tôi xếp: tên các hiện tượng tự nhiên
(nắng, mưa, bão, gió, sấm, ánh sáng…); tính chất của các hiện tượng tự nhiên (sáng, tối, nóng, lạnh, to, nhỏ, mạnh, yếu ); hoạt động của các hiện tượng tự nhiên (thổi, rơi, lên, xuống, chiếu, tỏa, nổ…)…nằm trong trường nghĩa chỉ
không gian các hiện tượng tự nhiên Tuy nhiên, tính chất và hoạt động… của các hiện tượng tự nhiên phải gắn liền với đặc trưng tồn tại của hiện tượng tự nhiên, xuất hiện trong không gian nhìn thấy được để đảm bảo chúng thuộc phạm vi ý nghĩa chỉ không gian
Trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên trong thơ Đồng Đức Bốn thường thấy nhất là: tên các hiện tượng tự nhiên, tên không gian luân chuyển tự nhiên (không gian xuất hiện theo chu kì thời gian, mỗi không gian ấy lại có đặc trưng riêng, đặc trưng ấy như thế nào là phụ thuộc vào thời gian mà không gian xuất hiện) (Xem tại bảng 1- phụ lục) Chẳng hạn:
[1] Tên các hiện tượng tự nhiên: mưa, nắng, bão, gió, giông, chớp, sấm,
sóng, sương,…
[2] Tên không gian luân chuyển tự nhiên: Ban mai, sáng, trưa, chiều, đêm,
tháng ba, tháng bảy, tháng mười, mùa đông…
Khảo sát về trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên với khoảng 100 bài thơ của Đồng Đức Bốn chúng tôi thống kê được 19
từ với 148 lần xuất hiện Từ đó, chúng tôi thấy: tỉ lệ số từ chiếm 19.6%, tỉ lệ xuất hiện chiếm 42.52 %
Trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên là trường nghĩa chỉ không gian được sử dụng nhiều nhất trong các bài thơ của
Trang 30Đồng Đức Bốn Các hiện tượng tự nhiên xuất hiện dày đặc như: mưa, nắng,
bão, sóng, gió, giông… không gian luân chuyển tự nhiên cũng được đưa vào
thơ ông: ban mai, sáng, trưa, chiều, tối, mùa xuân, mùa thu… Chỉ với một đoạn thơ trong bài thơ “Đời tôi” chúng ta có thể nhận thấy rõ điều này:
“Mẹ mua lông vịt chè chai Trời trưa mưa nắng đôi vai lại gầy Xóm quê còn lắm bùn lầy Phố phường còn ít bóng cây che đường Lời rào chim giữa gió sương Con nghe cách mấy thôi đường còn đau.”
Sáu câu thơ được viết theo thể lục bát, bộc lộ nỗi xót xa của tác giả trước cảnh quê nghèo, người mẹ vất vả trong mưa nắng để bươn trải mưu sinh Sự vất vả của mẹ không chỉ ở cái nghề, con đường dài mà cả thời tiết
cũng làm vai mẹ thêm gầy Mỗi ngày dù “mưa”, “nắng”, “gió”, “sương” mẹ
vẫn cố gắng vượt qua Chỉ với sáu câu thơ mà có tới năm từ chỉ trường nghĩa
các hiện tượng tự nhiên: trưa, mưa, nắng, gió, sương càng làm chúng ta thấy
rõ những vất vả của mẹ Nỗi vất vả ấy càng nhiều thì người con càng cảm thấy thương mẹ đến xót xa Có thể nói tác giả đã rất tinh tường khi nhận thấy bao nỗi cực nhọc bủa vây đôi vai của mẹ và dùng chính những hiện tượng tự nhiên ấy để tạo nên những vần thơ, vẽ lên bức tranh chân thực về mẹ khiến ai
ai cũng cảm thấy thương “mẹ”, khâm phục tình mẹ Nó không chỉ có tác dụng làm cho đoạn thơ, bài thơ thêm chân thực, sinh động mà còn dễ hiểu và dạt dào cảm xúc Có lẽ hơn ai hết, Đồng Đức Bốn hiểu rõ sự cơ cực của cái
Trang 31nghèo bủa vây từ chính tuổi thơ của mình, để từ đó thơ ông luôn mang nỗi ngậm ngùi, mất mát khiến người ta nhói đau
Không chỉ là tình mẫu tử mà tình yêu cũng ẩn hiện sự đau đớn, chua
chát gửi gắm trong “đêm”, trong “gió”:
“Cái đêm lành lạnh gió mùa
Em trong chăn ấm có đùa với ai”
(Cái đêm em ở với chồng) Nhân vật trữ tình đang chìm trong tuyệt vọng vì đánh mất tình yêu, người con gái ấy đã đi lấy chồng để lại bao nhiêu nuối tiếc lẫn cả sự hờn trách Cái lạnh lẽo, cô đơn trong lòng dường như chưa đủ? Đêm là khoảng thời gian con người sống thật với chính mình, nhớ nhung và hoài niệm Đó đâu phải là đêm mùa hè trăng thanh gió mát để người ta nguôi ngoai mà đó là
“đêm” “gió mùa” lòng càng đau như cắt Sự cô quạnh và cô đơn của nhân vật
trữ tình như đi đến tận cùng bởi khung cảnh, tác giả đã rất tinh tế khi đặt nhân vật trữ tình vào hoàn cảnh đó càng giúp tô đậm tâm trạng nhân vật Có rất nhiều bài thơ khác sử dụng trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên và đạt được sự thành công về nội dung, nghệ thuật:
“Sợi mưa tựa những dây đàn
Tay ai gảy giữa muôn ngàn nhớ thương Sợi mưa tựa những con đường
Mà tôi chỉ có một phương đi về
Ba ngày mưa ướt dầm dề Buồn vui rồi lại tái tê vui buồn
Trang 32Giọt mưa có ở trên nguồn Hay là có tự nỗi buồn của tôi?”
(Ba ngày mƣa)
“Thập thò trong bụi tre gai
Hoa dong riềng của nhà ai nở hồng Nhà ai có gái chưa chồng Nhìn màu hoa để ngóng trông người về
Nắng thì nắng tái nắng tê Rét thì rét đến đê mê lòng người Màu hoa đỏ một nụ cười Lặng im mà sóng luân hồi dâng cao
Cánh hoa sắc một lưỡi dao
Vì yêu tôi cứ cầm vào như không”
(Hoa dong riềng)
“Nhà ta nắng dột vào trưa
Còn nằm chiếu rách để mưa trùng trình”
(Trích: Con ơi)