1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng người việt (qua ngữ liệu truyện ngắn văn học giai đoạn 1930 – 1945) (2016)

55 174 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lý do trên mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng người Việt qua ngữ liệu truyện ngắn văn học giai đoạn 1930 - 1945” v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN -

ĐÌNH THỊ NGUYỆT

HỒI ĐÁP HÀNH VI HỎI TRỰC TIẾP

TRONG GIAO TIẾP

VỢ CHỒNG NGƯỜI VIỆT

(Qua ngữ liệu truyện ngắn văn học giai đoạn 1930 – 1945)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học

TS KHUẤT THỊ LAN

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa Ngữ Văn đã hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho tôi thực hiện hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Khuất Thị

Lan, giảng viên tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ Văn, trường ĐHSPHN2 Người đã

tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Do điều kiện thời gian hạn hẹp, cùng với hạn chế về kiến thức, năng lực tìm tòi, nghiên cứu của bản thân nên khóa luận của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy giáo, cô giáo và toàn thể bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

Sinh viên làm khóa luận

Đinh Thị Nguyệt

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan khóa luận

“Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng người Việt (qua

ngữ liệu truyện ngắn văn học giai đoạn 1930 – 1945)” là công trình nghiên

cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của T.S Khuất Thị

Lan, giảng viên tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ Văn, trường ĐHSPHN2 Những tư

liệu và số liệu trong khóa luận là trung thực do tôi thực hiện Đề tài nghiên

cứu và các kết luận chưa được ai công bố

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

Sinh viên làm khóa luận

Đinh Thị Nguyệt

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 5

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Bố cục khóa luận 8

NỘI DUNG 9

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9

1.1 Hoạt động giao tiếp và giao tiếp vợ chồng người việt 9

1.1.1 Hoạt động giao tiếp 9

1.1.2 Giao tiếp vợ chồng người Việt 9

1.2 Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ 11

1.2.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ 11

1.2.2 Hành vi ở lời 11

1.2.2.1 Hành vi ở lời trực tiếp 11

1.2.2.2 Hành vi ở lời gián tiếp 11

1.2.3 Hành vi hỏi 12

1.2.3.1 Hành vi hỏi trực tiếp 12

1.2.3.2.Hành vi hỏi gián tiếp 13

1.3 Lí thuyết về hội thoại 13

1.3.1 Hội thoại là gì? 13

1.3.3 Các phương châm hội thoại của Grice 14

1.3.3.1 Phương châm về chất 14

1.3.3.2 Phương châm về lượng 15

Trang 6

1.3.3.3.Phương châm quan hệ 15

1.3.3.4 Phương châm cách thức 15

1.4 Lý thuyết về giới 15

1.4.1 Quan niệm về giới: giới tính hay giới 15

1.4.2 Đặc trưng ngôn ngữ giới 17

1.4.2.1 Bình diện ngữ âm 17

1.4.2.2 Bình diện từ ( ngôn ngữ nói về mỗi giới) 18

1.4.2.3 Bình diện giao tiếp ( phong cách ngôn ngữ của mỗi giới) 19

Chương 2: HỒI ĐÁP HÀNH VI HỎI TRỰC TIẾP NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CÁC PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI CỦA GRICE 21

2.1 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp nhìn từ góc độ phương châm về chất 21

2.1.1 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp tôn trọng phương châm về chất 22

2.1.2 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp vi phạm phương châm về chất 26

2.2 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp nhìn từ góc độ phương châm về lượng 29

2.2.1 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp tôn trọng phương châm về lượng 30

2.2.2 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp vi phạm phương châm về lượng 33

2.3 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp nhìn từ góc độ phương châm quan hệ 36

2.3.1 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp tôn trọng phương châm quan hệ 36

2.3.2 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp vi phạm phương châm quan hệ 37

2.4 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp nhìn từ góc độ phương châm cách thức 41

2.4.1 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp tôn trọng phương cách thức 41

2.4.2 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp vi phạm phương châm cách thức 45

KẾT LUẬN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thứ nhất: Hội thoại là một hoạt động thường xuyên và phổ biến giữa người với người trong xã hội Là hoạt động mà người nói dung ngôn ngữ để tương tác nhằm trao đổi một thông tin hay một vấn đề nào đó với người nghe

Giáo sư Đỗ Hữu Châu nói: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên,

phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [3, 201] Hội thoại có vai trò rất quan trọng, là cơ sở cho mọi hoạt

động khác của con người trong xã hội, là nhịp cầu nối giữa những người tham gia quá trình trao nhận nội dung thông tin Mối quan hệ liên tương tác giữa con người với con người được thiết lập và duy trì nhờ vào những cuộc hội thoại

Thứ hai: Giao tiếp được hiểu: “là sự trao đổi thông tin, tư tưởng, tình

cảm, thái độ, thiết lập các mối quan hệ xã hội giữa con người với con người”

Có thể nói, giao tiếp có vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày, chính nhờ vào hoạt động này mà con người mới có thể trao đổi thông tin một cách

dễ dàng, chính xác và thiết lập được các mối quan hệ xã hội trong đó Đó có thể là giao tiếp thầy - trò, anh - em, vợ - chồng, cha - con…Môi trường có thể diễn ra giao tiếp như: nhà trường, gia đình, xã hội Mỗi vùng miền, địa phương, quốc gia có sự thay đổi, sự biến chuyển nhất định trong giao tiếp Tạo ra sự phong phú và đa dạng về ngôn ngữ

Thứ ba, trong lĩnh vực giao tiếp thì giao tiếp vợ chồng là một loại giao tiếp phổ biến trong xã hội loài người và nó có những đặc trưng rất khác biệt

so với các loại giao tiếp khác Đây là loại giao tiếp diễn ra giữa những người khác giới đó là vợ và chồng Loại giao tiếp này thường diễn ra giữa những người trong độ tuổi trưởng thành,…Giao tiếp vợ chồng dưới góc nhìn của ngôn ngữ rất hấp dẫn, thực tế trong cuộc sống, giao tiếp vợ chồng trở nên rất cần thiết và thiết thực và khi đi vào những sáng tác văn chương nó càng trở nên sinh động và biến đổi rất linh hoạt Trong văn chương, ở mỗi giai đoạn

Trang 8

khác nhau thì giao tiếp vợ chồng lại có sự thay đổi Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 được coi là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của trào lưu văn học hiện thực phê phán với những cây bút tên tuổi như: Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Kim Lân, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố…Họ đã để lại một dung lượng tác phẩm khá đồ sộ với sự đa dạng và phong phú về chủ đề, đề tài, các hình thức nghệ thuật Thể loại truyện ngắn được các tác giả sáng tác

thành công nhất, nó được coi như “những viên ngọc quý” ẩn lấp dưới sỏi đá

văn đàn văn học Các truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn hiện thực phê phán lúc bấy giờ thì loại giao tiếp vợ chồng được thể hiện khá phổ biến, nó rất gần gũi với đời sống thực tế mà văn chương có giá trị cao khi nó tái hiện được chính đời sống Giao tiếp vợ chồng xuất hiện trong các truyện ngắn với tần xuất

khá nhiều bởi vì văn chương chính là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách

quan”, và vợ chồng là một trong những mối quan hệ trong xã hội loài người

Thứ tư, hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng qua các truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Kim Lân là một trong những hướng tiếp cận mới của ngôn ngữ học Mở ra nhiều hướng đi mới, hướng nghiên cứu mới cho văn học từ ngôn ngữ

Từ những lý do trên mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng người Việt qua ngữ liệu truyện ngắn văn học giai đoạn 1930 - 1945” với hi vọng tìm hiểu một cách sâu sắc và

có hệ thống hơn về các hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp cũng như sự thể hiện và hiệu quả sử dụng chúng trong những truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Kim Lân

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp thực ra được phân tích dựa trên các phương châm hội thoại của Grice Các phương châm hội thoại là nội dung cơ bản, thiết yếu trong nguyên tác cộng tác hội thoại của Grice, nó có tác dụng

và đem lại hiệu quả cho việc điều phối hội thoại về mặt nội dung và phương thức truyền đạt Đầu tiên đó là những phác thảo của nguyên tắc cộng tác hội thoại được Grice nêu ra trong những bài giảng của mình tại trường Đại học Havard nam 1967 Đến năm 1975 nó được xuất bản trong một tác phẩm tuy ngắn nhưng có tiếng vang rất sâu rộng trong thế giới ngôn ngữ học với nhan

đề Logic và hội thoại (Logic and conversation) Từ năm 1978 đến 1981 Grice

thuyết minh và bổ sung thêm cho nguyên tắc của mình trong một số bài báo

Nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice bao gồm bốn phạm trù đó là phạm trù chất, phạm trù lượng, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức theo tinh thần các phạm trù của nhà triết học Kant Mỗi phạm trù đó tương ứng với một tiểu “nguyên tắc” mà Grice sẽ gọi là phương châm (Maxim), mỗi phương châm lại bao gồm những tiểu phương châm

Đã có khá nhiều công trình và các đề tài nghiên cứu đề cập đến vấn đề này và sự nghiên cứu, tìm hiểu được diễn ra với nhiều cấp độ khác nhau Có khi là nghiên cứu một vài phương châm nào đó cũng có khi là nghiên cứu tất

cả các phương châm Điều này còn phụ thuộc vào phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng như sự am hiểu hay hứng thú của tác giả đề tài Sau đây tôi xin chỉ ra một số bài nghiên cứu có đề cập đến nội dung về các phương châm hội thoại của Grice:

* Tác giả Đỗ Hữu Châu với cuốn sách “Ngữ dụng học” đề cập rất nhiều

tới các phương châm hội thoại của Grice Ông có đóng góp rất lớn trong lĩnh vực ngôn ngữ học, đưa ngành ngữ dụng học vào trong nghiên cứu Phần lớn

Trang 10

các đề tài nghiên cứu hay bài viết của ông đều nói tới nguyên tắc cộng tác của Grice

* Tác giả Đào Nguyên Phúc với bài viết “Biểu thức rào đón trong hành

vi ngôn ngữ xin phép tiếng Việt trên cơ sở lí thuyết về phương châm hội thoại của H.Grice” trong Tạp chí ngôn ngữ số 6 (169) năm 2003 Bài viết đã đề cập

đến các phương châm hội thoại của Grice trong hành vi ngôn ngữ xin phép nhìn nhận ở việc sử dụng những biểu thức rào đón Bài viết đã cho ta những hiểu biết về sự biến đổi của các hành vi ngôn ngữ xin phép khi nhìn từ góc độ các phương châm hội thoại Ở đó cho ta cái nhìn khá mới mẻ và lí thú về các phương châm hội thoại

* Bài viết “Một số chiến lược rào đón trong hội thoại của người Việt”

trên Tạp chí ngôn ngữ số 3 (190) năm 2005 của tác giả Vũ Thị Nga, bài viết

đã chỉ ra những nội dung hết sức cơ bản về những hành vi ngôn ngưc rào đón nhìn nhận từ góc độ các phương châm hội thoại của Grice Bài viết cũng đi khá sâu vào tìm hiểu, phân tích các phương châm hội thoại ở phương diện rào đón trong hội thoại

* Tác giả Khuất Thị Lan với bài viết “Hành vi ngôn ngữ rào đón phương châm về chất trong một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao” đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 8 (178) năm 2010 Bài viết đã đi sâu phân tích một cách kĩ lưỡng về hành vi ngôn ngữ rào đón trong một phương châm hội thoại khá cơ bản là phương châm về chất trong phạm vi một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao Phương châm về chất có sự chi phối lớn trong các cuộc hội thoại và nó có sự thay đổi khá linh hoạt trong giao tiếp

Có thể nói các phương châm hội thoại của Grice đã được đề cập đến trong một số bài viết nhưng tìm hiểu về hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng dựa vào các phương châm hội thoại của Grice thì chưa có

ai đề cập tới Kế thừa và tiếp thu những kết quả từ những bài viết đó chúng tôi

đi vào nghiên cứu đề tài: “Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ

Trang 11

chồng người Việt giai đoạn 1930 - 1945 qua ngữ liệutác phẩm văn học giai đoạn 1930 - 1945” để từ đó giúp cho bạn đọc có cái nhìn tổng quan hơn về hồi đáp hành vi hỏi theo các phương châm hội thoại của Grice trong phạm vi giao tiếp cụ thể

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích

Nhằm củng cố, nâng cao và hệ thống hóa những kiến thức lí thuyết trong giao tiếp nói chung cũng như trong giao tiếp vợ chồng nói riêng Hội thoại, hồi đáp hành vi trong hội thoại, các phương châm hội thoại của Grice

Qua đó vận dụng những kiến thức lí luận nói trên vào nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu khám phá một trong những vấn đề quan trọng trong ngôn ngữ học hiện đại đó là loại hồi đáp trong giao tiếp vợ chồng qua một số truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Kim Lân Từ đó rút ra những luận điểm về việc sử dụng ngôn ngữ giới trong giao tiếp vợ chồng trên hai phương diện tuân thủ và phá

vỡ các phương châm hội thoại của Grice như thế nào cũng như hiệu quả của

nó Cần lưu ý thêm rằng hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp giao tiếp vợ chồng trong phạm vi đề tài này được xem xét dựa trên phông nền văn hóa và phong cách nói năng của mỗi giới của người Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ

Đề tài hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng qua một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Kim Lân chúng tôi xác định những nhiệm vụ chủ yếu của đề tài như sau:

Thứ nhất, nắm bắt được một cách đầy đủ, chính xác và có hệ thống những kiến thức về giao tiếp, giao tiếp vợ chồng, ngôn ngữ giới, hội thoại, hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp qua các phương châm hội thoại của Grice

Trang 12

Thứ hai, từ việc nắm vững những kiến thức đó chúng tôi đi vào tìm hiểu, khảo sát thống kê sự xuất hiện, biến đổi hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng qua truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Kim Lân nhìn từ góc độ các phương châm hội thoại của Grice

Thứ ba, giao tiếp vợ chồng còn được nhìn nhận, đánh giá thông qua ngôn ngữ của mỗi giới Có cái nhìn khách quan hơn về ngôn ngữ của mỗi giới trong xã hội hiện đại ngày nay

Để thực hiện những nhiệm vụ trên, chúng tôi đi tìm hiểu, phân tích, đánh giá và phân loại chúng theo những phương châm hội thoại của Grice để nhận thức được sự đa dạng, phong phú, linh hoạt của loại hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp tiếp trong giao tiếp vợ chồng qua truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Kim Lân

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp tiếp trong giao tiếp vợ chồng là một vấn

đề tương đối rộng và phức tạp Để đi sâu tìm hiểu thì cần có một quá trình nghiên cứu lâu dài và biên độ làm việc lớn Do đó mà luận văn này chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu tìm hiểu vấn đề trong một giới hạn nhất định - đó là qua một số truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Kim Lân Luận văn này dực trên cơ sở kiến thức lí thuyết về giao tiếp, giao tiếp vợ chồng, ngôn ngữ giới, hội thoại, hồi đáp hành vi qua các phương châm hội thoại của Grice để tìm hiểu vấn đề hồi hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp tiếp trong giao tiếp vợ chồng qua truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Kim Lân Qua đó chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng nhìn từ phương diện ngôn ngữ học

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Tiến hành thống kê loại hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng xem nó xuất hiện với số lượng và tần suất như thế nào qua một số

truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan như: Một gánh khoai lang, Xuất

giá tòng phu, Đàn bà là giống yếu, Mất cái ví,…Trong một số truyện ngắn

của Nam Cao như: Nước mắt, Cười, Trẻ con không được ăn thịt chó, Đôi

mắt, Đời thừa, Nghèo, Mua danh,…Trong một số truyện ngắn của Kim Lân

như: Làng, Con chó xấu xí…Trong truyện ngắn của Ngô Tất Tố như: Tắt đèn,

Lều chõng…Trong truyện ngắn của Nguyên Hồng như: Bỉ vỏ, Nhà bổ Hầu…Trong truyện ngắn của Tô Hoài như: Nhà nghèo, Bóng đè, Một buổi chiều…

Tiến hành thống kê trong khoảng 80 Tác phẩm với khoảng 350 cuộc thoại

Phân loại hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng theo từng phương châm hội thoại của Grice

5.2 Phương pháp phân tích

Qua việc thống kê và phân loại chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu, phân tích, lí giải và nhận xét về loại hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng xem chúng được sử dụng như thế nào qua một số truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan,

Tô Hoài, Kim Lân và hiệu quả của chúng trong quá trình sử dụng Mặt khác, qua đấy chúng tôi đi phân tích hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng theo các phương châm hội thoại của Grice để thấy được sự thay đổi vô cùng linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ cũng như bản sắc riêng trong giao tiếp người Việt

5.3 Phương pháp so sánh đối chiếu

Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích vấn đề hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp tiếp trong giao tiếp vợ chồng qua truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn Nam

Trang 14

Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Kim Lân nhìn từ góc độ các phương châm hội thoại của H.P.Grice Chúng tôi đi vào so sánh đối chiếu để thấy được sự thay đổi linh hoạt của các phương châm hội thoại được thể hiện trong một lĩnh vực giao tiếp cụ thể là giao tiếp vợ chồng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Bố cục khóa luận

Nội dung

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp nhìn từ góc độ các phương châm hội thoại của Grice

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Hoạt động giao tiếp và giao tiếp vợ chồng người Việt

1.1.1 Hoạt động giao tiếp

Hoạt động giao tiếp là hoạt động mà người nói dùng ngôn ngữ để truyền đạt cho người nghe những hiểu biết, tình cảm, thái độ, tư tưởng của mình về một thực tế khách quan nào đó để người nghe có hành động thực tế như người nói mong muốn Hoạt động giao tiếp chỉ được thực hiện khi các nhân vật trực tiếp tham gia vào hoạt động trao đổi thông tin Một hoạt động giao tiếp chỉ đúng khi có nhân vật giao tiếp bao gồm người nói và người nghe Hoạt động giao tiếp được tiến hành trước hết người nghe phải có hiểu biết, tư tưởng, thái độ, tình cảm về hiện thực như người nói để từ đó người nghe có hành động, ý định với hiện thực như người nói mong muốn

Hoạt động giao tiếp là hoạt động diễn ra thường xuyên và liên tục giữa người với người trong cộng đồng ngôn ngữ Khi giao tiếp bằng ngôn ngữ thì người nói và người nghe có thể sử dụng nhiều yếu tố ngôn ngữ để thực hiện chức năng giao tiếp

1.1.2 Giao tiếp vợ chồng người Việt

Giao tiếp vợ chồng là hoạt động giao tiếp trong đó vai giao tiếp là vợ

và chồng, sử dụng ngôn ngữ để trao đổi với nhau những thông tin, tình cảm,

tư tưởng, thái độ nhất định có liên quan đến cuộc sống gia đình của vợ và chồng

Giao tiếp vợ chồng là lĩnh vực giao tiếp ứng xử trong gia đình và là giao tiếp giữa những người khác giới

Khác với những hoạt động xã hội thông thường như giao tiếp học đường, giao tiếp thầy trò, giao tiếp mua bán…theo tác giả Nguyễn Văn Khang

Trang 16

trong Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt [45], giao tiếp vợ chồng có những đặc điểm riêng Cụ thể:

Thứ nhất, đây là một hoạt động giao tiếp được thực hiện bởi những người khác giới, trong độ tuổi trưởng thành Giao tiếp vợ chồng còn là một hoạt động giao tiếp mà ở đó có đối tượng tham gia giao tiếp tương đối đồng nhất về trình độ văn hóa, hiểu biết, vốn sống, nghề nghiệp…Trong giao tiếp vai của các thành viên tham gia giao tiếp luôn được khẳng định rõ ràng

Thứ hai, giao tiếp vợ chồng có không gian rộng, có nội dung giao tiếp

đa dạng, phong phú theo những định hướng giao tiếp nhất định, cụ thể Ở mỗi hoàn cảnh giao tiếp khác nhau thì lại có sự chuyển hóa nhất định, và có ảnh hưởng tương đối lớn đến quá trình diễn tiến các cuộc hội thoại trong giao tiếp

vợ chồng Chính vì vậy, người ta nhận thấy ở đây sự đa sắc thái trong việc sử dụng ngôn từ cũng như các nghi thức ứng xử

Thứ ba, mặc dù giao tiếp vợ chồng tồn tại ở thể động nhưng lại lệ thuộc vào những qui tắc xã hội Khác với những loại hình giao tiếp thông thường, giao tiếp vợ chồng luôn được xác định trước về các mặt cá nhân của những người tham gia giao tiếp như trật tự, tôn ti, quyền uy, vị thế…và chịu sự quy định của hang loạt các tác động xã hội khác như: tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, dân tộc…Chính vì thế mà giao tiếp vợ chồng khuôn mẫu trong cách ứng xử, xưng hô, khuôn mẫu trong việc hình thành đặc điểm ngôn ngữ và nghi thức lời nói khác

Tóm lại, giao tiếp vợ chồng là hình thức giao tiếp vừa mang tính xã hội, vừa mang tính gia đình, vừa mang tính hiện đại vừa mang tính truyền thống

Có thể nói đây là loại hình giao tiếp tồn tại ở thể động với tất cả sự tinh tế, đa dạng của nó Khiến cho giao tiếp vợ chồng rất linh hoạt và biến hóa không chỉ

về hình thức mà còn cả về nội dung, trở thành một loại hình giao tiếp uyển chuyển, hấp dẫn

Trang 17

1.2 Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ

1.2.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ

Hành vi ngôn ngữ là những phát ngôn mà khi người ta nói chúng ra thì đồng thời người ta thực hiện ngay cái việc được biểu thị trong phát ngôn [ 9, 88] Theo Austin (1962) khi sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp cũng đồng thời thực hiện 3 hành vi: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời, hành vi ở lời Trong

đó, hành vi ở lời là một trong những phát hiện quan trọng cảu ngôn ngữ học nghiên cứu theo chức năng giao tiếp

1.2.2 Hành vi ở lời

Hành vi ở lời là loại hành vi có ý định hay có đích, có quy ước và có thể chế Vì vậy có thể nói, nắm được ngôn ngữ không chỉ đơn thuần nắm được quy tắc vận hành của các đơn vị của ngôn ngữ (từ vựng, ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp…) mà còn phải nắm được quy tắc điều khiển các hành vi ở lời trong ngôn ngữ đó

Khi tham gia giao tiếp ngôn ngữ, người giao tiếp có thể lựa chọn theo 2 cách đó là trực tiếp và gián tiếp

1.2.2.1 Hành vi ở lời trực tiếp

Hành vi ngôn ngữ theo lối trực tiếp (đúng với đích mà hành vi đó hướng tới) Ví dụ: SP1- Mấy giờ rồi Hoa? SP2- 10 giờ rồi Người nói (SP1)

đã dùng hành vi ở lời trực tiếp là hỏi giờ

1.2.2.2 Hành vi ở lời gián tiếp

Hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp (không đúng với đích mà hành vi

đó hướng tới)

Mối quan hệ giữa trực tiếp và gián tiếp được hiểu là: “Khi nào có một

quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thì chúng ta có một quan hệ trực tiếp” ; “Một hành vi ở lời được thực hiện gián tiếp thông qua sự thực hiện một hành vi ở lời khác sẽ được gọi là hành vi gián tiếp” [Searle,

Gordon & Lakoff; dẫn theo 26, tr 30]

Trang 18

1.2.3 Hành vi hỏi

Theo quan điểm của Ngữ dụng học, hỏi là một động từ ngữ vi với hành động ngôn trung là hành động hỏi, hành vi hỏi có thể được thể hiện bằng các biểu thức ngôn ngữ có chứa động từ ngữ vi “hỏi” (biểu thức ngữ vi tường minh)

và biểu thức không chứa động từ ngữ vi “hỏi” (biểu thức ngữ vi nguyên cấp)

Trong giao tiếp, hành vi hỏi xuất hiện với tần xuất nhiều nhất, mỗi hành

vi hỏi lại mang những sắc thái khác nhau, cũng có thể là tích cực (hỏi để biết thông tin, hỏi để khen, hay là hỏi để tán dương), ví dụ: Bác ăn nói lịch sự, văn minh, nền nã, bác có phải là giáo viên không ạ? Hoặc cũng có khi là tiêu cực (hỏi không phải để khai thác thông tin mà chủ yếu hướng tới đích bác bỏ, chê bai, mỉa mai), ví dụ : Em gái miền núi à? (chê gái nhà quê)

Như vậy, xét ở mặt “chính diện”, hỏi là để khai thác thông tin, đánh giá

tốt với các mục đích khác nhau như hỏi thực lòng, hỏi nhằm khen, nịnh (hỏi

khéo) Xét ở mặt “phản diện”, tức là, ẩn đằng sau bề mặt ngôn từ hỏi là hàm ý

giễu cợt, mỉa mai, châm chọc (hỏi đểu)

1.2.3.1 Hành vi hỏi trực tiếp

Hành vi hỏi trực tiếp xuất hiện nhiều nhất trong giao tiếp ngôn ngữ, là hành vi được sử dụng đúng với đích ở lời và bồn điều kiện sử dụng hành vi ngôn ngữ gồm: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành và điều kiện căn bản

Ví dụ: Cô cho hỏi đây có phải nhà Bà Hoa không cô? – Phải rồi chị ạ! (điều kiện nội dung mệnh đề SP1 đưa ra nôi dung hỏi nhà, điều kiện chuẩn bị

là SP1 biết SP2 có khả năng trả lời được, điều kiện chân thành là SP1 thực lòng muốn biết nhà và điều kiện căn bản là SP1 ràng buộc SP2 vào trách nhiệm trả lời

Cao Xuân Hạo, hành vi hỏi trực tiếp là câu hỏi chính danh hay Nguyễn Đăng Sửu thì đó là câu hỏi đích thực

Trang 19

1.2.3.2.Hành vi hỏi gián tiếp

Theo cách hiểu của Đỗ Hữu Châu [9, 145] là hành vi không được sử dụng đúng với đích ở lời và bốn điều kiện sử dụng hành vi ngôn ngữ chân thực (vi phạm điều kiện chân thành) Nói cụ thể, đây là hành vi ngôn ngữ có hình thức của hành vi hỏi nhưng lại hướng tới đích của một hành vi ngôn ngữ khác Ví dụ, học sinh đi học muộn, cô giáo hỏi: - Em cho cô biết bây giờ là mấy giờ rồi? – Thưa cô em bị hỏng xe đạp ạ! Hành vi hỏi gián tiếp còn được gọi là câu hỏi không chính danh (theo cách gọi của Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Thìn) hay là câu hỏi không đích thực (theo cách gọi của Nguyễn Đăng Sửu)

Bên cạnh đó, trong giao tiếp chúng ta còn gặp những cách hỏi vòng Đây là cách sử dụng hành vi ngôn ngữ có đích hỏi nhưng lại được biểu hiện dưới dạng những hành vi ngôn ngữ không phải là hành vi hỏi

1.3 Lí thuyết về hội thoại

1.3.1 Hội thoại là gì?

Hội thoại một hoạt động thường xuyên phổ biến giữa người với người trong xã hội và nó là hoạt động mà người nói dung ngôn ngữ để tương tác nhằm trao đổi một vấn đề hoặc một thông tin nào đó tới người nghe

Theo GD.TS Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường

xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác”

[3, 201]

1.3.2 Các quy tắc của hội thoại

Hội thoại là một hoạt động cơ bản của xã hội loài người, đây là một hoạt động có đích, có ba quy tắc quan trọng quyết định đến chất lượng (sự thành công hay thất bại) của một cuộc hội thoại đó là:

1 Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời

2 Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại

Trang 20

3 Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân và phép lịch sự

1.3.3 Các phương châm hội thoại của Grice

Các phương châm hội thoại của Grice thuộc nguyên tắc cộng tác nằm trong quy tắc “điều hành nội dung hội thoại” Trong hội thoại nguyên tắc cộng tác (Cooperative) là một nguyên tắc rất quan trọng và cốt yếu Những phác thảo đầu tiên của nguyên tắc cộng tác được Grice nêu ra trong các bài giảng của mình ở trường đại học Havard năm 1967 Đến năm 1975 nó được xuất bản trong một tác phẩm tuy ngắn nhưng có tiếng vang rất sâu rộng trong thế giới ngôn ngữ học với nhan đề “logic và hội thoại” (logic and conversation) Từ năm 1978 đến 1981 Grice thuyết minh và bổ sung thêm nguyên tắc của mình trong một số bài báo

Nguyên tắc cộng tác hội thoại được Grice khái quát như sau: “Hãy làm

cho phần đóng góp của anh, chị (vào cuộc hội thoại – HĐC) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại – HĐC) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh, chị đã chấp nhận tham gia vào”

[3,229] Nguyên tắc cộng tác này bao gồm bốn phạm trù mà Grice gọi là phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức Và tương ứng với nó là bốn phương châm hội thoại:

Phương châm về lượng

Trang 21

b Đừng nói điều mà anh không có bằng chứng xác thực

1.3.3.2 Phương châm về lượng

a Hãy làm cho phần đóng của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi (đối với những mục đích hiện hữu của lần trao đổi đó)

b Đừng làm cho phần đóng của anh có lượng tin lớn hơn đòi hỏi

1.3.3.3.Phương châm quan hệ

Phương châm này được Grice phát biểu rất ngắn gọn: Hãy quan yếu (Berelevant) nghĩa là hãy nói những điều có dính líu và liên quan đến hội thoại

1.3.3.4 Phương châm cách thức

a Tránh lối nói tối nghĩa

b Tránh lối nói mập mờ (có thể hiểu nhiều nghĩa)

c Hãy ngắn gọn (tránh dài dòng)

d Hãy nói có trật tự

[3, 230]

1.4 Lý thuyết về giới

1.4.1 Quan niệm về giới: giới tính hay giới

Vấn đề giới tính (sex)/ giới (gender) là một chủ đề lớn liên quan đến nhiều mặt của đời sống con người như : nhận thức, thói quen, hành vi ứng xử,

xã hội, văn hóa…Đây là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm Các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ và giới đã định nghĩa về giới tính/ giới như sau:

Giới tính “là những đặc điểm chung phân biệt nam và nữ, giống đực và

giống cái” [62] Giới tính (giống) còn chỉ sự khác biệt về mặt thể chất giữa

nam và nữ Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến chức năng tái sản xuất giống nòi và do yếu tố di truyền tự nhiên quy định Chúng ta nhìn rộng ra thì

giới tính còn được hiểu là: “Giới tính có hàm ý không chỉ trong quan hệ về

chủng tộc, trong tầng bậc xã hội, luật pháp và thói quen, thể chế giáo dục mà còn tác động đến tôn giáo, giao tiếp xã hội, phát triển xã hội và nhận thức, vai trò trong gia đình và công sở, phong cách xử sự, quan niệm về cái tôi,

Trang 22

phân bố nguồn lực, các giá trị thẩm mĩ và đạo đức và nhiều lĩnh vực khác nữa” [Sally Me Connell Ginet]

Giới là khái niệm chỉ mối quan hệ xã hội, mối tương quan về địa vị xã hội của nam và nữ trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể Giới được xét trên hai

phương diện Thứ nhất về mặt lí luận, “Giới là sự tập hợp các hành vi học

được từ xã hội và những kì vọng về các đặc điểm và năng lực cần được cân nhắc nhằm xác định thế nào là một nam giới hay một phụ nữ (hoặc một cậu

bé hay một cô bé) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định” [50] Thứ

hai về mặt thực tiễn, “Vấn đề giới liên quan mật thiết đến sự thay đổi về quan

niệm và đời sống, vị thế ở cả gia đình cũng như ở ngoài xã hội giữa nam và nữ” (47, 242-243)

Nếu giới tính được hiểu là sự phân định giữa nam và nữ về mặt sinh học thì giới lại là sự phân định giữa nam và nữ về mặt xã hội Giới tính có tính bẩm sinh, đồng nhất, không biến đổi thì giới có tính tập nhiễm, tính đa dạng và năng động Tuy nhiên, đi vào từng lĩnh vực nghiên cứu cụ thể hai khái niệm này lại nhìn nhận khác nhau

Theo quan điểm của các nhà tâm lí xã hội học thì: Giới tính và giới là hai khái niệm liên quan nhưng có nội hàm khác nhau Về giới tính, nam giới

và nữ giới khác nhau ở hai khía cạnh đó là thể chất (sinh lý học) và xã hội Còn đối với giới không phải là cái bẩm sinh, sẵn có ma là cái được hình thành trong quá trình con người hành động, chịu ảnh hưởng rất lớn từ giáo dục

Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học, thuật ngữ “giới tính” và

„giới” đều được sử dụng trong nghiên cứu Ngôn ngữ học xã hội Có thể thay

thế cho nhau ở một số trường hợp Chẳng hạn: D.Baron (1986) sử dụng sex; D.Bolinger (1980) sử dụng sex; J.Holmes (1989, 1991, 1993) sử dụng gender Trong tiếng việt, Vũ Thị Thanh Hương (1999) sử dụng giới tính; Nguyễn Thị Thanh Bình (2000) sử dụng giới; Nguyễn Văn Khang sử dụng giới tính (1989, 2005), sử dụng giới (2012)

Trang 23

1.4.2 Đặc trưng ngôn ngữ giới

“Ngôn ngữ giới chính là chỉ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới” [47,

215] Yếu tố giới khi được đặt trong mối quan hệ với ngôn ngữ chúng ta có ngôn ngữ giới Ngôn ngữ giới là một trong những ngôn ngữ xã hội tác động trực tiếp đến rất nhiều mặt của ngôn ngữ xã hội trong giao tiếp nói chung và giao tiếp vợ chồng nói riêng

Như vậy, cùng với nghề ngiệp, tuổi tác thì giới trở thành một trong biến

xã hội quan trọng đối với nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội Nguyễn Văn

Khang trong một nghiên cứu của mình cũng chỉ rõ: “Khi giới là biến xã hội

(độc lập) tác động vào ngôn ngữ thì theo đó, ngôn ngữ sẽ thay đổi (tức là việc

sử dụng ngôn ngữ giữa các giới sẽ khác nhau); khi ngôn ngữ là biến độc lập tác động vào giới thì sẽ góp phần vào thay đổi cách nhìn về giới mà trước hết

là cách nhìn kì thị về giới”’[47, 197]

Ở Việt Nam, đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ và giới như Lương Văn Hy, Nguyễn Thị Thanh Hương…Tuy nhiên, người đặt vấn đề cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và giới ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Văn Khang Trong nghiên cứu của mình, Nguyễn Văn Khang đã lí giải đặc trưng ngôn ngữ giới ở ba bình diện sau:

1.4.2.1 Bình diện ngữ âm

Thứ nhất, sự khác nhau về cơ quan phát âm của mỗi giới Về mặt sinh

lý, bộ máy phát âm của nam và nữ là khác nhau (ví dụ: dây thanh của nữ ngắn, mỏng, lỏng hơn của nam) Về mặt tâm lý, sự khác nhau thể hiện ở đỉnh công chấn của nguyên âm Với những sự khác nhau tinh tế trong bộ máy phát

âm cho nên có nhiều điểm khác nhau trong cách phát âm giữa nam và nữ Thể hiện rõ nhất của sự khác nhau này là sự chênh lệch về âm vực trung bình của hai giới (nam có âm vực trầm và ngược lại nữ có âm vực bổng) Vì thế, trong

Tiếng Việt có câu: “giọng ồm ồm như đàn ông” hay “giọng the thé như đàn

bà”…

Trang 24

Thứ hai, trong cách phát âm, giữa nam và nữ cũng có cách phát âm khác nhau đối với một số âm (Ví dụ: trong tiếng Anh Mĩ, nam giới sử dụng

âm mũi hóa nhiều hơn nữ giới) Để giải thích điều này, Shuy (1967) và Austin (1965) cho rằng: âm mũi hóa mang âm sắc thô, mạnh, nam tính vì thế phụ nữ

ít sử dụng trong giao tiếp

Thứ ba, đặc trưng xã hội có ảnh hưởng tới ngôn ngữ của nam và nữ và

có sự khác nhau Bởi: “sự khác biệt về âm sắc và phong cách ngôn ngữ giữa

mỗi giới, một nửa là do sự khác nhau về kết cấu sinh lí, một nửa còn lại do chịu sự tác động của các nhân tố văn hóa, địa vị kinh tế, xã hội, cá tính và bối cảnh giao tiếp” [Sachs, 1975] Những định kiến xã hội, vị thế, kinh nghiệm

khác nhau của nam và nữ dẫn đến những cách thức sử dụng và hiểu ngôn ngữ

không giống nhau Quan niệm “nam tôn nữ ti” đã ăn sâu vào tiềm thức, nữ

giới thường ở vị trí phụ thuộc trong gia đình cũng như ngoài xã hội, nên so với nam giới vốn ngôn ngữ của họ bị hạn chế Cũng như vậy họ chọn cách nói vòng vo, nhẹ nhàng, thể hiện sự tuân thủ và thích làm hài lòng người khác

1.4.2.2 Bình diện từ ( ngôn ngữ nói về mỗi giới)

Ở mỗi giới lại có sự mặc định một số từ ngữ nhất định Có nghĩa là đối với mỗi giới người ta chỉ có thể dùng từ này mà không thể dùng từ kia Được thể hiện rõ nhất ở hình thức cấu tạo từ trong từng ngôn ngữ cụ thể Chẳng hạn trong tiếng Anh sử dụng hai đại từ he/ his (nam) và she/her (nữ) Trong tiếng việt: ông , anh, cậu, chú, bác (nam) và bà, chị, mợ, cô, dì (nữ)

Mặt khác, ở quy tắc phối hợp về giống, số trong một số ngôn ngữ có sự phân biệt giới tính rất rõ (tiếng Nga); ở một số ngôn ngữ khác như tiếng Việt

là sự phân định các danh từ, các đại từ cho mỗi giới để tạo thành các cặp từ

tương ứng (ví dụ: nam – nữ, trai – gái, ông – bà, chú – thím, anh- chị…)

Nhưng rõ hơn cả là sự phân định ranh giới ở một số không nhỏ các tính từ, động từ chuyên dung cho từng giới, nếu không sử dụng đúng theo giới thì sẽ

dẫn đến sự thay đổi nội dung theo hướng “mang đặc điểm của giới đó” Ví

Trang 25

dụ: trong tiếng Việt các tính từ: yểu điệu, thướt tha, chua ngoa, đanh

đá…thiên về chỉ nữ giới Với những đặc điểm khác nhau về ngôn ngữ nói về

mỗi giới của nam và nữ nêu trên đã tạo nên đặc trưng ngôn ngữ nói về mỗi giới

1.4.2.3 Bình diện giao tiếp (phong cách ngôn ngữ của mỗi giới)

Ngữ cảnh giao tiếp không thể tách rời với ngôn ngữ của mỗi giới Giới

là một biến xã hội khi nghiên cứu ngôn ngữ Nhấn mạnh vai trò của ngữ cảnh,

J Holmes (1986) cho rằng: cùng một lời nói nhưng ngữ điệu khác nhau có thể dẫn tới chức năng khác nhau Và trong cuộc giao tiếp giữa nam và nữ thì lượng nói của nam nhiều hơn của nữ, nam nắm quyền chủ động trong giao tiếp

Theo tác giả Nguyễn Văn Khang: phong cách ngôn ngữ của mỗi giới không có sự phân định ranh giới trong lứa tuổi ấu thơ Nó chỉ bắt đầu được hình thành từ lứa tuổi 5- 7 tuổi Lúc này, do môi trường tiếp xúc ngày càng

mở rộng, cá tính nam/nữ dần được hình thành thì yếu tố giới tính bắt đầu được thể hiện trong ngôn ngữ của mỗi giới Tuy nhiên ở đây, chúng tôi tạm thời chỉ ra những điểm khác biệt cơ trong phong cách nói năng giữa nam và

nữ như sau:

Xuất phát từ nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là yếu tố đặc trưng giới và

tư duy,cho nên trong giao tiếp và hội thoại mang tính nghi thức (hội thảo) Nữ

có lượng nói ít hơn nam, nữ thường bị động trong giao tiếp Nam thỉnh thoảng chèn lời, cắt lời của đối ngôn hoặc thay đổi chủ đề giao tiếp

Ngoài ra, theo Nguyễn Văn Khang [47, 248-249], khi khảo sát các cuộc giao tiếp vợ chồng người Việt có rút ra một số kết luận thú vị về phong cách ngôn ngữ giới như: Nam có cách diễn đạt mạnh mẽ hơn nữ giới Nam giới ưa dùng cách nói dứt khoát, ngắn gọn…trái lại nữ giới thường chọn cách diễn đạt dài, uyển chuyển, ít ra lệnh thẳng thắn như nam giới

Ngày nay, đang có sự dần chuyển đổi phong cách ngôn ngữ giới trong giao tiếp vợ chồng Nữ ngày nay sử dụng nhiều cách nói của nam và ngược lại Điều này dễ được lí giải vì ngày nay có sự bình đẳng nam nữ, phụ nữ đã

Trang 26

được giải thoát bởi những khuôn mẫu, hướng ngoại và ngày càng khẳng định được vị thế trong gia đình cũng như ngoài xã hội

Tóm lại, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người, ngôn ngữ là mã giao tiếp chung, phổ biến ở mọi lĩnh vực Ngôn ngữ vùa có chức năng phản ánh thực tại xã hội, vừa có chức năng củng cố và duy trì tồn tại xã hội Sự khác nhau ngôn ngữ của mỗi giới bao gồm: 1/ sự khác nhau về ngôn ngữ giới là do cấu tạo cơ thể người như đặc điểm sinh lí cấu âm như giọng nói, tần số HZ,…khác nhau giữa nam và nữ 2/ sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới thể hiện ở ngôn ngữ để nói về mỗi giới 3/ sự khác nhau về ngôn ngữ giới thể hiện ở ngôn ngữ được mỗi giới sử dụng hay còn gọi là phong cách ngôn ngữ giới [47, 243]

Trang 27

Chương 2: HỒI ĐÁP HÀNH VI HỎI TRỰC TIẾP NHÌN TỪ GÓC ĐỘ

CÁC PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI CỦA GRICE

2.1 Hồi đáp hành vi hỏi trực tiếp nhìn từ góc độ phương châm về chất

Giao tiếp và cuộc thoại được cho là chất lượng khi Mức độ chân thực của thông tin là yếu tố tiên quyết để giao tiếp và hội thoại phát triển và đạt đích như mong muốn Vì vậy người nghe chấp nhận hành vi ngôn ngữ nào đó

từ phía người nói hay không còn tùy thuộc vào tính đúng sai, tính mới cũ trong thông tin của người nói Vấn đề này được Grice phát biểu trong phương châm về chất như sau:

a Đừng nói những điều mà anh ta tin rằng không đúng

b Đừng nói những điều mà anh không có bằng chứng xác thực

Trong cuộc giao tiếp, về mặt lí thuyết, các nhân vật tham gia giao tiếp cần phải tôn trọng phương châm về chất để đảm bảo cho hội thoại đi đúng hướng Tuy vậy, trên thực tế sử dụng ngôn ngữ, không phải lúc nào người nói cũng tôn trong phương châm Họ có thể tuân thủ phương châm nhưng cũng có khi vi phạm phương châm Ta dễ dàng nhận thấy có hai hình thức vi phạm: một là vi phạm vô tình, hai là vi phạm có chủ ý Trong luận văn này chúng tôi không xem xét tới hình thức vi phạm vô tình mà chúng tôi chỉ đề cập tới hình thức vi phạm có chủ ý Nghiên cứu vấn đề này chúng tôi thống kê được 350 phiếu trong các truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao, Kim Lân, Nguyên Hồng,

Tô Hoài, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan nhìn nhận ở góc độ phương châm về chất và thu được kết quả như sau:

[3, 230]

Người nói tôn trọng phương châm về chất là: 190 phiếu

Người nói vi phạm phương châm về chất là: 160 phiếu

Qua kết quả thống kê trên chúng tôi nhận thấy: Ngôn ngữ hồi đáp hỏi trực tiếp trong giao tiếp vợ chồng nhìn từ góc độ phương châm về chất có sự

Ngày đăng: 24/10/2017, 20:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w